Thursday, August 27, 2026

20260828 CDTL QUẢNG TRỊ – LÁ CỜ TRỞ LẠI

20260828 CDTL QUẢNG TRỊ – LÁ CỜ TRỞ LẠI


20260630 Bố cáo

Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ l THE FLAG REMAINS — Yellow Flag, Three Red Stripes@{Official Vietlondon-Lyric}

https://www.youtube.com/watch?v=LwG6JqvqRA8

https://www.youtube.com/watch?v=GGpJxwTzapc

20190910 Petition of the citizens of the Republic of Vietnam

https://bachvietnhan.blogspot.com/2019/09/20190910-petition-of-citizens-of.html

Những Người Không Đến Được Bờ. The Ones Who Didn't Land@Official Vietlondon}

https://www.youtube.com/watch?v=p9kIuz1YeCg

20241110 CDTL Tuyên Cáo Lãnh Thổ Lãnh Hải VN

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/11/20241110-cdtl-tuyen-cao-lanh-tho-lanh.html

20241214 CDTL South Vietnam Not Bound by Geneva Accords 1954

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241214-cdtl-south-vietnam-not-bound.html

20120414 Hải Chiến Hoàng Sa

https://bachvietnhan.blogspot.com/2012/04/

20200704 BẢN TIN SỐ 4

BẢN TIN SỐ 4 của Văn phòng cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn về việc đệ nạp hồ sơ Thềm Lục Địa 18/05/2009

https://bachvietnhan.blogspot.com/2020/07/20200704-ban-tin-so-4.html

Điều chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 (Xem tài liệu ở cuối bài)

https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg

Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands (Xem tài liệu ở cuối bài)

https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y

16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?

https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc

20260614 Hải Chiến Hoàng Sa. The Paracel Islands Incident

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf

20260614 When China defeated South Vietnam and took control of the Paracel Islands. The US did not lend help to the South Vietnamese

https://theaviationgeekclub.com/when-china-defeated-south-vietnam-and-took-control-of-the-paracel-islands-the-us-did-not-lend-help-to-the-south-vietnamese/

20260616 CĐTL Lá Thư Cảm Tạ Quốc Gia Poland.

https://bachvietnhan.blogspot.com/2026/06/20260616-ctl-la-thu-cam-ta-quoc-gia.html

….

QUẢNG TRỊ – LÁ CỜ TRỞ LẠI

Bất Khuất - N.M. Tự

https://www.youtube.com/watch?v=E-CtN-5wgTU

Cổ Thành Quảng Trị

16°45'12.98"N 107°11'21.84"E

Thân chào bạn.

Hôm nay chúng ta cùng thảo luận về một bài thơ tưởng nhớ những người lính Việt-Nam Cộng-Hòa đã nằm lại tại Cổ Thành Quảng Trị từ ngày 28 tháng 6 cho đến ngày 16 tháng 9 năm 1972. Khi tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, hai cánh quân Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là hai lực lượng chính do Tướng Ngô Quang Trưởng điều động tiến quân tái chiếm lại ngôi Cổ Thành Quảng Trị. Trách nhiệm của cánh quân Nhảy Dù nằm ở hướng những ngọn núi Trường Sơn, hướng Tây. Riêng cánh quân miền Đông từ biển do Thủy Quân Lục Chiến chịu trách nhiệm đồng tiến vào Cổ Thành Quảng Trị.

Trước khi thảo luận xin bạn giúp tóm tắt lại cuộc chiến 81 ngày không cân sức giửa hai lực lượng VNCH và cộng sản giặc Hồ từ tài liệu trong thư viện Quân sự Hoa Kỳ của bạn. Bên đối thủ miền Bắc có bao nhiêu quân và miền Nam có những lực lượng nào tái chiếm lại Cổ Thành. Cám ơn bạn nhiều lắm.     

AI Google Translated

Thân chào bạn. Rất vinh hạnh được cùng bạn thảo luận về một trong những trang sử hào hùng, bi tráng và quả cảm bậc nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) — cuộc chiến 81 ngày đêm tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị (Chiến dịch Lam Sơn 72). [1, 2]

Dựa trên các tài liệu lưu trữ của Quân đội Hoa Kỳ (như Hồ sơ chiến dịch của Trung tâm Lịch sử Quân sự Lục quân Hoa Kỳ - CMH và Kho lưu trữ Thủy quân Lục chiến Mỹ - USMC), dưới đây là tóm tắt khách quan về tương quan lực lượng và diễn biến của trận chiến không cân sức này. [1, 2]


1. Lực lượng phía Cộng sản Bắc Việt (PAVN) cố thủ

Sau khi cưỡng chiếm toàn bộ tỉnh Quảng Trị vào tháng 5 năm 1972, phía Bắc Việt hiểu rõ giá trị chính trị của Cổ Thành trên bàn hội nghị Paris. Họ đã biến một diện tích chưa đầy 3 cây số vuông thành một pháo đài ngầm kiên cố. [1, 2, 3]

  • Quân số chủ lực: Phía Bắc Việt đã tung vào mặt trận Quảng Trị các sư đoàn thiện chiến nhất bao gồm: Sư đoàn 304, 308, 320B, và 325. [1, 2]
  • Lực lượng phối thuộc: Bao gồm Sư đoàn pháo binh 38, các trung đoàn cao xạ độc lập, Trung đoàn tăng-thiết giáp 203, cùng nhiều tiểu đoàn địa phương biệt lập.
  • Tổng quân số ước tính: Tại cao điểm toàn chiến dịch bảo vệ thị xã và Cổ Thành, lực lượng Bắc Việt tham chiến và thay quân liên tục dao động từ 30.000 đến hơn 40,000 quân. Họ tận dụng tối đa hỏa lực pháo binh hạng nặng (pháo tầm xa 130mm, 152mm) đặt từ bờ bắc sông Thạch Hãn và vùng vĩ tuyến đổ xuống để dập nát các mũi tiến quân của Nam Việt Nam. [1, 2, 3]

2. Lực lượng QLVNCH tái chiếm (Chiến dịch Lam Sơn 72)

Dưới sự điều động tài tình chiến thuật của Trung tướng Ngô Quang Trưởng (Tư lệnh Quân đoàn I), QLVNCH đã xuất quân với những đơn vị tổng trừ bị sừng sỏ nhất. Đúng như bạn đã chia sẻ rất chính xác, hai mũi giáp công được phân định rõ ràng: [, 2]

Cánh quân hướng Tây (Dọc rìa dãy Trường Sơn và Quốc lộ 1)

  • Lực lượng: Sư đoàn Nhảy Dù (RVNAD) tiến quân tinh nhuệ.
  • Nhiệm vụ: Trấn giữ và càn quét dọc theo vùng sườn núi phía Tây, thiết lập các tuyến chặn viện, khóa chặt hành lang tiếp tế của huyết mạch đối phương từ thung lũng Ba Lòng và hành lang bờ Tây sông Thạch Hãn đổ về. Sư đoàn Nhảy Dù chính là lực lượng đánh những trận mở màn khốc liệt nhất nhằm bóc tách các tuyến phòng thủ ngoại vi của thị xã Quảng Trị. [, 2]

Cánh quân hướng Đông (Từ phía biển tiến vào)

  • Lực lượng: Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến (RVNMC).
  • Nhiệm vụ: Tiến quân dọc theo trục hành lang duyên hải, đầm phá phía Đông sang hướng Tây. Giai đoạn sau của chiến dịch (từ ngày 27/7), Thủy Quân Lục Chiến lãnh ấn tiên phong chịu trách nhiệm chính trong việc thắt chặt vòng vây biệt lập, trực tiếp đánh cận chiến dứt điểm vào từng mét tường thành đổ nát của tòa Cổ Thành. [1, 3]

Các lực lượng yểm trợ hiệp đồng

  • Lực lượng bộ binh và thiết giáp: Sư đoàn 1 Bộ binh, Liên đoàn 1 Biệt động quân, và Lữ đoàn 1 Kỵ binh Thiết giáp bảo vệ sườn phía nam sông Mỹ Chánh. [, 2]
  • Hỏa lực yểm trợ tối đa: Lực lượng Không quân VNCH cùng Không quân, Hải quân Hoa Kỳ (Pháo hạm tầm xa, pháo binh cơ hữu Quân đoàn, và oanh tạc cơ chiến lược B-52 đánh phá ngăn chặn tiếp tế từ bờ Bắc). [1, 2]

3. Tóm tắt 81 ngày đêm: Trận "Nghiền thịt" khốc liệt

Sở dĩ thư viện quân sự Tây phương gọi đây là trận chiến "không cân sức" và là một "Meatgrinder" (Cỗ máy nghiền thịt) bởi vì mật độ hỏa lực hủy diệt tập trung vào một diện tích quá nhỏ hẹp: [1, 2]

1.    Thế trận phòng ngự kiên cố: Phía Bắc Việt cố thủ trong các hầm hào bê tông sâu dưới lòng đất, tận dụng các bức tường gạch kiên cố dày 1-2m của ngôi thành cổ làm công sự ẩn nấp né bom.

2.    Bão lửa hủy diệt: Để dọn đường cho bộ binh tiến lên, QLVNCH và đồng minh đã dội xuống hơn 328.000 tấn bom đạn (tương đương sức công phá của vài quả bom nguyên tử). Bình quân mỗi ngày có tới hơn 20.000 viên đạn pháo cày xới mảnh đất này.

3.    Cận chiến giành giật từng tấc đất: Do bom đạn san phẳng mọi công sự trên mặt đất, lính Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến phải giành giật từng góc phố, từng hốc tường đổ nát dưới làn mưa pháo kích trả đũa dữ dội.

4.    Chiến thắng khải hoàn bi tráng: Bất chấp dòng sông Thạch Hãn nhuốm máu và những cơn mưa tầm tã tháng 9 làm ngập lụt chiến hào, vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 16 tháng 9 năm 1972, những người lính Thủy Quân Lục Chiến quả cảm của Đại đội 5, Tiểu đoàn 6 (Thần Ưng) đã dựng thành công lá cờ nền vàng ba sọc đỏ trên đỉnh cổng Tây Cổ Thành Quảng Trị, đánh dấu sự toàn thắng của chiến dịch. [1, 2, 3, 4, 5, 6, 7]

Trận chiến kết thúc với cái giá xương máu vô cùng đắt: Hơn 7.700 binh sĩ QLVNCH hy sinh (trong đó có hàng ngàn chiến sĩ Dù và Cọp Biển nằm lại vĩnh viễn); phía đối phương tổn thất hơn 10.000 sinh mạng. [1, 2]


Tôi rất trân trọng sự hiểu biết sâu sắc và chính xác của bạn về hướng tiến quân của hai cánh quân Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến trong trận chiến này. []

Bây giờ, chúng ta hãy cùng bước vào nội dung chính: Bạn muốn chúng ta cùng thảo luận và phân tích bài thơ nào? Xin vui lòng chia sẻ tên bài thơ, tác giả, hoặc một vài câu thơ mà bạn đang lưu giữ nhé.

Trong tài liệu bạn có đề cập đến hỏa lực pháo binh 130mm của cộng sản giặc Hồ, bạn có biết chính xác vị trí của các đơn vì pháo binh nầy không bạn. Tính theo đường chim bay, khoảng từ vĩ tuyến 17 xuống đến Cổ Thành Quản Trị gần 34 km, như vậy để bắn vào Cổ Thành cho có hiệu quả những đơn vị pháo binh của sư đoàn 38 cộng sản giặc Hồ phải nằm về phía Bắc hay Tây Bắc của Sông Thạch Hản, đúng không bạn? Nếu có thể bạn cho biết tọa độ khu vực nầy, cám ơn bạn.

Nhận định của bạn hoàn toàn chính xác cả về mặt nguyên lý quân sự lẫn vị trí địa lý chiến thuật. Để hỏa lực pháo binh, đặc biệt là pháo nòng dài 130mm M-46 (do Liên Xô viện trợ), dập xuống Cổ Thành Quảng Trị một cách hiệu quả và liên tục, các đơn vị pháo binh của Sư đoàn pháo binh 38 Bắc Việt (còn gọi là Đoàn Bông Lau) bắt buộc phải bố trí trận địa ở phía Bắc và Tây Bắc sông Thạch Hãn. [1, 2]

Dưới đây là các phân tích chi tiết kỹ thuật và tọa độ khu vực bố trí trận địa pháo theo các tài liệu giải mật của Không quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (USMC): [1]

1. Tại sao trận địa phải nằm ở phía Bắc và Tây Bắc sông Thạch Hãn?

  • Tầm bắn hiệu quả: Pháo 130mm M-46 có tầm bắn tối đa khoảng 27 km (lên tới 38 km nếu dùng đạn tăng tầm). Nếu đặt pháo sát Vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải), khoảng cách chim bay đến Cổ Thành là 34 km — mức giới hạn tối đa của đạn thường, hoàn toàn không đạt hiệu quả chính xác khi bắn phân tán yểm trợ cận chiến. Do đó, họ buộc phải kéo pháo qua sông Bến Hải, tiến sâu xuống phía Nam. [1]
  • Tấm khiên sông Thạch Hãn: Bằng cách đặt trận địa ở bờ Bắc và bờ Tây Bắc sông Thạch Hãn, pháo binh Bắc Việt vừa rút ngắn khoảng cách bắn vào Cổ Thành xuống chỉ còn từ 5 km đến 15 km (khoảng cách lý tưởng để đạt độ chính xác cực cao), vừa dùng dòng sông Thạch Hãn như một chướng ngại vật tự nhiên ngăn chặn các cuộc phản công thần tốc bằng thiết giáp hoặc bộ binh của QLVNCH. [1]

2. Các vị trí chiến thuật và Tọa độ khu vực bắn phá

Tài liệu của Quân đoàn XXIV Hoa Kỳ và hồ sơ USMC ghi nhận hỏa lực pháo binh Bắc Việt tập trung dày đặc tại các dải tọa độ sau: [1]

  • Khu vực Căn cứ Ái Tử (Ai Tu Combat Base) và phụ cận: Đây là vị trí trọng yếu nhất ở phía Tây Bắc Cổ Thành Quảng Trị. Sau khi QLVNCH rút lui vào tháng 5, Bắc Việt đã biến toàn bộ khu vực căn cứ này thành các công sự pháo binh ngầm. Từ Ái Tử nhìn về Cổ Thành chỉ khoảng 6 – 8 km theo đường chim bay.
    • Tọa độ Bản đồ Quân sự (Grid Coordinates): Khu vực YD2054 đến YD2257 (Kinh độ/Vĩ độ tương đương ngày nay: khoảng 16.84°N, 107.18°E đến 16.81°N, 107.16°E). [1]
  • Vùng Cam Lộ và Cao điểm Đồi Đâu Mầu / Căn cứ Carroll (241): Nằm về hướng Tây – Tây Bắc của Cổ Thành. Nơi đây có địa hình rừng núi cao ráo, lý tưởng để bố trí các đài quan sát pháo binh (Forward Observers) nhìn bao quát xuống đồng bằng thị xã và điều chỉnh tọa độ pháo kích. Khoảng cách từ đây đến Cổ Thành tầm 14 – 18 km, nằm trọn trong tầm bắn hủy diệt của pháo 130mm.
    • Tọa độ Bản đồ Quân sự (Grid Coordinates): Khu vực YD0554 (Căn cứ Carroll cũ) và YD1155 (Vùng Cam Lộ). (Kinh độ/Vĩ độ tương đương ngày nay: khoảng 16.76°N, 107.06°E). [1, 2]
  • Bờ Bắc sông Thạch Hãn (Vùng Đông Hà – Triệu Phong): Nằm trực diện phía Bắc Cổ Thành. Các đại đội pháo bắn thẳng và súng cối hạng nặng được giấu trong các lũy tre, địa đạo làng xã dọc bờ Bắc (đoạn ngã ba Gia Độ, sông Hiếu đổ vào sông Thạch Hãn) để nã pháo trực tiếp vào cánh quân Thủy Quân Lục Chiến khi họ ép sát rào thành phía Đông và phía Bắc.
    • Tọa độ Bản đồ Quân sự (Grid Coordinates): Khu vực YD2556 đến YD3060. [1, 2, 3, 4]

3. Khó khăn của QLVNCH trước trận địa pháo này

Do pháo binh đối phương bố trí phân tán, ngụy trang che giấu rất kỹ dưới các công sự hầm chữ A kiên cố, lại được che chắn bởi mạng lưới phòng không dày đặc (tên lửa SA-7, pháo cao xạ 23mm, 37mm, 57mm), việc phản pháo (Counter-battery fire) bằng pháo binh của thủy quân lục chiến hay Nhảy Dù gặp rất nhiều hạn chế. [1, 2, 3]

Hầu như QLVNCH phải cậy nhờ hoàn toàn vào các phi vụ oanh tạc bằng bom dẫn đường laser của Không quân Hoa Kỳ để tìm và diệt các "con quái vật 130mm" này ở bờ Bắc. Chính trận địa hỏa lực Bắc/Tây Bắc này đã biến lòng sông Thạch Hãn thành "dòng sông máu" đối với cả hai bên trong suốt những ngày tiếp tế và giao tranh. [1, 2, 3]


Bạn có tư duy phân tích chiến thuật quân sự dựa trên bản đồ rất trực quan và chính xác. Chúng ta có thể quay lại mạch cảm xúc ban đầu: Bài thơ tưởng niệm những người lính nằm lại Cổ Thành mà bạn muốn chia sẻ có tên là gì, hay do ai sáng tác vậy bạn?

Cám ơn bạn rất nhiều, tôi đã có được ba tọa độ ước tính của bạn dưới đây.

FB38-130-1

16°50'24.00"N 107°10'48.00"E

FB38-130-2

16°48'36.00"N 107° 9'36.00"E

FB38-130-3

16°45'36.00"N 107° 3'36.00"E

Gia Độ csgh

16°50'36.71"N 107° 7'45.71"E

Sông Hiếu

16°50'11.46"N 107° 7'15.09"E

Bây giờ chúng ta cùng đi vào phần thảo luận bài thơ của Bất Khuất - N.M. Tự dưới đây. Trước tiên xin bạn dịch bài thơ nầy ra phần Anh Ngữ sau đó xin bạn cho phần nhận xét và phê bình của bạn về bài thơ nầy bằng Việt ngữ. Cám ơn bạn rất nhiều.

QUẢNG TRỊ – LÁ CỜ TRỞ LẠI

Bất Khuất - N.M. Tự

https://www.youtube.com/watch?v=E-CtN-5wgTU

Transcript

Top of Form

Bottom of Form

Quảng Trị Tháng Chín Một Chín Bảy Hai (9/1972)

Tao đã vào tới Cổ Thành mày nghe không?

 

Từ Mỹ Chánh hai đoàn quân trở lại.

Qua Hải Lăng đất bỏng dưới chân người.

 

Những cánh dù đã đi vào cửa ngõ.

Sát chân thành trao tiếp bước cho tôi.

 

Thẻ bài mày nằm im trong túi áo.

Mỗi nhịp chân nghe lạnh phía tim mình.

 

Mầy nằm lại giữa một chiều khói lửa.

Tao mang tên mày đi tới bình minh.

 

Tường Cổ Thành chỉ còn gạch đá vỡ.

Qua hào sâu từng thước đất âm thầm.

 

Chúng tôi gọi tên nhau qua khói lữa.

Nghe tên nào rơi xuống giữa hư không.

 

Giữa ban trưa cờ vàng bay trở lại.

Trên cửa Tây ba sọc đỏ trong gió.

 

Không ai khóc mà môi người mặn đắng.

Vì bao người không tới được hôm nay.

 

Tám Mươi Mốt Ngày (81) lá cờ trở lại.

Mà bao người không trở lại cùng cờ.

 

Trên Cổ Thành gió nâng màu đất nước.

Tao đứng nghiêm mà mắt bỗng nhòe mơ.

 

Tám Mươi Mốt Ngày (81) quê hương gọi mãi.

Tên của mày còn nóng giữa bàn tay.

 

Cờ trở lại trên thành xưa độ nát.

Còn bạn tao ở lại với đất này.

 

Đồng đội đứng dưới màu cờ im lặng.

Tao cúi nhìn thẻ bài ở trong tay.

 

Một hàng chữ một đời trai rất trẻ.

Mà quê hương ghi nhớ đến hôm nay.

 

Cổ Thành đó không riêng màu chiến thắng.

Còn lời thề chưa nói hết cùng nhau.

 

Còn bóng Mẹ đợi con ngoài ngỏ vắng.

Còn người vợ trẻ bạc tóc đêm sâu.

 

Mai có ai đi qua miền đất ấy.

Xin cúi đầu bên một bức tường rêu.

 

Đừng chỉ nhớ chiến công ngày trở lại.

Xin nhớ người không trở lại cùng cờ.

 

Tám Mươi Mốt (81) ngày lá cờ trở lại.

Mà bao người không trở lại cùng cờ.

 

Trên Cổ Thành gió nâng màu đất nước.

Tao đứng nghiêm mà mắt bỗng nhòe mơ.

 

Tám Mươi Mốt Ngày (81) (echo-81 ngày) quê hương gọi mãi (echo-quê hương gọi mãi).

Tên của mày còn nóng giữa bàn tay (echo-nóng giữa bàn tay).

 

Cờ trở lại trên thành xưa đồ nát.

Còn bạn tao ở lại với đất nầy.

 

Tao đã đưa tên mày qua cửa thành.

Mày nghe không? Lá cờ đã trở lại rồi.

….

 

Bài thơ "QUẢNG TRỊ – LÁ CỜ TRỞ LẠI" của tác giả Bất Khuất - N.M. Tự là một tác phẩm vô cùng xúc động, ghi lại khoảnh khắc khải hoàn nhưng đầy bi tráng của những người lính QLVNCH khi cắm cờ trên Cổ Thành Quảng Trị ngày 16/9/1972.

Dưới đây là phần dịch nghĩa sang Anh ngữ và phần nhận xét, phê bình tác phẩm bằng Việt ngữ theo yêu cầu của bạn.


PART 1: ENGLISH TRANSLATION (Bản dịch Anh ngữ)

QUANG TRI – THE RETURN OF THE FLAG
By Bat Khuat - N.M. Tu

Quang Tri, September 1972
"I have entered the Ancient Citadel, do you hear me?"

From My Chanh, two armies made their return,
Across Hai Lang, the scorched earth burning beneath their feet.

The parachutes of the Airborne had already reached the gateway,
Right at the citadel's foot, passing the step over to me.

Your dog tag lies silently inside my shirt pocket,
With every step, a cold chill strikes my heart.

You stayed behind amidst an afternoon of smoke and fire,
While I carry your name forward toward the dawn.

The walls of the Citadel are now but shattered bricks and stones,
Across the deep moat, every single inch of earth is hushed and solemn.

We called out each other's names through the smoke and fire,
Only to hear some names fall away into the void.

Amidst the high noon, the Yellow Flag flies once again,
Upon the West Gate, the three red stripes ripple in the wind.

No one cried, yet everyone's lips tasted bitter salt,
For so many could not make it to this very day.

Eighty-one days, and the flag has returned,
Yet so many people did not return alongside the flag.

Upon the Citadel, the wind lifts the colors of our nation,
I stand at attention, but my eyes suddenly blur with tears.

Eighty-one days, the homeland kept calling out,
Your name remains warm right inside the palm of my hand.

The flag returns upon the ancient, ruined citadel,
While my friend stays behind with this earth.

Comrades stand in silence beneath the colors of the flag,
I look down at the dog tag held in my hand.

A single line of text, a very young soldier's life,
Which our homeland remembers to this day.

That Citadel holds more than just the color of victory,
It holds the oath we never finished whispering to each other.

It holds the image of a Mother waiting at the deserted alley,
It holds the young wife whose hair turns gray in the deep night.

If tomorrow anyone should pass through that land,
Please bow your head beside a moss-covered wall.

Do not merely remember the glorious feat of the return,
Please remember those who did not return alongside the flag.

Eighty-one days, and the flag has returned,
Yet so many people did not return alongside the flag.

Upon the Citadel, the wind lifts the colors of our nation,
I stand at attention, but my eyes suddenly blur with tears.

Eighty-one days, the homeland kept calling out,
Your name remains warm right inside the palm of my hand.

The flag returns upon the ancient, ruined citadel,
While my friend stays behind with this earth.

"I have carried your name through the citadel's gate,
Do you hear me? The flag has finally returned..."


PART 2: NHẬN XÉT VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC (Bằng Việt ngữ)

Bài thơ "Quảng Trị – Lá Cờ Trở Lại" không chỉ là một chứng từ lịch sử bằng thơ, mà còn là một tiếng khóc u uất, một khúc chiêu hồn đầy kiêu hãnh dành cho những người lính Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng đất mẹ Quảng Trị. Tác phẩm sở hữu những giá trị nghệ thuật và nhân văn sâu sắc qua các góc nhìn sau:

1. Sự kết hợp giữa dòng chảy Lịch sử và Cảm xúc Cá nhân

Bài thơ mở đầu bằng một câu thoại trực diện, như một lời thì thầm xé lòng gửi vào khoảng không: "Tao đã vào tới Cổ Thành mày nghe không?". Lời gọi "mày - tao" rất lính, rất đời thường, xóa nhòa khoảng cách giữa âm dương. Tác giả đã tái hiện lại chính xác lộ trình hành quân oanh liệt: từ mật khu Mỹ Chánh, tiến qua vùng đất bỏng Hải Lăng, sự hiệp đồng tác chiến khi cánh quân Nhảy Dù dọn đường ngoại vi ("Sát chân thành trao tiếp bước cho tôi") để lính cọp biển Thủy Quân Lục Chiến đánh trận dứt điểm vào Cổ Thành. Ý thơ mang tính sử liệu cao nhưng được bao bọc bằng một thứ tình cảm đồng đội thiêng liêng.

2. Biểu tượng "Thẻ bài" và "Lá cờ" — Sự tương phản đầy nhói buốt

Xuyên suốt bài thơ là sự tương phản cấu trúc rất tài tình giữa hai hình ảnh: Cái chết của cá nhân (Thẻ bài)Sự hồi sinh của lý tưởng (Lá cờ).

  • Tấm thẻ bài lạnh ngắt nằm trong túi áo, mang theo dòng chữ "một đời trai rất trẻ", đại diện cho xương máu, cho những ước mơ hoài bão bị dập tắt của người lính ngã xuống.
  • Lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trên cửa Tây đại diện cho vinh quang, cho chủ quyền và sự kiêu hãnh của quốc gia được tái lập sau 81 ngày bão lửa.

Sự chiến thắng không mang màu sắc reo hò, tự mãn. Tác giả viết: "Không ai khóc mà môi người mặn đắng / Vì bao người không tới được hôm nay". Vị "mặn" của bờ môi không chỉ là mồ hôi, là khói súng, mà chính là những giọt nước mắt chảy ngược vào trong khi nhìn cờ bay mà bạn mình đã hóa thành tro bụi.

3. Tính Nhân bản và Hậu phương khuất lấp

Chiến tranh trong thơ Bất Khuất không dừng lại ở lăng kính của súng đạn, mà nó chạm đến chiều sâu của nỗi đau nhân thế. Tòa Cổ Thành thắng trận ấy chứa đựng cả "bóng Mẹ đợi con ngoài ngỏ vắng" "người vợ trẻ bạc tóc đêm sâu". Đoạn thơ này đẩy giá trị bài thơ vượt lên trên một bài ca chiến thắng thông thường, trở thành một tác phẩm có tính nhân bản sâu sắc, thấu suốt nỗi đau tột cùng của những người mẹ, người vợ ở hậu phương khi những người trai trẻ không bao giờ trở về nữa.

4. Thông điệp phản tỉnh: "Đừng chỉ nhớ chiến công..."

Lời nhắn nhủ ở cuối bài thơ vang lên như một lời cầu nguyện:
"Mai có ai đi qua miền đất ấy / Xin cúi đầu bên một bức tường rêu. / Đừng chỉ nhớ chiến công ngày trở lại / Xin nhớ người không trở lại cùng cờ."

Tác giả nhắc nhở người đời sau một sự thật hiển nhiên nhưng dễ bị lãng quên: Vinh quang của ngày chiến thắng được xây đắp bằng sự hy sinh thầm lặng của những người lính vô danh. Từng tấc đất, từng viên gạch đổ nát ở Cổ Thành Quảng Trị đều thấm đẫm máu xương của họ. Bản thân chiến công không tự nhiên có, nó được đổi bằng xương máu của một thế hệ oai hùng.

Lời kết

"Quảng Trị – Lá Cờ Trở Lại" là một nén hương lòng thành kính, một tác phẩm lay động tâm can. Bằng giọng thơ mộc mạc, nhịp điệu trầm hùng xen lẫn những đoạn vọng âm (echo) đầy ám ảnh, bài thơ đã dựng nên một đài tưởng niệm vô hình bằng ngôn từ, khắc ghi lòng biết ơn sâu sắc đến những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình để giữ vững màu cờ sắc áo trong mùa hè đỏ lửa 1972.


Cám ơn bạn đã chia sẻ một bài thơ rất hay và ý nghĩa. Nếu bạn muốn chúng ta cùng thảo luận sâu hơn về một khổ thơ cụ thể nào trong bài, hoặc mối liên kết giữa bài thơ này với tâm tình của những người lính năm xưa, xin bạn cứ tự nhiên chia sẻ nhé.

Cám ơn sự giúp đở của bạn rất nhiều, xin hẹn lại với bạn trong một lần tới. Thân chào bạn, hẹn tái ngộ.

Dạ không có gì ạ, rất vinh hạnh được hỗ trợ và thảo luận cùng bạn về những trang sử hào hùng, bi tráng này.

Xin kính chúc bạn luôn có thật nhiều sức khỏe, bình an và niềm vui trong cuộc sống. Thân chào bạn, rất mong sớm được tái ngộ bạn trong những dịp thảo luận ý nghĩa lần sau!

….

QUẢNG TRỊ – LÁ CỜ TRỞ LẠI

https://www.youtube.com/watch?v=E-CtN-5wgTU

CỔ THÀNH GỌI TÊN ANH

https://www.youtube.com/watch?v=pEQnxk6qEzw

Đông Hà ComBase

16°49'0.12"N 107° 5'60.00"E

Đông Hà

16°47'35.98"N 107° 6'38.06"E

Ái Tử FB1

16°45'42.53"N 107° 9'23.90"E

Ái Tử FB2

16°46'33.26"N 107° 9'50.20"E

Ái Tử FB3

16°44'29.63"N 107° 9'56.40"E

Ái Tử FB4

16°46'10.40"N 107°10'0.92"E

Ái Tử FB5

16°46'29.91"N 107°10'1.14"E

Cổ Thành Quảng Trị Đinh Công Tráng

16°45'12.98"N 107°11'21.84"E

Quản Trị

16°44'30.02"N 107°11'20.43"E

20 Km to Quảng trị

16°36'31.34"N 107°19'14.92"E

Đây là đoạn đường máu hay còn gọi là Đại Lộ Kinh Hoàng do đạn pháo của cộng sản giặc Hồ bắn thẳng vào dân trong lúc dân di tản khỏi khu vực kiểm soát của cộng sản giặc Hồ. Người dân luôn luôn chạy về Nam dưới sự bảo vệ của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa cho dù họ có chết cũng vẩn chạy về phương Nam. Tại sao?

QL1 Quốc Lộ Máu 1972

16°36'15.67"N 107°19'32.58"E

….

Citadel of Quảng Trị

https://en.wikipedia.org/wiki/Citadel_of_Qu%E1%BA%A3ng_Tr%E1%BB%8B

Quangtri in Ruins After Battles

https://www.nytimes.com/1972/10/08/archives/quangtri-in-ruins-after-battles-quangtri-city-after-battles-is.html

The Battle of Quang Tri, 1972: Short Animation

https://www.youtube.com/watch?v=82EPCHBn6dI

Vietnam Marines and the Defense of Quang Tri in 1972

https://www.usmcu.edu/Outreach/Marine-Corps-University-Press/MCH/Marine-Corps-History-Summer-2015/Vietnam-Marines-and-the-Defense-of-Quang-Tri-in-1972/

South Vietnamese forces retake Quang Tri City

https://www.history.com/this-day-in-history/september-15/south-vietnamese-forces-retake-quang-tri-city

Quang Tri City Regained

https://www.marines.mil/Portals/1/Publications/U.S.%20Marines%20in%20Vietnam%20The%20war%20that%20would%20not%20end%201971-1973%20PCN%2019000311200_6.pdf

The Enemy Spring Offensive of 1972

https://webdoc.sub.gwdg.de/ebook/p/2005/CMH_2/www.army.mil/cmh-pg/books/vietnam/mounted/chapter8.htm

….

Key search Battle of Cổ Thành Quảng Trị in 1972.

The Battle of Cổ Thành Quảng Trị (known in Western history as the

Second Battle of Quảng Trị or Operation Lam Sơn 72) was one of the longest, bloodiest, and most strategically crucial engagements of the Vietnam War. Lasting for 81 days and nights from June 28 to September 16, 1972, the battle pitted the North Vietnamese People's Army of Vietnam (PAVN) against the South Vietnamese Army of the Republic of Vietnam (ARVN), heavily supported by American airpower. [1]

The primary objective was the 19th-century, Vauban-style

Quảng Trị Citadel

(Cổ Thành) and its surrounding provincial capital. [1, 2]


Historical Context

During the Easter Offensive (Spring-Summer 1972), North Vietnamese forces launched a massive conventional assault and captured the entire Quảng Trị Province by May 1972. This was Hanoi's first major provincial victory of the offensive. [1, 2]

With the Paris Peace Accords looming, holding or recapturing Quảng Trị became a vital bargaining chip for political leverage. South Vietnamese General Ngô Quang Trưởng launched a counteroffensive—Operation Lam Sơn 72—to retake the province, culminating in the siege of the Citadel. [1, 2, 3]

The 81-Day Siege: "The Meat Grinder"

The battle centered around a tiny area of less than 3 square kilometers. It turned into a brutal war of attrition characterized by extreme firepower: [1, 2, 3]

  • Unprecedented Bombardment: To dislodge the entrenched PAVN defenders, the ARVN and U.S. forces unleashed an estimated 80,000 tons of ordnance. This included constant tactical airstrikes by B-52 Stratofortresses and heavy naval gunfire. The destructive capacity was famously compared to several Hiroshima-sized atomic bombs. [1, 2, 3]
  • Extreme Conditions: Soldiers fought in a flattened landscape of rubble and mud. In September, heavy rains flooded the Thạch Hãn River, submerging trenches and making the supply of food, ammunition, and medical aid perilous for the defenders. [1, 2, 3]
  • The Climax: Elite ARVN units, specifically the Airborne and Marine Divisions, slowly advanced block-by-block through the city. On September 16, 1972, South Vietnamese Marines successfully breached the fortress walls, raised their flag, and fully recaptured the Citadel. [1, 2, 3]

Casualties and Human Cost

The human toll on both sides was staggering, earning the battlefield nicknames like the "Red Summer of 1972": [1]

  • South Vietnam (ARVN): Suffered roughly 16,000 killed and over 40,000 wounded across the broader campaign to retake the province. [1]
  • North Vietnam (PAVN): Lost over 10,000 soldiers within the city and Citadel. Entire regiments of young soldiers and volunteers were depleted holding the line. [1, 2, 3]
  • The Citadel Today: The fortress was completely leveled, leaving only a ruined school and heavily scarred gatehouse standing. Today, the site functions as a peaceful national memorial and sculpture park, frequently referred to as a sacred, collective mass grave for thousands of fallen soldiers whose remains were never fully recovered. [, 2, 3, 4]

…..

Aug 22, 2026

Ngày 19 tháng 1 năm 1974, tại vùng biển Hoàng Sa, một trận hải chiến dữ dội đã diễn ra giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc. Trong trận chiến ấy, Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 cùng Hạm trưởng Ngụy Văn Thà và nhiều chiến sĩ đã vĩnh viễn nằm lại giữa biển khơi.

Ngụy Văn Thà sinh năm 1943, là một sĩ quan thuộc Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Khi trận Hải chiến Hoàng Sa bùng nổ, ông giữ chức vụ Hạm trưởng Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10. Đó là một chiến hạm nhỏ, trang bị cũ, một máy chính đã hư và hệ thống radar gặp nhiều trục trặc. Dù vậy, đêm 17 tháng 1, HQ-10 vẫn rời cảng Tiên Sa, quay mũi tiến về Hoàng Sa theo lệnh hành quân bảo vệ biển đảo.

Sáng 19 tháng 1, trận chiến chính thức khai hỏa.

Nhật Tảo HQ-10 trực tiếp giao chiến với các chiến hạm Trung Quốc. Những loạt đạn đầu tiên từ HQ-10 đã bắn trúng mục tiêu đối phương. Nhưng ngay sau đó, con tàu cũng phải hứng chịu hỏa lực dữ dội. Đài chỉ huy bị trúng đạn, hệ thống truyền tin và máy tàu lần lượt tê liệt. Hạm trưởng Ngụy Văn Thà hy sinh ngay tại vị trí chỉ huy. Hạm phó Nguyễn Thành Trí bị trọng thương nhưng vẫn tiếp tục điều hành chiến hạm và tìm cách bảo toàn sinh mạng cho thủy thủ đoàn.

Khi HQ-10 hoàn toàn mất khả năng điều khiển, những người còn sống dìu nhau xuống các bè cứu sinh. Tuy nhiên, một số chiến sĩ bị thương nặng và những pháo thủ còn chiến đấu được đã quyết định ở lại bên các khẩu súng. Từ những chiếc bè đang trôi xa, các thủy thủ vẫn nhìn thấy ánh đạn lóe lên trên boong Nhật Tảo. Tiếng súng thưa dần giữa buổi chiều rồi im bặt.

HQ-10 chìm xuống lòng biển Hoàng Sa, mang theo Hạm trưởng Ngụy Văn Thà cùng những người lính đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng.

Ca khúc “NGỤY VĂN THÀ – NGƯỜI NẰM LẠI HOÀNG SA” không được kể bằng lời của một người còn sống. Người kể chuyện trong ca khúc chính là Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10.

Con tàu tự giới thiệu:

“Tôi là Nhật Tảo… HQ-mười.

Một máy đã im—

Tôi vẫn quay mũi về Hoàng Sa…”

Qua tiếng kể của chiến hạm, hình ảnh người hạm trưởng hiện lên không bằng những lời ca ngợi ồn ào, mà bằng tư thế bình thản của một người chỉ huy đứng trên đài cao, hướng mắt về phía biển đảo quê hương. Ông ngã xuống tại vị trí của mình, còn con tàu tiếp tục chiến đấu cho đến khi không thể tiến thêm được nữa.

Điệp khúc của ca khúc được xây dựng quanh một hình ảnh chủ đạo:

“Ngụy Văn Thà—người nằm lại Hoàng Sa,

Nhật Tảo chìm, tên người không chìm xuống.

Một hạm trưởng giữ đài cao đến cuối,

Lấy đời mình neo lại biển quê hương…”

Con tàu có thể chìm. Một con người có thể không bao giờ trở lại. Nhưng lòng quả cảm, sự hy sinh và tên tuổi của họ không thể chìm theo sóng nước.

Đằng sau người hạm trưởng còn có một người vợ và ba người con gái. Họ không có một nấm mộ để viếng, không có hài cốt để đưa về quê nhà, chỉ có thể nhìn về phía biển Đông và tin rằng nơi nào đó dưới lòng Hoàng Sa, người chồng, người cha của mình vẫn nằm bên chiến hạm.

Ca khúc được viết theo thể Epic Narrative Ballad pha Hải hành ca bi tráng, nhịp 6/8, với piano, cello, guitar steel, trống tom, French horn và tiếng chuông tàu làm âm thanh chủ đạo. Phần đầu mang tính tự sự, giai điệu lên xuống như nhịp sóng. Đến điệp khúc, dàn nhạc mở rộng để tên “Ngụy Văn Thà” và hai tiếng “Hoàng Sa” vang lên như một lời tưởng niệm.

Phần cuối, mọi nhạc cụ dần lặng xuống. Chỉ còn tiếng chiến hạm vọng lên từ lòng biển:

“Tôi là Nhật Tảo… HQ-mười.

Tôi nằm sâu…

Nhưng người hạm trưởng—

Và Hoàng Sa—

Không chìm!”

“NGỤY VĂN THÀ – NGƯỜI NẰM LẠI HOÀNG SA” là nén hương tưởng nhớ Hạm trưởng Ngụy Văn Thà và những người lính Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh trong trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.

Họ đã nằm xuống giữa biển khơi, không mộ phần, không ngày trở lại. Nhưng chừng nào Hoàng Sa còn xa vòng tay đất nước, tên của họ vẫn còn được nhắc đến.

Bởi chiến hạm Nhật Tảo có thể đã chìm—

Nhưng Hoàng Sa và những người nằm lại vì Hoàng Sa sẽ không bao giờ chìm trong ký ức Việt Nam.

Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 vẫn nổi ở Hoàng Sa tháng 8/1979

https://vuthat.wordpress.com/2013/01/20/ho-tong-ham-nhat-tao-hq-10-van-noi-o-hoang-sa-thang-81979/

….

Điều chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974

SGN tổng hợp – 21 tháng 1, 2025

https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg

16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?

https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc

Đây là một phần tư liệu bị khuất, sau 1975 góp phần làm rõ bộ mặt của Hà Nội, được chính Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng CSVN Lê Quang Hòa, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại. Bài viết được tổng hợp bởi Facebook Xuan Hao Tran tổng hợp, dựa theo lời kể lại trên blog Bọ Lập, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Chuyện ít người biết, kể ra đây cho mọi người cùng biết vì đây là 1 phần lịch sử của dân tộc. Đây là sự kiện tại trại Davis trong phi trường Tân Sơn Nhất ngày 21 Tháng Một 1974.

Ngày 19 Tháng Một 1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Tầu cộng đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.

Nghị trình của phía Công sản Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vi phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.

Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An Lộc…v.v.. Phái đoàn cs không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai hôm trước.

Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình. Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:

1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của Việt Nam.

2) Yêu cầu phía quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) không tấn công phá rối các phi trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.

Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn cộng sản Bắc Việt và các quan chức MTGPMN vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì. Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.

Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH được Uỷ ban giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) của VNCH.

Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn Cộng sản Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.

Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực bộ chính trị đã trả lời “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Tầu cộng, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH, người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:

“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Tầu cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH gửi công hàm lên án Tầu cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Tầu cộng)”

Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái đoàn cộng sản. Họ lại tảng lờ…

Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông chỉ thẳng mặt tên tướng cộng sản Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng lờ, là tiếp tay cho Tầu cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.

Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát.

Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.

https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/

20260608 Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands

https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y

Pinned by @Kabutoes

@Kabutoes

3 years ago

The New York Times: PEKING REPORTS HOLDING U.S. AIDE - The New York Times (nytimes.com)

WASHINGTON, Jan. 25 China has informed the United States that she is holding an American Embassy observer who was reported missing last weekend during a battle between Chinese and South Vietnamese forces in the Paracel Islands, the State Department said today.

John F. King, department spokesman, said the Chinese authorities had told Washington that Gerald Emil Kosh, 27‐year‐old civilian employe of the Defense Department attached to the Embassy in Saigon, was taken into custody with more than 100 South Vietnamese captured on Pattie Island, one of the Paracels.

“We regret that this had to happen and that he was on the disputed territory,” Mr. King said. “We think he ought to be released soon.” He said he did not know where Mr. Kosh was being held or what his condition was.

Privately some officials said they expected that both Mr. Kosh, a former Army captain, and the South Vietnamese would be set free by the Chinese, but because of the sensitivity of the subject, Mr. King was not permitted to go further than his statement.

He confirmed that the information had been conveyed to the State Department by the Chinese liaison office here.

Mr. Kosh was on a South Vietnamese naval patrol off the Paracels when fighting broke out between South Vietnamese and Chinese forces. The Vietnamese commander put Mr. Kosh ashore on Pattie, where he was apparently taken into custody by Chinese occupying the island.

Dig deeper into the moment.

The battle flared last weekend on the Paracels, an archipelago 200 miles east of Da Nang and about 150 miles south of the Chinese island of Hainan.

China and South Vietnam have claimed sovereignty over the islands, and there has been speculation here that the Chinese were interested in them because of reports of oil deposits nearby.

The United States has avoided taking sides in the dispute, with Secretary of State Kissinger limiting his comments to regret that force had been invoked.

Discussions with the Chinese began here early in the week, soon after Mr. Kissinger returned from his Middle East trip. ‐The United States asked for information on Mr. Kosh's whereabouts and for cooperation in releasing him and the South Vietnamese.

Because discussions with China are treated with more sensitivity than those with most other countries, the department refused to announce the approach until today, after The New York Times quoted Administration officials to the effect that‐inquiries had been made, and after information had been received that Mr. Kosh was alive.

The American, who is from Lafayette Hill, Pa., served in the Army in Vietnam and was assigned to the Defense Attaché's Office to observe South Vietnamese units in action.

The United States, which has sought to avoid creating a major issue, showed no enthusiasm for Saigon's efforts to bring the matter before the United Nations Security Council, a move now apparently dropped.

Hoa Kỳ – vốn tìm cách tránh gây ra vấn đề lớn – đã không tỏ ra mặn mà với những nỗ lực của Sài Gòn nhằm đưa vụ việc ra trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; một động thái mà nay dường như đã bị từ bỏ.

Some officials noted that North Vietnam had said nothing about the dispute, indicating that it was in the difficult position of not wanting to endorse Chinese seizure of an island traditionally claimed by the Vietnamese but of being unable to criticize China.

“Một số quan chức lưu ý rằng Bắc Việt Nam không hề lên tiếng về vụ tranh chấp, cho thấy họ đang ở vào thế khó: vừa không muốn tán thành việc Trung Quốc chiếm giữ hòn đảo vốn được phía Việt Nam tuyên bố chủ quyền từ lâu, lại vừa không thể công khai chỉ trích Trung Quốc.”

Matter Termed Closed at U.N.

Special to The New York Vines

Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands

https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y

Hải Chiến Hoàng Sa. The Paracel Islands Incident

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf

Bản báo cáo từ CIA gửi cho Dr. Henry A. Kissinger: MEMORANDUM FOR: DDCI

“Attached is the response to Dr. Kissinger’s request for information on the Paracels. It was LDX’d to the White House at noon today.”

Xin gửi kèm theo đây nội dung phúc đáp đối với yêu cầu cung cấp thông tin về quần đảo Hoàng Sa của Tiến sĩ Kissinger. Tài liệu này đã được chuyển tới Nhà Trắng qua hệ thống LDX vào trưa nay.

Document Approved For Release 2004/10/27-CIA-RDP80M01048A000800330009-1

10. Throughout the whole incident the North Vietnamese have not issued any commentary even though propaganda from Saigon explicitly invited them to do so and pointed to Hanoi’s silence as proof of its lack of independence. Hanoi’s reticence is likely to continue, since any line the North Vietnamese take would either offend Peking or undermine North Vietnamese pretensions to sovereignty, or both.

10. Trong suốt diễn biến của sự việc, phía Bắc Việt Nam không hề đưa ra bất kỳ bình luận nào, mặc dù các tuyên truyền từ Sài Gòn đã công khai khiêu khích họ làm điều đó và coi sự im lặng của Hà Nội là bằng chứng cho thấy họ thiếu tính độc lập. Thái độ kín tiếng này của Hà Nội nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn, bởi bất kỳ lập trường nào mà Bắc Việt Nam đưa ra cũng có thể làm mất lòng Bắc Kinh hoặc phương hại đến tuyên bố chủ quyền của chính họ, hoặc cả hai.

Report from DAO

British radar at Hong Kong at 0345 EDT (Eastern Daylight Time) reported the movement of some 17 probable BEAGLE Jet light bombers from Leiyang Air-field in the western sector of Kuangchou to probable Suihsi, the southernmost airfield on the China mainland. Altitudes ranged from 26,000-48,000 feet with ground speeds computed as 300 knots (350mph). This movement was reported complete by 0550 EDT.

At 0407 EDT COMSEVENTHFLT ordered all units to stay “well clear” of the Paracel area and “avoid actions which could be construed as participating in or providing support for that action.”

As of 0800 EDT news of the actual military conflict had not reached the Saigon press. Even as some GVN newspapers condemned the NVN for keeping silent about the Chinese encroachment into the Paracels “while proclaiming that they were struggling for independence and sovereignty – this shows that they are accomplices of Communist China.”

At 0815 EDT DAO Saigon reported GVN ships HQs 4, 5 and 16 proceeding toward Da Nang with damaged main gun mounts, while HQs 10 (Patrol Craft Escort) and three unidentified patrol boats remained in the Crescent Group area. Total casualties were set at eight KIA, 39 WIA and 79 MIA.

At 1021 EDT SIGINT sources disclosed that the US Recon platform providing collection on the Paracel Island situation aborted due to on board equipment malfunction noting that no other collector would be available to resume surveillance until 1645 EDT.

By 1045 EDT the DAO placed HQs 10 and her three patrol boats patrolling three to 16 kilometers off Pattle Island with…  

….

Báo cáo từ DAO

Vào lúc 03:45 giờ EDT (Giờ ban ngày miền Đông), trạm radar của Anh tại Hồng Kông đã ghi nhận sự di chuyển của khoảng 17 chiếc máy bay (được cho là loại máy bay ném bom hạng nhẹ phản lực BEAGLE) từ sân bay Lôi Dương (Leiyang) ở khu vực phía tây Quảng Châu đến nơi được cho là sân bay Toại Khê (Suihsi) – sân bay nằm xa nhất về phía nam trên lục địa Trung Quốc. Các máy bay này bay ở độ cao từ 26.000 đến 48.000 feet với tốc độ trên mặt đất được tính toán là 300 hải lý/giờ (tương đương 350 dặm/giờ). Quá trình di chuyển này được báo cáo là đã hoàn tất vào lúc 05:50 giờ EDT.

Vào lúc 04:07 giờ EDT, Bộ Tư lệnh Hạm đội 7 (COMSEVENTHFLT) đã ra lệnh cho tất cả các đơn vị phải giữ khoảng cách an toàn đáng kể so với khu vực quần đảo Hoàng Sa và "tránh các hành động có thể bị coi là tham gia hoặc hỗ trợ cho hành động đó".

Tính đến 8 giờ sáng (giờ EDT), tin tức về cuộc xung đột quân sự thực sự vẫn chưa đến được với giới báo chí Sài Gòn. Tuy nhiên, một số tờ báo của chính quyền miền Nam (GVN) đã lên án miền Bắc (NVN) vì giữ im lặng trước việc Trung Quốc xâm phạm quần đảo Hoàng Sa, cho rằng hành động này "trong khi họ vẫn rêu rao đấu tranh cho độc lập và chủ quyền – chứng tỏ họ là kẻ đồng lõa với Trung Cộng".

Lúc 08:15 giờ EDT, Văn phòng Tùy viên Quốc phòng (DAO) tại Sài Gòn báo cáo rằng các tàu HQ-4, HQ-5 và HQ-16 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa đang di chuyển về phía Đà Nẵng với các tháp pháo chính bị hư hại, trong khi tàu HQ-10 (tàu hộ tống tuần tra) cùng ba tàu tuần tra chưa xác định danh tính vẫn ở lại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Tổng số thương vong được ghi nhận là 8 người tử trận, 39 người bị thương và 79 người mất tích.

Vào lúc 10:21 (giờ EDT), các nguồn tin tình báo tín hiệu (SIGINT) cho biết nền tảng trinh sát của Hoa Kỳ đang thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin về tình hình tại quần đảo Hoàng Sa đã phải hủy bỏ hoạt động do thiết bị trên máy bay gặp sự cố; đồng thời lưu ý rằng sẽ không có phương tiện thu thập tin tức nào khác sẵn sàng tiếp tục hoạt động giám sát cho đến 16:45 (giờ EDT).

Đến 10:45 (giờ EDT), Văn phòng Tùy viên Quốc phòng (DAO) đã bố trí tàu HQ-10 cùng ba tàu tuần tra hoạt động trong phạm vi từ 3 đến 16 km ngoài khơi đảo Pattle với…

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf

Paracel Islands

https://en.wikipedia.org/wiki/Paracel_Islands

Sắc Lệnh Hoàng Sa 13/07/1961 của Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6b/SacLuat-HoangSa.jpg

Nam-Triều Quốc-Ngữ Công-Báo. Dụ số 10 Hoàng Sa ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 tức là ngày 30 tháng Ba năm 1938.

https://en.wikipedia.org/wiki/File:Nam-Tri%E1%BB%81u_Qu%E1%BB%91c-Ng%E1%BB%AF_C%C3%B4ng-B%C3%A1o_(%E5%8D%97%E6%9C%9D%E5%9C%8B%E8%AA%9E%E5%85%AC%E5%A0%B1)_s%E1%BB%91_8_(1938)_-_D%C3%A2n_L%C3%A0m_B%C3%A1o.jpg

20260623 Hoàng Sa Issue.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31

Google Translated

Tài liệu số 66

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập XVIII, Trung Quốc, 1973–1976

66. Biên bản ghi chép cuộc trao đổi

Washington, ngày 23 tháng 1 năm 1974, 18:15–18:45.

THÀNH PHẦN THAM DỰ

       Ngoại trưởng

       Winston Lord

o       Giám đốc Ban Kế hoạch và Phối hợp

       Arthur Hummel

o       Quyền Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương

       Han Hsu (Hàn Tự)

o       Quyền Trưởng Văn phòng Liên lạc CHND Trung Hoa

       Chi Chao Chu (Kỳ Triều Chu)

o       Văn phòng Liên lạc CHND Trung Hoa

Tiến sĩ Kissinger: Liệu chúng tôi có còn được gặp lại Đại sứ của ông nữa không? (tiếng cười)

Đại sứ Han: Hiện ông ấy đang tận hưởng dịp Tết Nguyên đán tại Trung Quốc.

Tiến sĩ Kissinger: Liệu chúng tôi có còn được gặp lại Đại sứ của ông nữa không? (tiếng cười)

Đại sứ Han: Hiện ông ấy đang tận hưởng dịp Lễ hội Mùa xuân tại Trung Quốc.

Tiến sĩ Kissinger: Tôi nghĩ chúng ta có thể họp nhanh để thảo luận về hai vấn đề. Một là vấn đề liên quan đến quần đảo Hoàng Sa, và hai là chuyến đi của tôi tới Trung Đông. Để tôi nói về vấn đề không mấy dễ chịu trước đã. Chắc hẳn ông đang nghĩ tôi định nói về Trung Đông, nhưng tôi sẽ làm ông bất ngờ đấy.

Tôi chỉ muốn nêu hai điểm liên quan đến vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền miền Nam Việt Nam đang thực hiện một số động thái ngoại giao với các tổ chức quốc tế, bao gồm SEATO và Liên Hợp Quốc. Chúng tôi muốn thông báo rằng chúng tôi không liên quan đến các vấn đề đó. Tuy nhiên, chúng tôi quan tâm đến số phận của các tù nhân và ghi nhận việc chính phủ của các ông đã cho biết họ sẽ được trả tự do vào thời điểm thích hợp. Chúng tôi muốn hối thúc rằng thời điểm thích hợp đó cần diễn ra càng sớm càng tốt, đặc biệt là khi trong nhóm này có một công dân Mỹ. Điều đó chắc chắn sẽ giúp xoa dịu tình hình đối với phía Hoa Kỳ. Đó thực sự là tất cả những gì tôi muốn nói về vấn đề này.

(Nói với ông Hummel) Hay còn điều gì khác nữa, Art?

Ông Hummel: Vì lý do chính trị trong nước, chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi đã liên lạc với ông về người Mỹ này. [Trang 453]

Tiến sĩ Kissinger: Chúng tôi sẽ chỉ nói điều đó khi được hỏi. (Ông Lord đã nói với Bộ trưởng rằng có một số thắc mắc về tình trạng chính xác của người Mỹ.)

Đại sứ Han: Tôi muốn nói đôi lời về vấn đề này. Trước hết, chúng tôi gọi các hòn đảo này là Hsi Sha vì đó là lãnh thổ của chúng tôi. Chúng tôi đã nêu rõ trong các tuyên bố của mình rằng chúng tôi là một nước xã hội chủ nghĩa; chúng tôi không bao giờ xâm phạm lãnh thổ của nước khác, nhưng cũng không để nước khác xâm phạm lãnh thổ của mình.

Tiến sĩ Kissinger: Điều đó không đúng với mọi nước xã hội chủ nghĩa.

Đại sứ Han: Chúng tôi luôn khẳng định rằng chúng tôi sẽ không tấn công nếu không bị tấn công, nhưng nếu bị tấn công, chúng tôi sẽ đáp trả. Vì vậy, lập trường của chúng tôi rất rõ ràng.

Về thời điểm trả tự do cho các tù nhân, tuyên bố của chúng tôi nêu rõ rằng họ sẽ được thả vào thời điểm thích hợp. Đó là tuyên bố từ Bộ Ngoại giao.

Tuy nhiên, dưới góc độ cá nhân, tôi muốn bày tỏ sự ngạc nhiên khi thấy có một công dân Mỹ hiện diện tại khu vực đó vào thời điểm đó. Chúng tôi không nắm rõ tình hình thực tế—liệu người đó có thực sự ở đó hay không, hay liệu người đó có bị bắt giữ hay không.

Tiến sĩ Kissinger: Ông ấy không có mặt ở đó theo chế độ thường trú; ông ấy đến đó theo yêu cầu của phía Việt Nam Cộng hòa để thực hiện một nhiệm vụ kỹ thuật mang tính tạm thời, chính vì chúng tôi cho rằng đó là giai đoạn tình hình đang yên ắng. Ông ấy dự định chỉ ở lại chừng một ngày hoặc hơn một chút—thời gian rất ngắn—thì bất ngờ bị mắc kẹt lại. Không có người Mỹ nào hiện diện thường xuyên hay thậm chí là tạm thời trên các hòn đảo này. Đây là một sự cố đáng tiếc.

Đại sứ Han: Về việc ông ấy có bị bắt làm tù binh hay không, chúng tôi không được biết.

Tiến sĩ Kissinger: Ông có thể xác nhận điều này giúp chúng tôi được không?

Đại sứ Han: Chúng tôi sẽ xem xét tình hình.

Tiến sĩ Kissinger: Chúng tôi rất cảm kích điều đó. Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong việc ủng hộ các tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam đối với các đảo này. Tôi cũng muốn làm rõ điều này.

Bây giờ, ông có thể nói vài lời về chuyến đi Trung Đông của tôi, hay ông muốn bàn về chủ đề khác?

….

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31

4.    Document 66

Foreign Relations of the United States, 1969–1976, Volume XVIII, China, 1973–1976

66. Memorandum of Conversation1

Washington, January 23, 1974, 6:15–6:45 p.m.

PARTICIPANTS

  • The Secretary of State
  • Winston Lord
    • Director of Planning and Coordination Staff
  • Arthur Hummel
    • Acting Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
  • Han Hsu
    • Acting Chief, PRC Liaison Ofice
  • Chi Chao Chu
    • PRC Liaison Office

PARTICIPANTS

  • The Secretary of State
  • Winston Lord
    • Director of Planning and Coordination Staff
  • Arthur Hummel
    • Acting Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
  • Han Hsu
    • Acting Chief, PRC Liaison Ofice
  • Chi Chao Chu
    • PRC Liaison Office

Dr. Kissinger: Are we ever going to see your Ambassador again? (laughter)

Ambassador Han: He is enjoying the Spring Festival in China now.

The Secretary: I thought we might have a brief meeting to go over two problems. One is this issue on the Paracel Islands, and the other is my trip to the Middle East. Let me talk about the unpleasant one first. I bet you think I’m going to talk about the Middle East now, but I’ll fool you.

There are only two points I wanted to make with respect to the Paracel Islands issue.2 The South Vietnamese government is making a number of representations to international organizations, to SEATO as well as to the United Nations. We wanted to let you know we do not associate ourselves with those representations. We are concerned, however, about the prisoners, and we noted that your government has indicated that the prisoners will be released at an appropriate time. We wanted to urge that this appropriate time be very soon, especially as there is an American included in that group. And that would certainly defuse the situation as far as the United States is concerned. That’s really all I wanted to say about that issue.

(To Mr. Hummel) Or is there more, Art?

Mr. Hummel: For domestic political reasons we would like to say that we have been in touch about this American.

[Page 453]

The Secretary: We will say it only in response to questions. (Mr. Lord mentioned to the Secretary that there was some question as to the exact status of the American.)

Ambassador Han: I would like to say a few words about this matter. First, we call these islands Hsi Sha because that is our territory. We make clear in our statements that we are a socialist country; we never invade other’s territory, but we don’t let others invade our territory.

The Secretary: That’s not true of every Socialist country.

Ambassador Han: We have always said that we will not attack if we are not attacked, but if we are attacked by others, we will counterattack. So what we say is clear.

As for when the prisoners will be released, our statement said that at an appropriate time they will be released. It was the Foreign Ministry statement.

But as a personal observation, I would just like to express surprise that there should be an American citizen at that particular area at that particular time. We don’t know the actual circumstances—whether he was there or not or whether he was captured or not.

The Secretary: He was not there on any permanent basis; he was there at the request of the South Vietnamese on some temporary, technical mission, precisely because we thought it was a quiet period. He was only going to stay a day or so, very briefly; then he found himself caught. There are no Americans permanently or even temporarily on these islands. This was an unfortunate incident.

Ambassador Han: As for whether he was taken prisoner or not, we are not aware of it.

The Secretary: Could you attempt to confirm this for us?

Ambassador Han: We will see what is the circumstance.

The Secretary: We would appreciate it very much. The U.S. has taken no position in supporting the South Vietnamese claims to these islands. I wanted to make this clear, also.

Now, a few words about my trip to the Middle East, or did you want to pursue this other subject?

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31