20260504 CDTL HST DDE D113 19 September 1952 Điện tín
của Lãnh sự Sturm tại Hà Nội gửi Bộ Ngoại giao. Việt Minh khủng bố.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d113
Google Translated
Tài liệu 113
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954,
Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
751G.00/9–1952: Điện tín của Lãnh sự Sturm
tại Hà Nội gửi Bộ Ngoại giao.
Mật
Hà Nội, ngày 19 tháng 9
năm 1952 — trưa.
163. Bộ chuyển tiếp tới
Sài Gòn; thông tin được báo cáo tại điện Sài Gòn số 121. Tham chiếu
điện mật số 205 của Bộ, ngày 1 [15] tháng 9. Việc khái quát hóa về các
vùng do Việt Minh kiểm soát—coi chúng như một khối thống nhất duy
nhất—không chỉ khó khăn mà có lẽ còn dễ gây hiểu lầm. Sẽ càng mạo hiểm hơn nếu
vội vàng suy diễn từ những kết luận về tình trạng tinh thần và điều kiện vật chất
của Việt Minh để đưa ra các giả thuyết về tác động của những yếu
tố này đối với hoạt động quân sự. Các quy tắc thông thường rất có thể sẽ bị coi
là thiếu xác đáng trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về cuộc nổi dậy này—một cuộc
nổi dậy dường như chẳng hề suy giảm chút nào về sức mạnh tinh thần, bất chấp
sáu năm thăng trầm đầy biến động trên mặt trận quân sự.
… tình hình tinh thần tại Bắc biên và Bắc Kỳ—khi
khảo sát theo chiều từ Nam ra Bắc—nhìn chung diễn biến như sau: Tại Liên
khu 4, sự bất mãn lan rộng trong nhiều nhóm dân thường,
chủ yếu do việc thu thuế nông nghiệp quá nặng nề; một số nhóm Công
giáo, Phật giáo và người Mường đã tiến hành các hoạt động kháng cự—cả công khai
lẫn bí mật—nhằm chống lại cầm quyền Việt Minh. Tại vùng đồng bằng, …
giới nông dân vẫn tiếp tục gắn bó vận mệnh với Việt Minh,
thể hiện qua việc giữ kín thông tin về các cuộc hành quân của quân đội và
che giấu vũ khí; … điều này chủ yếu là do thái độ và cách hành xử của
binh lính Việt Minh đối với người dân tốt hơn so
với binh lính thuộc Liên hiệp Pháp. Chúng tôi tin rằng lời giải thích cho
hiện tượng này cần phải bao gồm yếu tố: quân đội Liên hiệp Pháp không
thể bảo đảm an toàn cho người dân trước các hành động trả đũa của Việt
Minh sau khi họ đã rút quân khỏi địa bàn; thực tế này đặc biệt
đúng tại những khu vực thường xuyên diễn ra các hoạt động quân sự. Tại các
giáo phận phía nam vùng đồng bằng là Phát Diệm và Bùi Chu—nơi ngọn
lửa tinh thần dân tộc từ lâu vẫn cháy rực rỡ hơn cả tinh thần chống Việt
Minh—đã xuất hiện những bằng chứng cho thấy sự chuyển biến tâm lý mạnh
mẽ theo chiều hướng ác cảm, sau khi Việt Minh công khai tiến
hành các cuộc tấn công nhằm vào Giáo hội Công giáo và các vị Giám mục.
Về chủ đề này, xin tham khảo các điện tín số 811 (ngày 5 tháng 6) và số
159 (ngày 17 tháng 9). [Trang 253]
Tài liệu ngày 20 tháng 8 gần đây được Lãnh sự quán
thu thập và hiện đang được tham khảo để chuyển giao, được cho là tài liệu
huấn luyện cho các đặc vụ chính trị do cầm
quyền khu vực liên khu 3 (delta) biên soạn nhằm giúp quân
đội chuẩn bị cho các hoạt động mùa thu và mùa đông, cho thấy mối quan ngại
của Việt Minh về vũ khí và vật liệu mới mà lực lượng Liên hiệp
Pháp đã nhận được “từ các nước khác”, tình trạng thiếu lương thực
và quần áo, “chủ nghĩa khủng bố”, “tuyên truyền sai lệch” có thể
dẫn đến “xu hướng thân Mỹ, sợ Mỹ hoặc chủ nghĩa bi quan”. Về mặt
tích cực, tài liệu chỉ ra lực lượng Liên hiệp Pháp tương đối mỏng, việc
tập trung lực lượng này vào bất kỳ kế hoạch nào cũng tạo ra những điểm yếu ở những
nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tấn công của Việt Minh;
tinh thần sa sút của phía Liên hiệp Pháp, điều này sẽ giúp dễ dàng “đánh
tan quân đội và chính phủ bù nhìn”; kỹ thuật, huấn luyện, vũ khí và kinh
nghiệm được cải thiện ở phía Việt Minh sau “mùa xuân và mùa hè
thắng lợi vừa qua”; “quân đội giải phóng Tầu cộng tiến đến biên
giới” sẽ mang lại “sự giúp đỡ thực sự” cho Việt Minh
và “nhân dân và quân đội của chúng ta do đó sẽ được khuyến khích
chiến đấu đến cùng”.
Tài liệu tiếp tục mô tả giai đoạn mùa thu và mùa đông
vừa qua là thời kỳ phòng ngự; đồng thời chỉ ra rằng mùa tới cũng sẽ mang tính
phòng ngự, nhưng tập trung vào việc chuẩn bị cho một "cuộc phản công tổng
lực". Đối với toàn quốc, mùa thu và mùa đông sắp tới sẽ được dành để
đánh vào các điểm yếu "nhằm giảm bớt áp lực lên Bắc Việt",
đánh bại mọi chiến dịch càn quét, cũng như huấn luyện lực lượng vũ trang và
các điệp viên "cho chiến tranh cơ động". Tại Liên
khu 3, kế hoạch là "mở các mặt trận liên tục để tấn công địch",
liên tục đánh vào các khu vực RC 5 và 6, gây trở ngại cho các chiến
dịch càn quét, và phá vỡ "âm mưu chiếm đóng Ninh Bình của
địch — nơi chúng định sử dụng làm căn cứ tuyển quân cho quân đội bù
nhìn". Công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh "nhằm lôi kéo binh
lính từ quân đội bù nhìn, cũng như các binh lính người châu Phi và châu
Âu". Quần chúng nhân dân cần phải giữ vững sự tỉnh táo, "không
bi quan cũng không quá tự mãn, và luôn sẵn sàng tấn công kẻ thù".
Tóm lại, “chúng ta không bao giờ được đánh mất lòng
can đảm, bất kể những gian khổ mà ta phải gánh chịu có to lớn đến đâu. Sự nản
lòng không phải là thái độ đúng đắn; tuy nhiên, ta cũng không được quá tự mãn
khi đạt được một vài thành công nhất định. Sự tự mãn chắc chắn sẽ dẫn đến thất
bại.”
Nhìn chung, tài liệu này phản ánh sự lo ngại,
nhưng không phải là sự tuyệt vọng.
Tại Hà Nội, tổ chức Việt Minh hoạt
động bí mật được cho là đang nỗ lực khôi phục lực lượng sau những đòn giáng mạnh
mẽ từ các cơ quan an ninh Pháp-Việt. Có bằng chứng cho thấy các thành
viên thuộc mặt trận tại Hà Nội đang tìm kiếm sự cho phép để tiến
hành các hoạt động khủng bố, nhằm khôi phục tinh thần và sự đoàn kết,
cũng như chứng minh rằng Việt Minh vẫn còn giữ vững sức mạnh tại
đây. Tinh thần tại vùng Việt Bắc được cho là cao hơn so với các nơi
khác, nhờ vào sự gần gũi với nguồn viện trợ từ Tầu cộng, sự
thuận lợi trong công tác tuyên truyền, và vị trí nằm xa các vùng do quân
Pháp kiểm soát.
Phía Pháp đã dành sự chú ý nhất định cho các
báo cáo về tình trạng tinh thần sa sút trong các sư đoàn chủ lực
của Việt Minh... Việt Minh đã bỏ rất nhiều công sức
huấn luyện binh lính cách đánh lừa các nhân viên thẩm vấn nếu bị bắt giữ; do
đó, những báo cáo kiểu này cần được tiếp nhận [Trang 254] một cách thận trọng.
Mặc dù tinh thần chiến đấu của các đơn vị du kích địa phương hoạt
động tại vùng Đồng bằng có thể đang xuống thấp do thiếu thốn trang thiết bị và
các yếu tố cục bộ khác, nhưng việc áp dụng những kết luận rút ra từ các lực lượng
này cho các sư đoàn chủ lực có lẽ là một điều nguy hiểm. Hiện
chưa có bằng chứng nào cho thấy sự bất mãn nghiêm trọng trong các vùng kiểm
soát của Việt Minh đối với các cố vấn, cán bộ Tầu cộng
hay các biểu tượng khác của sự kiểm soát từ phía Tầu cộng, bất chấp những
tiền lệ lịch sử vốn đủ cơ sở để biện minh cho sự bất mãn đó và khiến nó trở nên
hoàn toàn có thể xảy ra. Nhìn chung, quân đội Việt Minh
dường như được cung cấp lương thực đầy đủ. Tình trạng thiếu lương
thực chủ yếu xảy ra trong giới thường dân; và mặc dù tình trạng suy dinh dưỡng
diễn ra khá phổ biến, nhưng chưa có bằng chứng nào cho thấy nạn đói đang hoành
hành. Viện trợ quân sự của Trung cộng dành
cho Việt Minh dường như vẫn đang được duy trì ở mức cao,
thậm chí có thể đang gia tăng. Các chuyên gia kỹ thuật của
Tầu cộng đang hỗ trợ Việt Minh phát triển các
nhà máy vũ khí, hệ thống đường sá và các công trình khai thác khoáng sản.
Quân đội Việt Minh được cho là có quy mô lớn hơn, được trang bị
vũ khí, huấn luyện và hậu cần tốt hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây; do đó, lực
lượng này hoàn toàn có khả năng tạo ra những tác động to lớn nếu và khi họ phát
động một cuộc tấn công quy mô lớn khác.
Mặt khác, nền kinh tế của Quân Giải phóng Nhân
dân Việt Nam (Việt Minh) dường như đang trong tình trạng
thảm hại. Đồng piastre của Hồ Chí Minh mất giá nhanh chóng
do nguồn cung ngày càng khan hiếm và các cuộc tấn công trên không và trên bộ của
Liên hiệp Pháp làm gián đoạn sản xuất và thương mại. Thuế được
thu ở các cánh đồng lúa. Chính phủ trung ương hầu như không nắm được thu
chi ở các thôn quê. Việt Minh đang phải chịu cảnh thiếu hụt
nghiêm trọng nhân viên y tế do nhiều bác sĩ đã gia nhập phe mình, nhưng dường
như nguồn dự trữ vật tư y tế của Việt Minh đang
tăng lên; không có dịch bệnh nào được báo cáo. Cũng có bằng chứng cho
thấy một số quan chức cấp cao của Việt Minh, bao gồm cả những người
Cộng sản, tin rằng viện trợ của Tầu-Xô sẽ không bao giờ
tăng đến mức cho phép Việt Minh giành chiến thắng quyết định trước
Pháp cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ III nổ ra để giải quyết
vấn đề.
Tóm lại, nếu không có sự can thiệp quy mô lớn từ bên
ngoài Đông Dương, dường như chẳng có lý do gì để kỳ vọng vào một sự thay
đổi lớn và sớm sủa trong cán cân lực lượng hiện tại ở miền Bắc. Những điểm
yếu về vật chất của Việt Minh, ít nhất là trong thời điểm hiện tại,
có lẽ đã được bù đắp nhờ hiệu quả chính trị vượt trội trong các lĩnh vực tuyên
truyền, bài trừ tham nhũng, năng lực và tinh thần của đội ngũ cán bộ, cũng như
sức lôi cuốn nói chung đối với quần chúng nhân dân. Nếu chính quyền quốc gia chứng
minh được khả năng đạt những bước tiến thực chất trên các phương diện này—và
qua đó làm cho những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản (vốn
quan trọng đối với Việt Minh) dần xa rời lực lượng này—thì họ sẽ
giáng cho Việt Minh một đòn nặng nề hơn bất kỳ đòn
nào mà các lực lượng quân sự hiện tại có thể thực hiện. Ông Linares chưa
hề tỏ ra lạc quan một cách dễ dãi; và mặc dù ông thường đề cập đến những trường
hợp cụ thể cho thấy điểm yếu của Việt Minh, ông chưa bao giờ ám
chỉ với tôi rằng đối thủ mà ông đang đương đầu lại là một kẻ nào khác ngoài một
kẻ thù vô cùng ngoan cường—một kẻ thù mà giới hạn về năng lực chiến đấu vẫn
chưa hề lộ diện.
Sturm.
1. Bức
điện tín này được truyền đi thành hai phần. ↩
2. Bức
điện số 569 gửi Sài Gòn (được chuyển tiếp tới Hà Nội dưới
dạng điện số 205), ngày 15 tháng 9, có nội dung như sau: “Bộ đang nỗ lực
đánh giá vô số báo cáo nhận được gần đây về tình hình ngày càng xấu đi tại các vùng
do Việt Minh kiểm soát. Các báo cáo này cho rằng tiền tệ đang mất
giá nhanh chóng, lương thực và trang thiết bị khan hiếm, tinh thần của cả thường
dân lẫn quân đội đều sa sút, và gặp nhiều khó khăn trong việc bổ sung tổn thất
chiến đấu—đặc biệt là các cán bộ được đào tạo bài bản. Chúng tôi nhận thức rõ rằng
các chiến dịch quân sự sau mùa mưa sẽ là thước đo chính xác nhất để kiểm chứng
những nhận định này; tuy nhiên, chúng tôi khẩn thiết đề nghị cung cấp ngay lập
tức mọi dữ liệu bổ sung hiện có liên quan đến các vấn đề nêu trên cũng như các
chủ đề liên đới. Bộ rất mong nhận được quan điểm của quý vị về xu hướng chung
diễn ra tại các vùng do Việt Minh kiểm soát trong những tháng gần
đây.” (751G.00/9–1652)↩
3. Cả
hai bức điện đều không được in ấn. ↩
List of Sources
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
List of Persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
Policy of the United States with respect to Indochina,
1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and
diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1.
Document 113
Foreign Relations of the United
States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
751G.00/9–1952: Telegram
The Consul at Hanoi (Sturm) to the
Department of State1
secret
Hanoi, September 19,
1952—noon.
163. Dept pass Saigon; rptd info Saigon 121. Ref Deptel 205, Sept. 1
[15].2 It is not only difficult to
generalize about VM zones, treating them as single bloc, but probably
misleading also. It is even more hazardous to make the leap from conclusions re
state of VM morale and physical conditions to hypothesis covering effect of
these on military action. Ordinary rules may well be considered suspect in any
discussion of this rebellion which appears have lost substantially none of its
moral force through six years of varied military fortunes.
… morale in upper Annam and Tonkin, working from south to north, in
general about as follows: In interzone 4, widespread discontent among various
civilian groups, owing principally heavy agricultural tax collections; some
covert and overt resistance to VM authorities on part of Catholics, Buddhists
and Muongs. In delta, … peasants continue cast lot with VM to extent of keeping
troop movements quiet and hiding arms; … that attributable to better troop
behavior among VM than among French Union. Believe explanation must include
inability French Union troops guarantee peasants against VM reprisals once they
have moved on; this is so at least in areas subject frequent military action.
In south delta bishoprics of Phatdiem and Buichu, where nationalist fire long
burnt more brightly than anti-VM spirit, there is evidence of significant
revulsion of feeling following overt VM attacks on Catholic Church and bishops.
On this subject see Contels 811, June 5 and 159, Sept 17.3
[Page 253]
Document dated Aug 20 recently obtained by Consulate now being processed
for transmittal purporting be training materials for political agents compiled
by authorities interzone 3 (delta) to enable former prepare troops for fall and
winter operations indicates VM concern with new weapons and materials French
Union forces have reed “from other countries,” food and clothing shortages,
“terrorism” “fallacious propaganda” which may have effect of developing
“pro-American trends or fear of America or defeatism. On credit side, document
points to relative thinness French Union forces, concentration of which any one
plan creates weak spots elsewhere favoring VM attack; tenuous morale on French
Union side which shld make it easy “shatter puppet army and govt”; improved
techniques, training, weapons and experience on VM side following “last
victorious spring and summer”; the “Chinese liberation army coming to the
border” will bring VM “real help” and “our people and army will thus be
encouraged to fight until victory.” Document goes on to characterize last fall
and winter as defensive period; indicates forthcoming season will also be
defensive, but directed to preparation of “general counter-offensive.” For
nation as whole coming fall and winter will be devoted to striking at weak
points “to relieve pressure on Bac Vietu,” to defeating all clean-up operations
and to training armed forces and agents “for mobile war.” In interzone 3 plan
is “open continuous fronts to attack enemy” continuously attack RC 5 and 6,
hamper clean-up operations and frustrate “enemy plan for occupation of Ninhbinh
which is to be used as recruiting base for puppet army.” Propaganda must be
stepped up “to attract soldiers from puppet army as well as African and
European soldiers.” Population must be clear-sighted, neither “pessimistic nor
over-confident and be prepared to attack the enemy.”
In conclusion, “we must never lose courage, no matter how great hardships
we suffer. Discouragement is not right attitude, although we must not be
over-confident when some successes obtained. Overconfidence certainly leads to
failure.”
In summary, this document reflects concern but not desperation.
In Hanoi clandestine VM organization said be trying recuperate from heavy
blows dealt it by Franco-Viet security services. There is evidence Hanoi front
members seeking authorization undertake terrorist activities in order restore
morale and unity and demonstrate VM still powerful here. Morale in Viet Bac
believed higher than elsewhere, owing proximity Chinese Commie aid supplies,
ease in propagandizing and remoteness from French-controlled zones.
French have given some emphasis to reports of low morale in reg VM
divisions.… VM takes great pains train troops to deceive interrogators if
captured, and … such reports shld be treated [Page 254] with reserve. While
morale of regional guerrilla units fighting in delta may be low owing shortage
equipment and other local factors, it is probably dangerous apply conclusion
reached concerning these forces to reg divisions. No evidence at hand to indicate
serious resentment in VM zones against Chinese Commie advisers, cadres or other
symbols of Chinese Commie control, despite historical precedent to justify such
resentment and render it probable. In general VM army appears adequately fed.
Food shortages suffered mainly by civilians, and although undernourishment
widespread, there is no evidence of famine. Chinese Commie military assistance
to VM appears be continuing at high level and may be increasing. Chinese Commie
technicians are aiding VM develop arms plants, roads and mineral exploitation
works. VM army believed be larger, better armed, trained and equipped than at
any previous time, hence capable of considerable impact when and if it launches
another large-scale offensive.
On other side of coin, VM economy appears in sorry plight. Ho Chi Minh
piastre depreciating rapidly as supplies become tighter and French Union aerial
and land attacks interrupt production and trade. Taxes are collected in paddy.
Central govt has little idea of receipts or expenditures in remote areas. VM
suffering serious shortage of medical personnel as many doctors have rallied to
this side, but there appears be increase in VM stocks medical supplies; no
epidemics reported. There is evidence also certain high VM officials, including
Commies believe Sino-Soviet aid will never increase to point of permitting
decisive VM victory over French until and unless World War III comes to resolve
the problem.
In summary, failing massive intervention from outside IC there seems be
little reason anticipate early major shift in present balance in the north. VM
material weaknesses for time being are probably offset by greater political
effectiveness in fields propaganda, elimination of corruption, competence and
morale of officials and in general appeal to masses. If national govt proved
able make real advances these respects and thus tend estrange from VM its
important nationalist but non-Commie elements, it wld have dealt VM graver blow
than any of which present military forces are capable. Linares has shown no
sign whatever of easy optimism, and although he has often mentioned individual
instances of VM weaknesses, he has never hinted to me that he was up against
other than a tenacious foe the end of whose capacity for battle was nowhere in
sight.
Sturm
1. This telegram was
transmitted in two parts.↩
2. Telegram 569 to
Saigon (repeated to Hanoi as telegram 205), Sept. 15, read as follows:
“Dept attempting evaluate numerous recent reports of
deteriorating conditions within VM zones. Statements allege rapid currency
depreciation, food and equipment shortages, declining civilian and mil morale,
and difficulties replacing battle losses particularly trained cadres. Realize
combat operations after rainy season will provide best test these assertions
but request urgently any additional data now available these and related subjs.
Dept wld welcome your views re general trend within VM zones recent months.”
(751G.00/9–1652)↩
3. Neither printed.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d113
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_253
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_254
Thân thế (các) nhân vật
Ho Chi Minh,
President of the Democratic Republic of
Vietnam.
Sturm, Paul J.,
Member of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs,
Department of State.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48
https://adst.org/OH%20TOCs/Kattenburg,%20Paul.toc.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/comp2
https://digitalcommons.providence.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1028&context=history_undergrad_theses
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d161
https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1952-05-may_0.pdf
https://www.jstor.org/stable/24911759
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d136