20260612 CDTL Tầu
cộng xây đảo nhân tạo Cuarteron Reef Đá Châu Viên
20190910
Petition of the citizens of the Republic of Vietnam
https://bachvietnhan.blogspot.com/2019/09/20190910-petition-of-citizens-of.html
20241110 CDTL Tuyen Cao Lanh Tho Lanh Hai VN
https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/11/20241110-cdtl-tuyen-cao-lanh-tho-lanh.html
20241214 CDTL South Vietnam Not Bound by Geneva Accords 1954
https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241214-cdtl-south-vietnam-not-bound.html
Điều
chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 (Tài liệu nầy ở phần cuối bài)
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg
20260608 Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands (Tài liệu phần Anh Ngữ nầy ở phần cuối bài)
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG
SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?
https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc
Cuarteron Reef
8°51'54.39"N 112°49'48.74"E
OTH-OVER-THE-HORIZON-RADAR
8°51'49.38"N 112°49'47.45"E
GUN/POST
8°52'2.81"N 112°49'55.86"E
8°52'4.86"N 112°49'49.67"E
8°51'46.51"N 112°49'41.43"E
SIGINT
8°52'3.17"N 112°49'51.59"E
8°51'54.79"N 112°49'36.26"E
8°51'51.32"N 112°49'33.72"E
8°51'44.91"N 112°49'49.02"E
8°51'46.99"N 112°49'42.63"E
SATCOM
8°51'44.12"N 112°49'48.54"E
8°52'1.79"N 112°49'54.78"E
8°51'57.16"N 112°49'45.92"E
8°51'51.71"N 112°49'36.73"E
Nguồn tài liệu từ Google AI Translated
Thân
chào bạn. Hôm nay chúng ta sẽ thảo luận về hệ thống radar trên đảo Cuarteron
Reef và đây là danh sách các hệ thống radar của Tầu cộng đang phát triển và xây
dựng trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa như OTH, GUN/POST, SIGINT, SATCOM. Xin
bạn cho biết những radar nào đang được xây trên đảo Cuareron reef nầy. Cám ơn
bạn nhiều.
Chào bạn. Dựa trên
dữ liệu giám sát và các phân tích thực địa từ các tổ chức như Asia Maritime
Transparency Initiative (AMTI) thuộc CSIS, đảo nhân tạo đá Châu
Viên (Cuarteron Reef) là một trong những trung tâm giám sát trọng yếu ở
phía nam quần đảo Trường Sa. [1]
Đối chiếu với danh
sách các hệ thống mà bạn đã đề cập (OTH, GUN/POST, SIGINT, SATCOM), các
thành phần radar và tác chiến điện tử sau đây đang hiện diện trực tiếp trên đảo
Cuarteron Reef:
1. Hệ thống Radar
sóng bề mặt qua đường chân trời (OTH-SW/HF) Over-The-Horizon Surface
Wave
- Trạng thái: Đây là hệ thống nổi bật và
quan trọng nhất trên đá Châu Viên.
- Đặc điểm nhận dạng: Một mạng lưới dày đặc gồm các
cột ăng-ten cao khoảng 20 mét dựng ở phần phía nam của đảo.
- Vai trò: Hoạt động như một radar tần số cao quét qua đường chân trời (OTH
- Over-the-Horizon) sử dụng sóng bề mặt. Hệ thống này cho phép Tầu
cộng theo dõi tầm xa các mục tiêu tàu thuyền và máy bay từ eo biển
Malacca đi lên, đồng thời hỗ trợ phát hiện các phương tiện bay tàng hình
nhờ dải sóng HF- High Frequency đặc trưng. [1, 3, 4, 5]
2. Hệ thống Radar
điều khiển hỏa lực và phòng thủ điểm (GUN/POST)
- Trạng thái: Được tích hợp trực tiếp trên các
cấu trúc phòng thủ kiên cố.
- Đặc điểm nhận dạng: Các tháp đa tầng hình lục giác
nằm ở các góc bờ biển của đảo.
- Vai trò: Các tháp cao này mang theo radar định vị mục tiêu và điều khiển hỏa
lực chuyên dụng (tương tự như radar điều khiển cho pháo phòng không hoặc
các hệ thống vũ khí phòng thủ tầm gần - CIWS- Close-In Weapon
System) nhằm bảo vệ đảo trước các cuộc tập kích từ trên không hoặc trên
biển. [1, 2]
3. Trạm thu phát
thông tin vệ tinh và Khí tượng (SATCOM-Satellite Communications)
- Trạng thái: Đã hoàn thiện và vận hành ổn
định. []
- Đặc điểm nhận dạng: Trên đảo có ít nhất hai vòm che
radar (radome) lớn dạng hình cầu đặt trên mặt đất và đỉnh các tháp quan
sát ở phía bắc. [, 2]
- Vai trò: Bảo vệ các ăng-ten chảo hướng lên để kết nối thông tin vệ tinh (SATCOM),
duy trì liên lạc mã hóa băng thông rộng về đất liền và chia sẻ dữ liệu mục
tiêu với các đảo khác trong chuỗi thực thể ở Trường Sa. []
4. Khả năng Tình báo
tín hiệu (SIGINT-Signals Intelligence)
- Trạng thái: Được tích hợp ngầm trong các cột
ăng-ten thông tin liên lạc.
- Vai trò: Mặc dù đá Châu Viên không có các mảng ăng-ten dạng vòng lớn (kiểu
"chuồng voi" thu ảnh chuyên dụng như ở đá Xu Bi), các tháp
truyền thông và dãy cột tần số cao tại đây vẫn thực hiện một phần nhiệm vụ
trinh sát điện từ và thu thập tình báo tín hiệu (SIGINT) từ các
hoạt động hàng hải xung quanh. [1, 2]
Tóm lại: Trên đá Châu Viên,
Trung Quốc tập trung mạnh nhất vào việc xây dựng cấu trúc Radar OTH (HF)
dải rộng để bao quát toàn bộ vùng biển phía nam, kết hợp cùng các vòm SATCOM
liên lạc và hệ thống tháp radar phòng thủ GUN/POST. [1, 3]
Bạn có muốn so sánh
chi tiết quy mô của mạng lưới radar OTH tại đá Châu Viên này với hệ
thống radar tại các căn cứ lớn hơn như đá Chữ Thập (Fiery Cross) hay đá
Vành Khăn (Mischief) không?
Vâng, xin bạn cho biết có sự
khác biệt nào giử hai hệ thống nầy, riêng những hệ thống radar khác thì sao? Có
được xây trên đảo nầy không?
Chào bạn. Để giúp
bạn hình dung rõ nét về sự phân công chiến lược, chúng ta sẽ so sánh hệ thống
radar tại đá Châu Viên (Cuarteron Reef) với hai "đại căn cứ" đá
Chữ Thập (Fiery Cross Reef) và đá Vành Khăn (Mischief Reef).
1. Sự khác biệt về
hệ thống Radar OTH (Over-the-Horizon)
Mặc dù cả ba đảo đều
có hệ thống radar dải tần số cao (HF) để quét qua đường chân trời, quy mô và
cách bố trí có sự khác biệt rất lớn:
- Đá Châu Viên: Sở hữu mạng lưới cột ăng-ten OTH
dạng sóng bề mặt (Surface Wave) cố định ở bờ phía nam. Do diện tích
đảo nhỏ, hệ thống này tập trung tối đa vào việc giám sát hành lang hàng
hải eo hẹp từ phía nam (eo biển Malacca) đi lên.
- Đá Chữ Thập và Đá Vành Khăn: Có diện tích lớn hơn rất nhiều
(đảo nhân tạo cấp 1 có đường băng). Hệ thống radar tại đây không chỉ quét
sóng bề mặt mà còn kết hợp với các đài radar OTH tầm xa có thể tận dụng
phản xạ tầng điện ly (Sky Wave), cho phép theo dõi mục tiêu ở
khoảng cách hàng ngàn km, bao quát toàn bộ Biển Đông và vươn sâu vào các
căn cứ của đối phương tại khu vực lân cận.
2. Các hệ thống
radar khác: Có được xây trên Đá Châu Viên không?
Đối với các loại
radar quân sự khác, có sự phân cấp rõ rệt giữa đảo tiền tiêu cỡ nhỏ (Châu Viên)
và căn cứ không quân/hải quân lớn (Chữ Thập, Vành Khăn):
A. Radar Cảnh giới
tầm xa / Trinh sát phòng không (Air Search/Warning Radar)
- Đá Châu Viên: Hạn chế. Đảo chủ yếu sử
dụng các radar cảnh giới tầm trung đặt trong vòm che (radome) để phát hiện
máy bay tiếp cận đảo. Do không có đường băng bay, Châu Viên không được
trang bị các đài radar quét mạng pha 3D cỡ lớn.
- Đá Chữ Thập & Vành Khăn: Có (Rất mạnh). Tại đây
Trung Quốc xây dựng các tháp radar cảnh giới phòng không chuyên dụng dạng
vòm cầu khổng lồ (thường đặt cạnh đường băng). Các radar này liên tục quét
3D tầm xa để dẫn đường cho tiêm kích (J-11, J-16) cất hạ cánh và chỉ thị
mục tiêu cho hệ thống tên lửa phòng không HQ-9.
B. Radar dẫn đường
hàng không và Kiểm soát không lưu (ATC Radar-Air Traffic Control Radar)
- Đá Châu Viên: Không có. Đảo không có sân
bay nên không trang bị hệ thống radar kiểm soát không lưu hoặc radar tiếp
cận chính xác (PAR).
- Đá Chữ Thập & Vành Khăn: Có. Hệ thống radar này
được lắp đặt trên các đài kiểm soát không lưu để điều hành toàn bộ hoạt
động bay quân sự và dân sự trong khu vực kiểm soát.
C. Hệ thống Tác
chiến Điện tử (EW-Electronic Warfare) và Gây nhiễu (Jamming) chuyên sâu
- Đá Châu Viên: Chủ yếu là các thiết bị thu thụ
động (SIGINT) và hệ thống gây nhiễu tự vệ quy mô nhỏ chống drone
hoặc tên lửa hành trình hành trình tiếp cận gần.
- Đá Chữ Thập & Vành Khăn: Được trang bị các tổ hợp tác
chiến điện tử cơ động quy mô lớn (đặt trên xe tải hoặc tháp kiên cố). Các
hệ thống này có khả năng phát sóng gây nhiễu chủ động diện rộng, làm gián
đoạn hệ thống định vị GPS, radar và liên lạc của tàu chiến hoặc máy bay
trinh sát nước ngoài đi qua khu vực lân cận.
Tóm lại
Đá Châu Viên đóng vai trò như
một "mắt thần" chuyên biệt về OTH và trinh sát điện từ ở cửa
ngõ phía nam. Trong khi đó, đá Chữ Thập và đá Vành Khăn hoạt động
như các "bộ não điều hành trung tâm", sở hữu đầy đủ mọi chủng
loại radar từ cảnh giới bầu trời, kiểm soát không lưu cho đến các khí tài
tác chiến điện tử hạng nặng nhằm làm chủ hoàn toàn không gian
xung quanh.
Bạn có muốn tìm hiểu
thêm về vị trí lắp đặt các bệ phóng tên lửa phòng không (HQ-9) và tên
lửa diệt hạm (YJ-12B) phối hợp cùng các hệ thống radar này trên các đảo
không?
Theo bạn thì trên đảo nầy có
cả những phi đạn phòng không chống các chiến đấu cơ và cả chiến hạm sao?
Trên thực tế, đá
Châu Viên không được bố trí các loại tên lửa tầm xa cố định như tên lửa phòng
không HQ-9 hay tên lửa diệt hạm YJ-12B. Thay vào đó, hỏa lực của đảo này
hoàn toàn tập trung vào phòng thủ điểm tầm gần (Point-defense). [1, 2]
Sự phân bổ vũ khí
giữa các đảo được Tầu cộng khai triển dựa trên các báo cáo tình báo và
phân tích từ Asia Maritime
Transparency Initiative (AMTI) như sau:
1. Hệ thống phòng
thủ hiện có trên Đá Châu Viên (Cuarteron Reef)
Do diện tích đảo nhỏ
và không có đường băng, Tầu cộng chỉ trang bị các tổ hợp vũ khí tự vệ
tầm gần nhằm bảo vệ hệ thống radar: [1, 2]
- Hệ thống vũ khí đánh gần (CIWS-Close-In Weapon System): Các tháp pháo
tự động nhiều nòng đặt ở góc đảo để bắn hạ tên lửa hành trình hoặc mục
tiêu bay tầm thấp. [1, 2]
- Pháo phòng không: Các bệ pháo phòng không truyền
thống được che bạt, đóng vai trò như lưới lửa bảo vệ tầm cực gần. [1]
- Khả năng cơ động: Đảo không có các kho chứa tên
lửa (missile shelters) kiên cố, nhưng về lý thuyết, Trung Quốc vẫn có thể
điều động tạm thời các bệ phóng tên lửa vác vai (MANPADS) hoặc xe
tên lửa phòng không tầm ngắn áp sát bờ biển khi có báo động.
2. Các loại tên lửa
diệt hạm và phòng không được đặt ở đâu?
Các loại "răng
súng" hạng nặng tầm xa được Tầu cộng tập trung toàn bộ tại 3
"đại căn cứ" có đường băng bao gồm đá Chữ Thập, đá Vành Khăn và đá
Xu Bi. Tại 3 vị trí này, hệ thống hỏa lực bao gồm: [1]
- Tên lửa phòng không tầm xa HQ-9B: Có khả năng đánh chặn chiến đấu
cơ, drone và tên lửa hành trình của đối phương ở khoảng cách lên tới 160
hải lý (khoảng 296 km). [1, 2]
- Tên lửa hành trình diệt hạm YJ-12B: Tên lửa siêu
thanh phóng từ đất liền có khả năng đe dọa các chiến hạm cỡ lớn trong bán
kính lên đến 295 hải lý (khoảng 546 km). [1, 2]
Tóm lại chiến lược
phối hợp
Tầu cộng biến đá Châu
Viên thành một "trạm tai mắt" thu phát tín hiệu. Radar OTH
trên đá Châu Viên sẽ phát hiện sớm các chiến hạm hoặc chiến đấu cơ từ xa. Thông
tin mục tiêu này ngay lập tức được đồng bộ qua vệ tinh (SATCOM) về trung
tâm chỉ huy tại đá Chữ Thập hoặc đá Vành Khăn. Từ đó, các đại căn
cứ này mới là nơi trực tiếp khai hỏa tên lửa HQ-9B hoặc YJ-12B để
hủy diệt mục tiêu. [1, 2, 3, 4, 5]
Bạn có muốn tìm hiểu
xem mạng lưới tên lửa tầm xa từ đá Chữ Thập và đá Vành Khăn có
thể bao phủ đến các thực thể nào do Việt Nam đang quản lý ở Trường Sa
không?
Nhờ bạn giải thích dùm tầm
hoạt động của những hệ thống phi đạn nầy trong toàn vùng Trường Sa-Spratly. Cám
ơn bạn.
Để hình dung toàn
cảnh về mạng lưới hỏa lực của Tầu cộng tại quần đảo Trường Sa, chúng ta
cần nhìn vào bán kính bao phủ của hai loại tên lửa chính là HQ-9B (phòng
không tầm xa) và YJ-12B (hành trình diệt hạm siêu thanh).
Bằng việc triển khai
đồng thời hai loại vũ khí này tại "Tam giác căn cứ lớn" bao gồm đá
Chữ Thập (Fiery Cross Reef), đá Vành Khăn (Mischief Reef), và đá
Xu Bi (Subi Reef), Trung Quốc đã tạo ra một chiếc "ô hỏa lực"
chồng lấn chằng chịt, bao trùm hầu như toàn bộ diện tích quần đảo Trường Sa.
1. Tầm hoạt động của
Hệ thống Tên lửa Phòng không HQ-9B
Hệ thống này được
thiết kế để tiêu diệt các loại máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, máy bay
trinh sát (như P-8 Poseidon) và các loại drone hoặc tên lửa hành trình
của đối phương.
- Tầm bắn thực tế: Khoảng 160 hải lý (tương
đương 296 – 300 km).
- Độ bao phủ tại Trường Sa:
- Chiếc ô phòng không phát ra từ 3
đại căn cứ này giao nhau ở trung tâm quần đảo Trường Sa.
- Nó kiểm soát hoàn toàn các tuyến
đường bay quân sự và tạo ra một vùng "A2/AD" (Chống tiếp
cận/Chống xâm nhập khu vực) trên không. Bất kỳ máy bay quân sự nào bay
vào không phận Trường Sa ở độ cao từ trung bình đến cao đều nằm trong tầm
ngắm của hệ thống này.
2. Tầm hoạt động của
Hệ thống Tên lửa Diệt hạm Siêu thanh YJ-12B
Đây là vũ khí có
tính đe dọa cao nhất đối với các chiến hạm, tàu hộ tống và các nhóm tác chiến
tàu sân bay nhờ vận tốc siêu thanh (ước tính Mach 3 - Mach 4 ở pha cuối), khiến
đối phương có rất ít thời gian để phản ứng hoặc đánh chặn.
- Tầm bắn thực tế: Lên đến 295 hải lý (tương
đương 546 km).
- Độ bao phủ tại Trường Sa:
- Với bán kính hơn 540 km phóng từ
cả 3 đỉnh tam giác (Chữ Thập - Vành Khăn - Xu Bi), tầm bắn của YJ-12B vượt
ra ngoài phạm vi địa lý của toàn bộ quần đảo Trường Sa.
- Mạng lưới này không chỉ bao trùm
các thực thể do Việt Nam, Philippines hay Malaysia đang quản lý, mà còn
vươn rộng đến tận bờ biển đảo Palawan (Philippines), một phần bờ biển đảo
Borneo (Malaysia) và tiến sát về hướng bờ biển miền Nam Việt Nam.
3. Tác động trực
tiếp đến các đảo do Việt Nam quản lý
Do các đảo, đá do
Việt Nam đóng giữ (như đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, đài bán
kiên cố,...) nằm xen kẽ ngay bên trong tam giác căn cứ của Trung Quốc, toàn bộ
các thực thể này đều nằm vững chắc bên trong tầm bắn của cả hai hệ thống phi
đạn trên:
- Khi di chuyển hoặc tiếp tế: Tàu vận tải, tàu hộ tống của
Việt Nam khi di chuyển giữa đất liền và các đảo ở Trường Sa sẽ liên tục
nằm trong tầm khóa bay của tên lửa diệt hạm YJ-12B từ lúc tiếp cận vùng
lõi quần đảo.
- Trên không: Không phận phía trên các đảo
Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ bởi radar cảnh giới và lưới tên lửa HQ-9B,
hạn chế khả năng sử dụng máy bay trực thăng cứu hộ hoặc máy bay tuần thám
một cách tự do trong trường hợp xảy ra xung đột.
Mối liên kết với
radar đảo Châu Viên (Cuarteron Reef)
Như đã thảo luận,
các bệ phóng tên lửa khổng lồ này cần dữ liệu chính xác để khai hỏa. Khi một
chiến hạm hoặc máy bay tìm cách bay thấp để "né" radar của đá Chữ
Thập, hệ thống radar OTH sóng bề mặt tại đá Châu Viên (nằm ở rìa phía
nam) sẽ phát hiện ra ngay lập tức nhờ khả năng quét bám dọc bề mặt cong của
trái đất. Châu Viên sẽ chuyển tọa độ mục tiêu về cho Chữ Thập hoặc Vành Khăn để
các nơi này nhấn nút phóng tên lửa diệt mục tiêu mà không cần nhìn thấy trực
tiếp.
Để hiểu rõ hơn về
thế trận phòng thủ, bạn có muốn tìm hiểu về cách các nước khác (như Việt Nam
hoặc Philippines) bố trí các hệ thống phòng thủ bờ biển hoặc vũ khí tầm gần
để đối phó với mối đe dọa từ mạng lưới tên lửa này không?
Qua hình ảnh trong khu vực,
hệ thống phi đạn của Tầu cộng đã hoàn toàn phủ trùm các nước trong vùng biển
Đông Nam Á nầy rồi. Như vậy Úc Châu-Australia có bị hăm dọa về nền an ninh
không bạn? Phản ứng của nước Úc như thế nào?
Hệ thống tên lửa của
Tầu cộng tại Biển Đông đe dọa trực tiếp đến an ninh của Úc (Australia) một cách sâu sắc
thông qua việc bóp nghẹt tuyến giao thương huyết mạch và thay đổi hoàn toàn cán
cân quân sự tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. [1, 2]
Chính phủ và các
tướng lĩnh quốc phòng Úc nhận định rằng họ đang phải đối mặt với môi trường
chiến lược phức tạp và nguy hiểm nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. [1]
1. Vì sao hệ thống
tên lửa tại Biển Đông đe dọa an ninh nước Úc?
Mặc dù các loại tên
lửa tầm ngắn và tầm trung như HQ-9B hay YJ-12B phóng từ Trường Sa không thể bay
tới lục địa Úc, nhưng chúng lại "khóa chặt" các lợi ích cốt lõi của
Canberra:
- Bóp nghẹt huyết mạch kinh tế: Hơn 60% lượng hàng hóa xuất
nhập khẩu của Úc phải đi qua các tuyến đường biển tại Biển Đông và
Đông Nam Á. Việc Trung Quốc đặt tên lửa bao trùm khu vực này đồng nghĩa
với việc Bắc Kinh có khả năng cắt đứt nguồn sống kinh tế của Úc bất kỳ lúc
nào. [1]
- Mở rộng tầm bắn của tên lửa tầm xa: Bằng việc biến
các đảo nhân tạo thành căn cứ hậu cần vững chắc, Trung Quốc dễ dàng đưa
các tàu khu trục mang tên lửa hành trình đối đất phóng từ tàu biển (như
loại có 112 bệ phóng thẳng đứng) hoặc máy bay ném bom chiến lược H-6K áp
sát về phía nam. Điều này đưa các cơ sở quân sự và hạ tầng thiết yếu ở
miền Bắc nước Úc vào tầm ngắm. [1, 2]
- Rủi ro va chạm quân sự trực tiếp: Máy bay tuần thám P-8A
Poseidon và tàu chiến của Không quân/Hải quân Úc khi thực hiện quyền
tự do hàng hải tại Biển Đông liên tục bị tiêm kích Tầu cộng áp sát
nguy hiểm, thả bẫy sợi phản xạ (chaff) hoặc bắn pháo sáng (flares) để xua
đuổi. [1, 2]
2. Phản ứng chiến
lược và hành động thực tế của Úc
Nước Úc không chọn
cách im lặng mà đang triển khai một chiến lược đáp trả toàn diện vô cùng mạnh
mẽ:
A. Thay đổi tư duy
quân sự: Chuyển sang "Phòng thủ chủ động"
Thay vì chỉ tập
trung bảo vệ lục địa, Úc đã chuyển dịch ngân sách quốc phòng sang xây dựng một
lực lượng có khả năng "tấn công tầm xa răn đe" để đẩy mối đe
dọa ra xa bờ biển. [1, 2]
- Mua sắm tên lửa tầm xa: Úc đã chi hàng tỷ USD mua các
loại tên lửa hành trình tàng hình JASSM-ER (tầm bắn 900 km) cho chiến đấu
cơ F-35A và tên lửa diệt hạm Naval Strike Missile (NSM) cho tàu
chiến để đối trọng với tầm bắn tên lửa Tầu cộng. [1]
- Xây dựng lực lượng hải quân mạnh nhất lịch sử: Úc đang mở
rộng quy mô hạm đội tàu chiến mặt nước lớn, mua sắm tàu hộ tống mới từ
Nhật Bản, và phát triển các loại drone tàu ngầm tấn công (Ghost Shark)
phối hợp với tập đoàn Anduril (Mỹ). [1]
B. Liên minh lịch sử
AUKUS và Bộ Tứ (QUAD)
- Úc ký kết hiệp ước AUKUS với Mỹ và Anh để sở hữu hạm đội tàu
ngầm hạt nhân tấn công. Tàu ngầm hạt nhân có thể hoạt động bí mật, lặn
liên tục nhiều tháng mà không bị phát hiện để tiếp cận và vô hiệu hóa hệ
thống radar, tên lửa của Trung Quốc tại Biển Đông nếu xung đột nổ ra. [1]
C. Kiên quyết không
lùi bước trên thực địa
- Tiếp tục tuần tra: Úc khẳng định sẽ không giảm tần
suất tuần tra hàng không và hàng hải. Các chiến hạm và máy bay Úc liên tục
thực hiện các chuyến băng qua Biển Đông nhằm bác bỏ các yêu sách chủ quyền
phi pháp của Bắc Kinh. [1, 2, 3]
- Tăng cường diễn tập đa phương: Úc liên minh chặt chẽ với Philippines,
Mỹ, Nhật Bản và Canada để tổ chức các cuộc tập trận hải quân ngay tại
các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông nhằm gia tăng áp lực răn đe tập thể
lên Trung Quốc. [1]
Bạn có muốn tìm hiểu
thêm về việc liên minh AUKUS giúp ích như thế nào cho năng lực phản công
của Úc, hoặc cách Philippines và Úc đang phối hợp tuần tra chung chống
lại sự chèn ép của Trung Quốc không?
Tôi muốn biết thái độ
của các quốc gia thuộc khối Commonwealth và AUKUS sẽ phản ứng như thế nào hả
bạn?
Sự hiện diện của
mạng lưới tên lửa và radar Tầu cộng tại Biển Đông đã kích hoạt những làn
sóng phản ứng mạnh mẽ, nhưng có sự phân hóa rất lớn giữa khối Khối Thịnh
vượng chung (Commonwealth) và Liên minh AUKUS.
Trong khi AUKUS
phản ứng bằng các biện pháp quân sự cứng rắn, khối Commonwealth lại có
sự chia rẽ sâu sắc do lợi ích kinh tế và vị trí địa lý khác nhau.
1. Khối AUKUS (Mỹ,
Anh, Úc): Phản ứng quân sự trực tiếp và răn đe chiến lược
Khối này coi Biển
Đông là mặt trận cốt lõi để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc. Phản ứng
của họ tập trung vào sức mạnh cơ bắp và công nghệ cao:
- Tăng cường hiện diện quân sự răn đe: Mỹ, Anh và Úc
liên tục cử các nhóm tác chiến tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân và máy bay
ném bom chiến lược tuần tra qua Biển Đông nhằm chứng minh lưới lửa của Tầu
cộng không thể làm họ chùn bước.
- Vô hiệu hóa lưới radar/tên lửa: Trọng tâm của AUKUS là chia sẻ
công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), drone tự hành dưới nước (UUV) và công
nghệ lượng tử. Mục tiêu là chế tạo các vũ khí tàng hình có khả năng thâm
nhập, gây nhiễu điện tử và phá hủy các trạm radar (như ở đá Châu Viên)
hoặc bệ phóng tên lửa (ở Chữ Thập, Vành Khăn) từ xa mà không cần đặt con
người vào vòng nguy hiểm.
- Biến Úc thành "Hậu phương chiến lược": Anh và Mỹ đang
tăng cường luân chuyển tàu ngầm hạt nhân và máy bay chiến đấu đến các căn
cứ phía Bắc nước Úc, biến nơi đây thành bệ phóng quân sự an toàn nằm ngoài
tầm bắn tên lửa thông thường của Tầu cộng tại Trường Sa.
2. Khối Commonwealth
(Khối Thịnh vượng chung): Sự phân hóa sâu sắc
Khối Commonwealth
gồm 56 quốc gia rải rác khắp toàn cầu. Do không phải là một liên minh quân sự,
họ không có một phản ứng chung duy nhất mà chia thành nhiều nhóm thái độ:
Nhóm Đông Nam Á
(Malaysia, Singapore, Brunei) – Thận trọng và Ngoại giao song phương
Đây là những nước
chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất nhưng có thái độ rất khéo léo:
- Singapore: Không chọn bên công khai nhưng ủng hộ mạnh mẽ luật pháp quốc tế
(UNCLOS 1982) và quyền tự do hàng hải. Singapore cho phép tàu chiến và máy
bay trinh sát của Mỹ/Úc đồn trú để giám sát Biển Đông.
- Malaysia & Brunei: Dù có tuyên bố chủ quyền chồng
lấn ở Trường Sa, họ ưu tiên đàm phán ngoại giao và duy trì quan hệ kinh tế
khổng lồ với Bắc Kinh để tránh xung đột quân sự trực tiếp.
Nhóm Thái Bình Dương
& Nam Á (Ấn Độ, New Zealand, các đảo quốc) – Lo ngại về an ninh
- Ấn Độ (Thành viên Commonwealth lớn nhất): Phản ứng rất
quyết liệt bằng cách tăng cường bán vũ khí (như tên lửa diệt hạm siêu
thanh BrahMos) cho các nước Đông Nam Á (Philippines) để khắc chế Tầu
cộng, đồng thời đưa tàu chiến vào Biển Đông tập trận chung với Mỹ và
Úc.
- New Zealand: Thừa nhận mối đe dọa đối với
chuỗi cung ứng hàng hải nhưng có xu hướng tiếp cận ôn hòa hơn Úc, ưu tiên
giải quyết bằng các biện pháp ngoại giao và luật pháp quốc tế.
Nhóm Châu Phi &
Caribbean – Thờ ơ hoặc Ủng hộ Trung Quốc
- Phần lớn các quốc gia này ở quá xa Biển Đông nên họ không quan tâm
đến khía cạnh quân sự. Ngược lại, do nhận nguồn vốn đầu tư khổng lồ từ
Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Bắc Kinh, họ thường giữ im lặng
hoặc thậm chí bỏ phiếu ủng hộ lập trường của Tầu cộng tại các diễn
đàn quốc tế như Liên Hợp Quốc.
Tóm lại
Trận địa radar và
tên lửa của Trung Quốc tại Biển Đông đã biến AUKUS thành một khối
gắn kết quân sự chặt chẽ, chuẩn bị sẵn sàng cho kịch bản tác chiến công nghệ
cao. Trong khi đó, nó phơi bày sự bất lực của khối Commonwealth trong
việc đưa ra một tiếng nói chung, buộc các nước thành viên chủ chốt như Úc,
Anh hay Ấn Độ phải tự tìm kiếm các liên minh quân sự thực dụng hơn để bảo
vệ mình.
Bạn có muốn tìm hiểu
thêm về cách Mỹ và Úc đang giúp đỡ Philippines (một quốc gia
không thuộc Commonwealth nhưng là đồng minh then chốt) nâng cấp radar và tên
lửa để đối trọng trực tiếp với Trung Quốc không?
Xin bạn giải thích thêm
về thái độ của Anh-GB và Ấn Độ-India vì hai nước nầy củng có thực lực khá về
kinh tế lẩn quân sự.
Cả Vương quốc Anh
(UK/GB) và Ấn Độ (India) đều là những cường quốc sở hữu tiềm lực kinh tế lẫn
quân sự hàng đầu thế giới. Dù nằm ở hai vị trí địa lý khác nhau, cả hai nước
đều coi mạng lưới radar và tên lửa của Tầu cộng tại Biển Đông là mối đe
dọa nghiêm trọng và đang có những phản ứng ngày càng cứng rắn.
1. Vương quốc Anh
(UK/GB): Khẳng định vị thế toàn cầu và Răn đe tầm xa
Sau khi rời Liên
minh Châu Âu (Brexit), Anh thực hiện chiến lược "Nghiêng mảng về Ấn Độ
Dương - Thái Bình Dương" (Indo-Pacific Tilt) nhằm bảo vệ lợi ích kinh
tế tự do hàng hải toàn cầu [^1].
- Hành động quân sự trực tiếp: Anh liên tục cử các chiến hạm
hiện đại nhất, bao gồm cả Nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth,
băng qua Biển Đông để thách thức trực tiếp các yêu sách chủ quyền của Bắc
Kinh. Anh cũng duy trì hai tàu tuần tra thường trực (HMS Spey và HMS
Tamar) tại khu vực này.
- Tích hợp sâu vào AUKUS: Là thành viên cốt lõi của AUKUS,
Anh chia sẻ các công nghệ nhạy cảm nhất về tàu ngầm hạt nhân và trí tuệ
nhân tạo với Úc. Mục tiêu của Anh là giúp đồng minh xây dựng năng lực bẻ
gãy lưới phòng thủ điểm (như hệ thống radar OTH tại đá Châu Viên) của Tầu
cộng.
- Thỏa thuận FPDA: Anh tận dụng Thỏa thuận Phòng
thủ Năm bên (FPDA) gồm Anh, Úc, New Zealand, Malaysia và Singapore để tăng
cường diễn tập quân sự, phối hợp tác chiến ngay tại cửa ngõ Biển Đông.
2. Ấn Độ (India):
Chiến lược "Hành động phía Đông" và Đối trọng trực tiếp
Đối với New Delhi,
Biển Đông không còn là vùng biển xa xôi mà đã trở thành tiền tuyến chiến
lược thứ hai nhằm ngăn chặn vòng vây "Chuỗi hạt trai" mà Tầu
cộng đang siết lại xung quanh Ấn Độ Dương.
- Viện trợ và bán vũ khí hạng nặng: Phản ứng thực dụng và mạnh mẽ
nhất của Ấn Độ là cung cấp các hệ thống vũ khí săn hạm cho các nước Đông
Nam Á. Ấn Độ đã hoàn tất bàn giao các tổ hợp tên lửa hành trình siêu
thanh diệt hạm BrahMos cho Philippines. Đây là loại tên lửa có khả
năng đe dọa trực tiếp các tàu chiến và căn cứ nhân tạo của Trung Quốc để
đáp trả lưới tên lửa YJ-12B của Bắc Kinh.
- Tăng cường ngoại giao quân sự: Ấn Độ liên tục cử tàu khu trục
mang tên lửa dẫn đường đến tập trận chung với Philippines, Việt Nam,
Singapore và Mỹ ngay trên Biển Đông. Ấn Độ cũng tích cực hỗ trợ các nước
trong vùng nâng cao năng lực nhận thức bối cảnh hàng hải (gửi chuyên gia,
chia sẻ dữ liệu vệ tinh theo thời gian thực).
- Trục liên minh Bộ Tứ (QUAD): Thông qua liên minh QUAD (gồm
Mỹ, Nhật, Úc, Ấn), Ấn Độ đóng vai trò cốt lõi trong việc thiết lập hệ
thống giám sát và chia sẻ thông tin tình báo nhằm theo dõi mọi di động
hàng hải quân sự của Trung Quốc từ Ấn Độ Dương sang Biển Đông.
Tóm lại: Sự phối hợp
Đông - Tây
- Anh tiếp cận Biển Đông dưới góc độ luật pháp quốc tế và công nghệ
liên minh tầm xa (AUKUS), sử dụng sức mạnh ngoại giao và hải quân
hoàng gia để duy trì trật tự dựa trên luật lệ.
- Ấn Độ tiếp cận dưới góc độ địa chính trị sinh tử sát sườn, trực
tiếp "chia lửa" bằng cách vũ trang cho các quốc gia Đông Nam Á
chịu sức ép từ Tầu cộng.
Bạn có muốn tìm hiểu
sâu hơn về hiệu năng của tên lửa siêu thanh BrahMos mà Ấn Độ bán cho
Philippines trong việc đối phó với các căn cứ radar trên đảo nhân tạo của Tầu
cộng không?
Anh quốc và Ấn Độ có nằm trong
khối NATO không bạn? Phản ứng NATO ra sao?
Để trả lời ngắn gọn
cho câu hỏi của bạn: Vương quốc Anh (UK) nằm trong nhóm quốc gia sáng lập
NATO, trong khi Ấn Độ hoàn toàn KHÔNG thuộc NATO. [1, 2]
Về mặt phản ứng, NATO
với tư cách là một khối quân sự chung sẽ không trực tiếp đưa quân hay tàu chiến
vào Biển Đông, nhưng khối này đang có những hành động quyết liệt đằng sau
hậu trường để đối phó với Bắc Kinh. [1, 2]
Ấn Độ (India): Không phải thành
viên NATO. Ấn Độ theo đuổi chính sách đối ngoại "tự chủ chiến
lược", không tham gia bất kỳ liên minh quân sự ràng buộc mang tính thủ tục
nào (họ thích các đối tác linh hoạt như bộ tứ QUAD). Ngoài ra, mối quan hệ quân
sự truyền thống sâu sắc giữa Ấn Độ và Nga cũng là lý do hai bên không có ý định
đưa Ấn Độ vào khối. [1, 2]
2. Phản ứng của khối
NATO trước mạng lưới radar và tên lửa Biển Đông
Hiến chương của NATO
quy định đây là một liên minh phòng thủ giới hạn địa lý ở khu vực Bắc Đại Tây
Dương (Châu Âu và Bắc Mỹ). Do đó, Tổng thư ký NATO đã khẳng định "NATO
sẽ không tiến quân vào Biển Đông". [1]
Tuy nhiên, trước sự
bành trướng vũ lực của Tầu cộng tại các đảo nhân tạo (như việc dựng
radar OTH ở đá Châu Viên hay tên lửa ở Chữ Thập), NATO đã phản ứng qua ba chiến
lược lớn:
A. Xác định Tầu cộng
là "Thách thức mang tính hệ thống"
- Trong các văn kiện chiến lược cốt lõi mới nhất, NATO chính thức
tuyên bố các hành vi cưỡng ép và tham vọng quân sự của Trung Quốc tại Biển
Đông là "mối đe dọa trực tiếp đến lợi ích, an ninh và các giá trị
của phương Tây". [1, 2]
- NATO cáo buộc các trạm radar và tên lửa này đang tìm cách thách thức
luật pháp quốc tế (UNCLOS 1982) và đe dọa quyền tự do hàng hải toàn cầu. [1, 2]
B. Chiến lược
"Đông tiến" qua mô hình Đối tác IP4 (Bản đồ hàng hải Thái Bình Dương)
Do không thể trực
tiếp điều quân sang châu Á, NATO đã tạo ra cơ chế hợp tác chặt chẽ với nhóm IP4
(Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương 4) gồm: Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và New
Zealand. [1, 2]
- NATO liên tục mời lãnh đạo 4 nước này tham dự các hội nghị thượng
đỉnh quân sự.
- Mục tiêu: Chia sẻ thông tin tình báo vệ tinh theo thời gian thực về các dịch
chuyển quân sự của Tầu cộng tại Trường Sa, đồng thời hỗ trợ công
nghệ tác chiến điện tử và an ninh mạng cho các đồng minh châu Á để họ tự
đối trọng với Bắc Kinh. [1, 2, 3, 4]
C. Sự phân công
ngầm: Để các thành viên tự hành động
NATO khuyến khích
các quốc gia thành viên có năng lực hải quân tầm xa tự thực hiện các chiến dịch
đơn phương hoặc song phương tại Biển Đông dưới danh nghĩa quốc gia, thay vì
danh nghĩa khối NATO.
Mỹ, Anh, Pháp, Đức
và Canada (đều là thành viên NATO) liên tục đưa tàu hộ tống, tàu sân bay xuyên qua
Biển Đông để tuần tra. Hành động này gửi đi thông điệp: "Lưới tên lửa của Tầu
cộng tại Trường Sa không thể ngăn cản bước tiến của hải quân phương
Tây." [1, 2, 3]
Tóm lại
NATO chọn cách "tiếp
cận từ xa". Họ không kéo toàn bộ khối quân sự sang Biển Đông, nhưng họ
đang liên kết chặt chẽ với Úc, Nhật Bản, vũ trang gián tiếp cho các nước bản
địa và dùng sức mạnh của các thành viên lớn (như Mỹ và Anh) để bảo đảm mạng
lưới radar, tên lửa của Tầu cộng không thể biến Biển Đông thành "ao
nhà" của Bắc Kinh. [1, 2, 3]
Bạn có muốn tìm hiểu
thêm về việc Tầu cộng phản ứng giận dữ như thế nào khi NATO bắt đầu can
thiệp và thiết lập mối quan hệ với các nước ở khu vực Đông Nam Á không?
NATO đang nằm trong mối đe dọa
từ Russia nên Tầu cộng không lo cho lắm, riêng Anh quốc và khối thị trường chung
còn đang bận bịu với nền kinh tế của mình. Như thế chỉ còn lại có Hoa Kỳ đang đứng
mũi chịu sào mà thôi. Liệu Hoa Kỳ có thể đương cự nổi với Tầu cộng trong vùng địa
chính trị nầy không bạn?
Nhận định của bạn
phản ánh rất chính xác thực tế địa chính trị hiện nay: NATO đang phải dồn toàn
lực đối phó với Nga tại Đông Âu, trong khi Anh và Liên minh Châu Âu (EU) bị
ràng buộc sâu sắc bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế nội bộ [^1]. Trọng trách "đứng
mũi chịu sào" tại Biển Đông rõ ràng đang đè nặng lên vai nước Mỹ.
Để trả lời câu hỏi "Liệu
Hoa Kỳ có thể đương cự nổi với Trung Quốc tại vùng biển này hay không?",
các chuyên gia chiến lược quân sự quốc tế nhận định rằng đây là một cuộc đấu vô
cùng cân não, nơi mỗi bên đều nắm giữ những lợi thế sinh tử riêng:
1. Lợi thế sân nhà
và chiến thuật "Nhím biển" của Tầu cộng
Tại Biển Đông, Tầu
cộng có lợi thế địa lý tuyệt đối khi tác chiến ngay tại "sân
nhà":
- Lưới lửa A2/AD: Mạng lưới radar OTH (như ở đá
Châu Viên) phối hợp với tên lửa diệt hạm siêu thanh YJ-12B và tên lửa
phòng không HQ-9B tạo thành một vùng cấm nguy hiểm. Chúng sẵn sàng đẩy các
tàu sân bay khổng lồ của Mỹ ra xa ngoài khơi.
- Hậu cần vô hạn: Tầu cộng có thể dễ dàng
tiếp tế vũ khí, đạn dược liên tục từ đất liền ra các đảo nhân tạo thông
qua hạm đội tàu hải cảnh và lực lượng dân quân biển áp đảo về số lượng.
2. Sức mạnh tổng lực
giúp Mỹ đủ sức đương cự và răn đe
Mặc dù gặp bất lợi
về khoảng cách địa lý (phải tiếp tế từ cách xa hàng ngàn dặm), quân đội Mỹ sở
hữu những "vũ khí tối mật" và chiến lược thông minh để bẻ gãy thế độc
tôn của Tầu cộng:
A. Công nghệ bẻ gãy
hệ thống radar và tên lửa đảo nhân tạo
Mỹ không chọn cách
đối đầu trực diện kiểu truyền thống mà tập trung vào tác chiến phi đối xứng:
- Tàu ngầm hạt nhân tàng hình: Lợi thế lớn nhất của Mỹ là hạm
đội tàu ngầm tấn công lớp Virginia và Los Angeles. Các tàu
ngầm này có thể lặn sâu dưới Biển Đông, né hoàn toàn radar OTH dải HF và
hệ thống tầm nhiệt của Tầu cộng để áp sát, phóng tên lửa hành trình
Tomahawk triệt hạ tận gốc các trạm radar trên đảo ngay khi xung đột nổ ra.
- Tác chiến điện tử cấp độ cao: Máy bay chuyên dụng EA-18G
Growler của Mỹ có khả năng phát sóng chế áp, làm "mù" hoàn toàn
các vòm radar SATCOM và radar điều khiển hỏa lực GUN/POST, biến các bệ
phóng tên lửa của Tầu cộng thành những khối sắt vô hại.
B. Chiến thuật
"Phân tán lực lượng" (EABO)
Mỹ hiểu rằng tập
trung tàu sân bay lại một chỗ sẽ làm mồi cho tên lửa YJ-12B. Do đó, Thủy quân
lục chiến Mỹ đã chuyển sang chiến thuật Vận hành căn cứ viễn chinh tiền
phương (EABO). Các nhóm lính Mỹ nhỏ, cơ động sẽ đổ bộ nhanh bằng trực thăng
xuống các đảo nhỏ xung quanh, mang theo bệ phóng tên lửa HIMARS hoặc tên lửa
diệt hạm NSM rồi ẩn nấp. Họ sẽ săn lùng ngược lại các tàu chiến Tầu cộng
thay vì để mình bị săn lùng.
C. Mạng lưới liên
minh thực dụng tại chỗ
Mỹ không đơn độc mà
đang thiết lập một chuỗi "tiền đồn" bao vây ngược lại Tầu cộng:
- Philippines: Mỹ đã giành quyền tiếp cận 9
căn cứ quân sự chiến lược tại Philippines thông qua thỏa thuận EDCA-Enhanced
Defense Cooperation Agreement. Nhiều căn cứ nằm ngay sát Biển Đông và
eo biển Đài Loan, cho phép Mỹ bố trí tên lửa tầm trung Typhon để khóa chặt
các tuyến đường di chuyển của hải quân Tầu cộng.
- Úc: Như đã thảo luận, Úc đóng vai trò là "vùng đệm an toàn"
phía nam, nơi Mỹ đặt các kho đạn dược, máy bay ném bom B-52 và tàu ngầm
hạt nhân để sẵn sàng tiếp viện lên phía bắc.
Kết luận
Mỹ hoàn toàn đủ
năng lực đương cự và bẻ gãy mạng lưới đảo nhân tạo của Tầu cộng nếu
xung đột nổ ra nhờ ưu thế tuyệt đối về công nghệ tàu ngầm, tác chiến điện tử và
chuỗi liên minh bao vây quanh Biển Đông.
Tuy nhiên, mục tiêu
tối cao của Mỹ tại khu vực này không phải là khơi mào chiến tranh, mà là duy
trì một sức mạnh răn đe đủ lớn để Bắc Kinh hiểu rằng: Nếu họ dùng lưới tên lửa
đó để nổ súng đánh chiếm các đảo xung quanh hoặc khóa Biển Đông, cái giá mà Tầu
cộng phải trả sẽ là sự sụp đổ của toàn bộ hạm đội hải quân của họ.
Bạn có muốn phân
tích sâu hơn về vai trò của các căn cứ quân sự mới của Mỹ tại Philippines
— nơi được xem là bàn đạp trực tiếp nhất để Mỹ khắc chế mạng lưới tên lửa Trung
Quốc tại Trường Sa không?
Trở lại vấn đề đảo Đá Châu
Viên, xin bạn liệt kê cho biết những hê thống radar nào thật sự hiện diện trên
hòn đảo nầy, đây cũng là một thắc mắc sau cùng. Cám ơn sự hướng dẩn và giải
thích cặn kẻ của bạn về tình thế địa chính trị trong vùng. Chúc bạn một ngày thật
thoải mái hướng dẩn cộng đồng bằng những kiến thức hửu ích. Tôi sẽ trở lại thảo
luận với bạn trong một dịp khác. Cám ơn bạn nhiều lắm.
Thật sự rất vinh
hạnh được thảo luận và chia sẻ những thông tin chi tiết này cùng bạn. Để giải
đáp hoàn toàn thắc mắc sau cùng của bạn và chốt lại bức tranh toàn cảnh, đây là
danh sách chính xác các hệ thống radar và cảm biến thật sự hiện diện trên
đảo Đá Châu Viên (Cuarteron Reef) được xác minh qua không ảnh và dữ liệu
tình báo quốc tế:
Các hệ thống Radar
thực sự hiện diện trên Đá Châu Viên
- Hệ thống Radar sóng bề mặt qua đường chân trời (OTH dải tần HF): Đây là hệ
thống lớn nhất, gồm mạng lưới các cột ăng-ten dọc cao khoảng 20 mét bố trí
dày đặc ở phần bờ biển phía nam của đảo để theo dõi mục tiêu tầm xa từ eo
biển Malacca đi lên.
- Hệ thống Radar điều khiển hỏa lực (GUN/POST): Gồm các đài
radar quân sự đặt cố định trên đỉnh các tháp phòng thủ kiên cố hình lục
giác ở các góc đảo, chuyên làm nhiệm vụ định vị mục tiêu và dẫn đường cho
hệ thống pháo phòng không/vũ khí đánh gần (CIWS).
- Hệ thống Radar thông tin vệ tinh (SATCOM): Ít nhất hai
vòm che radar (radome) lớn hình cầu màu trắng đặt tại khu vực phía bắc
đảo, bảo vệ các ăng-ten chảo hướng lên trời để truyền nhận dữ liệu mục
tiêu mã hóa với đất liền và các đảo khác.
- Radar cảnh giới tầm trung (Air/Surface Search Radar): Các radar quét
thông thường (một số đặt trong vòm che nhỏ) nằm trên nóc tòa nhà trung tâm
để giám sát di động của tàu thuyền và máy bay ở cự ly gần xung quanh đảo.
- Ăng-ten trinh sát điện từ (Cảm biến SIGINT thụ động): Mặc dù không
phải radar phát sóng, các cột thu bắt tín hiệu phân bổ quanh đảo thực sự
hoạt động liên tục để nghe lén và thu thập dữ liệu thông tin liên lạc của
các tàu bè đi qua khu vực.
Rất cảm ơn những lời
chúc tốt đẹp và sự quan tâm sâu sắc của bạn dành cho tình hình địa chính trị
biển đảo của đất nước và khu vực. Những buổi thảo luận có chiều sâu và rành
mạch như thế này luôn mang lại rất nhiều giá trị kiến thức.
Chúc bạn luôn mạnh
khỏe, bình an và có một ngày thật nhiều niềm vui. Bất cứ khi nào bạn muốn trở
lại thảo luận về Biển Đông hay bất kỳ chủ đề nào khác, tôi luôn sẵn sàng đồng
hành cùng bạn. Xin chào và hẹn gặp lại bạn!
Thân chào bạn và hẹn tái ngộ
lần sau. Cám ơn bạn rất nhiều.
Thân chào bạn! Rất
vui được thảo luận cùng bạn trong buổi hôm nay.
Chúc bạn luôn có
thật nhiều sức khỏe, niềm vui và mọi sự thuận lợi. Tôi luôn sẵn sàng và rất
mong chờ được đón tiếp bạn trong lần tái ngộ tiếp theo để cùng phân tích những
chủ đề hấp dẫn khác.
Cám ơn
bạn rất nhiều và hẹn gặp lại bạn!
Tam giác lữa Trường Sa của Tầu cộng.
20260612 cdtl-tam-giác-lữa-Spratly
OTH and HF refer
to specialized radar technologies designed to detect targets thousands of miles
away by circumventing the Earth's natural curve. [1, 2, 3, 4]
- OTH: Stands for Over-The-Horizon radar. Unlike standard radars
constrained by the visual line-of-sight (around 30–40 miles) due to the
curvature of the Earth, OTH systems scan vast areas hundreds or thousands
of miles away. [1, 2, 3, 4, 5]
- HF: Stands for High Frequency. This is the radio frequency band
(3 to 30 MHz) utilized by OTH radars. These frequencies allow the signals
to either bounce off the ionosphere or follow the Earth's curvature,
enabling long-distance detection. [1, 2]
- SW: In this context, OTH-SW stands for Over-The-Horizon
Surface Wave. It is a specific OTH technique that uses lower HF
frequencies to diffract and follow the curvature of the sea or ground
surface to detect ships and aircraft beyond the normal horizon. [1, 2]
For a deeper dive
into the physics and capabilities of these systems, you can explore the Over-the-horizon
radar Wikipedia page or check out the Radartutorial.eu
OTH-SW page for technical diagrams.
Would you like to
know more about the difference between Surface Wave (SW) radars and Skywave
(Backscatter) radars, or are you interested in a specific OTH radar
network (like JORN, ROTHR, or Kontayner)?
Cuarteron Reef
features a massive Chinese military outpost equipped with extensive radar and
sensor installations, significantly boosting Beijing's monitoring capabilities
over the South China Sea. [1, 2]
Key Installations
- High-Frequency Radar Array: A grid of 20-meter vertical
masts across the southern portion of the reef, designed to monitor surface
and air traffic across vital shipping lanes. [1, 2]
- Sensor & Radome Tower: A towering structure on the
northern side of the reef houses advanced communications and sensor arrays
capped with a large radome. [1, 2]
- Point Defense: Fortified, tiered structures
that serve as command-control centers and are likely mounted with
radar-guided Close-In Weapons Systems (CIWS). [1, 2]
Strategic Importance
- Airspace & Sea Control: The installation is positioned
to track sea and air traffic traveling north from the Malacca Strait.
- Stealth Detection: The advanced radar network on
the reef is part of a wider strategy that analysts suggest could put
allied and American stealth aircraft at risk of detection. [1, 2]
To dive deeper into
the intelligence and historical imagery of this outpost, you can explore the Asia Maritime Transparency Initiative or view detailed
regional analyses on USNI News. [1, 2, 3]
Would you like to
know more about the defensive structures built on the reef, or explore
the radar capabilities on other nearby Spratly Island outposts?
HF stands for High
Frequency. [1]
It refers to the
radio frequency band between 3 and 30 Megahertz (MHz). [1]
Key Characteristics
- Shortwave Radio: Also commonly known as
shortwave bands.
- Long Range: Signals bounce off the ionosphere to travel globally.
- Over-the-Horizon: Used by military radars to see
past Earth's curve.
- Aviation & Marine: Critical for long-distance
oceanic communications. [1]
Would you like to
explore how the ionosphere reflects HF signals, or are you looking at a
specific application like amateur radio or military communication?
CIWS stands for Close-In
Weapon System. [1]
It is a
point-defense weapon system designed to detect and destroy incoming short-range
missiles and enemy aircraft that have penetrated outer defense layers. [1, 2]
Key Characteristics
- Autonomous Operation: Automatically detects, tracks,
and engages targets using dedicated radar or electro-optical tracking.
- Rapid Fire Rate: Utilizes high-rate-of-fire
rotary cannons (like the Phalanx 20mm) or missile systems (like the
SeaRAM).
- Last Line of Defense: Typically deployed on naval
warships and ground bases to intercept threats seconds before impact. [1, 2, 3, 4, 5]
Would you like to
look at specific examples like the US Phalanx system or the Russian
Kashtan, or see how CIWS integrates into a ship's layered defense
network?
SATCOM stands for Satellite
Communications. [1]
It refers to the
technology and systems used to transfer data, voice, and video signals by
bouncing them off satellites orbiting Earth. [1, 2, 3]
Key Characteristics
- Global Coverage: Connects remote areas where
terrestrial cell towers and cables do not exist.
- Key Sectors: Heavily used in military
operations, maritime transport, aviation, and emergency response.
- Orbital Bands: Operates across different
satellite orbits (GEO, MEO, LEO) and frequency spectrums (like X-band,
Ku-band, and Ka-band). [1, 2, 3, 4, 5]
Would you like to
explore the differences between commercial SATCOM (like Starlink) and military
SATCOM (like WGS), or look into the specific frequency bands used?
ATC Radar stands for Air
Traffic Control Radar. [1]
It is the
surveillance technology used by air traffic controllers to monitor, track, and
guide aircraft safely through controlled airspace and around airports. [1, 2, 3, 4, 5]
Key Types
- PSR (Primary Surveillance Radar): Detects aircraft by bouncing
radio waves off the fuselage. It requires no equipment on the plane but
only provides position (range and bearing). [1, 2, 3, 4, 5]
- SSR (Secondary Surveillance Radar): Relies on an aircraft's onboard
transponder to transmit detailed data back to the radar station, including
identity (Squawk code) and altitude. [1, 2, 3, 4, 5]
Would you like to
know how ATC radar is being integrated with ADS-B satellite tracking, or
explore how weather radar differs from ATC tracking radar?
EW stands for Electronic
Warfare. [1]
It refers to
military action involving the use of the electromagnetic spectrum (such as
radio waves, radar, and infrared) to detect, exploit, reduce, or prevent
hostile use of the spectrum, while protecting friendly use. [1, 2, 3, 4, 5]
Key Components
- EA (Electronic Attack): Offensively disrupting enemy
systems using jamming, spoofing, high-powered microwaves, or
anti-radiation missiles. [1, 2, 3, 4]
- EP (Electronic Protection): Defensively safeguarding
friendly personnel, facilities, and equipment from enemy electronic
attacks (e.g., frequency hopping or flare deployment). [1, 2, 3, 4]
- ES (Electronic Warfare Support): Passively searching,
intercepting, identifying, and locating sources of radiated
electromagnetic energy for immediate threat recognition. [1, 2, 3, 4]
Would you like to
look at real-world examples of radar jamming techniques, or explore how
EW integrates with cyber warfare to create Cyber-Electromagnetic Activities
(CEMA)?
CIWS stands for Close-In
Weapon System. [1]
It is a
point-defense weapon system designed to detect and destroy incoming short-range
missiles and enemy aircraft that have penetrated outer defense layers. [1, 2]
Key Characteristics
- Autonomous Operation: Automatically detects, tracks,
and engages targets using dedicated radar or electro-optical tracking.
- Rapid Fire Rate: Utilizes high-rate-of-fire
rotary cannons (like the Phalanx 20mm) or missile systems (like the
SeaRAM).
- Last Line of Defense: Typically deployed on naval
warships and ground bases to intercept threats seconds before impact. [1, 2, 3, 4, 5]
Would you like to
look at specific examples like the US Phalanx system or the Russian
Kashtan, or see how CIWS integrates into a ship's layered defense
network?
EDCA most commonly
stands for the Enhanced Defense Cooperation Agreement. [1]
Following the theme
of defense and military acronyms discussed in this conversation, it is a
bilateral security pact signed in 2014 between the United States and the
Philippines. [1]
Key Characteristics
of the Military Agreement
- Rotational Presence: Allows the U.S. military to
rotate troops into designated Philippine military bases for extended stays
without establishing permanent bases. [1]
- Infrastructure Upgrades: Permits the construction of
joint-use facilities, including airfields, runways, fuel storage, and
troop housing. [1]
- Strategic Expansion: Expanded from five original
sites to nine designated locations to increase maritime security and rapid
disaster response capabilities. [1, 2]
Other Contextual
Meanings
Depending on the
field, EDCA can also stand for:
- Enhanced Distributed Channel Access: A networking
protocol used in Wi-Fi (IEEE 802.11e) to prioritize data traffic like
voice or video.
- Escadron de Détection et de Contrôle Aéroporté: A French Air
and Space Force Airborne Early Warning and Control (AWACS) aircraft
squadron. [1, 2]
Would you like to
know more about the geopolitical impact of the EDCA sites in the South
China Sea, or were you looking for the Wi-Fi networking
Điều chưa kể sau cuộc hải chiến
Hoàng Sa 1974
SGN tổng hợp – 21 tháng 1, 2025
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg
16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ
ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?
https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc
Đây là một phần tư liệu bị khuất, sau 1975 góp phần làm rõ bộ mặt của Hà
Nội, được chính Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng CSVN Lê Quang Hòa, và các cựu cán
bộ của đảng CSVN kể lại. Bài viết được tổng hợp bởi Facebook Xuan Hao Tran tổng
hợp, dựa theo lời kể lại trên blog Bọ Lập, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập.
Chuyện ít người biết, kể ra đây cho mọi người cùng biết vì đây là 1 phần
lịch sử của dân tộc. Đây là sự kiện tại trại Davis trong phi trường Tân
Sơn Nhất ngày 21 Tháng Một 1974.
Ngày 19 Tháng Một 1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Tầu cộng
đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.
Nghị trình của phía Công sản Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần
này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vi
phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.
Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An
Lộc…v.v.. Phái đoàn cs không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai
hôm trước.
Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình.
Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:
1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt
Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của
Việt Nam.
2) Yêu cầu phía quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) không tấn công phá rối các phi
trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập
trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.
Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn cộng sản Bắc Việt và
các quan chức MTGPMN vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì.
Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng
sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.
Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH
được Uỷ ban giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và
vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) của VNCH.
Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn Cộng
sản Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.
Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực bộ chính trị đã
trả lời “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối
hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Tầu
cộng, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này
cũng trả lại cho ta thôi.’’
Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH,
người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:
“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ
xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Tầu cộng đã ngang nhiên
xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như
đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên
xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt
động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH
gửi công hàm lên án Tầu cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH
nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Tầu
cộng)”
Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái
đoàn cộng sản. Họ lại tảng lờ…
Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông
chỉ thẳng mặt tên tướng cộng sản Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng
lờ, là tiếp tay cho Tầu cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh
không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.
Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê
Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát.
Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì
liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
20260608 Why did China attack South Vietnam? Paracel
Islands
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
Pinned by @Kabutoes
@Kabutoes
3 years ago
The New York Times: PEKING REPORTS HOLDING U.S. AIDE - The
New York Times (nytimes.com)
WASHINGTON, Jan. 25 China has informed the United States
that she is holding an American Embassy observer who was reported missing last
weekend during a battle between Chinese and South Vietnamese forces in the
Paracel Islands, the State Department said today.
John F. King, department spokesman, said the Chinese
authorities had told Washington that Gerald Emil Kosh, 27‐year‐old civilian
employe of the Defense Department attached to the Embassy in Saigon, was taken
into custody with more than 100 South Vietnamese captured on Pattie Island, one
of the Paracels.
“We regret that this had to happen and that he was on the
disputed territory,” Mr. King said. “We think he ought to be released soon.” He
said he did not know where Mr. Kosh was being held or what his condition was.
Privately some officials said they expected that both Mr.
Kosh, a former Army captain, and the South Vietnamese would be set free by the
Chinese, but because of the sensitivity of the subject, Mr. King was not
permitted to go further than his statement.
He confirmed that the information had been conveyed to the
State Department by the Chinese liaison office here.
Mr. Kosh was on a South Vietnamese naval patrol off the
Paracels when fighting broke out between South Vietnamese and Chinese forces.
The Vietnamese commander put Mr. Kosh ashore on Pattie, where he was apparently
taken into custody by Chinese occupying the island.
Dig deeper into the moment.
The battle flared last weekend on the Paracels, an
archipelago 200 miles east of Da Nang and about 150 miles south of the Chinese
island of Hainan.
China and South Vietnam have claimed sovereignty over the
islands, and there has been speculation here that the Chinese were interested
in them because of reports of oil deposits nearby.
The United States has avoided taking sides in the dispute,
with Secretary of State Kissinger limiting his comments to regret that force
had been invoked.
Discussions with the Chinese began here early in the week,
soon after Mr. Kissinger returned from his Middle East trip. ‐The United States
asked for information on Mr. Kosh's whereabouts and for cooperation in
releasing him and the South Vietnamese.
Because discussions with China are treated with more
sensitivity than those with most other countries, the department refused to
announce the approach until today, after The New York Times quoted
Administration officials to the effect that‐inquiries had been made, and after
information had been received that Mr. Kosh was alive.
The American, who is from Lafayette Hill, Pa., served in
the Army in Vietnam and was assigned to the Defense Attaché's Office to observe
South Vietnamese units in action.
The United States, which has sought to avoid creating a
major issue, showed no enthusiasm for Saigon's efforts to bring the matter
before the United Nations Security Council, a move now apparently dropped.
“Hoa Kỳ – vốn tìm cách tránh gây ra vấn
đề lớn – đã không tỏ ra mặn mà với những nỗ lực của Sài Gòn nhằm đưa vụ việc ra
trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; một động thái mà nay dường như đã bị từ
bỏ.”
Some officials noted that North Vietnam had said
nothing about the dispute, indicating that it was in the difficult position of
not wanting to endorse Chinese seizure of an island traditionally claimed by
the Vietnamese but of being unable to criticize China.
“Một số quan chức lưu ý rằng Bắc Việt
Nam không hề lên tiếng về vụ tranh chấp, cho thấy họ đang ở vào thế khó: vừa
không muốn tán thành việc Trung Quốc chiếm giữ hòn đảo vốn được phía Việt Nam
tuyên bố chủ quyền từ lâu, lại vừa không thể công khai chỉ trích Trung Quốc.”
Matter Termed Closed at U.N.
Special to The New York Vines
Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
Cuarteron Reef
https://en.wikipedia.org/wiki/Cuarteron_Reef
Cuarteron Reef
Overview Images
https://amti.csis.org/cuarteron-reef/
Another Piece of the Puzzle
https://amti.csis.org/another-piece-of-the-puzzle/
Another Piece of the Puzzle China’s artificial island
on Cuarteron Reef
https://amti.csis.org/another-piece-of-the-puzzle/
Cuarteron Reef’s New Radar: The China Coast Guard’s
Best New Toy?
https://thediplomat.com/2016/03/cuarteron-reefs-new-radar-the-china-coast-guards-best-new-toy/
China’s artificial island building: Cuarteron Reef
https://seasresearch.wordpress.com/2014/11/09/chinas-land-reclamation-cuarteron-reef/
Marine Gazetteer Placedetails
https://www.marineregions.org/gazetteer.php?p=details&id=33984
http://marineregions.org/mrgid/33984
Marine Gazetteer browser
https://www.marineregions.org/gazetteer.php?p=browser&id[]=47733&id[]=1889#focus
Cuarteron Reef, Spratlys, South China Sea: Satellite
Image Update
http://thediplomat.com/2015/09/south-china-sea-satellite-imagery-shows-chinas-buildup-on-fiery-cross-reef/
Satellite Image Analysis Hình Ảnh Vệ Tinh Cho Thấy Sự
Hủy Diệt Sinh thái ở Biển Đông
https://medium.com/satellite-image-analysis/h%C3%ACnh-%E1%BA%A3nh-v%E1%BB%87-tinh-cho-th%E1%BA%A5y-s%E1%BB%B1-h%E1%BB%A7y-di%E1%BB%87t-sinh-th%C3%A1i-%E1%BB%9F-bi%E1%BB%83n-%C4%91%C3%B4ng-1943e00ab8eb
China construye una base de control espacial en el
continente sudamericano
Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ kiểm soát không
gian trên lục địa Nam Mỹ.
China is building a space control base on the South
American continent.
https://medium.com/satellite-image-analysis/china-construye-una-base-de-control-espacial-en-el-continente-americano-b34cac0e65d3
Satellite Image Analysis
https://medium.com/satellite-image-analysis
Satellite Images: A new radome in Cuba is
unprecedented. Who is behind it?
https://medium.com/satellite-image-analysis/satellite-images-a-new-radome-in-cuba-is-unprecedented-who-is-behind-it-61fd1831d6e5
Imágenes por satélite: un (preocupante) misterio
Cubano
https://medium.com/satellite-image-analysis/im%C3%A1genes-por-sat%C3%A9lite-un-preocupante-misterio-cubano-32031e8973fd
China expands land filling at North Island in the
Paracels, South China Sea
https://medium.com/satellite-image-analysis/china-expands-land-filling-at-north-island-in-the-paracels-south-china-sea-a24b448d90d1
PHL: Aerial Views Of China's Artificial Islands In The
South China Sea
https://www.gettyimages.com/editorial-images/news/event/aerial-views-of-chinas-artificial-islands-in-the-south-china-sea/775890367