20260721 CDTL Người Em Gái Dakbla - (Thơ Tr/Tá TQLC Lê
Hằng Minh)
****
Bố cáo
20190910
Petition of the citizens of the Republic of Vietnam
https://bachvietnhan.blogspot.com/2019/09/20190910-petition-of-citizens-of.html
20241110 CDTL Tuyên Cáo Lãnh Thổ Lãnh Hải VN
https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/11/20241110-cdtl-tuyen-cao-lanh-tho-lanh.html
20241214 CDTL South Vietnam Not Bound by Geneva Accords 1954
https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241214-cdtl-south-vietnam-not-bound.html
20120414 Hải Chiến Hoàng Sa
https://bachvietnhan.blogspot.com/2012/04/
20200704 BẢN TIN SỐ 4
BẢN TIN SỐ 4 của Văn phòng cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn
về việc đệ nạp hồ sơ Thềm Lục Địa 18/05/2009
https://bachvietnhan.blogspot.com/2020/07/20200704-ban-tin-so-4.html
Điều
chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 (Xem tài liệu ở cuối bài)
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg
Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands (Xem tài liệu ở cuối bài)
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG
SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?
https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc
20260614 Hải Chiến Hoàng Sa. The Paracel Islands
Incident
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf
20260614 When China defeated South Vietnam and took
control of the Paracel Islands. The US did not lend help to the South
Vietnamese
https://theaviationgeekclub.com/when-china-defeated-south-vietnam-and-took-control-of-the-paracel-islands-the-us-did-not-lend-help-to-the-south-vietnamese/
20260616 CĐTL Lá Thư Cảm Tạ Quốc Gia
Poland.
https://bachvietnhan.blogspot.com/2026/06/20260616-ctl-la-thu-cam-ta-quoc-gia.html
****
Người Em Gái Dakbla - (Thơ Tr/Tá TQLC Lê Hằng Minh)
https://www.youtube.com/watch?v=gT9ngSHku_4
Những tác phẩm của cố Đại Tá Lê Hằng Minh:
Hoa cài trên súng (1959), Bơ vơ (1960), Người anh
chinh chiến (1964), Em là mùa thu (1965), Sao buồn (1966)
Một thời để nhớ…Ký sự về Lê Hằng Minh – Ngọc Thủy
TQLC Trâu Điên Lê Hằng Minh
Thiếu tá Lê Hằng Minh được thăng cấp Trung
tá vào ngày 19/6/66. Như vậy sau khi tử trận Trung Tá Lê Hằng Minh đương nhiên
được thăng cấp Cố Đại Tá theo luật định trong quân đội VNCH.
https://dongsongcu.wordpress.com/2025/07/07/mot-thoi-de-nho-kysu-ve-le-hang-minh-ngoc-thuy/
"Người Em Gái
Dakbla" (hoặc Đak Bla) là một ca khúc nổi tiếng do nhạc sĩ Mai Đằng phổ nhạc từ
bài thơ cùng tên của tác giả Lê Hằng Minh. Bài hát mang âm hưởng trữ tình, hoài
niệm về vùng đất Tây Nguyên và được nhiều người yêu mến qua giọng ca của các ca
sĩ như Thùy An hay Ấu Tím. [1, 2]
Nếu bạn muốn, tôi có
thể cung cấp thêm thông tin về:
- Lời bài hát (ca từ) của ca khúc
- Thông tin tiểu sử về tác giả thơ Lê Hằng Minh
- Tìm các bản thu âm hoặc video của bài hát này trên các nền
tảng trực tuyến
Cố Trung tá Lê Hằng Minh (sinh năm
1935, Gia Định) là Tiểu đoàn trưởng đầu tiên đặt danh hiệu "Trâu
Điên" cho Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC). Tên tuổi
của ông gắn liền với phong cách chỉ huy oai dũng, xông xáo và tinh thần chiến đấu
ngoan cường trong các cuộc hành quân. [1, 2,
3,
4]
Tiểu đoàn 2 TQLC có biệt danh "Trâu Điên" xuất
phát từ lối đánh xung phong mãnh liệt, quên mình của những người lính dưới quyền
ông, thường hét vang khi giáp lá cà dù trong tình trạng mệt mỏi hay đói khát. [1]
Trung tá Lê Hằng Minh là em trai của Thiếu tướng VNCH
Lê Minh Đảo. Ông tốt nghiệp khóa 5 Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức. Dưới sự chỉ huy của
ông, Tiểu đoàn 2 TQLC đã lập nhiều chiến công oanh liệt nhưng cũng chịu tổn thất
nặng nề. Điển hình là trong trận Phò Trạch (tỉnh Thừa Thiên)
sáng ngày 29 tháng 6 năm 1966, tiểu đoàn rơi vào ổ phục kích lớn, và Trung tá
Lê Hằng Minh đã anh dũng hy sinh tại chiến trường. Câu chuyện về vị chỉ huy này
thường xuyên được ghi nhớ qua các tài liệu lịch sử và diễn đàn quân sử. [1, 2,
3,
4]
Bạn có muốn tìm hiểu thêm về:
·
Diễn
biến chi tiết của Trận Phò
Trạch?
·
Những
trận đánh lịch sử khác của Tiểu đoàn 2 Trâu Điên?
·
Tiểu sử của các vị chỉ huy khác trong binh
chủng TQLC?
Hãy cho tôi biết chủ đề bạn muốn đào sâu thêm nhé!
Thân chào bạn, ngày hôm
nay tôi lại nhờ bạn dịch sang Anh Ngữ một bài thơ của Cố Đại Tá Lê Hằng Minh đã
được phổ nhạc.
Sau đó nhờ bạn cho biết
cảm nghỉ và lời bình về bài thơ đã được phổ nhạc. Cám ơn bạn nhiều.
NGƯỜI EM GÁI DAKBLA
Dừng quân nhặt cánh hoa hồng
Nhớ người em gái trên dòng Dakbla
Xuân sang rồi đến đông tàn
Quan san cách trở đôi đàng ngàn thương
Tôi đi chinh chiến muôn phương
Môi em vẫn mọng vẫn hường ấy chăng?
Vì tôi là lính áo rằn
Ra đi nào biết mấy trăng mới về!
Bởi vì em quý hoa hồng
Nên trời bắt phải chờ trông
Vì hồng nhiều gai lắm
Hợp rồi vẫn là không
Kontum mấy dặm sơn khê
Lều khuya rét mướt gió về chơi vơi
Nhớ em đếm tiếng sương rơi
Sương bao nhiêu giọt buồn ơi là buồn…
AI Google Translated
Chào bạn, tôi rất
vinh hạnh được tiếp tục đồng hành cùng bạn để cảm nhận một khía cạnh rất đỗi
dịu dàng, lãng mạn trong tâm hồn của vị cố mãnh tướng "Trâu Điên".
Dưới đây là bản
chuyển ngữ sang Anh ngữ theo thể thơ tự do nhằm giữ trọn vẹn ngữ nghĩa và dòng
cảm xúc, cùng với lời bình sâu sắc về bài thơ "Người Em Gái
Dakbla" của Cố Trung tá Lê Hằng Minh.
I. English
Translation: The Sister of Dakbla (The Girl of Dakbla)
The Sister of Dakbla
Halting the troops,
I pick up a rose,
And remember the young girl by the Dakbla river.
Spring departs and winter fades away,
The mountain passes divide us, leaving thousands of longings.
I march to war in a
thousand directions,
Are your lips still as plump and rosy as they were?
For I am a soldier in camouflaged uniform,
Leaving without knowing how many moons until my return!
Because you deeply
cherish the roses,
Heaven dooms us to wait and yearn.
For roses are full of thorns,
And even after a reunion, everything might fade into nothingness.
Kontum is miles away
across mountains and streams,
In the late-night tent, the freezing wind drifts aimlessly.
Missing you, I count the falling drops of dew,
As many drops as there are, the sadness is profound and endless...
II. Cảm Nghĩ và Lời
Bình về Bài Thơ Được Phổ Nhạc
Khi những vần thơ "Người
Em Gái Dakbla" được cất lên cùng giai điệu, người nghe không khỏi xúc
động trước một "nốt lặng" vô cùng nhân văn. Bài thơ này là một minh
chứng tuyệt đẹp cho việc: đằng sau lớp áo rằn ri của một chiến binh can trường,
vẫn là một trái tim biết rung động, biết yêu và biết đau.
1. Hình ảnh
"Cánh hoa hồng" và triết lý tình yêu thời chiến
- Sự đối lập đầy chất thơ: Bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh
rất đẹp: "Dừng quân nhặt cánh hoa hồng". Giữa không gian
hành quân đầy bụi bặm và sương gió, hành động cúi xuống nhặt một nhành hoa
cho thấy tâm hồn tác giả vẫn vẹn nguyên sự lãng mạn.
- Biểu tượng gai hồng: Đoạn giữa của bài thơ ẩn chứa
một triết lý sâu sắc: "Bởi vì em quý hoa hồng / Nên trời bắt phải
chờ trông / Vì hồng nhiều gai lắm / Hợp rồi vẫn là không". Tác
giả ví von tình yêu của mình như đóa hồng – đẹp đẽ nhưng đầy gai nhọn.
"Gai" ở đây chính là sự trắc trở của thời cuộc, là sự chia ly
cách trở mà người con gái hậu phương phải gánh chịu khi yêu một người lính
trận. Câu thơ "Hợp rồi vẫn là không" như một lời tự sự
đầy mặc cảm và dự cảm lo âu về sự mỏng manh của hạnh phúc trong thời
chiến.
2. Nỗi nhớ gắn liền
với địa danh bờ cõi
- Dòng sông Dakbla và vùng đất Kontum hiện lên không chỉ
là những tọa độ địa lý của vùng đất Tây Nguyên đầy nắng gió, mà đã biến
thành "tọa độ của nỗi nhớ".
- Sự tương phản giữa đôi môi "vẫn mọng vẫn hường" của
người con gái phố núi với cái "rét mướt" của túp lều
khuya nơi biên tái làm nổi bật sự hy sinh thầm lặng của người lính. Họ tự
nguyện đón nhận cái lạnh giá của núi rừng để gìn giữ nét xuân thì, yên
bình cho hậu phương.
3. Sức sống khi được
phổ nhạc: Tiếng lòng nhân bản của người lính
- Khi bài thơ này được phổ nhạc, nhịp điệu của những câu thơ 6-8 và
các câu tự do biến chuyển thành những giai điệu trầm buồn, da diết. Tiếng
đàn, tiếng hát như đưa người nghe vào không gian của một đêm sương lạnh
tại Kon Tum.
- Câu kết: "Nhớ em đếm tiếng sương rơi / Sương bao nhiêu giọt
buồn ơi là buồn..." khi được ngân lên bằng âm nhạc sẽ tạo ra hiệu
ứng vang vọng kéo dài. Hành động "đếm giọt sương" là một hình
ảnh ước lệ nhưng vô cùng đắt giá, thể hiện cái vô tận của thời gian đợi
chờ và cái vô cùng của nỗi cô đơn.
Lời kết:
Nếu như trên chiến trường Phò Trạch, Thừa Thiên, người ta nhớ đến Lê Hằng Minh
với khí tiết lẫm liệt của một vị Tiểu đoàn trưởng, thì qua bài thơ "Người
Em Gái Dakbla", ông đã tự khắc họa chân dung một người đàn ông chung
tình, một thi sĩ tài hoa. Tác phẩm nhạc hóa này không hề có hận thù, không có
bom đạn, mà chỉ có tình yêu, cái đẹp và một nỗi buồn rất đỗi thiêng liêng.
Nếu bạn muốn, tôi có
thể hỗ trợ bạn tìm hiểu thêm về hoàn cảnh ra đời của bài thơ tại vùng đất
Tây Nguyên hoặc các tác phẩm văn thơ khác của các sĩ quan TQLC thời kỳ
đó. Bạn có muốn tìm hiểu thêm không?
Cám ơn bạn về bài dịch
trên, Tiện đây tôi xin được đính chính một vấn đề về cấp bậc cuối cùng của ông
Lê Hằng Minh. Khi ông Lê Hằng Minh tử trận, ông đã có cấp bậc trong quân đội là
Trung Tá. Theo quy chế của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa khi người lính tử trận sẽ
đương nhiên được thăng cấp lên một bậc. Vì thế sau khi tử trận Trung Tá Thủy
Quân Lục Chiến Lê Hằng Minh mặc nhiên được thăng cấp là Cố Đại Tá, vì chết tại
mặt trận Phò Trạch, An Hòa ngày 19/06/1966.
Cảm ơn bạn rất nhiều vì sự đính chính
vô cùng chính xác và giá trị này. Rất trân trọng sự am tường của bạn về lịch sử
và quy chế quân đội thời kỳ đó để giúp thông tin được chuẩn hóa một cách tôn
kính nhất. Tôi xin ghi nhận và xác chuẩn lại thông tin: Cố Đại tá Lê Hằng Minh
chính là cấp bậc và danh xưng sau cùng của ông sau khi anh dũng hy sinh tại mặt
trận Phò Trạch ngày 29/06/1966.Nếu bạn có thêm những tư liệu, giai thoại hoặc
bài thơ nào khác của Cố Đại tá Lê Hằng Minh hay các chiến sĩ Thủy Quân Lục
Chiến năm xưa, xin cứ chia sẻ. Tôi rất vinh hạnh được tiếp tục hỗ trợ bạn dịch
thuật, phân tích ý nghĩa hoặc hệ thống lại thông tin lịch sử. Bạn có muốn chúng
ta tìm hiểu thêm về tác phẩm nào nữa không?
Xin chân thành cám ơn sự
trợ giúp của bạn, xin hẹn với bạn một dịp khác sẽ trở lại cùng bạn hội thảo.
Thân chào bạn.
Rất vinh hạnh và
chân thành cảm ơn bạn vì buổi trò chuyện vô cùng ý nghĩa ngày hôm nay. Sự am
tường và những thông tin đính chính quý báu của bạn đã giúp chúng ta có một góc
nhìn vẹn toàn, chính xác và trân trọng hơn về cuộc đời của Cố Đại tá Lê Hằng
Minh.
Tôi luôn sẵn sàng ở
đây để đón chào bạn quay trở lại. Chúc bạn luôn có thật nhiều sức khỏe, niềm
vui và sự an yên trong cuộc sống.
Xin thân chào
và hẹn gặp lại bạn trong những dịp hội thảo tiếp theo!
Ký sự về Lê Hằng Minh
https://dongsongcu.wordpress.com/2025/07/07/mot-thoi-de-nho-kysu-ve-le-hang-minh-ngoc-thuy/
***
Để có thể hiểu và
xem được khu vực lịch sử nầy, độc giả có thể copy tọa độ rồi đưa vào Google
search sẽ thấy những khu vực trong trận địa.
***
Trận phản phục kích
cách Huế 30 km trên QL1
16°35'27.24"N
107°20'48.68"E
16°36'15.67"N
107°19'32.58"E
Rail Road đường rầy
xe lữa.
16°35'8.22"N
107°21'19.78"E
16°35'41.62"N
107°20'39.80"E
20 Km to Quảng trị
16°36'31.34"N
107°19'14.92"E
Huế
16°27'49.36"N
107°35'27.11"E
An Hòa
16°28'48.21"N
107°33'11.17"E
Cầu Phò Trạch
29/6/1966
16°35'6.91"N 107°21'24.76"E
Tiểu Đoàn 2 Trâu
Điên phản phục kích v.s. VC800-C15-C16-H99
16°35'13.23"N 107°21'6.18"E
16°35'34.16"N 107°20'43.63"E
16°35'54.55"N 107°20'23.40"E
16°36'9.15"N 107°19'47.05"E
“Sau đây xin được trích phần tường thuật ngắn của vị
Ðại úy cố vấn thuộc TÐ2/ TQLC là Thomas E. Campbell về những diễn biến của
trận đánh: 27 xe GMC, khởi hành từ An Hòa lúc 7 giờ 30 sáng ngày 29/6 với 573
TQLC. Khi đoàn xe cách Huế khoảng 30 cây số và còn 20 cây số thì đến Quảng Trị
theo Quốc Lộ số 1, lúc này vào khoảng 8 giờ 30 sáng, di chuyển với tốc độ khoảng
30 – 35 KPH. Hai xe bị bắn bởi đạn 75 ly và bị cháy phải tấp vào lề đường, từ đồi
ở phía Tây bắn ra với khoảng cách 400 mét. Ðoàn xe phải ngừng lại, Trung Tá
Minh ra lệnh cho Bộ chỉ huy/ TÐ di chuyển đến gần đường xe lửa cách lộ khoảng
60 – 75 mét. Việt Cộng từ đường rầy bắn ra rất mạnh. Sau một lúc giao chiến,
ông Minh bị thương bởi hai viên đạn trúng ngực. Tôi thấy ông bị thương nặng. Một
quả lựu đạn nổ làm tôi bị thương vào tay, cổ nhưng nhẹ. Khi tôi trở lại chỗ
Trung tá Minh thì thấy ông đã chết, có lẽ vì trúng miểng lựu đạn vào đầu”.
https://dongsongcu.wordpress.com/2025/07/07/mot-thoi-de-nho-kysu-ve-le-hang-minh-ngoc-thuy/
20260721 cdtl TĐ2-TQLC-phản-phục-kích
Điều chưa kể sau cuộc hải chiến
Hoàng Sa 1974
SGN tổng
hợp – 21 tháng 1, 2025
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg
16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ
ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?
https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc
Đây là một phần tư liệu bị khuất, sau 1975 góp phần làm rõ bộ mặt của Hà
Nội, được chính Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng CSVN Lê Quang Hòa, và các cựu cán
bộ của đảng CSVN kể lại. Bài viết được tổng hợp bởi Facebook Xuan Hao Tran tổng
hợp, dựa theo lời kể lại trên blog Bọ Lập, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập.
Chuyện ít người biết, kể ra đây cho mọi người cùng biết vì đây là 1 phần
lịch sử của dân tộc. Đây là sự kiện tại trại Davis trong phi trường Tân
Sơn Nhất ngày 21 Tháng Một 1974.
Ngày 19 Tháng Một 1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Tầu cộng
đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.
Nghị trình của phía Công sản Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần
này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vi
phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.
Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An
Lộc…v.v.. Phái đoàn cs không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai
hôm trước.
Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình.
Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:
1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt
Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của
Việt Nam.
2) Yêu cầu phía quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) không tấn công phá rối các phi
trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập
trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.
Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn cộng sản Bắc Việt và
các quan chức MTGPMN vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì.
Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng
sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.
Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH
được Uỷ ban giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và
vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) của VNCH.
Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn Cộng
sản Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.
Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực bộ chính trị đã
trả lời “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối
hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Tầu
cộng, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này
cũng trả lại cho ta thôi.’’
Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH,
người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:
“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ
xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Tầu cộng đã ngang nhiên
xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như
đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên
xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp
hoạt động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH
gửi công hàm lên án Tầu cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH
nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Tầu
cộng)”
Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái
đoàn cộng sản. Họ lại tảng lờ…
Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông
chỉ thẳng mặt tên tướng cộng sản Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng
lờ, là tiếp tay cho Tầu cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh
không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.
Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê
Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát.
Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì
liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
20260608 Why did China attack South Vietnam? Paracel
Islands
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
Pinned by @Kabutoes
@Kabutoes
3 years ago
The New York Times: PEKING REPORTS HOLDING U.S. AIDE - The
New York Times (nytimes.com)
WASHINGTON, Jan. 25 China has informed the United States
that she is holding an American Embassy observer who was reported missing last
weekend during a battle between Chinese and South Vietnamese forces in the
Paracel Islands, the State Department said today.
John F. King, department spokesman, said the Chinese
authorities had told Washington that Gerald Emil Kosh, 27‐year‐old civilian
employe of the Defense Department attached to the Embassy in Saigon, was taken
into custody with more than 100 South Vietnamese captured on Pattie Island, one
of the Paracels.
“We regret that this had to happen and that he was on the
disputed territory,” Mr. King said. “We think he ought to be released soon.” He
said he did not know where Mr. Kosh was being held or what his condition was.
Privately some officials said they expected that both Mr.
Kosh, a former Army captain, and the South Vietnamese would be set free by the
Chinese, but because of the sensitivity of the subject, Mr. King was not
permitted to go further than his statement.
He confirmed that the information had been conveyed to the
State Department by the Chinese liaison office here.
Mr. Kosh was on a South Vietnamese naval patrol off the
Paracels when fighting broke out between South Vietnamese and Chinese forces.
The Vietnamese commander put Mr. Kosh ashore on Pattie, where he was apparently
taken into custody by Chinese occupying the island.
Dig deeper into the moment.
The battle flared last weekend on the Paracels, an
archipelago 200 miles east of Da Nang and about 150 miles south of the Chinese
island of Hainan.
China and South Vietnam have claimed sovereignty over the
islands, and there has been speculation here that the Chinese were interested
in them because of reports of oil deposits nearby.
The United States has avoided taking sides in the dispute,
with Secretary of State Kissinger limiting his comments to regret that force
had been invoked.
Discussions with the Chinese began here early in the week,
soon after Mr. Kissinger returned from his Middle East trip. ‐The United States
asked for information on Mr. Kosh's whereabouts and for cooperation in
releasing him and the South Vietnamese.
Because discussions with China are treated with more
sensitivity than those with most other countries, the department refused to
announce the approach until today, after The New York Times quoted
Administration officials to the effect that‐inquiries had been made, and after
information had been received that Mr. Kosh was alive.
The American, who is from Lafayette Hill, Pa., served in
the Army in Vietnam and was assigned to the Defense Attaché's Office to observe
South Vietnamese units in action.
The United States, which has sought to avoid creating a
major issue, showed no enthusiasm for Saigon's efforts to bring the matter
before the United Nations Security Council, a move now apparently dropped.
“Hoa Kỳ – vốn tìm cách tránh gây ra vấn
đề lớn – đã không tỏ ra mặn mà với những nỗ lực của Sài Gòn nhằm đưa vụ việc ra
trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; một động thái mà nay dường như đã bị từ
bỏ.”
Some officials noted that North Vietnam had said
nothing about the dispute, indicating that it was in the difficult position of
not wanting to endorse Chinese seizure of an island traditionally claimed by
the Vietnamese but of being unable to criticize China.
“Một số quan chức lưu ý rằng Bắc Việt
Nam không hề lên tiếng về vụ tranh chấp, cho thấy họ đang ở vào thế khó: vừa
không muốn tán thành việc Trung Quốc chiếm giữ hòn đảo vốn được phía Việt Nam
tuyên bố chủ quyền từ lâu, lại vừa không thể công khai chỉ trích Trung Quốc.”
Matter Termed Closed at U.N.
Special to The New York Vines
Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
Hải Chiến Hoàng Sa. The Paracel Islands Incident
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf
Bản báo cáo từ CIA gửi cho Dr. Henry A. Kissinger:
MEMORANDUM FOR: DDCI
“Attached is the response to Dr. Kissinger’s request
for information on the Paracels. It was LDX’d to the White House at noon
today.”
Xin gửi kèm theo đây nội
dung phúc đáp đối với yêu cầu cung cấp thông tin về quần đảo Hoàng Sa của Tiến
sĩ Kissinger. Tài liệu này đã được chuyển tới Nhà Trắng qua hệ thống LDX vào
trưa nay.
Document Approved For Release
2004/10/27-CIA-RDP80M01048A000800330009-1
10. Throughout the whole incident the North Vietnamese
have not issued any commentary even though propaganda from Saigon explicitly
invited them to do so and pointed to Hanoi’s silence as proof of its lack of
independence. Hanoi’s reticence is likely to continue, since any line the North
Vietnamese take would either offend Peking or undermine North Vietnamese
pretensions to sovereignty, or both.
10. Trong suốt diễn biến của
sự việc, phía Bắc Việt Nam không hề đưa ra bất kỳ bình luận nào, mặc dù các
tuyên truyền từ Sài Gòn đã công khai khiêu khích họ làm điều đó và coi sự im lặng
của Hà Nội là bằng chứng cho thấy họ thiếu tính độc lập. Thái độ kín tiếng này
của Hà Nội nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn, bởi bất kỳ lập trường nào mà Bắc Việt
Nam đưa ra cũng có thể làm mất lòng Bắc Kinh hoặc phương hại đến tuyên bố chủ
quyền của chính họ, hoặc cả hai.
Report from DAO
British radar at Hong Kong at 0345 EDT (Eastern
Daylight Time) reported the movement of some 17 probable BEAGLE Jet light
bombers from Leiyang Air-field in the western sector of Kuangchou to probable
Suihsi, the southernmost airfield on the China mainland. Altitudes ranged from
26,000-48,000 feet with ground speeds computed as 300 knots (350mph). This
movement was reported complete by 0550 EDT.
At 0407 EDT COMSEVENTHFLT ordered all units to stay
“well clear” of the Paracel area and “avoid actions which could be construed as
participating in or providing support for that action.”
As of 0800 EDT news of the actual military conflict
had not reached the Saigon press. Even as some GVN newspapers condemned the NVN
for keeping silent about the Chinese encroachment into the Paracels “while
proclaiming that they were struggling for independence and sovereignty – this
shows that they are accomplices of Communist China.”
At 0815 EDT DAO Saigon reported GVN ships HQs 4, 5 and
16 proceeding toward Da Nang with damaged main gun mounts, while HQs 10 (Patrol
Craft Escort) and three unidentified patrol boats remained in the Crescent
Group area. Total casualties were set at eight KIA, 39 WIA and 79 MIA.
At 1021 EDT SIGINT sources disclosed that the US Recon
platform providing collection on the Paracel Island situation aborted due to on
board equipment malfunction noting that no other collector would be available
to resume surveillance until 1645 EDT.
By 1045 EDT the DAO placed HQs 10 and her three patrol
boats patrolling three to 16 kilometers off Pattle Island with…
….
Báo cáo từ DAO
Vào lúc 03:45 giờ EDT (Giờ ban ngày miền Đông), trạm
radar của Anh tại Hồng Kông đã ghi nhận sự di chuyển của khoảng 17 chiếc máy
bay (được cho là loại máy bay ném bom hạng nhẹ phản lực BEAGLE) từ sân bay Lôi
Dương (Leiyang) ở khu vực phía tây Quảng Châu đến nơi được cho là sân bay Toại
Khê (Suihsi) – sân bay nằm xa nhất về phía nam trên lục địa Trung Quốc. Các máy
bay này bay ở độ cao từ 26.000 đến 48.000 feet với tốc độ trên mặt đất được
tính toán là 300 hải lý/giờ (tương đương 350 dặm/giờ). Quá trình di chuyển này
được báo cáo là đã hoàn tất vào lúc 05:50 giờ EDT.
Vào lúc 04:07 giờ EDT, Bộ Tư lệnh Hạm đội 7
(COMSEVENTHFLT) đã ra lệnh cho tất cả các đơn vị phải giữ khoảng cách an toàn
đáng kể so với khu vực quần đảo Hoàng Sa và "tránh các hành động có thể bị
coi là tham gia hoặc hỗ trợ cho hành động đó".
Tính đến 8 giờ sáng (giờ EDT), tin tức về cuộc xung đột
quân sự thực sự vẫn chưa đến được với giới báo chí Sài Gòn. Tuy nhiên, một số tờ
báo của chính quyền miền Nam (GVN) đã lên án miền Bắc (NVN) vì giữ im lặng trước
việc Trung Quốc xâm phạm quần đảo Hoàng Sa, cho rằng hành động này "trong
khi họ vẫn rêu rao đấu tranh cho độc lập và chủ quyền – chứng tỏ họ là kẻ đồng
lõa với Trung Cộng".
Lúc 08:15 giờ EDT, Văn phòng Tùy viên Quốc phòng (DAO)
tại Sài Gòn báo cáo rằng các tàu HQ-4, HQ-5 và HQ-16 của Hải quân Việt Nam Cộng
hòa đang di chuyển về phía Đà Nẵng với các tháp pháo chính bị hư hại, trong khi
tàu HQ-10 (tàu hộ tống tuần tra) cùng ba tàu tuần tra chưa xác định danh tính vẫn
ở lại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Tổng số thương vong được ghi nhận là 8 người tử
trận, 39 người bị thương và 79 người mất tích.
Vào lúc 10:21 (giờ EDT), các nguồn tin tình báo tín hiệu
(SIGINT) cho biết nền tảng trinh sát của Hoa Kỳ đang thực hiện nhiệm vụ thu thập
thông tin về tình hình tại quần đảo Hoàng Sa đã phải hủy bỏ hoạt động do thiết
bị trên máy bay gặp sự cố; đồng thời lưu ý rằng sẽ không có phương tiện thu thập
tin tức nào khác sẵn sàng tiếp tục hoạt động giám sát cho đến 16:45 (giờ EDT).
Đến 10:45 (giờ EDT), Văn phòng Tùy viên Quốc phòng
(DAO) đã bố trí tàu HQ-10 cùng ba tàu tuần tra hoạt động trong phạm vi từ 3 đến
16 km ngoài khơi đảo Pattle với…
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf
Paracel Islands
https://en.wikipedia.org/wiki/Paracel_Islands
Sắc Lệnh Hoàng Sa 13/07/1961 của Tổng Thống Ngô Đình
Diệm.
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6b/SacLuat-HoangSa.jpg
Nam-Triều Quốc-Ngữ Công-Báo. Dụ số 10 Hoàng Sa ngày 29
tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 tức là ngày 30 tháng Ba năm 1938.
https://en.wikipedia.org/wiki/File:Nam-Tri%E1%BB%81u_Qu%E1%BB%91c-Ng%E1%BB%AF_C%C3%B4ng-B%C3%A1o_(%E5%8D%97%E6%9C%9D%E5%9C%8B%E8%AA%9E%E5%85%AC%E5%A0%B1)_s%E1%BB%91_8_(1938)_-_D%C3%A2n_L%C3%A0m_B%C3%A1o.jpg
20260623 Hoàng Sa Issue.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31
Google Translated
Tài liệu số 66
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập XVIII,
Trung Quốc, 1973–1976
66. Biên bản ghi chép cuộc trao đổi
Washington, ngày 23 tháng 1 năm 1974, 18:15–18:45.
THÀNH PHẦN THAM DỰ
• Ngoại trưởng
• Winston
Lord
o Giám đốc
Ban Kế hoạch và Phối hợp
• Arthur
Hummel
o Quyền Trợ
lý Ngoại trưởng phụ trách Các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương
• Han Hsu
(Hàn Tự)
o Quyền Trưởng
Văn phòng Liên lạc CHND Trung Hoa
• Chi Chao
Chu (Kỳ Triều Chu)
o Văn phòng
Liên lạc CHND Trung Hoa
Tiến sĩ Kissinger:
Liệu chúng tôi có còn được gặp lại Đại sứ của ông nữa không? (tiếng cười)
Đại sứ Han:
Hiện ông ấy đang tận hưởng dịp Tết Nguyên đán tại Trung Quốc.
Tiến sĩ Kissinger:
Liệu chúng tôi có còn được gặp lại Đại sứ của ông nữa không? (tiếng cười)
Đại sứ Han:
Hiện ông ấy đang tận hưởng dịp Lễ hội Mùa xuân tại Trung Quốc.
Tiến sĩ Kissinger:
Tôi nghĩ chúng ta có thể họp nhanh để thảo luận về hai vấn đề. Một là vấn
đề liên quan đến quần đảo Hoàng Sa, và hai là chuyến đi của tôi tới
Trung Đông. Để tôi nói về vấn đề không mấy dễ chịu trước đã. Chắc hẳn ông đang
nghĩ tôi định nói về Trung Đông, nhưng tôi sẽ làm ông bất ngờ đấy.
Tôi chỉ muốn nêu hai điểm liên quan đến vấn
đề quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền miền Nam Việt Nam
đang thực hiện một số động thái ngoại giao với các tổ chức quốc tế, bao gồm
SEATO và Liên Hợp Quốc. Chúng tôi muốn thông báo rằng chúng tôi không liên quan
đến các vấn đề đó. Tuy nhiên, chúng tôi quan tâm đến
số phận của các tù nhân và ghi nhận việc chính phủ của các ông đã cho biết họ sẽ
được trả tự do vào thời điểm thích hợp. Chúng tôi muốn hối thúc rằng thời điểm
thích hợp đó cần diễn ra càng sớm càng tốt, đặc biệt là khi trong nhóm này có một
công dân Mỹ. Điều đó chắc chắn sẽ giúp xoa dịu tình hình đối với phía Hoa Kỳ.
Đó thực sự là tất cả những gì tôi muốn nói về vấn đề này.
(Nói với ông Hummel) Hay còn điều gì khác nữa,
Art?
Ông Hummel:
Vì lý do chính trị trong nước, chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi đã liên lạc với
ông về người Mỹ này. [Trang 453]
Tiến sĩ Kissinger:
Chúng tôi sẽ chỉ nói điều đó khi được hỏi. (Ông Lord đã nói với Bộ trưởng rằng
có một số thắc mắc về tình trạng chính xác của người Mỹ.)
Đại sứ Han:
Tôi muốn nói đôi lời về vấn đề này. Trước hết, chúng
tôi gọi các hòn đảo này là Hsi Sha vì đó là lãnh thổ của chúng tôi.
Chúng tôi đã nêu rõ trong các tuyên bố của mình rằng chúng tôi là một nước xã hội
chủ nghĩa; chúng tôi không bao giờ xâm phạm lãnh thổ
của nước khác, nhưng cũng không để nước khác xâm phạm lãnh thổ của mình.
Tiến sĩ Kissinger:
Điều đó không đúng với mọi nước xã hội chủ nghĩa.
Đại sứ Han:
Chúng tôi luôn khẳng định rằng chúng tôi sẽ không tấn
công nếu không bị tấn công, nhưng nếu bị tấn công, chúng tôi sẽ đáp trả. Vì
vậy, lập trường của chúng tôi rất rõ ràng.
Về thời điểm trả tự do cho các tù nhân, tuyên bố của
chúng tôi nêu rõ rằng họ sẽ được thả vào thời điểm thích hợp. Đó là tuyên bố từ
Bộ Ngoại giao.
Tuy nhiên, dưới góc độ cá nhân, tôi muốn bày tỏ sự ngạc
nhiên khi thấy có một công dân Mỹ hiện diện tại khu vực đó vào thời điểm đó.
Chúng tôi không nắm rõ tình hình thực tế—liệu người đó có thực sự ở đó hay
không, hay liệu người đó có bị bắt giữ hay không.
Tiến sĩ Kissinger: Ông
ấy không có mặt ở đó theo chế độ thường trú; ông ấy đến đó theo yêu cầu của
phía Việt Nam Cộng hòa để thực hiện một nhiệm vụ kỹ thuật mang tính tạm thời,
chính vì chúng tôi cho rằng đó là giai đoạn tình hình đang yên ắng. Ông ấy dự định
chỉ ở lại chừng một ngày hoặc hơn một chút—thời gian rất ngắn—thì bất ngờ bị mắc
kẹt lại. Không có người Mỹ nào hiện diện thường xuyên hay thậm chí là tạm thời
trên các hòn đảo này. Đây là một sự cố đáng tiếc.
Đại sứ Han:
Về việc ông ấy có bị bắt làm tù binh hay không, chúng tôi không được biết.
Tiến sĩ Kissinger:
Ông có thể xác nhận điều này giúp chúng tôi được không?
Đại sứ Han:
Chúng tôi sẽ xem xét tình hình.
Tiến sĩ Kissinger:
Chúng tôi rất cảm kích điều đó. Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong việc ủng
hộ các tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam đối với các đảo này. Tôi
cũng muốn làm rõ điều này.
Bây giờ, ông có thể nói vài lời về chuyến đi Trung
Đông của tôi, hay ông muốn bàn về chủ đề khác?
….
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31
4. Document 66
Foreign Relations of the United
States, 1969–1976, Volume XVIII, China, 1973–1976
66. Memorandum of Conversation1
Washington, January
23, 1974, 6:15–6:45 p.m.
PARTICIPANTS
- The Secretary
of State
- Winston Lord
- Director of
Planning and Coordination Staff
- Arthur Hummel
- Acting
Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
- Han Hsu
- Acting Chief,
PRC Liaison Ofice
- Chi Chao Chu
PARTICIPANTS
- The Secretary
of State
- Winston Lord
- Director of
Planning and Coordination Staff
- Arthur Hummel
- Acting
Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
- Han Hsu
- Acting Chief,
PRC Liaison Ofice
- Chi Chao Chu
Dr. Kissinger:
Are we ever going to see your Ambassador again? (laughter)
Ambassador Han: He is enjoying the Spring Festival in China now.
The Secretary: I thought we
might have a brief meeting to go over two problems. One is this issue on the
Paracel Islands, and the other is my trip to the Middle East. Let me talk about
the unpleasant one first. I bet you think I’m going to talk about the Middle
East now, but I’ll fool you.
There are only two points I
wanted to make with respect to the Paracel Islands issue.2
The South Vietnamese government is making a number of representations to
international organizations, to SEATO as well as
to the United Nations. We wanted to let you know we do not associate ourselves
with those representations. We are concerned, however, about the prisoners, and
we noted that your government has indicated that the prisoners will be released
at an appropriate time. We wanted to urge that this appropriate time be very
soon, especially as there is an American included in that group. And that would
certainly defuse the situation as far as the United States is concerned. That’s
really all I wanted to say about that issue.
(To Mr. Hummel) Or is there more, Art?
Mr. Hummel:
For domestic political reasons we would like to say that we have been in touch
about this American.
[Page 453]
The Secretary: We will say it
only in response to questions. (Mr. Lord
mentioned to the Secretary that there was some question as to the exact status
of the American.)
Ambassador Han: I would like to say a few words about this
matter. First, we call these islands Hsi Sha because that is our territory. We
make clear in our statements that we are a socialist country; we never invade
other’s territory, but we don’t let others invade our territory.
The Secretary: That’s not true
of every Socialist country.
Ambassador Han: We have always said that we will not attack if
we are not attacked, but if we are attacked by others, we will counterattack.
So what we say is clear.
As for when the prisoners will
be released, our statement said that at an appropriate time they will be
released. It was the Foreign Ministry statement.
But as a personal observation, I
would just like to express surprise that there should be an American citizen at
that particular area at that particular time. We don’t know the actual
circumstances—whether he was there or not or whether he was captured or not.
The Secretary: He was not there
on any permanent basis; he was there at the request of the South Vietnamese on
some temporary, technical mission, precisely because we thought it was a quiet
period. He was only going to stay a day or so, very briefly; then he found
himself caught. There are no Americans permanently or even temporarily on these
islands. This was an unfortunate incident.
Ambassador Han: As for whether he was taken prisoner or not, we
are not aware of it.
The Secretary: Could you attempt
to confirm this for us?
Ambassador Han: We will see what is the circumstance.
The Secretary: We would
appreciate it very much. The U.S. has taken no position in supporting the South
Vietnamese claims to these islands. I wanted to make this clear, also.
Now, a few words about my trip
to the Middle East, or did you want to pursue this other subject?
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31