Sunday, September 27, 2026

20260928 CDTL NRM D90 12 November 1974 90. Báo cáo do Nhóm Khu vực Liên ngành Đặc trách về Đông Á và Thái Bình Dương soạn thảo.

20260928 CDTL NRM D90 12 November 1974 90. Báo cáo do Nhóm Khu vực Liên ngành Đặc trách về Đông Á và Thái Bình Dương soạn thảo.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d90

Google Translated

Tài liệu số 90

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập XVIII, Tầu cộng, 1973–1976

90. Báo cáo do Nhóm Khu vực Liên ngành Đặc trách về Đông Á và Thái Bình Dương soạn thảo.

Washington, ngày 12 tháng 11 năm 1974.

Viện trợ An ninh của Hoa Kỳ cho Trung Hoa Dân Quốc

[Phần trang tiêu đề và mục lục đã được lược bỏ tại đây.]

BỐI CẢNH

Lời dẫn

Bối cảnh thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Tầu cộng đòi hỏi phải xem xét lại vấn đề cung cấp trang thiết bị quân sự cho Trung Hoa Dân Quốc (ROC). Các yếu tố chính trị và tâm lý sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với an ninh của Đài Loan nếu chúng ta muốn tìm ra một hướng đi khả thi để đồng thời theo đuổi hai mục tiêu mâu thuẫn nhau: thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC) và đảm bảo an ninh cho Trung Hoa Dân Quốc (ROC).

Các giả định:

Nghiên cứu này dựa trên các giả định sau:

1. Quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ-Trung (PRC) sẽ tiếp tục diễn ra;

2. Sẽ không có thay đổi căn bản nào trong tranh chấp Trung-Xô;

3. Cam kết quốc phòng của Hoa Kỳ đối với Trung Hoa Dân Quốc (ROC) sẽ được duy trì;

4. Trong vòng ba đến năm năm tới, tầm quan trọng về mặt chính trị và tâm lý của việc Hoa Kỳ cung cấp vũ khí cho Trung Hoa Dân Quốc (ROC) sẽ lớn hơn tầm quan trọng về mặt quân sự thuần túy của chính các loại vũ khí đó. [Trang 546]

Lợi ích và Mục tiêu

Lợi ích cơ bản của Hoa Kỳ là vấn đề Đài Loan được chính người Tầu cộng giải quyết một cách hòa bình. Tiến trình hướng tới một giải pháp hòa bình sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng do sự chênh lệch lớn về năng lực giữa PRC và ROC, sự tham gia của Hoa Kỳ vào an ninh Đài Loan dưới một hình thức nào đó vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng nhằm ngăn chặn nguy cơ sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề này.

Các mục tiêu của Hoa Kỳ trong việc cung cấp vũ khí cho Trung Hoa Dân Quốc (ROC) bao gồm:

—tránh các hành động mà PRC có thể coi là không phù hợp với tiến trình "bình thường hóa", hoặc mà ROC có thể hiểu là sự suy giảm cam kết của chúng ta (đã nêu trong Thông cáo Thượng Hải) về việc bình thường hóa quan hệ với PRC.

—duy trì niềm tin của giới lãnh đạo và công chúng ROC rằng Đài Loan được đảm bảo an ninh đầy đủ, nhằm giảm thiểu nguy cơ bất ổn trong nước hoặc các hành động liều lĩnh có thể cản trở quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ-Trung (PRC), bao gồm cả khả năng ROC tìm cách lôi kéo các bên khác can dự vào vận mệnh của mình.

—tránh các hành động có thể khiến PRC kết luận rằng chúng ta không còn coi trọng an ninh của Đài Loan nữa.

Việc cung cấp vũ khí và an ninh của Đài Loan

Bên cạnh tác dụng răn đe từ mối quan hệ Mỹ-Trung, hiệp ước an ninh Mỹ-Đài và sự hiện diện của lực lượng Mỹ còn lại tại Đài Loan, việc Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc - ROC) được tiếp cận khí tài quân sự của Mỹ là yếu tố then chốt tạo nên cảm giác an toàn cho hòn đảo này. Khi chính sách của Mỹ đối với Tầu cộng (PRC) thay đổi, tầm quan trọng tương đối của các yếu tố này cũng sẽ biến đổi theo. Khả năng tiếp cận vũ khí Mỹ sẽ ngày càng trở nên quan trọng đối với Đài Loan nếu các yếu tố khác trong phương trình an ninh của họ trở nên bấp bênh trong mắt họ. Cụ thể, việc rút toàn bộ quân đội Mỹ hoặc thay đổi bản chất cam kết an ninh của Mỹ sẽ dẫn đến hệ quả đó.

Sự sẵn lòng của Đài Loan trong việc giảm bớt phụ thuộc vào các yếu tố quân sự để đảm bảo an ninh đã có những thay đổi nhất định do tác động từ chính sách của Mỹ, nhưng sự thay đổi này phụ thuộc lớn vào niềm tin rằng Mỹ vẫn duy trì cam kết bảo vệ Đài Loan. Dù có phần miễn cưỡng, Đài Loan đã dần nhận ra giá trị răn đe từ việc Trung Quốc đang phải bận tâm đối phó với Liên Xô cũng như lợi ích của Tầu cộng trong việc hòa dịu quan hệ với Mỹ. Do đó, Đài Loan ngày càng chấp nhận thực tế không thể tránh khỏi về sự gia tăng ưu thế quân sự của Tầu cộng, đồng thời chấp nhận việc Mỹ cắt giảm lực lượng tại Đài Loan, chấm dứt Chương trình Hỗ trợ Quân sự (MAP), cắt giảm chương trình Bán Vũ khí Quân sự cho Nước ngoài (FMS) và việc không cung cấp máy bay F-4. Tuy nhiên, quan điểm vẫn sẽ bao trùm xã hội Đài Loan trong tương lai gần là: Tầu cộng vẫn là kẻ thù không thay đổi bản chất, và sự tồn vong của hòn đảo phụ thuộc vào việc sở hữu năng lực răn đe quân sự đáng tin cậy cũng như cam kết liên tục của Mỹ đối với an ninh của Đài Loan. [Trang 547]

Cách tiếp cận mang tính chính trị đối với việc cung cấp vũ khí

Hoàn cảnh hiện tại đòi hỏi một cách tiếp cận mang tính chính trị hơn nữa đối với các quyết định cung cấp vũ khí cho Đài Loan. Bản chất và quy mô cung cấp vũ khí của Mỹ rõ ràng sẽ ảnh hưởng đến tiến trình bình thường hóa quan hệ với Tầu cộng, nhưng cũng sẽ tác động lớn đến khả năng chấp nhận của Đài Loan trước những thay đổi về môi trường chính trị và an ninh. Cho đến nay, phương thức cung cấp vũ khí của Mỹ – dù không gây ra vấn đề lớn với Bắc Kinh – đã góp phần quan trọng giúp Đài Loan linh hoạt thích ứng với những thay đổi khá mạnh mẽ về vị thế của mình. Tuy nhiên, khi quan hệ Mỹ-Trung biến chuyển, Đài Loan có thể sẽ yêu cầu thêm vũ khí để bù đắp cho sự suy giảm về vị thế chính trị và tình hình an ninh của họ.

Những nguy cơ từ sự thay đổi đột ngột trong việc tiếp cận ROC

Mức độ tiếp cận cao hơn đáng kể—Mặc dù việc tăng cường nguồn cung—đáp ứng hầu hết các yêu cầu về vũ khí của ROC (Trung Hoa Dân Quốc)—có thể giúp ROC dễ dàng thích nghi hơn với những thay đổi trong quan hệ ROC-Hoa Kỳ, nhưng xu hướng gia tăng này sẽ khiến Bắc Kinh lo ngại. Nó cũng có thể tạo ra ấn tượng sai lệch cho Đài Bắc về ý định bình thường hóa quan hệ của chúng ta (tức là cho rằng chúng ta không còn tiến xa hơn theo hướng đó nữa) và có thể khuyến khích ROC áp dụng lập trường cứng nhắc trong các vấn đề chính trị liên quan đến Đài Loan.

Mức độ tiếp cận bị cắt giảm mạnh—Việc cắt giảm nghiêm trọng khả năng tiếp cận trang thiết bị của Hoa Kỳ, dẫn đến sự suy giảm rõ rệt năng lực quân sự của ROC, sẽ tiềm ẩn nguy cơ châm ngòi cho một chuỗi diễn biến tại Đài Loan gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của chúng ta (và có thể cả lợi ích của CHND Trung Hoa). Điều này đặc biệt đúng nếu tình trạng đó diễn ra đồng thời với những thay đổi khác trong chính sách của chúng ta đối với Tầu cộng. Tại Đài Loan, động thái này sẽ bị coi là bằng chứng rõ ràng cho thấy chúng ta đang "phủi tay" đối với vấn đề Đài Loan. Các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự của ROC sẽ là những người đầu tiên đưa ra nhận định này; tuy nhiên, do vấn đề có tầm quan trọng cốt yếu, các tầng lớp khác trong xã hội Đài Loan—bao gồm cả phe đối lập—cũng sẽ sớm đi đến kết luận tương tự. Sự xói mòn lòng tin kéo theo đó có thể dẫn đến chia rẽ chính trị đe dọa sự ổn định của ban lãnh đạo hiện tại, dẫn đến việc chính quyền đang lung lay phải đàn áp mạnh tay các bất ổn trong dân chúng, hoặc thậm chí dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn trật tự xã hội tại Đài Loan. Những nỗ lực của một chính quyền đang hoảng loạn nhằm đối phó với tình hình ngày càng xấu đi có thể dẫn đến các hành động liều lĩnh hòng thay đổi quy chế pháp lý của Đài Loan hoặc lôi kéo các bên khác vào vận mệnh của hòn đảo này. Việc Hoa Kỳ bị coi là trực tiếp chịu trách nhiệm về tình trạng này sẽ đặt chúng ta trước những vấn đề nghiêm trọng cả trong nước lẫn quốc tế.

Tác động của chương trình hạt nhân quân sự của ROC—Việc mất lòng tin vào Hoa Kỳ có thể khiến ROC đẩy mạnh nỗ lực sở hữu năng lực hạt nhân quân sự. Cho đến nay, các nỗ lực này đã bị ngăn chặn hiệu quả nhờ sự phản đối kiên quyết và rõ ràng từ phía chúng ta, cũng như do ROC không muốn gây nguy hại cho chương trình điện hạt nhân dân sự đang phát triển nhanh chóng của mình—một chương trình vốn phụ thuộc hoàn toàn vào Hoa Kỳ vì không quốc gia nào khác có thể cung cấp lò phản ứng cho ROC một cách hợp pháp. Tuy nhiên, ROC vẫn chưa từ bỏ chương trình nghiên cứu hạt nhân quân sự bí mật và có lẽ đã nắm giữ phần lớn bí quyết công nghệ cần thiết để chế tạo thiết bị hạt nhân. Họ sở hữu một lò phản ứng nước nặng quy mô nhỏ của Canada (tương tự loại mà Ấn Độ sử dụng) chịu sự giám sát an toàn, nhưng đã bị chúng tôi ngăn chặn việc mua sắm cơ sở tách chiết hóa học cần thiết để thu hồi plutonium.

Những rào cản vốn kìm giữ ROC trong khuôn khổ có thể bị gạt bỏ nếu ROC tính toán rằng họ cần năng lực hạt nhân như một giải pháp thay thế hiệu quả cho cam kết an ninh của Hoa Kỳ – cam kết đang dần mất đi. Tuy nhiên, ROC vẫn sẽ cần một khoảng thời gian đáng kể để chế tạo được thiết bị hạt nhân.

Quan điểm của Bắc Kinh

Chúng ta không biết chính xác mức độ mà mối quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc (ROC) gây trở ngại cho việc bình thường hóa quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) vào bất kỳ thời điểm nào. Bắc Kinh theo dõi sát sao năng lực quân sự của ROC, nhưng dường như họ không thực hiện việc đánh giá này một cách tách biệt khỏi các yếu tố chính trị khác. Việc cung cấp vũ khí của Hoa Kỳ chỉ là một biến số trong một phương trình phức tạp hơn, nơi các khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa Washington với Đài Bắc và Bắc Kinh, cũng như tình hình quốc tế tổng thể tại Đông Á, đều là những yếu tố có liên quan.

Rõ ràng, Bắc Kinh không muốn sự ủng hộ của Hoa Kỳ dành cho ROC đạt đến mức khiến giới lãnh đạo tại Đài Bắc tin rằng họ hoàn toàn miễn nhiễm trước các áp lực. Ngược lại, họ muốn thấy mối quan hệ quân sự giữa Hoa Kỳ và ROC suy giảm đến mức làm nhụt chí phía ROC, khiến họ sẵn sàng chấp nhận các thỏa hiệp chính trị. Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh không muốn sự hiện diện của Hoa Kỳ tại Đài Loan—mà việc cung cấp vũ khí là một phần trong đó—bị rút đi nhanh chóng đến mức lôi kéo các bên khác can thiệp hoặc dẫn đến những thay đổi khó kiểm soát trên hòn đảo này. Dù thế nào đi nữa, sự can dự quân sự của chúng ta với ROC vẫn sẽ bị giám sát bởi một phía PRC vốn luôn nghi ngại về ý định thực sự của Hoa Kỳ đối với Đài Loan. Sự thiếu nhạy bén trong cách xử lý vấn đề này có thể làm suy yếu vị thế của những người ủng hộ bình thường hóa quan hệ tại PRC hoặc khiến họ thay đổi thái độ.

Những vấn đề đặc biệt nhạy cảm đối với PRC—Xét đến các yếu tố cân nhắc đa dạng và có phần mâu thuẫn nêu trên, có thể kết luận rằng Bắc Kinh sẽ cảm thấy khó chịu trước sự can dự quân sự chính thức và không xác định thời hạn của Hoa Kỳ đối với Đài Loan. Trong bối cảnh chung này, các hành động sau đây của Hoa Kỳ dường như sẽ đặc biệt gây khó chịu cho Bắc Kinh:

—Đưa vào kho vũ khí của Đài Bắc các loại vũ khí mang tính chất tấn công rõ rệt (ví dụ: máy bay ném bom chiến lược, tên lửa tầm xa hoặc thiết bị đổ bộ hiện đại);

—Tạo ra năng lực nội địa tại Đài Loan để sản xuất—hoặc cùng sản xuất—các loại vũ khí tinh vi (ví dụ: máy bay tiên tiến hoặc năng lực sản xuất tên lửa quy mô lớn);

—Cung cấp các loại vũ khí tối tân nhất trong kho vũ khí của Hoa Kỳ theo diện ưu tiên cao (ví dụ: máy bay F-15, bom dẫn đường bằng truyền hình, hệ thống tác chiến điện tử tiên tiến); —Việc nhanh chóng đưa một lượng lớn vũ khí vào kho khí tài của Đài Bắc (ví dụ: thông qua một chương trình kiểu "Enhance Plus").

Cần xem xét thêm một yếu tố nữa liên quan đến tiến độ bàn giao. Do thời gian chờ đợi kéo dài trước khi các hệ thống vũ khí mà Đài Loan (ROC) đang quan tâm có thể được bàn giao, thời điểm thực tế các loại vũ khí này đến được hòn đảo—ngay cả khi thỏa thuận bàn giao đã đạt được từ sớm và Bắc Kinh cũng đã biết về thỏa thuận đó—có thể rơi vào một bối cảnh quốc tế đã có những thay đổi nhất định do tiến trình bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh đạt thêm những bước tiến mới. Khi đó, Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC) có thể phản ứng gay gắt trước việc đưa số vũ khí này đến hòn đảo, bất chấp việc thỏa thuận cung cấp vũ khí với Đài Loan đã được ký kết trong những hoàn cảnh khác biệt trước đó.

Không gian xoay xở ngày càng thu hẹp

Chúng ta sẽ tiếp tục đối mặt với các yêu cầu về vũ khí từ phía ROC (Trung Hoa Dân Quốc) – những yêu cầu không thể chấp nhận được xét theo chính sách của chúng ta đối với PRC (Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng) – cũng như sự bất bình của PRC trước bất kỳ hoạt động hợp tác quân sự nào giữa chúng ta và ROC. Cho đến nay, cả hai bên đều không cho thấy kỳ vọng thực sự về việc được đáp ứng trọn vẹn các lập trường của mình, bởi họ nhận định rằng lợi ích tổng thể đòi hỏi phải có sự nhượng bộ đối với quan điểm của Hoa Kỳ về vấn đề Đài Loan. Khi quá trình bình thường hóa quan hệ diễn ra, chúng ta sẽ có ít dư địa hơn để xoay xở trong vấn đề cung cấp vũ khí cho ROC, đặc biệt là khi chúng ta hoàn tất việc rút phần lớn lực lượng khỏi Đài Loan và trọng tâm chuyển sang các khía cạnh khác trong quan hệ an ninh với ROC.

Nguồn cung từ nước thứ ba

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, rất ít khả năng ROC tìm được các nguồn cung cấp vũ khí hạng nặng đáng tin cậy từ nước thứ ba. Ví dụ, khó có khả năng một trong số ít các quốc gia có năng lực sản xuất máy bay tiên tiến lại chấp nhận rủi ro làm tổn hại quan hệ với PRC chỉ để cung cấp loại vũ khí gây chú ý lớn như vậy cho ROC. Tuy nhiên, ROC vẫn có thể tiếp cận một số loại vũ khí từ nước thứ ba; việc này, trong một chừng mực nhất định, có thể giúp chúng ta tránh được những rắc rối với PRC vốn có thể nảy sinh nếu chính chúng ta cung cấp các loại vũ khí đó. Israel và có thể cả Ý đều sẵn sàng cung cấp tên lửa đất đối đất cho ROC, và dường như Đài Bắc cũng không gặp nhiều khó khăn trong việc mua tàu tuần tra từ các nguồn cung cấp của châu Âu. Hơn nữa, thông qua các gói trang bị bao gồm nhiều linh kiện từ các nước thứ ba khác nhau, ROC có thể đáp ứng được một phần nhu cầu về thiết bị điện tử và hải quân. Các loại vũ khí hạng nhẹ cũng rất dễ tìm mua trên thị trường quốc tế, mặc dù điều này có thể gây bất lợi cho hiệu quả hậu cần. Dù vậy, các kênh cung ứng từ nước thứ ba vẫn chỉ là nguồn hạn chế và thiếu tin cậy đối với ROC, đồng thời sẽ không làm giảm đáng kể vai trò then chốt của chúng ta trong việc duy trì năng lực răn đe quân sự đáng tin cậy cho ROC.

Các yếu tố công nghệ và kinh tế

ROC không gặp khó khăn đáng kể nào về mặt công nghệ trong việc vận hành các trang thiết bị hiện có của Hoa Kỳ (vốn đã đạt trình độ kỹ thuật và độ tinh vi nhất định), và hoàn toàn có đủ năng lực công nghệ để tiếp nhận bất kỳ loại vũ khí nào được cân nhắc trong các phương án trình bày ở phần sau của tài liệu này. Các dự báo hiện tại cho thấy nguồn lực kinh tế của Đài Loan đủ để chi trả cho việc mua sắm một số hệ thống vũ khí mới, ngay cả trong trường hợp nguồn cung từ chương trình Bán vũ khí quân sự cho nước ngoài (FMS) và nguồn cung cấp trang bị quốc phòng dư thừa (EDA) bị cắt giảm mạnh. Tuy nhiên, trong giai đoạn 5 năm tới, khả năng của nền kinh tế ROC trong việc duy trì đà tăng chi tiêu quốc phòng như trước đây sẽ suy giảm. Hơn nữa, Trung Hoa Dân Quốc (ROC) sẽ phải cắt giảm đáng kể quy mô lực lượng quân sự đang quá cồng kềnh của mình và phải hy sinh phần lớn chương trình phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế hiện tại nếu muốn cải thiện mạnh mẽ năng lực quân sự để đối trọng với Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC). (Nội dung thảo luận về năng lực kinh tế của ROC được trình bày tại Phụ lục A.)

II

Mối đe dọa quân sự của PRC đối với Đài Loan

Mặc dù các yếu tố chính trị sẽ đóng vai trò quan trọng hơn nữa trong việc định hình lập trường của chúng ta về vấn đề cung cấp trang thiết bị quân sự cho Trung Hoa Dân Quốc (ROC), nhưng cũng cần xem xét các khía cạnh thuần túy quân sự liên quan đến an ninh của Đài Loan cũng như những mối quan tâm hàng đầu của ROC về vấn đề này. Những đánh giá dưới đây (và được thảo luận chi tiết hơn tại Phụ lục B) về mối đe dọa quân sự từ Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC) đối với ROC dựa trên các giả định: tình trạng đối đầu giữa PRC và Liên Xô không thay đổi; PRC sẽ không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân khi tấn công Đài Loan; và Hoa Kỳ sẽ không can thiệp—ít nhất là trong giai đoạn đầu—nếu xảy ra một cuộc tấn công từ phía PRC:

1) Tình trạng đối đầu quân sự dọc biên giới Trung - Xô là yếu tố hạn chế lớn đối với nguồn lực quân sự của Trung Quốc. Sự đối đầu này sẽ tiếp tục giam chân hơn 40% lực lượng lục quân và không quân của PRC, cùng với hạm đội mạnh nhất trong ba hạm đội hải quân của nước này—Hạm đội Bắc Hải—trong một khoảng thời gian không xác định. Tuy nhiên, phần lực lượng còn lại của PRC vẫn đủ sức vượt qua hệ thống phòng thủ của ROC.

2) Không quân PRC có thể giành quyền kiểm soát bầu trời trên eo biển Đài Loan trong khoảng thời gian có lẽ từ hai đến ba tuần, mặc dù cái giá phải trả là những tổn thất cực kỳ nặng nề khi đối đầu với Không quân ROC—lực lượng tuy có quy mô nhỏ hơn nhiều nhưng lại sở hữu khí tài hiện đại và tinh vi hơn. Những tổn thất như vậy sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực không quân của Bắc Kinh. Đánh giá này dựa trên giả định rằng ROC đã hoàn tất chương trình hợp tác sản xuất 100 máy bay F-5E, đồng thời triển khai đầy đủ các biện pháp gia cố công trình cũng như trang bị pháo và tên lửa phòng không cho các mục tiêu phòng thủ trọng yếu.

3) Chỉ cần sử dụng các đơn vị thuộc Hạm đội Đông Hải, PRC có thể thiết lập quyền kiểm soát trên biển tại eo biển Đài Loan. Nếu đã giành được quyền kiểm soát bầu trời, mục tiêu này có thể đạt được trong thời gian ngắn, có thể chỉ trong vài ngày. Một khi quyền kiểm soát biển được thiết lập, lực lượng hải quân PRC có thể cô lập các hòn đảo xa bờ và phong tỏa hiệu quả các cảng biển của Đài Loan.

4) Trước hoặc đồng thời với việc thiết lập ưu thế trên không và trên biển, PRC có thể tập hợp, xếp quân, triển khai và thực hiện đổ bộ tấn công vào các bãi biển Đài Loan bằng một lực lượng đổ bộ gồm khoảng 30.000 bộ binh cùng trang thiết bị, cộng thêm 75.000 binh sĩ được trang bị nhẹ, sử dụng khoảng 500 tàu đổ bộ cỡ nhỏ. (Các tàu đổ bộ này—chủ yếu là loại LCN dài 60–90 feet và thường được sử dụng cho mục đích phi quân sự—là toàn bộ số phương tiện mà phía CHND Tầu cộng được ghi nhận là đang sở hữu; do đó, chúng sẽ cần được huy động từ khắp cả nước.) Lực lượng này có lẽ đủ sức duy trì một đầu cầu đổ bộ trong vài ngày—khoảng thời gian vừa đủ để được tăng viện—nếu ưu thế trên không và trên biển đã được thiết lập.

5) Trong vòng ba đến năm năm tới, năng lực thực hiện một cuộc tấn công thành công của CHND Tầu cộng có thể được nâng cao nhờ việc trang bị thêm tên lửa không đối không và các loại máy bay tiên tiến hơn.

III

Cơ cấu lực lượng của Trung Hoa Dân Quốc (ROC)

Việc Trung Hoa Dân Quốc (ROC) không thể tự mình chống đỡ một cuộc tấn công quyết liệt từ Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC) đã buộc phải có các kế hoạch quân sự dự phòng theo Hiệp ước Phòng thủ Chung, nhằm huy động sự tham gia tích cực của lực lượng không quân và hải quân Hoa Kỳ vào việc bảo vệ Đài Loan trong trường hợp xảy ra tấn công. Tuy nhiên, các kế hoạch này dựa trên giả định rằng ROC sẽ phải tự lực chống đỡ giai đoạn đầu (từ 4 đến 5 ngày) của cuộc tấn công từ PRC; khoảng thời gian này cho phép chúng ta triển khai các nỗ lực ngoại giao nhằm chấm dứt xung đột, đồng thời đánh giá sự cần thiết và mức độ can thiệp của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ Đài Loan.

Xét đến vị trí địa lý của Đài Loan, tính chất mối đe dọa từ PRC và vai trò mà lực lượng ROC phải đảm nhận trong giai đoạn phòng thủ ban đầu, cơ cấu tối ưu cho quân đội ROC sẽ bao gồm:

—một lực lượng Không quân được thiết kế chủ yếu để tác chiến không đối không (chống lại máy bay tiêm kích, máy bay ném bom và máy bay vận tải) cũng như chống lại các cuộc tấn công của hải quân PRC;

—một lực lượng Hải quân có khả năng chống chịu các cuộc tấn công từ tàu ngầm và tàu mặt nước trang bị tên lửa của PRC, đồng thời phối hợp với Không quân ROC để đối phó với lực lượng đổ bộ của PRC;

—một lực lượng Lục quân ROC có quy mô tương đối nhỏ nhưng cơ động và được trang bị tốt—bao gồm cả tên lửa đất đối không để phòng không—và được hậu thuẫn bởi lực lượng dự bị đã qua huấn luyện.

Những hạn chế của ROC

Các hạn chế chính hiện nay của ROC trong việc xây dựng lực lượng quân sự như trên bao gồm:

Phòng không—Việc thay thế các máy bay cũ bằng 100 chiếc F-5E theo chương trình hợp tác sản xuất hiện tại sẽ mang lại cho Không quân ROC (ROCAF) năng lực tác chiến không đối không mạnh mẽ trong vài năm tới. Tuy nhiên, ngay cả khi hoàn tất chương trình này, Không quân vẫn còn hơn 100 máy bay đời cũ (các dòng F-104 và F-100) cần được thay thế vào đầu thập niên 1980. Ngoài ra, Không quân ROC nhiều khả năng vẫn sẽ cần một số máy bay đánh chặn có khả năng tác chiến trong mọi điều kiện thời tiết—vai trò hiện do 36 chiếc F-104G đảm nhiệm. Số máy bay này cũng sẽ cần được thay thế trong vòng 5 đến 10 năm tới. Tùy thuộc vào năng lực quân sự của PRC, ROC có thể sẽ cần một loại máy bay kế nhiệm, chẳng hạn như YF-16 hoặc YF-17, cho giai đoạn thập niên 1980. Các cơ sở trên mặt đất của Không quân Trung Hoa Dân Quốc (ROCAF) vẫn dễ bị tổn thương trước các đợt oanh tạc của Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC), do đó cần phải có những cải tiến. Việc triển khai chương trình xây dựng nhà chứa máy bay kiên cố, trang bị hai tiểu đoàn tên lửa đất đối không Hawk phiên bản cải tiến (trong đó một tiểu đoàn đã được Chính phủ Hoa Kỳ phê duyệt), cùng với việc mua sắm các loại pháo phòng không hiện đại như hệ thống Vulcan, sẽ giúp khắc phục những thiếu sót này. Ngoài ra, việc nâng cấp trang thiết bị chỉ huy và kiểm soát cho hệ thống phòng không của Trung Hoa Dân Quốc (ROC)—bao gồm cả việc cải tiến trung tâm tác chiến trên không—cũng là điều cần thiết.

Phòng thủ trước các cuộc tấn công của hải quân/đổ bộ—Hải quân có lẽ là quân chủng yếu nhất của ROC và đang gặp phải những thiếu sót cấp bách nhất. Không chỉ thua kém xa về số lượng so với lực lượng hải quân của PRC, các tàu chiến của ROC còn có chất lượng kém hơn. Điểm yếu chí mạng nhất là khả năng phòng thủ hạn chế trước các tàu tuần tra tốc độ cao được trang bị tên lửa chống hạm Styx của PRC. Hải quân cũng bị hạn chế bởi năng lực tác chiến chống ngầm (ASW) còn yếu kém. Cuối cùng, sự thiếu tương thích trong hệ thống thông tin liên lạc giữa Hải quân và Không quân, cùng với năng lực tác chiến chống tàu mặt nước còn nhiều nghi vấn của Không quân, đã dẫn đến những lỗ hổng nghiêm trọng trong hệ thống phòng thủ hải quân. [Trang 553]

Việc trang bị hệ thống tác chiến điện tử (ECM) tiên tiến hơn cho các tàu của ROC sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ bị tấn công bởi tên lửa Styx của PRC; tuy nhiên, biện pháp đối phó hiệu quả nhất là ROC tự trang bị các loại tên lửa chống hạm của riêng mình, chẳng hạn như tên lửa Harpoon. Loại tên lửa này phù hợp nhất để lắp đặt trên các tàu tuần tra tốc độ cao; Chính phủ Hoa Kỳ đã phê duyệt việc đóng mới năm chiếc tàu loại này theo thỏa thuận hợp tác sản xuất. Các thiếu sót của ROC trong lĩnh vực tác chiến chống ngầm (ASW) tuy ít cấp bách hơn nhưng vẫn cần được khắc phục thông qua việc nâng cấp máy bay (gần đây, Hoa Kỳ đã phê duyệt bán 16 máy bay chống ngầm S-2E cho ROC), cũng như cải tiến hệ thống sonar và ngư lôi cho các tàu khu trục của ROC. Cuối cùng, việc thiết lập hệ thống thông tin liên lạc tương thích giữa tàu và máy bay của ROC, kết hợp với việc trang bị các loại vũ khí chống hạm tiên tiến hơn cho ROCAF (có thể là bom dẫn đường bằng laser), sẽ giúp tăng cường đáng kể năng lực tham gia phòng thủ chống lại các cuộc tấn công đổ bộ của lực lượng này.

IV

CÁC PHƯƠNG ÁN

Lời dẫn

Các phương án được trình bày dưới đây gắn kết vấn đề cung cấp trang thiết bị quân sự cho Trung Hoa Dân Quốc (ROC) với các mục tiêu tổng thể trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc. Các phương án này trải dài từ cách xử lý nhằm giảm thiểu việc cung cấp vũ khí trở thành trở ngại cho quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ-Trung, cho đến cách xử lý nhằm tối đa hóa niềm tin của ROC vào cam kết an ninh của Hoa Kỳ.

Các phương án này được xây dựng dựa trên giả định rằng trong vòng ba đến năm năm tới, tầm quan trọng về mặt chính trị và tâm lý của việc Hoa Kỳ cung cấp vũ khí cho ROC sẽ lớn hơn tầm quan trọng về mặt quân sự khách quan của chính các loại vũ khí đó. Cả ROC và Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC) đều sẽ coi cách chúng ta xử lý vấn đề này là thước đo cho mức độ quan trọng tương đối mà Hoa Kỳ dành cho mỗi bên. Tuy nhiên, phản ứng của họ đối với hành động của chúng ta trong lĩnh vực này có thể không tương xứng. Ví dụ, ROC sẽ coi việc hạn chế đáng kể khả năng tiếp cận vũ khí hiện tại của họ là một vấn đề nghiêm trọng, trong khi phản ứng của PRC có thể không theo chiều hướng tích cực tương ứng.

Cũng cần nhắc lại rằng việc tiếp cận vũ khí của ROC không thể được xem xét tách biệt khỏi các yếu tố khác trong an ninh của Đài Loan: hiệu quả răn đe từ mối quan hệ Mỹ-Trung, cam kết quốc phòng của chúng ta và sự hiện diện còn lại của lực lượng Hoa Kỳ. Các yếu tố này không chỉ gắn bó chặt chẽ với nhau mà tầm quan trọng tương đối của chúng cũng có thể—và sẽ—thay đổi đáng kể tùy thuộc vào các sự kiện diễn ra.

Phương án I, Cắt bỏ hoàn toàn khả năng tiếp cận trang thiết bị của Hoa Kỳ, sẽ chấm dứt hoàn toàn việc ROC tiếp cận vũ khí Mỹ, dù là ngay lập tức hay dần dần trong vòng ba đến năm năm tới.

Phương án II, Đóng băng khả năng tiếp cận của ROC ở các chủng loại và số lượng hiện tại, sẽ giới hạn việc ROC tiếp cận các mặt hàng thay thế cho những gì đã có trong kho vũ khí (ví dụ: chương trình F-5E sẽ được hoàn tất và có thể mở rộng để thay thế các máy bay đã lỗi thời khác theo tỷ lệ một đổi một); sẽ không có hệ thống vũ khí mới nào được phê duyệt. [Trang 554]

Phương án III, Cho phép ROC tiếp cận hạn chế các loại vũ khí mới, ở mức độ thấp hơn sẽ cho phép ROC tiếp cận một số loại vũ khí bổ sung và mới mà chúng ta đánh giá là ít có khả năng gây khiêu khích đối với PRC (ví dụ: tên lửa không đối không cải tiến và có thể là tên lửa Harpoon); Ở mức cao nhất của các phương án này, chúng tôi sẽ cho phép tiếp cận các loại vũ khí mới có nguy cơ cao gây kích động CHND Tầu cộng nếu xét thấy chúng cần thiết để củng cố lòng tin của Đài Loan hoặc đối phó với năng lực quân sự ngày càng tăng của CHND Trung Hoa (ví dụ: tên lửa Harpoon và hệ thống ASROC).

Phương án IV – Cho phép Đài Loan tiếp cận đáng kể các loại vũ khí mới – sẽ mở đường cho Đài Loan tiếp cận nhiều hệ thống vũ khí mới (ví dụ: số lượng lớn bom dẫn đường bằng laser và máy bay YF-16 hoặc YF-17 để thay thế dòng F-5E). Theo tất cả các phương án này, kể cả Phương án I, chúng tôi sẽ không can thiệp vào việc Đài Loan mua sắm vũ khí từ các nước thứ ba, trừ những trường hợp đặc biệt; thậm chí trong một số trường hợp, chúng tôi còn có thể khuyến khích việc mua sắm đó.

Chúng tôi đã xem xét các phương án này dựa trên những tiêu chí sau:

1) tác động đối với mục tiêu giảm bớt yếu tố quân sự trong vấn đề an ninh của Đài Loan;

2) ảnh hưởng đến tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ – CHND Trung Hoa;

3) ảnh hưởng đến lòng tin và sự ổn định của Đài Loan;

4) hiệu quả răn đe đối với việc CHND Trung Hoa sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Đài Loan;

5) ảnh hưởng đến khả năng đạt được sự hòa giải chính trị giữa Đài Loan và CHND Trung Hoa;

6) năng lực kinh tế và công nghệ của Đài Loan.

Phương án I. Chấm dứt hoàn toàn việc tiếp cận trang thiết bị của Hoa Kỳ.

Phương án này nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu tối đa vấn đề cung cấp vũ khí của Hoa Kỳ cho Đài Loan – vốn được xem là rào cản đối với việc bình thường hóa quan hệ với CHND Trung Hoa. Ở mức độ quyết liệt nhất của phương án này, việc Đài Loan tiếp cận nguồn vũ khí từ Hoa Kỳ sẽ bị chấm dứt ngay lập tức. Ở mức độ nhẹ hơn, việc tiếp cận này sẽ được cắt giảm dần trong vòng 3 đến 5 năm tới. Dù ở mức độ nào, việc cắt giảm cũng sẽ diễn ra triệt để: sẽ không có thêm bất kỳ trang thiết bị hay phụ tùng thay thế nào được cấp phép bán cho Đài Loan.

Ưu điểm:

—thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ – CHND Tầu cộng;

—gây ít gánh nặng kinh tế nhất cho cả Hoa Kỳ và Đài Loan;

—mức độ nhẹ hơn của phương án này có thể làm giảm áp lực từ phía CHND Tầu cộng đòi cắt đứt ngay lập tức nguồn cung vũ khí, đồng thời tạo ra giai đoạn chuyển tiếp để Đài Loan thích nghi với thực tế mới;

—có thể được sử dụng như một quân bài mặc cả trong các cuộc đàm phán với Bắc Kinh;

—mặc dù tiềm ẩn nguy cơ gây hỗn loạn tại Đài Loan, nhưng sẽ gia tăng áp lực buộc Đài Loan phải tìm cách dàn xếp, thỏa hiệp với CHND Tầu cộng.

Nhược điểm:

—gây tổn hại nghiêm trọng đến lòng tin của Đài Loan, có thể dẫn đến sự sụp đổ trật tự xã hội hoặc những hành động tuyệt vọng làm phức tạp thêm – thay vì cải thiện – quan hệ Hoa Kỳ

– CHND Trung Hoa; trách nhiệm trực tiếp của chúng ta đối với những hậu quả này sẽ đặt chúng ta trước các vấn đề nghiêm trọng cả trong và ngoài nước;

—có thể khiến CHND Tầu cộng đánh giá sai ý định của chúng ta đối với Đài Loan, thôi thúc họ sử dụng vũ lực – hoặc nhiều khả năng là đe dọa sử dụng vũ lực – khi năng lực phòng thủ của Đài Loan suy giảm nhanh chóng;

—dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng tầm ảnh hưởng của chúng ta đối với Đài Loan;

—chừng nào hiệp ước an ninh còn hiệu lực, điều này sẽ đòi hỏi Hoa Kỳ phải đóng vai trò sớm hơn và lớn hơn trong việc thực hiện cam kết quốc phòng nếu CHND Tầu cộng tấn công;

—có thể thúc đẩy Đài Loan đẩy nhanh nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân;

—có thể gây lo ngại sâu sắc cho các quốc gia châu Á khác vốn phụ thuộc vào Hoa Kỳ;

—gây nguy hiểm cho các khoản đầu tư của Hoa Kỳ tại Đài Loan.

Phương án II. Đóng băng khả năng tiếp cận của Đài Loan ở mức độ và chủng loại hiện tại

Phương án này sẽ áp đặt các hạn chế mới đối với việc cung cấp vũ khí cho Đài Loan nhằm cải thiện môi trường cho quá trình bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ – CHND Tầu cộng. Trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm, phương án này sẽ dẫn đến sự suy giảm rõ rệt về năng lực quân sự của Đài Loan so với CHND Tầu cộng. Theo phương án này, chúng ta sẽ cho phép tiếp tục cung cấp phụ tùng thay thế, thiết bị hoặc các hạng mục đã có trong kho của ROC, cũng như một số mẫu cải tiến cần thiết do việc loại bỏ dần các loại vũ khí trong kho của Hoa Kỳ (ví dụ: máy bay F-5E, tên lửa Hawk cải tiến). Phương án này không cho phép cung cấp các hệ thống vũ khí mới. Danh mục minh họa các loại thiết bị có thể được cung cấp theo phương án này được nêu tại Phụ lục C I.

Ưu điểm:

—có thể, ít nhất là trong một thời gian, giảm bớt vấn đề cung cấp vũ khí như một trở ngại đối với việc bình thường hóa quan hệ Mỹ–Trung;

—sẽ duy trì khả năng răn đe quân sự đáng tin cậy của ROC (Đài Loan) trong vài năm tới;

—sẽ bảo toàn một số khía cạnh trong quan hệ cung cấp vũ khí với ROC để làm công cụ mặc cả với Bắc Kinh sau này;

—sẽ giảm bớt gánh nặng kinh tế cho Hoa Kỳ;

—có thể dần dần giúp truyền tải tới ROC sự quan tâm của chúng ta đối với việc họ tìm kiếm sự dàn xếp với PRC (Tầu cộng đại lục).

Nhược điểm:

—việc thay đổi thông lệ hiện tại sẽ làm xói mòn niềm tin của ROC vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ, có thể dẫn đến bất ổn tại Đài Loan hoặc các động thái của ROC gây phức tạp cho quan hệ của chúng ta với PRC;

—có thể theo thời gian khiến PRC nảy sinh ý định đe dọa sử dụng vũ lực do sự chênh lệch về sức mạnh quân sự tương đối tại khu vực eo biển Đài Loan sẽ dần gia tăng;

—nếu năng lực tự vệ của ROC bị hạn chế, điều này đồng nghĩa với việc Hoa Kỳ sẽ phải đóng vai trò sớm hơn và sâu rộng hơn trong trường hợp PRC tấn công;

—có thể thúc đẩy ROC đẩy nhanh nỗ lực phát triển vũ khí hạt nhân.

Phương án III. Hạn chế ROC tiếp cận vũ khí mới

Phương án này được chia thành mức thấp và mức cao. Ở mức thấp, ROC sẽ không được phép mua sắm các loại trang bị mới "gây tranh cãi"; ở mức cao, chúng ta sẽ cho phép mua sắm hạn chế các loại trang bị đó. Chúng ta định nghĩa "gây tranh cãi" là bất kỳ loại vũ khí mới, quan trọng nào mà PRC có thể coi là mang lại cho ROC ưu thế công nghệ rõ rệt hoặc làm thay đổi "cán cân" quân sự tương đối hiện tại. Do không thể hoàn toàn chắc chắn về quan điểm của Bắc Kinh, chúng ta cũng cần cân nhắc vai trò của loại vũ khí đó trong kho khí tài của Hoa Kỳ cũng như "hình ảnh" của nó trong mắt công chúng.

Ở mức thấp, chúng ta sẽ cho phép ROC thay thế hoặc gia tăng ở mức độ vừa phải các trang bị hiện có (bao gồm cả máy bay F–5E), đồng thời cho phép mua sắm các trang bị mới không thuộc diện "gây tranh cãi" (ví dụ: tên lửa chống tăng, một số loại thiết bị tác chiến điện tử (ECM), hệ thống chỉ huy và kiểm soát phòng không được cải tiến; trường hợp tên lửa Harpoon để đối phó với mối đe dọa ngày càng tăng từ các tàu tên lửa lớp Styx của PRC sẽ là trường hợp nằm ở ranh giới giữa hai mức). Chúng ta giả định rằng ROC sẽ tìm kiếm nguồn cung từ nước thứ ba cho các loại vũ khí "gây tranh cãi" bất cứ khi nào có thể, và chúng ta sẽ không can thiệp. Mục tiêu của chúng tôi đối với phương án cung cấp khí tài ở mức thấp này là duy trì sự cân bằng giữa việc tôn trọng những vấn đề nhạy cảm của CHND Tầu cộng (PRC) và đáp ứng nhu cầu của Trung Hoa Dân Quốc (ROC) về sự an tâm đối với an ninh của mình. Danh mục minh họa các loại khí tài có thể được cung cấp theo phương án mức thấp này được trình bày tại Phụ lục C II.

Đối với phương án mức cao, chúng tôi sẽ cho phép ROC thay thế và gia tăng một mức độ vừa phải các khí tài hiện có, bao gồm một số lượng hạn chế các loại khí tài mới mà PRC có thể coi là "gây tranh cãi", nhưng lại giúp duy trì niềm tin của ROC vào ý định của Hoa Kỳ cũng như khả năng đối phó với năng lực quân sự ngày càng lớn mạnh và nghiêm trọng của PRC theo nhận định của họ. Tuy nhiên, nếu ROC có thể tiếp cận các nguồn cung cấp thay thế cho những loại khí tài "gây tranh cãi" này, chúng tôi sẽ không thấy cần thiết phải trực tiếp cung cấp chúng. Mục tiêu ở đây là chú trọng hơn—trong một giới hạn nhất định—đến những lo ngại về mặt tâm lý của ROC đối với an ninh của mình, đồng thời chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định về sự không hài lòng của PRC đối với các hành động của chúng tôi trong lĩnh vực cung cấp vũ khí. Chúng tôi sẽ phải xem xét kỹ lưỡng từng yêu cầu cụ thể của ROC, đồng thời lưu ý rằng mức độ "gây tranh cãi" của bất kỳ hệ thống vũ khí nào cũng có thể thay đổi theo thời gian hoặc do những biến chuyển khác trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và hai bên Trung Quốc. Theo phương án này, chúng tôi sẽ cung cấp tên lửa Harpoon hoặc bom dẫn đường bằng laser. Danh mục minh họa các loại khí tài có thể được cung cấp theo phương án mức cao này được trình bày tại Phụ lục C III.

Ưu điểm:

—sẽ mang lại sự trấn an cần thiết cho ROC (đặc biệt là ở mức cao của khung chính sách) nhằm ngăn ngừa tình trạng bất ổn tại Đài Loan hoặc các hành động liều lĩnh do tuyệt vọng; đồng thời giảm thiểu tác động từ những thay đổi trong tương lai đối với môi trường chính trị của ROC;

—tạo sự linh hoạt trong việc xử lý vấn đề cung cấp vũ khí, phù hợp với bối cảnh chính sách của Hoa Kỳ đối với Tầu cộng đang thay đổi và những biến động có thể xảy ra đối với các yếu tố an ninh khác của Đài Loan;

—duy trì được năng lực răn đe quân sự đáng tin cậy của ROC, mặc dù năng lực này có thể suy giảm dần theo thời gian;

—kiềm chế ý định sử dụng vũ lực của CHND Tầu cộng;

—tạo lợi thế đàm phán cho Hoa Kỳ trong các cuộc thương thảo sau này với CHND Tầu cộng.

Nhược điểm:

—đặc biệt là ở mức cao của khung chính sách, có thể làm nảy sinh nghi ngại từ cả CHND Tầu cộng lẫn ROC về thiện chí của Hoa Kỳ đối với việc bình thường hóa quan hệ và giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan;

—có thể tiềm ẩn rủi ro nhất định đối với ROC (đặc biệt là ở mức thấp của khung chính sách) do chấp nhận sự suy giảm dần năng lực quốc phòng của ROC so với CHND Tầu cộng;

—thiếu các hướng dẫn thực tế cụ thể và chính xác để đánh giá từng loại trang thiết bị quân sự;

—ở mức cao của khung chính sách, sẽ gây áp lực lên khả năng kinh tế của ROC;

—thời gian triển khai dài đối với nhiều hệ thống vũ khí mới có thể khiến CHND Tầu cộng hiểu sai ý định của Hoa Kỳ khi vũ khí được bàn giao.

Phương án IV—Cho phép ROC tiếp cận đáng kể các loại vũ khí mới

Theo phương án này, chúng ta sẽ cho phép ROC nỗ lực duy trì hoặc nâng cao năng lực quân sự so với CHND Tầu cộng. ROC sẽ được phép gia tăng số lượng các hệ thống vũ khí hiện có, đồng thời tiếp nhận các hệ thống vũ khí mới với số lượng lớn. Sự phân biệt giữa các loại trang thiết bị "gây tranh cãi" và "không gây tranh cãi" sẽ được giảm thiểu nhưng không bị bỏ qua; đồng thời, chúng ta vẫn tiếp tục ngăn chặn việc ROC sở hữu năng lực tấn công mạnh mẽ có thể sử dụng để chống lại CHND Trung Hoa. Mục tiêu của chúng ta trong phương án này là sử dụng việc cung cấp vũ khí như một công cụ để củng cố niềm tin của ROC vào an ninh của mình, cũng như giảm thiểu tác động từ những thay đổi khác trong quan hệ an ninh giữa Hoa Kỳ và ROC. Theo phương án này, chúng ta sẽ cung cấp tên lửa Harpoon, bom dẫn đường bằng laser và sau đó là các loại máy bay kế nhiệm như YF-16 hoặc YF-17. Danh mục minh họa các trang thiết bị dự kiến ​​cung cấp theo phương án này được trình bày tại Phụ lục C IV.

Ưu điểm:

—bằng cách tối đa hóa niềm tin của ROC, phương án này giảm thiểu rủi ro xảy ra bất ổn hoặc các hành động liều lĩnh do tuyệt vọng tại ROC, đồng thời giảm thiểu tác động từ những thay đổi trong tương lai đối với môi trường chính trị của hòn đảo này; —năng lực lớn hơn của ROC có thể làm giảm nhu cầu về sự can thiệp trực tiếp hơn của Hoa Kỳ vào vấn đề an ninh Đài Loan.

Các bất lợi:

—sẽ gây trở ngại cho việc bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ–CHND Tầu cộng cũng như các mục tiêu rộng lớn hơn của Hoa Kỳ gắn liền với tiến trình này;

—sẽ khiến ROC hiểu sai về quan tâm của Hoa Kỳ đối với việc đạt được giải pháp hòa bình cho vấn đề Đài Loan theo đúng tinh thần Thông cáo Thượng Hải;

—sự căng thẳng trong quan hệ Hoa Kỳ–CHND Tầu cộng sẽ làm giảm khả năng răn đe về mặt chính trị đối với một cuộc tấn công từ phía CHND Tầu cộng;

—sẽ đặt gánh nặng tối đa lên nền kinh tế ROC và đòi hỏi khoản hỗ trợ tài chính mới đáng kể từ Hoa Kỳ;

—CHND Tầu cộng có khả năng sẽ coi đây là mối đe dọa gia tăng đối với họ và có thể sẽ tăng cường lực lượng tại khu vực này;

—thời gian triển khai kéo dài đồng nghĩa với việc các khí tài được phê duyệt trong giai đoạn này phải đến cuối thập niên 1980 mới được bàn giao.

[Tại đây đã lược bỏ Phụ lục A về năng lực kinh tế của ROC, Phụ lục B về mối đe dọa quân sự từ CHND Tầu cộng và Phụ lục C liệt kê các ví dụ về trang thiết bị theo các phương án khác nhau.]

1.   Nguồn: Thư viện Ford, Hồ sơ Cơ quan NSC (H-Files), Hộp H–32, NSSM 212, Viện trợ An ninh của Hoa Kỳ cho Trung Hoa Dân Quốc. Mật cấp cao; Nhạy cảm. Nghiên cứu này được soạn thảo nhằm đáp ứng yêu cầu của NSSM 212, Tài liệu 88. Scowcroft nhận được nghiên cứu này kèm theo thư đề ngày 12 tháng 11 từ Habib, người chủ trì nhóm liên bộ này. (Sđd.) Vào ngày 10 tháng 1 năm 1975, Jeanne Davis đã gửi tài liệu này cho Bộ trưởng Quốc phòng, Thứ trưởng Ngoại giao và Giám đốc Tình báo Trung ương. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (JCS) cũng nhận được một bản sao. (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Washington, Hồ sơ OSD: FRC 330–78–0059, Trung Quốc (Quốc dân đảng), 1975, 091.3, 10 tháng 1 năm 1975)↩

2.   Xem chú thích 3, Tài liệu 73.↩

3.   Các Phụ lục A–C được đính kèm nhưng không được in ra.↩

4.   Vào ngày 14 tháng 1 năm 1975, Davis đã gửi một bản ghi nhớ yêu cầu những người nhận nghiên cứu bổ sung một chú thích với nội dung: “Không quân Hoa Kỳ (USAF) và Cơ quan Tình báo Quốc phòng (DIA) tin rằng cuộc tấn công đường không ban đầu của CHND Trung Hoa (PRC) vào Đài Loan sẽ được thực hiện với lực lượng đủ mạnh để áp đảo hệ thống Kiểm soát và Cảnh báo Không quân (AC&W) của Trung Hoa Dân Quốc (ROC); qua đó triệt tiêu lợi thế về trang bị và huấn luyện của ROC, giảm thiểu tổn thất cho PRC, đồng thời đảm bảo PRC sớm đạt được ưu thế.” (Thư viện Ford, Hồ sơ Cơ quan NSC (H-Files), Hộp H–32, NSSM 212, Viện trợ An ninh của Hoa Kỳ cho Trung Hoa Dân Quốc)↩

5.   Một bản ghi nhớ do nhân viên NSC soạn thảo đã trình bày quan điểm của các cơ quan khác nhau: Bộ Ngoại giao ủng hộ Phương án III ở mức thấp; Bộ Quốc phòng ủng hộ Phương án III ở mức cao; CIA không đưa ra lập trường chính thức nhưng khẳng định rằng Phương án II hoặc III – dù riêng lẻ hay kết hợp – là những biện pháp thực tế nhất để duy trì quan hệ của Hoa Kỳ với cả PRC và ROC, đồng thời giữ vững sự ổn định tại Đài Loan. Các tác giả bản ghi nhớ đồng tình với Bộ Ngoại giao rằng Phương án III ở mức thấp mang lại định hướng chính sách tổng thể tốt nhất. (Bản ghi nhớ của Solomon, Granger và Froebe gửi Kissinger, ngày 23 tháng 5 năm 1975; Thư viện Ford, Hồ sơ Cơ quan NSC (H-Files), Hộp H–32, NSSM 212, Viện trợ An ninh của Hoa Kỳ cho Trung Hoa Dân Quốc)↩

Historical Documents - Office of the Historian

1.   Document 90

Foreign Relations of the United States, 1969–1976, Volume XVIII, China, 1973–1976

90. Study Prepared by the Ad Hoc Interdepartmental Regional Group for East Asia and the Pacific1

Washington, November 12, 1974.

U.S. Security Assistance to the Republic of China

[Omitted here are the title page and table of contents.]

THE SETTING

Introduction

The changed context of U.S. China policy requires a new look at the question of providing military equipment to the ROC. Political and psychological considerations will have to play an increasingly important role in Taiwan’s security if we are to find the narrow ground on which the contradictory objectives of advancing normalization with the PRC while assuring the security of the ROC can be successfully pursued.

Assumptions:

The assumptions governing this study are:

1.

U.S.–PRC normalization will continue;

2.

There will be no radical change in the Sino-Soviet dispute;

3.

The U.S. defense commitment to the ROC will continue;

4.

Over the next three to five years, the political and psychological importance of the U.S. supply of weapons to the ROC will be greater than the objective military importance of the weapons themselves.

[Page 546]

Interests and Objectives

The basic U.S. interest is a peaceful settlement of the Taiwan issue by the Chinese themselves. Progress toward a peaceful settlement will depend on many factors, but because of the great disparity between PRC and ROC capabilities some form of U.S. involvement in Taiwan’s security will continue to be important to inhibit the possibility of force being used to resolve the issue.

The U.S. objectives governing the supply of arms to the ROC are to:

·       —avoid actions which the PRC would interpret as inconsistent with “normalization” or which the ROC might interpret as a weakening of our commitment in the Shanghai Communiqué to normalize relations with the PRC.

·       —maintain confidence on the part of ROC leaders and public that Taiwan is sufficiently secure to minimize the dangers of domestic instability or desperate acts that would hinder U.S.–PRC normalization, including a possible ROC attempt to involve other parties in its fate.

·       —avoid actions which might lead the PRC to conclude that we no longer have an important interest in the security of Taiwan.

Arms Supply and Taiwan’s Security

Along with the deterrent effect of the U.S.–PRC relationship, the U.S. security treaty and the remaining U.S. force presence on Taiwan, ROC access to U.S. military equipment is a major element in Taiwan’s sense of security. As our China policy evolves, the relative importance of these elements will change. Access to U.S. arms will become increasingly important to the ROC to the extent that other elements of Taiwan’s security equation appear uncertain in its eyes. Specifically, the eventual withdrawal of all U.S. troops or changes in the nature of our security commitment would have that effect.

ROC willingness to rely less on military factors in assuring Taiwan’s security has evolved to some extent as a result of the conditioning effects of our policy, but the evolution has been heavily dependent on the assumption of our continued commitment to Taiwan’s defense. Somewhat grudgingly the ROC has come to appreciate the deterrent value of the PRC’s preoccupation with the Soviet Union and the PRC’s related interest in détente with the U.S. the ROC has thus shown increasing resignation to the inevitability of a growing PRC military superiority and has accepted reduction in U.S. force levels on Taiwan, MAP phase-out and FMS cuts, and non-supply of F–4s. Nevertheless, the view which will continue to permeate ROC society for the foreseeable future is that the PRC remains an unregenerate enemy and that the island’s survival is dependent on possession of a credible military deterrent and a continued U.S. commitment to Taiwan’s security.

[Page 547]

A Political Approach to Arms Supply

Current circumstances necessitate an even more political approach to decisions on supply of arms to Taiwan. The nature and level of our arms supply will obviously affect normalization of our relations with the PRC, but it will also have a major impact on the ROC’s tolerance of a changing political and security environment. To date the pattern of our arms supply, while posing no major problems with Peking, has contributed significantly to the flexibility with which the ROC has adjusted to rather drastic changes in its status. As our relations with the PRC evolve, however, the ROC may ask for more weapons to help compensate for the weakening of its political and security situation.

Dangers of Sharply Changed ROC Access

Significantly Higher Access—Although a higher level of supply, which satisfies most ROC weapon requests, could ease ROC adjustment to further changes in the ROC–U.S. relationship, the upward direction would disturb Peking. It could also convey the wrong impression to Taipei about our intent to pursue normalization (i.e., that we were no longer moving further in that direction) and could encourage an inflexible ROC approach to the politics of the Taiwan issue.

Greatly Reduced Access—Severely reduced access to U.S. equipment leading to an unmistakable deterioration of ROC military capabilities would risk the danger of setting off a train of developments on Taiwan seriously harmful to our (and possibly PRC) interests. This would be particularly true if it coincided with other changes in our China policy. Our performance would be interpreted on Taiwan as clear evidence that we were washing our hands of the Taiwan problem. the ROC political and military leaders would be the quickest to arrive at such a judgment, but the issue is of such fundamental importance that the rest of Taiwan’s society, including Taiwanese oppositionists, would not be far behind in arriving at a similiar conclusion. The resultant erosion of confidence could lead to political dissension which would threaten the stability of the current leadership, to severe repression of popular unrest by a shaky government, or even to the ultimate disintegration of social order on Taiwan. A panic-stricken government’s efforts to deal with a deteriorating situation could lead to desperate attempts to change Taiwan’s juridical status or involve others in its fate. The readily perceived direct U.S. responsibility for this state of affairs would confront us with serious problems at home and abroad.

Effect of ROC Military Nuclear Program—Loss of confidence in the U.S. could lead the ROC to intensify efforts to acquire a military nuclear capability. To date these efforts have been effectively inhibited by our firm and explicit opposition and by an unwillingness to jeopardize Taiwan’s rapidly growing civilian nuclear power program which is [Page 548]hostaged to the U.S. because no other country can legally supply reactors to the ROC. Nevertheless, the ROC has not abandoned its covert military nuclear energy research program and it probably possesses most of the technological know-how for the development of a nuclear device. It has a small safeguarded Canadian heavy water reactor (similar to that used by the Indians), but was blocked by us from acquiring a chemical separation facility necessary to extract plutonium.

The inhibitions which have kept the ROC in line could be swept aside by a ROC calculation that a nuclear capability was required as an effective substitute for the vanishing U.S. security commitment. However, it would still take the ROC considerable time to fabricate a nuclear device.

Peking’s Viewpoint

We do not know with precision the extent to which at any given time our military relationship with the ROC is an obstacle to normalization of relations with the PRC. Peking keeps careful track of ROC millitary capabilities, but it does not appear to conduct this assessment in isolation from other political factors. U.S. arms supplies are only one variable in a more complicated equation in which other aspects of the relationship between Washington on the one hand and Taipei and Peking on the other, as well as the overall international situation in East Asia, are all factors.

Peking obviously does not desire that U.S. support for the ROC should be offered at a level that might cause the leadership in Taipei to conclude that it is essentially invulnerable to pressures. On the contrary, it would like to see an attenuation in the U.S. military relationship with the ROC sufficient to demoralize the ROC to the point where it would be receptive to political accommodation. Nevertheless, there have been indications from Peking that it does not wish our presence in Taiwan—of which arms supply is an aspect—to be withdrawn so fast that others would be tempted to intervene or that uncontrollable changes on the island become likely. In any event, our military involvement with the ROC will be monitored by a PRC suspicious about our ultimate intentions on Taiwan. Insensitivity in our handling of this issue could undermine the position of those within the PRC who advocate normalization or lead them to a change in attitude.

Particular PRC Sensitivities—Given these various and somewhat conflicting considerations, it seems reasonable to conclude that Peking would be bothered by an indefinite and formal U.S. military involvement with Taiwan. In this general context, the following U.S. actions would appear to be particularly bothersome to Peking:

·       —The introduction into Taipei’s arms inventory of weapons which were clearly offensive in nature (e.g., strategic bombers, long-range missiles, or modern amphibious equipment);

·       —The creation in Taiwan of a domestic capacity to produce—or co-produce—sophisticated weapons (e.g., advanced aircraft or major missile production capabilities);

·       —The provision on a high priority basis of the most advanced weapons in the U.S. inventory (e.g., F–15 aircraft, TV guided bombs, advanced ECM systems);

·       —The rapid introduction of large quantities of weapons into Taipei’s inventory (e.g., an Enhance Plus type of program).2

An additional factor relating to delivery schedules ought also be considered. Given the long lead time before various weapons systems which presently interest the ROC would be available for delivery, the actual arrival of such weapons on the island—even if agreement on delivery were made well in advance and even if Peking became aware of such an agreement—might occur in a somewhat changed international environment resulting from further progress in normalization of relations with Peking. At that time the PRC might react strongly to the introduction of the weapons on the island, even though the agreement with the ROC for the supply of the weapons had been reached under different circumstances.

Room for Maneuver Narrowing

We will continue to be confronted with ROC demands for weapons which are unacceptable given our policy toward the PRC, as well as displays of PRC displeasure over our having any military dealings with the ROC. To date both sides have not evidenced a serious expectation of complete satisfaction of their respective positions because they judge their overall interests require concessions to U.S. views on the Taiwan problem. As normalization proceeds, we will have less room for maneuver in dealing with the issue of arms supply to the ROC, especially as we complete substantial withdrawals of our forces from Taiwan and as the focus shifts to other elements of our security relationship with the ROC.

Third Country Sources

Under prevailing international circumstances there is little prospect of the ROC finding reliable third country sources of major weapons. It is doubtful, for example, that any of the few nations capable of producing advanced aircraft would risk endangering their relationship with the PRC by providing such a high profile weapon to the ROC. However, some weapons would be available to the ROC from third country sources which, within limits, could spare us problems with the PRC that might arise if we provided such weaponry. Israel and possibly Italy are prepared to supply surface-to-surface missiles to the ROC and Taipei apparently would not have much difficulty in [Page 550]obtaining patrol crafts from European sources. Moreover, through packages comprised of various third country components the ROC could probably satisfy some of its electronic and naval requirements. Light arms would be readily available to the ROC on the international market, although at a cost to logistical efficiency. Nevertheless, third country channels will represent limited and unreliable sources of supply for the ROC and will not appreciably reduce our key role in maintaining a credible ROC military deterrent.

Technological and Economic Factors

The ROC has had no serious technological difficulties in handling the present levels and sophistication of U.S. equipment and would be technologically capable of absorbing any of the weaponry contemplated under the options presented later in this paper. Present projections indicate that Taiwan’s economic resources would be sufficient to permit purchase of certain new weapon systems even in the event of drastically reduced FMS and Excess Defense Articles availabilities. Over the next five-year period, however, the capability of the ROC economy to support continued increases in defense spending at past rates will diminish. Moreover, the ROC would have to greatly reduce the size of its bloated army and would have to sacrifice much of its current economic infrastructure program if it were to try to greatly improve its current military capabilities vis-à-vis the PRC. (A discussion of ROC Economic Capabilities is presented in Annex A.3)

II

PRC Military Threat to Taiwan

Although political factors will play an even greater role in determining our position on supply of military equipment to the ROC, the strictly military aspects of Taiwan’s security and the ROC’s preoccupation with these must be considered. the PRC military threat to the ROC as summarized below and discussed in Annex B assumes that there will be no change in the PRC–USSR confrontation; that the PRC will neither use nor threaten to use nuclear weapons in invading Taiwan; and that the U.S. will not intervene at least initially in the event of a PRC attack:

1)

The Sino-Soviet border confrontation is a major constraint on Chinese military resources. This confrontation will continue to tie up more than 40% of the PRC ground and air forces and the strongest of its three naval fleets—the North Sea Fleet—for an indefinite period. Nevertheless, the remaining available PRC forces would be sufficient to overcome ROC defenses.

2)

The PRC Air Force could gain air supremacy over the Taiwan Strait in a period of perhaps two or three weeks although only by accepting extremely high losses to the more sophisticated but considerably smaller ROC Air Force. Such losses would gravely compromise Peking’s air arm. This assessment assumes the completion of the ROC’s co-production program of 100 F–5Es and the provision of adequate hardening and anti-aircraft artillery and missiles for key ROC air defense assets.4

3)

The PRC, utilizing only units of its East Sea Fleet, would establish naval supremacy in the Taiwan Strait. If control of the air had been gained, this could be accomplished in short order, perhaps in a matter of days. Once such supremacy is established, PRC naval forces could isolate the off-shore islands and effectively blockade Taiwan’s ports.

4)

Either prior to or concurrent with the establishment of air and naval superiority, the PRC could assemble, load, dispatch, and assault beaches on Taiwan with an amphibious force of some 30,000 infantry troops with equipment plus an additional 75,000 lightly equipped troops by using some 500 small landing craft. (These landing craft, which are largely 60–90-foot LCN’s and which are normally devoted to non-military uses, are all that the PRC is known to have, and thus would have to be mobilized country-wide.) These forces could probably maintain a beachhead for several days—long enough to be reinforced in strength, if air and naval superiority had been established.

5)

In three to five years, the PRC’s capability for a successful attack could be improved through acquisition of air-to-air missiles and additional more advanced aircraft.

III

ROC Force Composition

The ROC’s inability to withstand a determined PRC attack on its own has necessarily required military contingency plans under the Mutual Defense Treaty for active participation of U.S. air and naval forces in Taiwan’s defense in the event of such an attack. Such planning, however, assumes that the ROC would have to meet the first four to five days of a PRC attack with its own forces, giving us time to resort to [Page 552]diplomatic efforts to end the conflict and to assess the need and extent of U.S. involvement in the defense of Taiwan.

Given Taiwan’s location, the nature of the PRC threat, and role ROC forces would have to play in the island’s initial defense, the optimum structure of the ROC military force would be:

·       —an Air Force designed primarily for air-to-air capability against fighters, bombers and airlift forces, and for countering a PRC naval attack;

·       —a navy capable of withstanding attacks by PRC submarine forces and missile-equipped surface craft and of countering PRC amphibious forces in coordination with the ROC Air Force;

·       —a relatively small but mobile and well-equipped ROC Army, including surface-to-air missiles for air defense, backed by a trained reserve force.

ROC Deficiencies

Existing major ROC deficiencies in achieving such a military force are as follows:

Air Defense—The replacement of older aircraft with 100 F–5E aircraft under the current co-production program will provide the ROCAF with a strong air combat capability for the next few years. Completion of this program, however, will still leave the Air Force with over 100 older aircraft (F–104’s and F–100’s) which should be replaced in the early 1980’s. In addition, the ROC AF will presumably continue to require at least some all-weather interceptors, a role now filled by 36 F–104G’s. These also will need to be replaced within the next five to ten years. Depending on PRC capabilities, the ROC may require a follow-up aircraft such as the YF–16 or 17 for the 1980’s.

ROCAF facilities on the ground remain vulnerable to PRC bombardment, and improvements are necessary. An aircraft shelter program, introduction of two battalions of the improved Hawk surface-to-air missile, one of which has already been approved by the USG, and acquisition of modern anti-aircraft artillery such as the Vulcan system would help correct these deficiencies. In addition, improved command and control equipment for the ROC air defense system, including improvements in the air operations center, are necessary.

Defense Against Naval/Amphibious Attack—The Navy is probably the weakest of the ROC services, and has the most immediate deficiencies. Not only is it greatly outnumbered by PRC naval forces, but its ships are inferior. Its most critical deficiency is the limited defense against the PRC’s high speed patrol boats equipped with Styx anti-ship missiles. The Navy is also hampered by a limited anti-submarine warfare (ASW) capability. Finally, incompatible communications between the Navy and Air Force, and questionable Air Force capabilities against surface ships result in serious naval defense deficiencies.

[Page 553]

Improved electronic countermeasures (ECM) equipment on ROC ships would reduce their vulnerability to attack by the PRC’s Styx missiles, but the most effective counter would be for the ROC to obtain its own anti-ship missiles such as Harpoon. These would best be mounted on high-speed patrol boats; construction of five such craft under a co-production arrangement has already been approved by the USG. the ROC’s deficiencies in ASW are of less immediate importance. These could be remedied with improved aircraft (16 S–2E ASW aircraft were recently approved for sale to the ROC), improved sonar and improved torpedoes for the ROC’s destroyers. Finally, a compatible communications system for ROC ships and aircraft and improved anti-ship munitions for the ROCAF, perhaps laser guided bombs, would add considerably to the ROCAF’s ability to participate in defense against an amphibious attack.

IV

OPTIONS

Introduction

The options presented below relate the question of supply of military equipment to the ROC to our overall China policy objectives. They range from handling the issue in a manner designed to minimize arms supply as an obstacle to U.S.–PRC normalization to one designed to maximize ROC confidence in the U.S. security commitment.

The options were developed on the assumption that over the next three to five years the political and psychological importance of U.S. supply of weapons to the ROC will be greater than the objective military importance of the weapons themselves. Both the ROC and PRC will view our handling of this issue as an indicator of the relative importance the U.S. attaches to each. Nevertheless, their reactions to what we do in this sphere may be asymmetric. As an example, the ROC would regard a significant restriction on its present access to weapons as a serious matter while the PRC response might not be equivalently favorable.

It is also worth reiterating that ROC arms access cannot be considered in isolation from the other elements of Taiwan’s security: the deterrent effect of U.S.–PRC relationship, our defense commitment and the remaining U.S. force presence. Not only are these elements inextricably bound up, but their relative importance can—and will—shift markedly depending on events.

Option I, Complete Cut-Off of Access to U.S. Equipment, would completely terminate ROC access to U.S. arms, either immediately or gradually over the next three to five years. Option II, Freezing ROC Access to Current Types and Levels, would restrict ROC access to replacement of items already in its inventory (e.g., the F–5E program would be completed and could be extended to replace additional obsolescent aircraft on a one-for-one basis); no new weapons systems would be authorized. [Page 554]Option III, Limited ROC Access to New Weapons, would at its lower range permit ROC access to some additional and new weapons which we would judge as unlikely to be provocative to the PRC (e.g., improved air-to-air missiles and possibly Harpoon missiles); at its upper range, we would permit access to new weapons which run a higher risk of provoking the PRC if we thought such weapons were necessary to shore up ROC confidence or to counter a growing PRC capability (e.g., Harpoon missile and AS ROC). Option IV, Substantial ROC Access to New Weapons, would permit ROC access to a broad range of new weapons systems (e.g., large number of laser-guided bombs and YF–16 or 17 aircraft as follow-on to F–5E). Under all of these options, even Option I, we would not interfere with ROC purchases from third countries, unless under exceptional circumstances; in some cases we might encourage such ROC purchases.

We have considered these options in light of the following criteria:

1)

the impact on our objective of reducing the military component of Taiwan’s security;

2)

the effect on U.S.–PRC normalization;

3)

the effect on Taiwan’s confidence and stability;

4)

the deterrent effect against a PRC use of force to resolve the Taiwan issue;

5)

the effect on chances of ROC–PRC political accommodation;

6)

the ROC’s economic and technological capabilities.

Option I. Complete Cut-Off of Access to US Equipment

This option would seek to eliminate or minimize to the greatest extent possible the issue of U.S. arms supply to Taiwan as an obstacle to normalization of relations with the PRC. At the lower range of the option, ROC access to U.S. arms would be terminated abruptly. At the upper range, ROC access would be phased out over the next three to five years. In either case, the cut-off would be complete: no additional equipment or spare parts would be authorized for sale to Taiwan.

Advantages:

·       —would promote normalization of U.S.–PRC relations;

·       —would impose least economic burden on the U.S. and ROC;

·       —upper range of option could ease PRC pressure for an abrupt arms supply cut-off, while offering ROC transitional period to adjust to new reality;

·       —could be used as bargaining chip in negotiations with Peking;

·       —although at the risk of chaos on Taiwan, would increase pressures on ROC to seek accommodation with the PRC.

Disadvantages:

·       —would cause deep erosion of ROC confidence, leading to possible disintegration of social order or desperate acts which could complicate [Page 555]rather than ease U.S.–PRC relations; our direct responsibility for such consequences would confront us with serious problems at home and abroad;

·       —could cause PRC to miscalculate our intentions with respect to Taiwan, tempting it to use, or more likely to threaten to use, force as Taiwan’s defense capabilities rapidly deteriorate;

·       —would result in a severe decline in our influence with the ROC;

·       —so long as security treaty remained in effect, would necessitate earlier and more substantial U.S. role in meeting our defense commitment in event of PRC attack;

·       —might prompt accelerated ROC efforts to develop nuclear weapons;

·       —could cause serious concern in other Asian nations dependent on the U.S.;

·       —would endanger U.S. investment on Taiwan.

Option II. Freezing ROC Access to Current Types and Levels

This option would place new limitations on arms supply to the ROC in order to improve the climate for U.S.–PRC normalization. Over a three to five-year period it would involve an unmistakable deterioration of ROC military capabilities relative to the PRC. Under this option we would permit continued access to spare parts, replacement of equipment or items already in the ROC inventory and certain improved models made necessary by phase-out of weapons in the U.S. inventory (e.g., F–5Es, improved Hawk missiles). Under this option no new weapons systems would be authorized. An illustrative list of the kinds of equipment which could be provided under this option is at Annex C I.

Advantages:

·       —could for a time at least reduce arms supply as obstacle to normalization of U.S.–PRC relations;

·       —would for the next few years maintain a credible ROC military deterrence;

·       —would preserve some elements of our arms relationship with the ROC as a bargaining chip for later use with Peking;

·       —would reduce U.S. economic burden;

·       —could over time help convey to the ROC our interest in its seeking accommodation with the PRC.

Disadvantages:

·       —as departure from present practice would erode ROC confidence in U.S. support, possibly leading to instability on Taiwan or to ROC moves which could complicate our relations with the PRC;

·       —could over time tempt PRC to threaten the use of force since disparity in relative military power in the Taiwan Strait area would gradually increase;

·       —to extent ROC’s self-defense capability is limited, would imply earlier and more extensive US role in the event of PRC attack;

·       —might prompt accelerated ROC efforts to develop nuclear weapons.

Option III. Limited ROC Access to New Weapons

This option is divided into a lower and upper range. Under the lower range the ROC would not be permitted to obtain “controversial” new equipment; under the upper range we would permit limited acquisition of such equipment. We would define “controversial” as any major, new weapon which would be seen by the PRC as providing the ROC clear technological superiority or altering the current relative military “balance”. Since we cannot be confident in assessing Peking’s views, we would also have to take into account the role in the U.S. inventory, and popular “image” of the weapon.

Under the lower range, we would permit the ROC to replace or modestly increase existing equipment (including F–5E aircraft), and would also permit it to obtain new equipment which is not “controversial” (e.g., anti-tank missiles, certain kinds of ECM equipment, improved command and control systems for air defense; the Harpoon missile to counter the rapidly growing PRC Styx missile boat threat would be a borderline case). We assume the ROC would turn where possible to third-country sources for “controversial” weaponry and we would not interfere. Our objective under this lower range of equipment supply would be to maintain a balance between accommodating PRC sensitivities and fulfilling ROC needs for psychological confidence in its security. An illustrative list of the kinds of equipment which could be provided under this lower range option is at Annex C II.

Under the upper range, we would permit the ROC to replace and modestly increase existing equipment, including a limited number of new equipment items the PRC might consider “controversial”, but which would help to maintain ROC confidence in U.S. intentions and in its ability to deal with what it perceives to be serious and growing PRC capabilities. However, if there were alternative sources of such “controversial” equipment available to the ROC, we would not feel compelled to supply our equipment. The objective would be to give, within limits, greater emphasis to ROC psychological concerns over its security, while accepting some risk of PRC displeasure over our actions in the arms supply area. We would have to make a careful case-by-case examination of all ROC requests keeping in mind that the extent to which any weapons system is “controversial” might well change, either over time or because of other changes in the relationships between [Page 557]the U.S. and the two Chinese parties. Under this option we would provide the Harpoon missile or laser guided bombs. An illustrative list of the kinds of equipment which could be provided under this upper range option is at Annex C III.

Advantages:

·       —should be sufficiently reassuring to ROC (particularly at upper range) to prevent instability on Taiwan or acts of desperation; would cushion the impact of any further changes in the ROC’s political environment;

·       —provides flexibility to deal with weapons supply in the context of evolving U.S. China policy and probable changes in other elements of Taiwan’s security;

·       —would maintain credible, though gradually deteriorating, ROC military deterrent;

·       —would inhibit PRC temptation to use force;

·       —would provide the U.S. with a bargaining chip in later negotiations with the PRC.

Disadvantages:

·       —particularly at upper range could give rise to both PRC and ROC doubts about our interest in normalization and peacefully resolving the Taiwan problem;

·       —might involve modest risk to ROC (particularly at lower range) by acquiescing in a gradual deterioration of ROC defense capability relative to that of the PRC;

·       —provides the least precise practical guidelines for judging specific items of military equipment;

·       —at upper range would place strain on ROC economic capabilities;

·       —long lead times for many new weapons systems may lead to misunderstanding of U.S. intentions by PRC when weapons delivered.

Option IV—Substantial ROC Access to New Weapons

Under this option we would permit the ROC to attempt to maintain or enhance its military capabilities relative to those of the PRC. the ROC would be permitted to increase its inventory of weapons systems already held, and also obtain new weapons systems in significant numbers. The distinction between “controversial” or “non-controversial” equipment would be minimized, but not ignored, and we would continue to prevent the ROC from acquiring a serious offensive capability for use against the PRC. Our objective under this option would be to use arms supply as a means of enhancing ROC confidence in its security and of minimizing the effects of any other changes in our security relationship with the ROC. Under this option we would provide [Page 558]both Harpoon missiles and laser guided bombs and eventually YF–16 or 17 follow-on aircraft. An illustrative list of equipment which would be provided under this option is at Annex C IV.

Advantages:

·       —by maximizing ROC confidence, would entail least risk of ROC instability or acts of desperation and would cushion the impact of any further changes in its political environment;

·       —greater ROC capability might reduce need for more direct U.S. involvement in Taiwan security.

Disadvantages:

·       —would hinder normalization of U.S.–PRC relations and the wider U.S. objectives associated with it;

·       —would mislead ROC about U.S. interest in achieving a peaceful resolution of the Taiwan problem in keeping with Shanghai Communiqué

·       —strain in U.S.–PRC relations would reduce the political deterrent against a PRC attack;

·       —would place maximum burden on the ROC economy, and would require substantial new U.S. financial assistance;

·       —PRC would be likely to view this course as an increased threat to it, and might augment its own forces in the area;

·       —long lead times involved would mean deliveries into late eighties of approvals within this period.5

[Omitted here are Annex A on ROC economic capabilities, Annex B on the PRC military threat, and Annex C of illustrative lists of equipment under various options.]

1.   Source: Ford Library, NSC Institutional Files (H-Files), Box H–32, NSSM 212, U.S. Security Assistance to the Republic of China. Top Secret; Sensitive. This study was prepared in response to NSSM 212, Document 88. Scowcroft received the study under a November 12 covering letter from Habib, who chaired this interdepartmental group. (Ibid.) On January 10, 1975, Jeanne Davis sent it to the Secretary of Defense, Deputy Secretary of State, and Director of Central Intelligence. The Chairman of the JCS also received a copy. (Washington National Records Center, OSD Files:FRC 330–78–0059, China (Nats), 1975, 091.3, 10 Jan 1975)↩

2.   See footnote 3, Document 73.↩

3.   Annexes A–C are attached but not printed.↩

4.   On January 14, 1975, Davis distributed a memorandum that asked recipients of the study to insert a footnote that reads: “USAF and DIA believe that the initial PRC air assault against Taiwan would be carried out with sufficient forces to overwhelm the ROC AC&W system, thus negating the ROC advantages in equipment and training, reducing PRC losses, and insuring the early attainment of PRC superiority.” (Ford Library, NSC Institutional Files (H-Files), Box H–32, NSSM 212, U.S. Security Assistance to the Republic of China)↩

5.   A memorandum prepared by the NSC staff reported the various departmental views: State favored Option III in its lower range; Defense supported Option III in its upper range;CIA took no formal position but asserted that Options II or III, singly or in combination, were the most realistic means to maintain the U.S. relationships with the PRC and the ROC while preserving stability in Taiwan. The authors of the memorandum agreed with State that Option III in its lower range provided the best broad policy guidance. (Memorandum from Solomon, Granger, and Froebe to Kissinger, May 23, 1975; Ford Library, NSC Institutional Files (H-Files), Box H–32, NSSM 212, U.S. Security Assistance to the Republic of China)↩

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d90

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_546

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_547

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_548

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_549

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_550

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_551

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_552

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_553

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_554

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_555

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_556

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_557

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_558

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d73fn3

Thân thế (các) nhân vật

Davis, Jeanne W.,

Staff Secretary, National Security Council Staff Secretariat until 1974

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve01/d181

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve06/d156

https://www.nixonlibrary.gov/national-security-council-structure-and-functions

https://www.nixonlibrary.gov/finding-aids/national-security-council-files

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP86B00269R000600030002-0.pdf

https://www.washingtonpost.com/archive/local/1991/09/19/jeanne-w-davis-dies/d770b87d-1e30-4de6-8d77-44af15d8e27a/

https://www.cia.gov/readingroom/document/cia-rdp86b00269r000600030002-0

Froebe, John A., Jr.,

assigned to the Australia, New Zealand and Pacific Island Desk, Bureau of East Asian Affairs, Department of State, but actually on the NSC staff beginning in 1971; formally detailed to the NSC in January 1974; left NSC staff in August 1975

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d18

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d339

https://www.mekong.net/cambodia/download/foreign_relations_vietnam_73-75.pdf

https://adst.org/OH%20TOCs/Holdridge,%20John.%201995%20toc.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d251

https://ia802805.us.archive.org/11/items/investigationofk00unit/investigationofk00unit.pdf

Granger, Clinton E.,

member, National Security Council staff from August 1974

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-2

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-3

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-4

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24#fnref:1.7.4.4.8.92.8.10

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24#fnref:1.7.4.4.8.92.8.12

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v38p2/ch5

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP79-00957A000100020012-5.pdf

https://www.docsteach.org/documents/document/granger-scowcroft

https://www.docsteach.org/index.php?option=com_ml_documents&task=createZipFile&docid=7299

https://2001-2009.state.gov/r/pa/ho/frus/nixon/e6/66769.htm

https://georgewbush-whitehouse.archives.gov/nsc/history.html

https://www.nixonlibrary.gov/finding-aids/national-security-council-files

Habib, Philip C.,

member, U.S. Delegation to the Paris Peace Talks from May 1968 until October 1971; Ambassador to Korea from September 30, 1971, until August 19, 1974; Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs from September 27, 1974

https://en.wikipedia.org/wiki/Philip_C._Habib

https://en.wikipedia.org/wiki/Under_Secretary_of_State_for_Political_Affairs

https://en.wikipedia.org/wiki/Assistant_Secretary_of_State_for_East_Asian_and_Pacific_Affairs

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_Korea

https://diplomacy.state.gov/u-s-diplomact-philip-c-habib-presidential-medal-of-freedom-winner/

https://nsuworks.nova.edu/nsudigital_forums/13/

https://www.arabamerica.com/arabamericans/philip-habib-3/

https://www.britannica.com/biography/Philip-Charles-Habib

https://www.encyclopedia.com/humanities/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/habib-philip-charles

Henry A Kissinger

Assistant to the President for National Security Affairs until November 3, 1975; also Secretary of State from September 21, 1973

https://www.theguardian.com/world/2023/may/20/bilderberg-meeting-group-lisbon-kissinger

https://www.theguardian.com/world/bilderberg

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/summary

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip

https://china.usc.edu/sites/default/files/styles/article_node_featured/public/article/featured-image/kissinger-zhou-sm_0.jpg?itok=qDjPx2_m

https://china.usc.edu/catalog/documents/us-china

http://www.archives.gov/press/press-releases/2001/nr01-47.html

https://china.usc.edu/talking-points-july-22-august-3-2011

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#meetings

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#nixon-announcement

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#chinese-accept

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#signals

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#the_aim

http://www.foreignaffairs.com/articles/23927/richard-m-nixon/asia-after-viet-nam

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d4

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d12

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d13

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d141

https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf

https://en.wikipedia.org/wiki/Henry_Kissinger_and_the_Vietnam_War

Lesson in Vietnam from Kissinger to Nixon: “when we made it “our war” we would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war”, we would not help them fight it.”

(We also had trouble with excesses here: when we made it “our war” we would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war,” we would not help them fight it. Ironically, we prepared the South Vietnamese for main force warfare after 1954 (anticipating another Korean-type attack), and they faced a political war; they had prepared themselves for political warfare after 1973 only to be faced with a main force invasion 20 years after it had been expected.)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/d280

Lesson of Vietnam May 12 1975 by Henry A. Kissinger

https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/exhibits/vietnam/032400091-002.pdf

https://thebattleofkontum.com/extras/kissinger.html

“Richard M. Nixon and Kissinger on 3 August 1972,” Conversation 760-006, Presidential Recordings Digital Edition [Fatal Politics, ed. Ken Huges] (Charlottesville: University of Virginia Press, 2014-). URL:https://prde.upress.virginia.edu/conversations/4006748 

https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0

https://millercenter.org/the-presidency/educational-resources/nixon-kissinger-and-the-decent-interval

https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0

Discover the Truth at:

http://www.theblackvault.com

https://www.theblackvault.com/documentarchive/the-cias-vietnam-document-cd-rom/

The secret life of Henry Kissinger minutes of a 1975 meeting with Lawrence Eagleburger

https://etan.org/news/kissinger/secret.htm

Henry Kissinger and the Truth About Negotiations In Vietnam

https://www.youtube.com/watch?v=Z5fxxKVfX5g

Henry Kissinger - Secrets of a superpower | DW Documentary

https://www.youtube.com/watch?v=bWVMTKeAwlA

The Untold Truth of Henry Kissinger

https://www.youtube.com/watch?v=0iheZdvWdbI&t=1s

Was Henry Kissinger a War Criminal?

https://www.youtube.com/watch?v=COqq7862wcU&t=25s

Scowcroft, Brent,

General, USAF, Military Assistant to the President until 1973; Deputy Assistant to the President for National Security Affairs from August 1973 until 1975

https://warontherocks.com/2020/08/brent-scowcroft-and-american-military-intervention/

https://warontherocks.com/2020/08/blame-it-on-the-blob-how-to-evaluate-american-grand-strategy/

https://www.aspeninstitute.org/programs/aspen-strategy-group/about-asg/

https://www.whitehouse.gov/piab/

https://www.publicaffairsbooks.com/titles/bartholomew-sparrow/the-strategist/9781586489632/

http://web1.millercenter.org/poh/transcripts/ohp_1999_1112_scowcroft.pdf

https://www.nytimes.com/2020/08/12/us/politics/brent-scowcroft.html

https://www.thecipherbrief.com/column_article/remembering-brent-scowcrofts-accomplishments-on-arms-control

https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2020-08-13/scowcroft-model

https://archive.org/stream/towercommission00unit?ref=ol#mode/2up

https://www.penguinrandomhouse.ca/books/253135/the-man-who-ran-washington-by-peter-baker-and-susan-glasser/9780385540551

https://www.twelvebooks.com/titles/philip-zelikow/to-build-a-better-world/9781538764688/

https://toda.org/assets/files/resources/policy-briefs/t-pb-23_susan-koch_presidential-nuclear-initiatives-1991-92.pdf

https://www.penguinrandomhouse.ca/books/617544/margaret-thatcher-volume-3-by-charles-moore/9780241324745

https://yalebooks.yale.edu/book/9780300233827/post-wall-post-square

https://www.amazon.com/When-World-Seemed-New-George-dp-1328511650/dp/1328511650/ref=mt_other?_encoding=UTF8&me=&qid=

https://www.penguinrandomhouse.com/books/22029/a-world-transformed-by-george-hw--bush-and-brent-scowcroft/

https://yalebooks.yale.edu/book/9780300233827/post-wall-post-square

https://www.simonandschuster.com/books/War-in-a-Time-of-Peace/David-Halberstam/9781501141508

https://www.adst.org/OH%20TOCs/Inderfurth,Karl%20F.toc.pdf

https://www.wsj.com/articles/SB1029371773228069195

https://www.nytimes.com/2002/08/25/opinion/the-right-way-to-change-a-regime.html

https://www.penguinrandomhouse.com/books/592622/to-start-a-war-by-robert-draper/

https://pdfs.semanticscholar.org/de9b/be3fa428073b76a05fbb58739bf3279c3664.pdf

https://www.ft.com/content/de843f6e-0be1-4667-8a9f-f397cf840e72

https://www.houseofnames.com/brent-family-crest

https://www.houseofnames.com/dpreview/BRENT/EN/Brent/family-crest-coat-of-arms.png

https://www.houseofnames.com/cdn/webp/i/prod/520x520/surnamecomplete_gold.webp

https://www.aspeninstitute.org/programs/aspen-strategy-group/lt-general-brent-scowcroft/

https://dpaa-mil.sites.crmforce.mil/dpaaProfile?id=a0Jt000000sxxIFEAY

https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/document/0204/7505562.pdf

https://news.virginia.edu/content/uvas-miller-center-releases-secret-brent-scowcroft-oral-history

https://www.newstatesman.com/politics/2020/08/the-quiet-mastermind-how-brent-scowcroft-redefined-the-art-of-grand-strategy

Solomon, Richard H.,

member, National Security Council staff

https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_H._Solomon

https://www.academyofdiplomacy.org/members-1/solomon/richard-h.

https://carnegiecouncil.org/people/richard-h-solomon

https://www.c-span.org/person/richard-h-solomon/9004/

https://www.chinafile.com/contributors/richard-h-solomon

https://findingaids.lib.umich.edu/catalog/umich-bhl-2008034

https://www.presidency.ucsb.edu/documents/nomination-richard-h-solomon-be-assistant-secretary-state

No comments:

Post a Comment