Saturday, April 18, 2026

20260419 CĐTL Cần lưu tâm về những Video Xám

20260419 CĐTL Cần lưu tâm về những Video Xám


***

Hiện nay trên hệ thống video của www.Youtube.com đang lan tràn những video xám thoạt đầu khi mới xem qua không ai thấy có những gì sai trái nhưng bên sau đó là những giọt acid ngấm ngầm tàn phá những trang sử Việt của miền Nam Việt Nam trước ngày 30/04/1975.

Video bên dưới đây là một ví dụ.

Bí Mật Trận Kontum 1972 — Chiến Thuật Không Tưởng Giúp VNCH Cứu Cả Tây Nguyên.

https://www.youtube.com/watch?v=OONaeGB17dQ&t=140s

Khi mới thoáng xem qua chúng ta cứ ngỡ rằng đây là một video ngợi ca sự hào hùng, anh dũng của những người lính Việt-Nam Cộng-Hòa đang căn mình, trãi từng làn da để hứng từng viên đạn được viện trợ từ khối quốc tế cộng sản đảng do cộng sản giặc Hồ nhận về đánh cướp miền Nam.

Chính những người lính miền Nam phải rãi từng giọt máu đào ngà ngọc trên bốn vùng chiến thuật, phải tận dụng những lóng xương từ những bàn tay, những khủy xương chân, những sọ đầu để bảo vệ miền Nam thân yêu trong suốt 20 năm khói lữa. 

Nhưng xem lại và suy ngẫm kỷ càng, so sánh lại ngày lịch sử 20/07/1954 khi hiệp định Genéva được ký kết để chia đôi đất nước theo ý muốn của Tầu cộng, Pháp, Nga Sôcộng sản giặc Hồ.

Chính cộng sản giặc Hồ đã xé bỏ hiệp định đình chiến Genéva 1954, vượt sông Bến Hải, cầu Hiền Lương tiến đánh miền Nam theo lệnh của Nga Sô và Tầu cộng.

Xem lại công hàm dâng biển đảo của Phạm Văn Đồng ngày 14/09/1958, cũng theo lệnh của Mao trạch Đông lẫn Chu ân Lai, nó cho chúng ta những cú shock luôn ngâm ngẩm đau tới tận tâm can mãi cho đến cuối một đời người.

Rồi ngày 27/01/1973 kéo đến, cộng sản giặc Hồ lại một lần nữa xóa sạch hiệp ước đình chiến Paris Peace Accords 1973, tiến đánh miền Nam với sức mạnh của hơn 20 sư đoàn quân chính quy cộng sản giặc Hồ với mục tiêu xóa sạch miền Nam.

Mục đích của những video nầy là né tránh, chôn dấu những tội ác cộng sản giặc Hồ đã mang đến cho dân tộc Việt-Nam từ những biến cố lịch sử như đã nêu trên trong những ngày 20 July 1954, 27 January 1973, 30 April 1975.

Đây là những mốc thời gian của tội áccộng sản giặc Hồ luôn muốn xóa sạch trước cộng đồng thế giới, trước những thế hệ trẽ Việt-Nam đang “được” cộng sản giặc Hồ tẩy não từ sau ngày 30 April 1975.  

***

Trang Sử Story

https://www.youtube.com/@TrangS%E1%BB%ADStory

Bí Mật Trận Kontum 1972 — Chiến Thuật Không Tưởng Giúp VNCH Cứu Cả Tây Nguyên.

https://www.youtube.com/watch?v=OONaeGB17dQ&t=140s

Nguyễn Thanh Thủy Thủ Lĩnh Biệt Đội Thiên Nga VNCH - Những Lời Khai Trong Trại Cải Tạo Sau 1975

https://www.youtube.com/watch?v=jUIoOmbT1BU

Nữ Đại Tá Trầm Cẩm Hương: Chị Đại Nắm Trùm Hàng Vạn Nữ Quân Nhân Của QLVNCH

https://www.youtube.com/watch?v=ELXTH0ZP7fU

Nguyễn Văn Thiệu: Ai Đã Giúp Ông Rời Việt Nam Trong Đêm 25/4/1975 Cùng 5 Vali Vàng ?

https://www.youtube.com/watch?v=320W-eLyq-U

Ngô Đình Diệm: Đêm Đảo Chính Kinh Hoàng— 24 Giờ Cuối Cùng Của Sự Sụp Đổ

https://www.youtube.com/watch?v=CIbZgZhm9ic

Khi Cả Miền Nam Sụp Đổ, Thành Mất Tướng Chết Theo Thành - Nguyễn Khoa Nam Hổ Tướng VNCH

https://www.youtube.com/watch?v=R7QWWCUjK3Q

Trâu Điên Lê Hằng Minh - Tại Sao Mà Là Khiếp Sợ Của Quân Địch Khi Nghe Tên ?

https://www.youtube.com/watch?v=pP3OX_gDYfs

Trang Sử Story

Description Trang Sử Story — Kể lại lịch sử bằng tư liệu, không bằng định kiến. Mỗi video là một cuộc trở về Sài Gòn trước 1975 — qua số phận những con người từng đứng giữa dòng xoáy chiến tranh và quyền lực. Chân dung tướng lĩnh — binh nghiệp, vinh quang và kết cục. Hồ sơ nhân vật — những góc khuất chưa ai kể. Trận đánh then chốt — chiến thuật, sai lầm và cái giá bằng máu. Hậu trường chính trường — quyền lực, phe phái và biến cố. Nội dung kênh mang tính nghiên cứu và kể chuyện lịch sử, được tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu công khai. Kênh không liên kết, đại diện hay ủng hộ bất kỳ tổ chức, đảng phái hay lập trường chính trị nào. Toàn bộ nhân vật và sự kiện được đặt trong bối cảnh lịch sử khách quan. Người xem được khuyến khích tìm hiểu đa chiều và tự hình thành quan điểm riêng. #TrangSửStory #LịchSửViệtNam #VNCH #SàiGònTrước1975 #TưLiệuLịchSử #TướngLĩnhVNCH #QuânLựcVNCH

More info


www.youtube.com/@TrangSửStory


Vietnam


Joined Apr 4, 2026


3.33K subscribers


13 videos


234,280 views

Tài liệu bổ túc:

Mặt Trận Tân Cảnh Kon Tum 1972 (Bản full)- Đại tá Trịnh Tiếu

https://www.youtube.com/watch?v=uiYNtvXE7FI

Mặt trận Tân Cảnh, Kontum 1972

https://hoiquanphidung.com/forum/c%C3%A1c-chuy%C3%AAn-m%E1%BB%A5c/th%E1%BB%9Di-s%E1%BB%B1/chuy%E1%BB%87n-30-4/2385-m%E1%BA%B7t-tr%E1%BA%ADn-t%C3%A2n-c%E1%BA%A3nh-kontum-1972

0171218 Kontum Kiêu Hùng - Một chọi ba.

Người Em Gái Dakbla - (Thơ Tr/Tá TQLC Lê Hằng Minh)

https://www.youtube.com/watch?v=gT9ngSHku_4

https://bachvietnhan.blogspot.com/2019/12/20171218-kontum-kieu-hung.html

Ngày cuối cùng của một Tư lệnh tại căn cứ Tân Cảnh, Mùa Hè 72

https://quanlucvnchblog.wordpress.com/tan-canh-ngay-cuoi-1972/

20251215 CDTL March 11, 1954 Điện tín Chu Ân Lai gửi Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh thi hành kế hoạch chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Chu Ân Lai.

https://bachvietnhan.blogspot.com/2025/12/20251215-cdtl-march-11-1954-ien-tin-chu.html

20251216 CDTL April 17, 1954 Điện tín của Mao Trạch Đông gửi Hoàng Khắc Thành Tô Vũ

https://bachvietnhan.blogspot.com/2025/12/20251216-cdtl-april-17-1954-ien-tin-cua.html

20251216 CDTL April 28, 1954 Điện tín của Mao Trạch Đông gửi cho Bành Đức Hoài Hoàng Khắc Thành

https://bachvietnhan.blogspot.com/2025/12/20251216-cdtl-april-28-1954-ien-tin-cua.html

20260122 CDTL DDE D478 10 May 1954 Điện tín từ phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao với 8 điều kiện của Việt Minh

https://bachvietnhan.blogspot.com/2026/01/20260122-cdtl-dde-d478-10-may-1954-ien.html

20260123 CDTL DDE D479 10 May 1954 Bản ghi nhớ cuộc trò chuyện do cố vấn Keppel của phái đoàn Hoa Kỳ ghi lại. Phạm Văn Đồng không muốn tải thương

https://bachvietnhan.blogspot.com/2026/01/20260123-cdtl-dde-d479-10-may-1954-ban.html

20260411 CDTL Bài diễn văn của Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm tại South Korea ngày 16-06-1954.

https://bachvietnhan.blogspot.com/2026/04/20260411-cdtl-bai-dien-van-cua-thu.html

20250425 CDTL Chuyện Đi Rước Giặc 8 Jun 1954 Geneva Kế Hoạch 12 Hải Lý

https://bachvietnhan.blogspot.com/2025/04/20250425-cdtl-chuyen-i-ruoc-giac-8-jun.html

20260102 CDTL July 3, 1954 Những điểm chính bài phát biểu của Chu Ân Lai tại Hội nghị Liễu Châu (trích đoạn). Kế sách Tầu cộng chiếm Việt Nam.

https://bachvietnhan.blogspot.com/2026/01/20260102-cdtl-july-3-1954-nhung-iem.html

20260103 CDTL July 5, 1954 Bản ghi chép bài phát biểu của Hồ Chí Minh tại Hội nghị Liễu Châu. Hồ Chi Minh quyết chiếm cho được Việt-Nam.

https://bachvietnhan.blogspot.com/2026/01/20260103-cdtl-july-5-1954-ban-ghi-chep.html

20260419 CDTL DDE D565 20 May 1954 Điện tín của Phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao.

20260419 CDTL DDE D565 20 May 1954 Điện tín của Phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d565

Google Translated

Tài liệu 565

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Hội nghị Geneva, Tập XVI

396.1 GE/5–2054: Điện tín của Phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao.

Tối mật

Geneva, ngày 20 tháng 5 năm 1954 — 7 giờ tối

Dulte 93. Thông tin gửi kèm Paris 208. Chỉ dành riêng cho Đại sứ. Tham chiếu điện Dulte 86, thông tin gửi kèm Paris 295. Mặc dù không hài lòng về tình hình hiện tại, ông Bidault vẫn đồng ý rằng, trong thời điểm này, các cuộc đàm phán nên tiếp tục diễn ra tại Paris, với sự hiểu biết rằng ông sẽ được cập nhật thông tin một cách sát sao tại đây. Ông đã tỏ ra lo ngại khi không nhận được tin tức nào từ Paris về các cuộc đàm phán trong vài ngày qua; tuy nhiên, ông đã cảm thấy yên tâm hơn khi tôi thông báo rằng chúng tôi cũng không nhận được tin tức gì và tin chắc rằng thực sự đã không có cuộc đàm phán nào diễn ra. Ông bày tỏ sự quan ngại về những âm mưu đang diễn ra tại đó; mặc dù khẳng định hoàn toàn tin tưởng vào sự liêm chính của ông Laniel ông Maurice Schumann, ông dường như vẫn cảm thấy rằng "những cảm quan chính trị-political antennae" của mình nhạy bén hơn so với họ.

Ông đã đề cập đến một trở ngại mang tính kỹ thuật, đó là việc Margerie là người duy nhất tại Quai d’Orsay ở cấp chuyên viên mà ông tin tưởng có thể hỗ trợ thỏa đáng cho các cuộc đàm thoại này; tuy nhiên, ông lại cảm thấy mình không thể điều động ông ấy rời khỏi Geneva. Ông tin rằng đến cuối tuần sau, mọi chuyện sẽ trở nên khá rõ ràng về việc liệu có bất kỳ cơ hội nào để tiến hành các cuộc đàm phán nghiêm túc tại đây hay không; và nếu triển vọng khi đó là tiêu cực, ông hy vọng sẽ bàn giao công việc lại cho Schumann để trở về Paris.

Smith.

1.    Ngày 19 tháng 5, tr. 853.

List of Abbreviations and Symbols

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/persons

The Geneva Conference on Indochina May 8–July 21, 1954

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/comp2

III. Proceedings of the Conference: Continued Discussions of Conference Arrangements, Procedures, and Participants; United States Positions and Tactics at the Conference; Arrangements and Discussions on Collective Defense in Southeast Asia; Consideration of United States Military Intervention in Indochina; Proposals on Indochina by the Various Delegations; Efforts To End Hostilities in Indochina and To Preserve Peace in Southeast Asia; United States Participation in the Final Stage of the Indochina Phase of the Conference; Conclusion of the Geneva Conference (May 8–July 21)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7

May 20, 1954 (Documents 556–570)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7subch13

1.    Document 565

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, The Geneva Conference, Volume XVI

396.1 GE/5–2054: Telegram

The United States Delegation to the Department of State

top secret

Geneva, May 20, 1954—7 p.m.

Dulte 93. Repeated information Paris 208. Eyes only Ambassador. Reference Dulte 86, repeated information Paris 295.1 While not happy about situation, Bidault agrees that for time being talks should continue in Paris on understanding he will be kept closely informed here. He was worried at receiving no news from Paris of talks in last few days, but felt better when I told him we had heard of none and were sure there had been none. He was concerned about intrigue there, while expressing complete confidence in integrity of Laniel and Maurice Schumann, he appears to feel that his political antennae are more sensitive than theirs. He mentioned one mechanical problem in that Margerie was only one in Quai d’Orsay at working level whom he trusted to backstop these conversations satisfactorily, but felt he could not spare him from Geneva. He believes that it should be fairly clear by end of next week whether there is any chance of doing any serious negotiating here and if prospect is then negative, he hopes to turn over to Schumann and return to Paris.

Smith

1.    Dated May 19, p. 853.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d565

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_853

Thân thế (các) nhân vật

Bidault, Georges,

French Minister for Foreign Affairs until June 18, 1954; Head of the French Delegation at the Geneva Conference until June 18, 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Georges_Bidault

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d338

https://www.britannica.com/biography/Georges-Bidault

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d398

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/CWIHPBulletin16_p1.pdf

https://spartacus-educational.com/2WWbidault.htm

https://apps.dtic.mil/sti/tr/pdf/ADA007286.pdf

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch020.asp

Jacquin De Margerie, Roland,

Assistant Director General for Political and Economic Affairs, French Ministry of Foreign Affairs; Assistant French Delegate at the Geneva Conference.

https://en.wikipedia.org/wiki/Roland_de_Margerie

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch5subch4

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/CWIHPBulletin16_p1.pdf

https://grokipedia.com/page/roland_de_margerie

https://search.library.wisc.edu/digital/ABHSHVCERGRA6I86/pages/ALUZ5OG5PRZCCH83?as=text&view=scroll

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/ReconsideringGenevaConf_1.pdf

https://search.library.wisc.edu/digital/ACV5YLTKQ4B7M48D/pages/AH7RDL5FJYPSTY8S?as=text&view=scroll

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/persons

https://grokipedia.com/page/emmanuel_jacquin_de_margerie

Laniel, Joseph,

Prime Minister of France until June 18, 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Joseph_Laniel

https://historica.fandom.com/wiki/Joseph_Laniel

https://www.nytimes.com/1975/04/11/archives/joseph-laniel-85-french-premier-minister-in-4th-republic-dies-a.html

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v05p1/d506

https://trove.nla.gov.au/newspaper/article/2885079

https://giftpals.com/events/item/the-appointment-of-joseph-laniel-as-french-premier-in-1953?srsltid=AfmBOoooj7q71wH8dLtnRJZ_VeMJo7_1wH6U33Gvj-ra2a33-m5ffujC

https://www.youtube.com/watch?v=vb77lbACA8g

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d371

Schumann, Maurice,

French Foreign Minister from June 1969 until April 1973

https://en.wikipedia.org/wiki/Maurice_Schumann

https://historica.fandom.com/wiki/Maurice_Schumann

https://dbpedia.org/page/Maurice_Schumann

https://overmanfoundation.org/maurice-schumanns-recollections-of-his-meeting-with-sri-aurobindo-and-the-mother/

https://overmanfoundation.wordpress.com/2017/01/20/maurice-schumanns-recollections-of-his-meeting-with-sri-aurobindo-and-the-mother/

https://content.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,2025752_2025466_2025452,00.html

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v04/persons

https://www.encyclopedia.com/religion/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/schumann-maurice

Smith, Walter Bedell,

Under Secretary of State; Head of the United States Delegation at the Geneva Conference, May 3–June 20, and July 17–21, 1954.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch5subch4

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch006.asp

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/ReconsideringGenevaConf_1.pdf

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80B01676R002500010001-5.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d1027

https://search.library.wisc.edu/digital/ABHSHVCERGRA6I86/pages/ALUZ5OG5PRZCCH83?as=text&view=scroll

https://nara-media-001.s3.amazonaws.com/arcmedia/dc-metro/rg-263/6922330/Box-2-17-3/263-a1-27-box-2-17-3.pdf

https://en.wikipedia.org/wiki/Walter_Bedell_Smith

20260419 CDTL HST DDE D98 27 July 1952 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

20260419 CDTL HST DDE D98 27 July 1952 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d98

Google Translated

Tài liệu số 98

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

751G.5/7–2752: Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

Tối mật

Sài Gòn, ngày 27 tháng 7 năm 1952 — 1 giờ chiều

220. Thông tin được báo cáo từ Paris (điện số 54). Tôi đã có một cuộc trao đổi dài với Tướng Salan, người sẽ lên đường sang Paris vào tuần tới để lưu lại trong hai tuần. Mục đích chính—cũng như niềm hy vọng—trong chuyến đi Paris lần này của ông là thuyết phục Không quân Pháp điều động cho ông—dù chỉ là tạm thời—một số lượng máy bay vận tải, phi công và đội ngũ bảo trì đủ để ông có thể đảm bảo thực hiện các chiến dịch thả dù và tiếp tế đường không nhằm hỗ trợ các hoạt động tấn công, trong phạm vi năng lực của phía Pháp, diễn ra vào mùa thu và mùa đông sắp tới. [Trang 226]

Hiện tại, ông chỉ có thể vận chuyển bằng đường không và thả dù khoảng một tiểu đoàn mỗi lần, mặc dù ông sở hữu tổng cộng mười một tiểu đoàn lính dù—bao gồm cả một đơn vị của Campuchia và một đơn vị của Lào. Nếu muốn phát động bất kỳ cuộc tấn công nào vượt ra ngoài vùng Đồng bằng Bắc Bộ với hy vọng thành công, ông cần có đủ máy bay để có thể thả đồng thời ba tiểu đoàn. Theo lý tưởng, ông cho rằng mình cần có đủ phương tiện vận tải để thực hiện cuộc thả dù quy mô sáu tiểu đoàn; tuy nhiên, ông nhận thức rõ rằng trong bối cảnh hiện tại, ông không thể kiếm đủ máy bay hay phi hành đoàn để tiến hành các chiến dịch ở quy mô lớn đến vậy.

Ông không chỉ cần đủ máy bay để vận chuyển ba tiểu đoàn dù, mà còn cho biết rằng ông cần có sẵn số máy bay này trước cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10—trước khi một số sư đoàn Việt Minh nhất định (vốn sẽ trở thành những mục tiêu thích hợp vào thời điểm đó) kịp có thời gian củng cố lại đội ngũ cán bộ, lực lượng binh sĩ cũng như tinh thần chiến đấu.

Salan thừa nhận ông không mấy lạc quan về việc sẽ nhận được máy bay, phi công hay phi hành đoàn từ Không quân Pháp với số lượng cần thiết hoặc đúng thời hạn. Ông sẽ cần sự ủng hộ tuyệt đối từ Letourneau—người mà theo lời ông—vẫn chưa hoàn toàn bị thuyết phục về tính thận trọng của chiến dịch tấn công mà ông đề nghị. Tuy nhiên, ông vẫn hy vọng sẽ thuyết phục được Letourneau.

Ông Salan cho biết, nếu không thể huy động đủ máy bay vận tải cùng phi hành đoàn để thực hiện thành công chiến dịch đổ bộ lính dù xuống phía sau đội hình sư đoàn Việt Minh đang tấn công, thì Việt Minh sẽ có thời gian khôi phục lực lượng và tinh thần, và chắc chắn sẽ phát động một cuộc tấn công vào khoảng cuối năm. Mặc dù ông Salan khẳng định chắc chắn rằng quân đội của mình có thể đẩy lùi bất kỳ cuộc tấn công nào từ phía Việt Minh, nhưng họ sẽ phải gánh chịu những tổn thất lẽ ra có thể tránh được nếu ông có thể tiến hành các chiến dịch tấn công ngay từ đầu mùa thu này. Xét trên mọi phương diện khác—ngoại trừ năng lực vận tải đường không—ông đã có đủ binh lực và trang thiết bị cho các chiến dịch dự kiến ​​vào mùa thu; tuy nhiên, việc tăng cường năng lực vận tải đường không là điều kiện tiên quyết để các chiến dịch này có thể được triển khai.

Nhận xét và kiến ​​nghị:

Tôi tin rằng việc giành lại quyền chủ động từ tay Việt Minh là điều tối quan trọng; và tôi e ngại rằng, trừ phi Chính phủ Pháp ủng hộ các kế hoạch tấn công như đề nghị của Salan, bằng không sẽ chẳng có nỗ lực nào được thực hiện để đạt được mục tiêu này.

Ông Letourneau chưa bác bỏ kế hoạch nói trên, song Nội các Pháp dường như ngày càng có xu hướng nghiêng về việc chỉ thực hiện các "chiến dịch cầm cự" đơn thuần, hoặc duy trì thế phòng ngự kết hợp quấy rối tại Đông Dương.

Điều này dường như đã bộc lộ rõ ​​trong các cuộc đàm phán tại Paris trước thềm cuộc họp ở Washington, sau đó là tại chính Washington, và gần đây nhất là tại Singapore—nơi mà sự thiếu vắng "tâm thế chiến thắng" từ phía Pháp đã khiến giới chức Anh cảm thấy bất an (điện mật số 131 ngày 7 tháng 7 [17]). Hơn nữa, lực lượng viễn chinh Pháp tại Đông Dương trên thực tế sắp bị cắt giảm 2 tiểu đoàn; đây là đợt cắt giảm đầu tiên—dù có phần chậm trễ—nhằm thực hiện cam kết của Tướng De Lattre về việc hồi hương quân đội về Pháp trong năm 1952, đồng thời cũng là một sự nhượng bộ trước các áp lực chính trị nội bộ nước Pháp. Mặc dù về mặt lý thuyết, sự tổn thất này được bù đắp bằng việc gia tăng số lượng các tiểu đoàn Việt Nam cũng như sự nâng cao về tính cơ động và hỏa lực nhờ vào viện trợ của Hoa Kỳ, nhưng nó lại càng trở nên trầm trọng hơn do sự thiếu hụt trong lịch trình bổ sung và luân chuyển quân, cùng với tiến độ chậm chạp trong việc xây dựng quân đội Việt Nam thông qua hình thức tuyển mộ trực tiếp (thay vì chuyển giao nguyên đơn vị [Trang 227] từ Lực lượng Viễn chinh Pháp tại Viễn Đông—FTEO); theo chính số liệu do phía Pháp đưa ra, điều này sẽ dẫn đến kết quả là tổng số binh sĩ trong biên chế thực tế chỉ tăng thêm vỏn vẹn 7.000 người trong năm 1952.

Những lý do khiến phía Pháp tỏ ra thận trọng có lẽ bao gồm việc đã "bị bỏng tay" tại Hòa Bình, sự mệt mỏi vì chiến tranh ngay trên chính quốc, sự sụp đổ của những dự báo lạc quan thái quá trước đó, bài học về thế trận phòng ngự thụ động trong Chiến tranh Triều Tiên, niềm hy vọng rằng "sẽ có điều gì đó bất ngờ xảy đến" giúp giải quyết tổng thể vấn đề Đông Dương, cùng với "lý thuyết" cho rằng một cuộc tấn công thành công sẽ chỉ càng thúc đẩy lực lượng Trung Cộng can thiệp sâu hơn vào Đông Dương.

Bất kể những lời biện minh đó, thực tế là tình trạng bế tắc trong quan hệ quốc tế sẽ làm gia tăng sự thờ ơ trong chính phủ và quân đội Việt Nam, cho phép Việt Cộng củng cố sức mạnh và lựa chọn thời điểm thích hợp, làm suy yếu Đông Nam Á trước sự lây lan của chủ nghĩa cộng sản, trì hoãn ngày mà các cán bộ Pháp thực sự có thể quay trở lại bảo vệ châu Âu, tiếp tục gây gánh nặng cho Mỹ và Pháp vô thời hạn, và tạo tiền đề cho cuộc đàm phán nhục nhã và tai hại với Việt Cộng.

Để tránh sa lầy vào vũng lầy này, tôi đặc biệt khuyến nghị rằng chúng ta nên xem xét các năng lực tác chiến tấn công phối hợp giữa PhápViệt Nam, thông qua trao đổi với các cấp lãnh đạo cao nhất của Pháp tại Đông Dương cũng như tại Paris.

Các cấp chỉ huy quân sự cao nhất của chúng ta (cùng Tướng Trapnell khi ông tới đây) cần hiểu thêm chi tiết về kế hoạch tác chiến của Tướng Salan; tuy nhiên, tôi tin rằng việc khẩn trương cung cấp cho ông ấy thêm năng lực vận tải đường hàng không và công tác bảo dưỡng—những yếu tố cần thiết để thực hiện đợt vận chuyển 3 tiểu đoàn—là điều vô cùng cấp thiết.

Theo lời ông mô tả với tôi, cuộc tấn công mùa thu của ông tự thân nó sẽ không mang tính quyết định; tuy nhiên, hệ quả từ việc vô hiệu hóa một trong các trung đoàn của Việt Minh có thể sẽ khó lường. Ít nhất thì động thái này cũng sẽ làm phá sản các kế hoạch tấn công của Việt Minh.

Vì việc điều động bất kỳ máy bay nào từ PhápBắc Phi đều sẽ ảnh hưởng đến tình hình của NATO, tôi cho rằng sẽ là điều nên làm nếu Tư lệnh Tối cao Đồng minh tại Châu Âu (SACEUR) gặp gỡ ông Salan trong chuyến thăm hiện tại của ông ấy.

Heath.

1.    Bức điện tín này được truyền đi thành hai phần.

2.    Chuẩn tướng Thomas J. H. Trapnell đã đến Sài Gòn vào ngày 1 tháng 8, thay thế Chuẩn tướng Francis G. Brink đảm nhiệm chức vụ Trưởng Phái đoàn Cố vấn Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ. Tướng Brink đã qua đời tại Washington vào ngày 24 tháng 6, được cho là do tự sát.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1

1. Document 98

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

751G.5/7–2752: Telegram

The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State1

top secret

Saigon, July 27, 1952—1 p.m.

220. Rptd info Paris 54. I have had long talk with General Salan who leaves next week for fortnight in Paris. Principal purpose—and hope—of his Paris trip is to persuade French Air Force to send him, if only temporarily, sufficient transport planes, pilots, maintenance crews so that he can assure air drop and parachute operations in support of offensive operations within limit of French capabilities during next fall and winter.

[Page 226]

At present he can airlift and parachute only about one battalion at a time although he has a total of eleven parachute troop battalions including a Cambodian and a Laotian unit. If he is to engage in any offensive beyond Tonkin delta with any possibility of success he needs enough planes to be able to drop three battalions simultaneously. Ideally he said he should have enough transport for a six battalion drop but he realized under present circumstances he could not obtain planes or crews for operations on such scale.

Not only does he need sufficient planes to transport three parachute battalions but he said he should have them available before end of September or early in October before certain Viet Minh divisions which should be appropriate targets at that time have had time to rebuild their cadres, troop strength and morale.

Salan admitted he was not very optimistic that he would get planes, pilots or crews from French Air Force in required numbers or on time. He would need full backing of Letourneau who he said was not yet entirely persuaded as to prudence of Salan‘s proposed offensive operation. He hoped, however, to persuade Letourneau.

Salan said if he were unable obtain sufficient transport planes and crews to stage successful operation by parachuting troops to rear of Viet Minh division attacked the Viet Minh would have time to recover strength and morale and undoubtedly would launch attack toward end of year. While Salan says he is certain his troops can repel any Viet Minh offensive they would suffer losses which could be avoided if he were able to undertake offensive operations early this fall. In all other respects save air transport he had sufficient troops and equipment for his proposed fall operations but increased air lift was prerequisite to their being undertaken.

Comment and recommendations:

I believe it imperative that initiative be wrested from VM and I fear that unless Fr Govt supports offensive plans like Salans no effort will be made to do so.

Letourneau has not rejected plan but Fr Cab seems increasingly inclined to mere “holding operation” or harassing defensive in IC.

This seemed evident in Paris talks prior to Wash mtg then at Wash and most recently at Spore where Fr lack of “victory psychology” disquieted Brit (mytel 131 July 7 [17]). Moreover Fr expeditionary force in IC is now actually to be reduced by 2 battalions as initial tardy installment on De Lattre‘s commitment to return troops to Fr 1952 and as concession to Fr polit pressures. Altho this loss is theoretically compensated by multiplication of Viet battalions and by increase in mobility and fire-power brought by US aid it is compounded with shortfall in replacement and rotation sched, and slow pace in build-up of Viet army by direct recruitment (rather than unit [Page 227] transfers from FTEO) which will result, on Fr own showing, of net increase of men under arms of only 7,000 in 1952.

Reasons for Fr caution probably incl fingers burnt at Hoa Binh, war weariness at home, collapse of earlier over optimistic estimates, example of static phrase in Korea war, hope that “something will turn up” in way of gen FE settlement and “theory” that successful offensive will only precipitate Chi Commie descent on IC.

Regardless of these rationalizations fact is that stalemate in IC will foster listlessness in Vietnam Govt and army, allow VM to build its strength and choose its time, soften up SEA for Commie infection, delay day when there can be real return of Fr cadres to def of Eur, continue burden on US and Fr indefinitely, and set stage for ignominious and fateful negotiation with VM.

To avoid sinking into this morass, I strongly recommend that we explore capabilities of Franco–Viet offensive operations with top Fr levels in IC and at Paris.

Our top mil auths (and Gen Trapnell2 when he arrives here) shld get more detail on Salan‘s plan of campaign, but I believe it is urgently desirous for him to have additional airlift and maintenance he needs for a 3 battalion lift.

As he described it to me his fall offensive will not in itself be decisive but effect of knocking out one of VM reg dins may be unpredictable. At very least it shld spoil VM offensive plans.

Since any planes borrowed from France and NoAfr affect NATO sitn I believe it wld be desirable for SAC Eur to interview Salan during his current visit.

Heath

1.    This telegram was transmitted in two parts.

2.    Brig. Gen. Thomas J. H. Trapnell arrived at Saigon on Aug. 1, replacing Brig. Gen. Francis G. Brink as Chief of the U.S. Military Assistance Advisory Group. General Brink died in Washington on June 24, an apparent suicide.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d98

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_226

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_227

Thân thế (các) nhân vật

Brink, Brigadier Francis G.,

USA Chief, United States Military Assistance Advisory Group, Indochina; died June 24, 1952.

https://en.wikipedia.org/wiki/Francis_G._Brink

https://grokipedia.com/page/francis_g_brink

https://www.nytimes.com/1952/06/25/archives/pentagon-gunshot-fatal-to-general-brink-indochina-team-chief.html

https://generals.dk/general/Brink/Francis_Gerard/USA.html

https://donkasprzak.com/the-eagle-weeps/

https://donkasprzak.com/dien-bien-phu-retrospective/

https://www.reddit.com/r/wikipedia/comments/1k2szx5/francis_g_brink_was_a_brigadier_general_in_the/

https://www.youtube.com/watch?v=f401zwl4h4w

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP75-00001R000300390041-8.pdf

De Lattre De Tassigny, Général d’Armée Jean,

French High Commissioner and Commander of French Forces in Indochina, December 1950–November 1951; died January 1952.

https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_de_Lattre_de_Tassigny

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d8

https://www.britannica.com/biography/Jean-de-Lattre-de-Tassigny

https://ww2db.com/person_bio.php?person_id=738

Heath, Donald R.,

Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath

https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read

https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/

Letourneau, Jean,

French Minister in Charge of Relations with the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner in Indochina, April 1952–July 19, 1953.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220

https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53

https://en.wikisource.org/wiki/United_States_%E2%80%93_Vietnam_Relations,_1945%E2%80%931967:_A_Study_Prepared_by_the_Department_of_Defense/IV._A._4._U.S._Training_of_Vietnamese_National_Army,_1954%E2%80%9359

https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html

Salan, Général Raoul,

Commander of French Forces in Indochina, April 1, 1952–May 1953.

https://en.wikipedia.org/wiki/Raoul_Salan

https://www.britannica.com/biography/Raoul-Albin-Louis-Salan

https://www.britishpathe.com/asset/219896/

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d21

http://saigon-vietnam.fr/raoul-salan_en.php

https://foreignlegion.info/1952-battle-of-na-san/

https://grokipedia.com/page/Raoul_Salan

https://historfiction.fandom.com/wiki/Raoul_Salan

https://www.upi.com/Archives/1984/07/03/General-Raoul-Salan-one-of-the-four-French-military/7009457675200/

Trapnell, Thomas J. H.,

Major General, Chief of the United States Military Assistance Advisory Group in Indochina, August 1952–February 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Thomas_J._H._Trapnell

https://army.togetherweserved.com/army/servlet/tws.webapp.webapp?cmd=ShadowBoxProfile&type=Person&ID=238525&binder=true

https://valor.militarytimes.com/recipient/recipient-22747/

https://alumni.westpointaog.org/memorial-article?id=43659d74-1c8e-4252-a8d4-f2b73b491be0

https://oaktrust.library.tamu.edu/server/api/core/bitstreams/ff79c892-fc30-4773-8fff-5b57678deceb/content

https://apps.dtic.mil/sti/pdfs/ADA324510.pdf