20260420 CDTL HST DDE D99 30 July 1952 Điện tín của Đại
sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.
***
Bức điện tín gửi đi nhưng không có tài liệu đính kèm
chứng minh cho rõ ràng mạch lạc, vì thế đây không thể được xem là tài liệu khả
tín.
***
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d99
Google Translated
Tài liệu số 99
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954,
Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
751G.11/7–3052: Điện tín của Đại sứ Heath
tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.
Tối mật
Sài Gòn, ngày 30 tháng 7 năm 1952 — 5 giờ chiều
248. Thông tin được gửi
báo cáo tới Paris (điện số 58). Dựa trên các thông tin thu thập
được từ ông Hữu, ông Letourneau và các nguồn khác, cuối cùng tôi
đã có thể ước tính chi phí mà Bảo Đại gây ra cho ngân sách Việt Nam
(vốn chưa được công bố) cũng như cho người dân Việt Nam.
Dưới thời chính quyền của Nguyễn Phan Long, Bảo
Đại nhận được từ chính phủ khoản tiền 4 triệu đồng mỗi tháng—hay nói cách
khác, tính theo tỷ giá hối đoái, là khoảng 200.000 đô la mỗi tháng. Sau
khi Hữu trở thành Thủ tướng, ông đã nâng khoản trợ cấp dành cho Bảo
Đại lên mức [Trang 228] triệu đồng
mỗi tháng (tương đương 350.000 đô la). Theo lời Phan Long, Bảo
Đại còn nhận được từ tổ chức Bình Xuyên một khoản "tiền biếu"
dự đoán từ 2 đến 2,5 triệu đồng mỗi tháng, được trích từ lợi nhuận thu
được từ các hoạt động cờ bạc tại khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn—lĩnh vực
mà Bình Xuyên hiện đang nắm giữ độc quyền kinh doanh. Cũng có thông tin
cho rằng Bình Xuyên đã chi trả một khoản "tiền biếu"
hàng tháng tương tự cho Thủ tướng Hữu.
Chính phủ Nam Việt
nhận được một tỷ lệ cố định từ các khoản lợi nhuận cờ bạc này; phần chia của
chính phủ ước tính đạt khoảng 200 triệu đồng (tương đương khoảng 10
triệu đô la Mỹ) mỗi năm. Được biết, nhóm Bình Xuyên cũng nhận được một
số nguồn thu nhất định khác, bởi lẽ cho đến tận thời gian gần đây, họ vẫn nắm
quyền kiểm soát và duy trì trật tự tại Chợ Lớn theo sự cho phép của phía
Pháp. Họ đã bị tước bỏ quyền cai quản Chợ Lớn vào tháng 11 năm
1951 bởi sự phối hợp hành động giữa các lực lượng quân sự Pháp và Việt
Nam. Tuy nhiên, theo nhận định chung, nhóm Bình Xuyên vẫn tiếp tục
nhận các khoản "tiền bảo kê" từ các cơ sở kinh doanh tại Chợ
Lớn, mặc dù các nhiệm vụ quân sự và cảnh sát của họ hiện chỉ giới hạn trong
việc canh gác các tuyến đường thủy và vùng ngoại ô Chợ Lớn. Đối với nhiệm
vụ sau này, họ được trả thù lao từ ngân khố của cả phía Pháp lẫn phía Việt
Nam.
Do đó, có vẻ như Bảo Đại đang nhận được tổng cộng
từ 110 đến 120 triệu đồng mỗi năm (tương đương khoảng 6 triệu đô la Mỹ)
từ cả chính phủ lẫn nhóm Bình Xuyên cộng lại.
Năm 1951, ông Letourneau cho tôi biết Bảo Đại
đã chuyển ra nước ngoài tổng cộng 800 triệu franc, tương đương 47 triệu
piastre hay xấp xỉ 2.350.000 đô la. Một phần không rõ cụ thể – nhưng
được cho là tương đối nhỏ – trong số các khoản chuyển tiền này được dùng để chu
cấp cho Hoàng hậu và các con, những người đang sống khá giả tại Cannes
nhưng không hề phô trương theo nghi thức hoàng gia. Thỉnh thoảng, Bảo Đại
có hỗ trợ Hoàng thân Bửu Lộc một khoản chi phí tiếp tân cho các hoạt động
tiếp khách hoặc tuyên truyền tại Paris, nhưng tôi tin rằng số tiền hỗ trợ
này là rất nhỏ. Vài tháng trước, Bảo Đại đã mua một chiếc máy bay Liberator
cũ bốn động cơ, nhưng có lẽ ông chỉ phải trả chưa đến 200.000 đô la cho
chiếc máy bay này. Phần lớn các khoản tiền mà Bảo Đại chuyển đi được hiểu
là đã chảy vào các ngân hàng tại Pháp và Thụy Sĩ, cũng như được
dùng để mua bất động sản và đầu tư tại Pháp và Maroc. Tôi không
có thông tin cụ thể về quy mô các tài khoản ngân hàng và khoản đầu tư của ông;
tuy nhiên, ông Letourneau cho tôi biết rằng Bảo Đại – người gần
như trắng tay khi ở Hồng Kông trước năm 1949 – nay đã sở hữu một khối
tài sản đáng kể ở nước ngoài. Tôi ước tính tổng giá trị khối tài sản này hiện
lên tới vài triệu đô la.
Nếu ông chuyển ra nước ngoài một khoản tiền xấp xỉ 50
triệu piastre mỗi năm, thì từ nguồn thu nhập của mình, ông vẫn còn lại khoảng
60–70 triệu piastre để chi tiêu tại Việt Nam. Theo lời ông Hữu,
khoản trợ cấp 7 triệu piastre mà ông nhận từ Kho bạc Việt Nam
không phải là tiền lương, mà là để trang trải cho các chương trình "xã
hội" và từ thiện của ông. Mặc dù ông được biết đến là người thường
xuyên hỗ trợ tài chính cho bạn bè và các thành viên trong hoàng tộc, nhưng theo
ông Hữu, những khoản chi tiêu này không chiếm tỷ trọng lớn. Ông
Hữu khẳng định rằng vào năm 1951, Chính phủ Việt Nam đã trích ngân
sách nhà nước để hỗ trợ Hoàng Thái hậu có được một cuộc sống "tươm
tất" hơn tại Huế. Hiện tại, số lượng nhân sự phục vụ tại Cung điện
Hoàng gia cũ ở Huế — nơi vốn đã bị hư hại một phần — là rất ít ỏi. [Trang
229]
Tại Cung điện Hà Nội chỉ có vỏn vẹn vài người hầu.
Dinh thự của Bảo Đại tại Đà Lạt có quy mô nhỏ hơn hàng
ngàn ngôi nhà trong khu vực New York, mặc dù nơi đây sở hữu một khu chuồng
ngựa rộng lớn và một sân quần vợt trong nhà. Tại Ban Mê Thuột, ông sống
trong một ngôi nhà gỗ khiêm tốn, dẫu rằng gần đây ông đã cho xây dựng thêm một
nhà khách và khu văn phòng dành cho Nội các Hoàng gia ngay tại đó. Những
hạng mục sau này có thể đã được chi trả từ chính túi tiền riêng của ông, song
người ta cho rằng tổng chi phí của chúng khó có thể vượt quá hai hoặc ba triệu
đồng piastre (tương đương 100.000 đến 150.000 đô la). Bảo
Đại còn sở hữu một ngôi nhà nghỉ săn bắn nằm cách Ban Mê Thuột không
xa. Chúng tôi không nhận được bất kỳ thông tin nào về việc Bảo Đại thực
hiện các khoản quyên góp từ thiện quy mô lớn. Tuy nhiên, ông từng kể với tôi rằng,
ông đã tự bỏ tiền túi để trao tặng các Giám mục Công giáo tại miền Bắc một
khoản tiền ước chừng hai hoặc ba triệu đồng piastre.
Có một lần, ông Giao—khi ấy đang giữ chức Thống
đốc Trung Kỳ—đã cho Cố vấn Gullion xem một tấm séc trị giá sáu
triệu đồng bạc, khoản tiền mà ông nhận được từ Bảo Đại, được cho là
nhằm chi trả cho các khoản chi phí đặc biệt liên quan đến công tác hành
chính tại An Nam. Chi phí bảo dưỡng bốn chiếc máy bay của Bảo Đại
chắc chắn là rất tốn kém; tuy nhiên, ngay cả khi đã tính đến các khoản trợ cấp
từ thiện cũng như các khoản tài trợ mang tính bán chính phủ mà chúng ta chưa nắm
rõ, tôi vẫn khó có thể hình dung nổi việc ông ấy chi tiêu tại địa phương từ
60 đến 70 triệu đồng bạc—khoản tiền dường như vẫn còn trong tay ông sau khi
đã chuyển phần lớn trong số 50 triệu đồng bạc sang gửi tại các ngân hàng ở nước
ngoài. Ông nhận được một khoản ngân sách từ chính phủ để chi trả lương bổng và
các khoản phí tổn cho Nội các Hoàng gia, cùng với hai triệu đồng bạc
mỗi tháng dành cho công tác quản lý các vùng đất thuộc Hoàng gia tại
khu vực Cao nguyên phía Nam.
Ông Letourneau
kể với tôi rằng vào năm 1951, ông đã góp ý với ông De Lattre về số tiền
chuyển khoản mà Bảo Đại được phép thực hiện. Ông De Lattre
đáp lại rằng suy cho cùng, Bảo Đại là Quốc trưởng, và mặc dù các khoản
tiền đó là quá lớn, ông không nghĩ phía Pháp có thể phản đối. Giờ đây,
có vẻ như chuyển khoản bảy triệu đồng bạc Đông Dương (tương đương
350.000 đô la) mà Bảo Đại yêu cầu cho chuyến đi sắp tới của ông sang
Pháp (xem Điện tín số 61 của Đại sứ quán, ngày 8 tháng 7)
thực chất không phải được trích từ chính quỹ riêng của ông, mà là một yêu cầu gửi
tới ông Tâm về một khoản trợ cấp đi lại đặc biệt, nằm ngoài khoản
lương định kỳ bảy triệu đồng bạc của ông. Ông Letourneau cho biết
ông nghĩ rằng ông Tâm đã cắt giảm khoản tiền này xuống còn sáu triệu
đồng bạc, nhưng cả ông Tâm lẫn phía Pháp đều không sẵn lòng từ
chối việc chuyển tiền hay cấp khoản trợ cấp đi lại nói trên. Biện pháp duy nhất
mà phía Pháp thực hiện là từ chối một yêu cầu chuyển khoản bổ sung trị
giá một triệu đồng bạc do bốn thành viên trong đoàn tùy tùng của Bảo Đại—những
người sẽ tháp tùng ông sang Pháp—đưa ra.
Đề nghị này đã bị bác bỏ thẳng thừng, kèm theo gợi ý rằng
họ hãy đệ đơn thỉnh cầu lên Đức Vua.
Khoản thu 84 triệu đồng mỗi năm của Đức Vua
từ ngân khố Việt Nam xấp xỉ 5% tổng thu ngân sách trung ương; tuy nhiên,
nếu tính thêm cả khoản "biếu xén" từ nhóm Bình Xuyên—một nguồn
thu lẽ ra phải được nộp vào ngân khố quốc gia—thì tổng thu nhập này sẽ chạm mức
khoảng 6% tổng thu ngân sách toàn quốc. Ông Tâm hiện đang gặp khó khăn
trong việc huy động 20 triệu đồng làm vốn ban đầu cho [Trang 230] ngân hàng đất
đai phục vụ công cuộc cải cách ruộng đất của mình. Chỉ cần ba tháng tiền
phụ cấp thường kỳ của Đức Vua từ ngân khố quốc gia là đủ để tài
trợ cho dự án này.
Trước thắc mắc của tôi về việc có thể thực hiện những
biện pháp nào để thuyết phục Bảo Đại cắt giảm chi tiêu—cũng như các khoản
chuyển tiền ra nước ngoài—xuống mức phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Việt
Nam—một quốc gia đang trong vòng chiến, kiệt quệ tài chính và về cơ bản chỉ
có thể duy trì nhờ vào những hy sinh về quân sự và tài chính của Pháp và Hoa
Kỳ—ông Letourneau chỉ có thể đề nghị tôi trực tiếp góp ý với ông
Nguyễn Đệ, Chánh Văn phòng Nội các Hoàng gia.
Tôi dự định sẽ thực hiện việc này và rất mong nhận được
các gợi ý hoặc chỉ thị từ Bộ.
Có vẻ như Letourneau lo ngại rằng nếu ông lên
tiếng phản đối, Bảo Đại sẽ dọa thoái vị, bởi hiện tại ông này đã sở hữu
khối tài sản đủ lớn để sống sung túc ở nước ngoài. Về vấn đề này, Letourneau
đã nói với tôi rằng "giải pháp Bảo Đại" là phương án duy nhất;
tuy nhiên, ông cũng nói thêm để làm rõ rằng điều này chỉ đúng "trong thời
điểm hiện tại", đồng thời nhận định rằng nếu chế độ quân chủ sụp đổ, thì
đó hoàn toàn là lỗi của chính Bảo Đại. Việc công khai khoản trợ cấp cũng
như các khoản đầu tư ở nước ngoài của Bảo Đại sẽ gây ra những tác động
nghiêm trọng đối với uy tín của chế độ quân chủ và cả chính quyền hiện hành.
Heath.
1. Bức
điện tín này được truyền đi thành hai phần.↩
2. Thủ
tướng Việt Nam, tháng 1 – tháng 5 năm 1950.↩
3. Đại
diện của Bảo Đại tại Paris.↩
4. Không
được in.↩
List of Sources
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
List of Persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
Policy of the United States with respect to Indochina,
1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and
diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1.
Document 99
Foreign Relations of the United
States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
751G.11/7–3052: Telegram
The Ambassador at Saigon (Heath) to
the Department of State1
top secret
Saigon, July 30,
1952—5 p.m.
248. Rptd info Paris 58. From info obtained from Huu, Letourneau and
other sources, I am finally able to estimate cost of Bao Dai to Viet budget (as
yet unpublished) and to Viet people.
Under the govt of Nguyen Phan Long,2 Bao Dai recd from govt 4 million
piasters monthly or roughly, at par of exchange, $200,000 a month. After Huu
became PriMin, he raised Bao Dai‘s allowance to [Page 228] 7 million piasters
per month ($350,000). According to Phan Long, Bao Dai also receives from Binh
Xuyen organization a “gratification” of from 2–2½ million piasters per month
out of profits for gambling in Saigon-Cholon for which Binh Xuyen now hold the
concession. Binh Xuyen are also reported to have paid a similar monthly
“gratification” to PriMin Huu. Govt of South Viet receives fixed percentage of
these gambling profits, govt’s share amounting to around 200 million piasters
(roughly $10 million) per annum. Binh Xuyen is reported to receive other
certain revenues since until fairly recently it controlled and maintained order
in Cholon by Fr permission. They were ousted from their overlordship of Cholon
in November 1951 by Fr and Viet mil forces working together. Binh Xuyen are
still understood, however, to receive some protection money from establishments
in Cholon altho their mil and police duties are now limited to guarding the
waterways and outskirts of Cholon. For latter service they are paid by Fr and Viet
Treasuries.
Bao Dai is, therefore, apparently receiving from govt and Xuyen together
from 110–120 million piasters a year (roughly $6 million).
In 1951, Letourneau tells me Bao Dai remitted abroad total of 800 million
francs equivalent to 47 million piasters or roughly $2,350,000. An unknown but
presumably relatively small portion these transfers went to upkeep of Empress
and children who live well but with no imperial pomp in Cannes. On occasion,
Bao Dai helps out Prince Buu Loc3 for extraordinary entertainment or
propaganda expenses in Paris but I believe the amount of such assistance is
very small. Bao Dai bought an old four-motor Liberator plane a few months ago
but probably paid less than $200,000 for it. The bulk of Bao Dai‘s transfers
are understood to have gone to Fr and Swiss banks, to real estate purchases and
investments in France and Morocco. I have no info as to size of his bank
accounts and investments but Letourneau tells me that Bao Dai, who was
practically penniless in Hong Kong before 1949, now has respectable fortune
abroad. I assume it now totals several million dollars.
If he transfers abroad something approaching 50 million piasters a year,
he still has from his revenues some 60–70 million piasters to spend in Vietnam.
His allowance of 7 million piasters from Viet Treas is not given as salary
according to Huu but to cover his “social” and charitable program. While he is
known to give fin assistance to his friends and members of imperial clan such
expenditures according to Huu, are not an important item. Huu claims that in
1951 Viet Govt made contribution from govt funds to enable Queen Mother to live
on more “adequate” basis at Hue. There is little staff in old Imperial Palace
at Hue which was partially destroyed.
[Page 229]
There are only a few servants in Hanoi Palace. Bao Dai‘s residence at
Dalat is smaller than thousands of homes in New York area altho it does have
extensive stables and an indoor tennis court. At Ban Me Thuot he lives in
modest cottage altho he has recently built guest house and office quarters
there for imperial cab. These last items may have come out of his own pocket
but it is doubted they have cost more than two or three million piasters ($100
to 150 thousand). Bao Dai has one hunting lodge not far from Ban Me Thuot. We
have no reports of large charitable donations by Bao Dai. He gave Catholic
Bishops in north, once he told me, out of his own pocket some two or three
million piasters. On one occasion Giao, then Gov of Central Vietnam showed
Counselor Gullion a check for six million piasters which he had received from
Bao Dai presumably for extraordinary expenses in connection with admin in
Annam. Tho upkeep of Bao Dai‘s four planes is undoubtedly expensive but even
allowing for charitable and quasi-governmental grants which we do not know
about it is difficult for me to see how he is spending locally from 60 to 70
million piasters which are apparently available to him after banking abroad the
better part of 50 million piasters. He receives a grant from govt for salaries
and expenses of imperial cab and two million piasters month for admin of crown
lands in southern plateau.
Letourneau tells me during 1951 he remonstrated with De Lattre over the
amounts of monetary transfers Bao Dai was allowed to make. De Lattre replied
that after all Bao Dai was chief of state and altho the amounts were excessive
he did not think Fr cld object. It now appears that the seven million piasters
($350,000) transfer which Bao Dai requested for his forthcoming trip to France
(see Embtel 61, July 8)4 was not to be from his own funds but
was a demand on Tam for an extraordinary travel grant over and above his
regular stipend of seven million piasters. Letourneau says he thinks that Tam
cut down the amount to six million piasters but neither Tam nor Fr are willing
to refuse transfer or travel grant. The only action taken by Fr was to refuse
an additional request for transfer of one million piasters made by four members
of Bao Dai‘s entourage who will accompany him to France.
This was turned down flat with the suggestion that they appeal to His
Majesty.
His Majesty’s 84 million piasters a year from Viet treas approaches five
percent of central govt receipts but if we add the “gratification” from the
Binh Xuyen as income which might otherwise go into govt treasury it approaches
about six percent of natl receipts. Tam is having difficulties in finding 20
million piasters for initial capital of his [Page 230] agrarian reform land
bank. Three months of His Majesty’s reg allowance from the trees wld finance
this project.
To my inquiry as to what action might be taken to persuade Bao Dai to
reduce his expenditures—and transfers abroad—to a level seemly to circumstance
that Vietnam was at war, bankrupt and maintained essentially only thru the mil
and finan sacrifices of France and US Letourneau cld only suggest that I
remonstrate with Nguyen De, chief of imperial cabinet.
This I intend doing and wld welcome the Dept’s suggestions or
instructions.
Apparently Letourneau fears that if he remonstrates Bao Dai will threaten
to abdicate since he now has sufficient fortune to live comfortably abroad.
Letourneau said to me in this connection the “Bao Dai solution” was the only
one but qualified the statement by adding “for time being” and remarking that
if the monarchy fell it wld be Bao Dai‘s own fault. Disclosure of Bao Dai‘s
stipend and investments abroad wld have a critical effect on prestige of
monarchy and regime.
Heath
1. This telegram was
transmitted in two parts.↩
2. Premier of Vietnam,
January-May 1950.↩
3. Representative of
Bao Dal in Paris.↩
4. Not printed.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d99
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_228
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_229
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_230
Thân thế (các) nhân vật
Bao Dai,
Chief
of State of Vietnam.
Buu
Loc,
Prince
cousin of and adviser to Bao Dai, Chief of State of Vietnam; Bao Dai’s
Representative in Paris, 1952–1953; Prime Minister of Vietnam, December 17,
1953–June 16, 1954.
De
Lattre De Tassigny, Général d’Armée Jean,
French
High Commissioner and Commander of French Forces in Indochina, December
1950–November 1951; died January 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_de_Lattre_de_Tassigny
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d8
https://www.britannica.com/biography/Jean-de-Lattre-de-Tassigny
https://ww2db.com/person_bio.php?person_id=738
Gullion,
Edmund A.,
Counselor
of Embassy at Saigon, 1952; Member, Policy Planning Staff, Department of State,
from September 26, 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Edmund_A._Gullion
https://www.jfklibrary.org/asset-viewer/archives/eagpp
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/persons
https://dl.tufts.edu/teiviewer/parent/f1881x54h/chapter/G00020
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1?start=91
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v02p2/d75
https://uscpublicdiplomacy.org/blog/public-diplomacy-gullion-evolution-phrase
https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1952-12-december_0.pdf
Heath,
Donald R.,
Ambassador
(Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia.
Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath
https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/
Letourneau, Jean,
French Minister in Charge of Relations with
the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner
in Indochina, April 1952–July 19, 1953.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53
https://en.wikisource.org/wiki/United_States_%E2%80%93_Vietnam_Relations,_1945%E2%80%931967:_A_Study_Prepared_by_the_Department_of_Defense/IV._A._4._U.S._Training_of_Vietnamese_National_Army,_1954%E2%80%9359
https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html
Nguyen De,
Adviser to Bao Dai, Chief of State of Vietnam; Chief of the Imperial
Cabinet.
Nguyen Huu Tri,
Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet
(Vietnamese political party).
Pham Van Giao,
Deputy Prime Minister of the State of Vietnam,
1952; Governor of Central Vietnam, 1953–1954.
Nguyen Van Tam,
Minister of the Interior of the State of Vietnam and Acting Governor of
Northern Vietnam to June 3, 1952; Prime Minister of the State of Vietnam, June
3, 1952–December 17, 1953.
Trần Văn Hữu,
Thống đốc Nam Kỳ. Governor of Cochin China.
Prime Minister of Vietnam to June 3, 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%E1%BB%AFu
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d279
https://www.upi.com/Archives/1984/01/19/Tran-Van-Huu-president-of-the-Vietnamese-Council-under/5244443336400/
https://vietnamproject.archives.msu.edu/objects/159-547-2488/