Thursday, June 4, 2026

20260605 CDTL Tầu cộng xây hệ thống radar A2AD trên đảo– Phú Lâm – Woody trong quần đảo Hoàng Sa P2

20260605 CDTL Tầu cộng xây hệ thống radar A2AD trên đảo– Phú Lâm – Woody trong quần đảo Hoàng Sa P2


***

Để xem hình không ảnh xin mời độc giả copy và paste những tọa độ vào Google Search để xem không ảnh.

***

20241110 CDTL Tuyên Cáo Lãnh Thổ Lãnh Hải VN

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/11/20241110-cdtl-tuyen-cao-lanh-tho-lanh.html

20241214 CDTL South Vietnam Not Bound by Geneva Accords 1954

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241214-cdtl-south-vietnam-not-bound.html

20190910 Petition of the citizens of the Republic of Vietnam

https://bachvietnhan.blogspot.com/2019/09/20190910-petition-of-citizens-of.html

20250130 Cộng Sản Giặc Hồ Đầu Hàng Hoa Kỳ Năm 1973

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241231-ap-ba-chuc-dau-moi-mot-tham-hoa.html

http://www.youtube.com/watch?v=hwvXyzo7MjM

20120414 Hải Chiến Hoàng Sa

https://bachvietnhan.blogspot.com/2012/04/20120414-hai-chien-hoang-sa.html

Điều chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 (Tài liệu ở cuối bài“saigonnhonews.com có vấn đề” độc giả sẽ không xem được tài liệu) 

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg

https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/

AI Google Translated

Radar system A2/AD on Woody islands

Hệ thống radar A2/AD trên đảo Cây – Woody trong quần đảo Hoàng Sa

Đảo Cây WOODY Islands

16°49'44.65"N 112°20'18.95"E

SAM HQ-9

16°50'31.38"N 112°20'11.23"E

16°50'30.71"N 112°20'8.80"E

16°50'31.69"N 112°20'13.18"E

16°50'29.89"N 112°20'7.25"E

16°50'1.89"N 112°20'33.71"E

16°50'1.63"N 112°20'37.29"E

16°50'38.43"N 112°20'57.17"E

SAM HQ-9 Housing

16°50'23.13"N 112°20'45.43"E

Aircraft Hangars

16°50'28.66"N 112°21'4.53"E

16°50'3.29"N 112°20'37.91"E

16°49'36.45"N 112°20'10.06"E

Fuel Tank

16°50'7.30"N 112°20'37.83"E

16°49'51.35"N 112°20'23.74"E

Air Control

16°50'0.88"N 112°20'30.08"E

Radar

16°50'2.79"N 112°20'32.06"E

16°49'57.60"N 112°20'25.71"E

16°49'56.38"N 112°20'25.51"E

16°49'45.28"N 112°20'12.45"E

16°49'45.61"N 112°20'11.22"E

16°49'46.70"N 112°20'9.14"E

16°49'44.73"N 112°20'7.50"E

16°49'43.25"N 112°20'8.44"E

16°49'43.53"N 112°20'10.76"E

16°49'41.60"N 112°20'9.77"E

16°49'43.11"N 112°20'13.99"E

16°49'30.04"N 112°20'1.91"E

16°50'35.73"N 112°21'6.55"E

16°50'38.43"N 112°20'57.17"E

16°50'47.42"N 112°20'50.61"E

16°50'39.63"N 112°20'48.15"E

16°50'38.30"N 112°20'48.32"E

16°50'35.72"N 112°20'48.26"E

16°50'6.75"N 112°20'22.71"E

16°50'11.38"N 112°20'26.98"E

16°50'5.57"N 112°20'29.12"E

16°50'24.83"N 112°20'2.40"E

16°50'22.33"N 112°19'55.83"E

16°50'20.88"N 112°19'54.28"E

16°50'18.97"N 112°19'52.74"E

16°50'19.95"N 112°19'53.46"E

16°50'17.98"N 112°19'52.00"E

16°50'19.10"N 112°19'54.43"E

16°50'17.78"N 112°19'53.32"E

16°50'16.96"N 112°19'54.95"E

16°50'0.29"N 112°19'44.50"E

OTH RADAR

16°50'21.20"N 112°20'1.62"E

16°50'21.29"N 112°19'52.19"E

SATCOM

16°49'58.06"N 112°19'57.12"E

Obser/Gun Post

16°49'59.37"N 112°20'46.02"E

16°50'39.86"N 112°20'54.55"E

Tunnel

16°50'38.41"N 112°20'53.79"E

16°50'40.26"N 112°20'52.67"E

16°50'42.78"N 112°20'50.74"E

16°50'46.42"N 112°20'50.31"E

16°50'43.61"N 112°20'48.96"E

16°50'40.32"N 112°20'47.04"E

16°50'18.46"N 112°19'52.15"E

16°50'19.95"N 112°19'53.46"E

Solar Power

16°50'27.88"N 112°20'10.30"E

16°50'25.87"N 112°20'9.51"E

16°50'26.45"N 112°20'6.51"E

16°50'27.86"N 112°20'4.91"E

Antenna Arrays

16°50'23.17"N 112°20'19.13"E

AI Google Translated

Đảo Cây (Woody Island - tên quốc tế, phía Tầu cộng gọi là đảo Phú Lâm) là trung tâm chỉ huy quân sự và hành chính cốt lõi trong mạng lưới Chống tiếp cận/Chống xâm nhập khu vực (A2/AD) của Tầu cộng tại quần đảo Hoàng Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam). Hệ thống radar trên đảo này hoạt động như một "tai mắt" chiến lược, tích hợp chặt chẽ với các bệ phóng tên lửa và đường băng quân sự để giám sát, khống chế vùng biển và vùng trời xung quanh. [1, 2, 3, 4]

Kiến trúc radar và mạng lưới A2/AD tại Đảo Cây

Hệ thống cảm biến và radar tại đảo Cây được xây dựng theo mô hình đa tầng, phối hợp đồng bộ với các đảo lân cận nhằm triệt tiêu các điểm mù phòng thủ:

  • Radar dẫn đường và điều khiển hỏa lực (HQ-9): Đảo Cây là nơi đồn trú cố định của các khẩu đội tên lửa phòng không tầm xa HQ-9/HQ-9B. Đi kèm với hệ thống này là cụm radar quét mảng pha điện tử chủ động (AESA) Type 305B và radar bám bắt mục tiêu kỹ thuật số. Cụm radar này có nhiệm vụ phát hiện, theo dõi liên tục các mục tiêu bay và dẫn đường cho tên lửa phòng không đánh chặn ở khoảng cách lên tới 200 km. [1, 2, 3, 4]
  • Radar cảnh báo sớm và trinh sát tần số cao (HF): Tầu cộng đã thiết lập các trạm radar tần số cao trên đảo để quét bề mặt biển và tầng điện ly. Hệ thống này hỗ trợ định vị các biên đội tàu sân bay hoặc tàu chiến lớn của nước ngoài từ cự ly xa, vượt qua giới hạn độ cong của Trái Đất. [1]
  • Mắt xích liên kết "Chống tàng hình" vùng Hoàng Sa: Để bù đắp cho điểm yếu của các radar truyền thống tại đảo Cây trước máy bay tàng hình thế hệ mới (như F-22 hay F-35), Tầu cộng đã bổ sung một hệ thống radar xung và khẩu độ tổng hợp (SIAR) mạng lưới lục giác tại đảo Tri Tôn lân cận. Dữ liệu trinh sát chống tàng hình từ Tri Tôn sẽ truyền trực tiếp về trung tâm chỉ huy tại đảo Cây nhằm tạo ra một lưới quét phòng không không có khe hở. [1]

Sức mạnh tích hợp của lưới A2/AD

Dữ liệu mục tiêu thu được từ hệ thống radar đảo Cây được đồng bộ hóa tức thì để phục vụ cho các vũ khí tấn công hiểm hóc:

  • Khống chế không phận: Định vị mục tiêu để các phi đội tiêm kích J-11 và J-10 (luân phiên cất cánh từ đường băng dài 2.700 mét trên đảo) triển khai đánh chặn từ xa. [1, 2]
  • Hỏa lực chống hạm tầm xa: Làm nhiệm vụ chỉ thị mục tiêu đầu cuối cho các dòng tên lửa hành trình đối hạm hoặc dòng tên lửa đạn đạo diệt tàu sân bay DF-series phóng từ đất liền hoặc các xe phóng cơ động trên đảo. [1]
  • Yểm trợ máy bay ném bom chiến lược: Cung cấp thông tin dẫn đường cho oanh tạc cơ H-6K khi dòng máy bay này tiếp cận áp sát để phóng các tên lửa hành trình tầm xa. [1]

Lập trường của Việt Nam

Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Mọi hoạt động quân sự hóa của Tầu cộng tại đảo Cây (Phú Lâm), bao gồm việc triển khai radar, vũ khí, tên lửa hay tổ chức tập trận đều là hành vi xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, làm phức tạp thêm tình hình và đe dọa trực tiếp đến an ninh, tự do hàng hải trong khu vực. [1, 2]

Nếu bạn muốn đào sâu hơn về vấn đề này, tôi có thể:

  • Phân tích cách thức hoạt động và cơ chế bắt mục tàng hình của loại radar SIAR tại Hoàng Sa.
  • Bản đồ hóa tầm phủ sóng đan xen giữa cụm căn cứ Hoàng Sa và cụm căn cứ Trường Sa (Đá Chữ Thập, Xu Bi, Vành Khăn).
  • Làm rõ các lỗ hổng dễ bị tổn thương của các trạm radar cố định này trước các đòn chế áp điện tử hiện đại. [1]

Bạn muốn tập trung vào nội dung nào tiếp theo?

Xin cho biết thêm cách thức hoạt động và kỷ thuật nhận dạng mục tiêu của loại radar A2 AD tại Hoàng Sa.

Hệ thống radar trong mạng lưới Chống tiếp cận/Chống xâm nhập khu vực (A2/AD) của Tầu cộng tại quần đảo Hoàng Sa là sự kết hợp đa tầng giữa radar điều khiển hỏa lực truyền thống (băng tần ngắn) và các radar cảnh báo sớm chống tàng hình (băng tần siêu cao VHF). Trong đó, cấu trúc đặc biệt nhất là hệ thống Radar xung và khẩu độ tổng hợp (SIAR) đặt trên đảo Tri Tôn phụ cận, phối hợp chặt chẽ với trung tâm chỉ huy tại Đảo Cây (Phú Lâm). [1, 2]

Cách thức hoạt động và kỹ thuật nhận dạng mục tiêu cụ thể của lưới radar này được vận hành dựa trên các nguyên lý khoa học và công nghệ sau:

I. Cách thức hoạt động: Khai thác "Gót chân Achilles" của công nghệ tàng hình

Các máy bay tàng hình hiện đại (như F-22, F-35 hay B-2) được thiết kế hình học góc cạnh và phủ lớp sơn hấp thụ sóng radar (RAM). Tuy nhiên, thiết kế này chỉ có hiệu quả tối đa đối với các sóng radar băng tần ngắn (như băng tần \(X\), \(S\), \(C\)) vốn thường dùng trên các radar chiến đấu truyền thống. [1, 2, 3]

Hệ thống radar A2/AD tại Hoàng Sa bẻ gãy lợi thế này thông qua cơ chế hoạt động của cụm radar SIAR:

1. Nguyên lý cộng hưởng bước sóng dài (Băng tần VHF)

  • Hệ thống SIAR hoạt động trong dải tần số VHF (từ 30 đến 300 MHz), tương đương với bước sóng rất dài (từ 1 mét đến 10 mét). [1]
  • Khi bước sóng radar tương đồng hoặc lớn hơn kích thước các bộ phận trên máy bay (như cánh đuôi, mép cánh chính hoặc cửa khoang động cơ), một hiện tượng vật lý gọi là Tán xạ Rayleigh (Rayleigh Scattering) hoặc cộng hưởng sẽ xảy ra.
  • Lúc này, lớp sơn hấp thụ sóng và các góc cạnh tàng hình của máy bay bị mất tác dụng. Toàn bộ thân máy bay sẽ đóng vai trò như một "ăng-ten ký sinh" tự động phản xạ mạnh mẽ tín hiệu radar ngược trở lại đài thu. [1]

2. Kiến trúc ăng-ten vòng tròn đồng tâm (MIMO phẳng)

  • Thay vì sử dụng một đĩa radar quay truyền thống, hệ thống SIAR tại Hoàng Sa (và đảo Tri Tôn) sử dụng một mạng lưới ăng-ten cố định bố trí theo các vòng tròn đồng tâm xếp thành cấu trúc hình bát giác/lục giác lớn trên mặt đất. [1, 2]
  • Đây là công nghệ MIMO (Multiple-Input Multiple-Output) phân tán. Hệ thống phát đồng thời nhiều chùm tín hiệu xung tần số thấp từ các góc khác nhau, bao phủ toàn bộ bầu trời 360 độ mà không cần xoay tròn.

II. Kỹ thuật nhận dạng và xử lý mục tiêu

Trước đây, radar băng tần VHF có nhược điểm rất lớn là độ chính xác kém, nhiễu nền mạnh (do phản xạ từ sóng biển, mây và tạp âm vô tuyến địa phương). Để biến nó thành một radar cảnh báo sớm hữu hiệu, Trung Quốc áp dụng các kỹ thuật xử lý tín hiệu kỹ thuật số cao cấp: [1]

1. Thuật toán "Khẩu độ tổng hợp" bằng phần mềm (Synthetic Aperture)

  • Khi máy bay di chuyển qua lưới sóng phát, radar SIAR thu thập các tín hiệu phản xạ yếu ớt từ nhiều ăng-ten ở các vị trí khác nhau.
  • Máy tính trung tâm sử dụng các thuật toán xử lý tín hiệu cực mạnh để ghép chuỗi xung dữ liệu theo thời gian, giả lập một chiếc ăng-ten ảo khổng lồ (khẩu độ tổng hợp). Kỹ thuật này giúp nâng cao độ phân giải của radar một cách rõ rệt để xác định chính xác vị trí mục tiêu. [1]

2. Kỹ thuật phân biệt mục tiêu qua Hệ số phản xạ (RCS)

  • Hệ thống liên tục so sánh Diện tích phản xạ radar (RCS) thực tế của vật thể thu được với cơ sở dữ liệu (Database) lưu sẵn trong máy tính. [1]
  • Một chiếc máy bay tàng hình tuy có thể che giấu hoàn toàn trước radar băng tần \(X\), nhưng dưới lưới quét VHF của SIAR, nó sẽ lộ ra một chỉ số RCS tương đương với một mục tiêu thông thường. Máy tính sẽ dựa vào tốc độ bay, cao độ và quỹ đạo di chuyển để phân loại đây là tiêm kích, máy bay ném bom hay tên lửa hành trình.

3. Kỹ thuật "Chuyển giao mục tiêu" đan xen (Data Fusion)

  • Bước 1 (Phát hiện): Radar SIAR (tại Tri Tôn hoặc Phú Lâm) phát hiện dấu vết của mục tiêu tàng hình từ khoảng cách khoảng 300 km. Do đặc điểm băng tần VHF, radar này chỉ làm nhiệm vụ cảnh báo sớm chứ không thể trực tiếp dẫn đường cho tên lửa bắn hạ mục tiêu. [1, 2]
  • Bước 2 (Bám bắt góc): Dữ liệu định vị thô được số hóa và truyền tức thì về Trung tâm chỉ huy tại Đảo Cây. Tại đây, các radar mảng pha điều khiển hỏa lực băng tần ngắn (như của hệ thống tên lửa HQ-9) sẽ được "mớm" tọa độ chuẩn. Chúng không cần quét mù toàn bầu trời nữa mà chỉ tập trung toàn bộ năng lượng phát sóng chiếu thẳng vào một góc hẹp nơi mục tiêu đang di chuyển. [1, 2, 3, 4]
  • Khi một luồng năng lượng radar cực lớn tập trung vào góc hẹp, hệ thống điều khiển hỏa lực có thể bắt được tín hiệu phản xạ của máy bay tàng hình, hoàn thành chuỗi khóa mục tiêu và khai hỏa tên lửa. [1]

Tóm lại

Bằng cách dùng radar bước sóng dài VHF để ép mục tiêu tàng hình phải bộc lộ tín hiệu cộng hưởng vật lý, phối hợp với thuật toán dựng hình kỹ thuật số và mạng lưới liên kết dữ liệu tốc độ cao giữa các đảo, hệ thống A2/AD tại Hoàng Sa tạo ra một chiếc lưới giám sát đa tầng nhằm vô hiệu hóa các phương tiện xâm nhập từ trên không và trên biển của đối phương. [1, 2, 3]

Để hiểu rõ hơn về bức tranh toàn cảnh của hệ thống này, bạn có thể chọn tìm hiểu thêm:

  • Bản đồ phân bổ các trạm radar tương tự của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa (như Đá Xu Bi, Đá Vành Khăn).
  • Các biện pháp đối phó (như chế áp điện tử hoặc tên lửa chống bức xạ tầm xa) mà quân đội các nước áp dụng để phá hủy lưới radar này.
  • Tác động trực tiếp của lưới radar này đối với các hoạt động kinh tế, hàng hải và bay dân sự của Việt Nam trên Biển Đông. [1, 2, 3, 4]

Hãy cho tôi biết khía cạnh nào bạn muốn tiếp tục làm rõ.

Xin bạn trình bày chi tiết Bản đồ phân định các trạm radar trên đảo Woody

Do tính chất bảo mật quân sự, sơ đồ bố trí chính xác đến từng tọa độ mét của các trạm radar trên đảo Cây (Woody Island) không được công bố công khai. Tuy nhiên, dựa trên các báo cáo phân tích không ảnh từ các cơ quan nghiên cứu chiến lược quốc tế (như Dự án Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á - AMTI thuộc CSIS), cấu trúc sơ đồ bố trí các trạm radar và phân định chức năng của chúng trên đảo được định hình theo một cấu trúc địa lý quân sự rất rõ ràng.

Dưới đây là mô tả chi tiết Bản đồ phân định mặt bằng hạ tầng radar trên đảo Cây theo các phân khu chức năng:

                            [ KHU VỰC BỜ BẮC / ĐÔNG BẮC ]

                     Cụm Radome lớn (Vòm che bảo vệ radar quét mảng pha)

                                       |

                                       v

[ PHÍA TÂY] -------> [ ĐƯỜNG BĂNG QUÂN SỰ ] <------- [ KHU VỰC PHÍA ĐÔNG ]

Bãi đỗ và công sự cơ động       (Dài 2.700m - Radar dẫn đường)    Trạm Radar Hàng không Dân sự

khẩu đội tên lửa HQ-9                                            & Đài kiểm soát Không lưu

(Radar Type 305B / Hỏa lực)            |

                                       v

                            [ KHU VỰC BỜ BIỂN PHÍA NAM ]

                      Cụm Radar Giám sát Mặt biển & Trinh sát Tần số cao (HF)

Sơ đồ phân định 4 cụm radar cốt lõi trên đảo

1. Cụm Radar Trinh sát và Cảnh báo sớm tầm xa (Phía Bắc / Đông Bắc đảo)

  • Vị trí địa lý: Nằm tập trung ở rìa phía bắc của đường băng, sát bờ biển phía bắc của đảo. [1]
  • Đặc điểm nhận dạng (Không ảnh): Đây là khu vực mật độ cao các cấu trúc hình cầu trắng lớn (Radome - vòm che radar bảo vệ thiết bị trước thời tiết biển muối mặn). [1]
  • Chức năng phân định: Cụm này chứa các radar cảnh báo sớm ba tọa độ (3D) công suất lớn và radar mảng pha quét điện tử. Chúng quét liên tục không phận hướng ra phía Vịnh Bắc Bộ và khu vực phía bắc Biển Đông để phát hiện sớm các mục tiêu bay (máy bay, tên lửa hành trình) từ khoảng cách hàng trăm kilômét.

2. Cụm Radar Điều khiển Hỏa lực và Dẫn đường Tên lửa (Phía Tây / Tây Nam đảo)

  • Vị trí địa lý: Thường bố trí gần các khu nhà xưởng kiên cố có mái che lốc xoáy (bên cạnh khu vực nghĩa trang cũ và các công sự bờ biển phía Tây). [1]
  • Đặc điểm nhận dạng: Các vị trí này bao gồm các bãi phóng bê tông kiên cố được kết nối với các dãy nhà kho có bờ đê đất bọc xung quanh chống nổ áp lực. [1]
  • Chức năng phân định: Đây là nơi triển khai hệ thống radar điều khiển hỏa lực cơ động của tổ hợp tên lửa HQ-9/HQ-9B (bao gồm radar bám bắt mục tiêu Type 305B). Khác với các radar cảnh báo sớm cố định, cụm radar này chỉ kích hoạt và hướng luồng năng lượng sóng ngắn trực tiếp vào mục tiêu khi có lệnh chiến đấu nhằm dẫn đường chính xác cho tên lửa đánh chặn. [1]

3. Cụm Radar Giám sát Mặt biển và Hải quân (Phía Nam - Cận kề Cảng nước sâu)

  • Vị trí địa lý: Nằm ở dải ven biển phía nam, khu vực tiếp giáp giữa các tòa nhà hành chính tư lệnh và khu neo đậu của quân cảng.
  • Đặc điểm nhận dạng: Các tháp kết cấu khung thép cao chứa radar quét bề mặt, đi kèm các ăng-ten dạng cột đứng thu phát sóng.
  • Chức năng phân định: Phục vụ quét mặt biển, theo dõi và quản lý định vị luồng di chuyển của các tàu chiến, tàu tuần tra hàng hải xâm nhập hoặc ra vào cảng. Cụm này cũng tích hợp các trạm thu phát dữ liệu kiểm soát kỹ thuật số để đồng bộ thông tin với mạng lưới tàu ngầm và tàu hỏa lực của Hạm đội Nam Hải.

4. Cụm Radar Quản lý Không lưu và Dẫn đường Hàng không (Dọc trục Đường băng)

  • Vị trí địa lý: Nằm ở khoảng 1/3 chiều dài đường băng về phía Đông, gắn liền với đài kiểm soát không lưu trung tâm của sân bay.
  • Đặc điểm nhận dạng: Tháp không lưu tiêu chuẩn kèm theo các đĩa radar xoay khí tượng và radar tiếp cận đường băng (PAR).
  • Chức năng phân định: Dẫn đường, hỗ trợ hạ cánh và quản lý bay an toàn cho cả các máy bay quân sự (tiêm kích J-11, oanh tạc cơ H-6K) lẫn các chuyến bay dân sự lưỡng dụng. [1, 2]

Mối liên kết sơ đồ hóa vùng: Phú Lâm - Tri Tôn

Bản đồ radar tại đảo Cây không hoạt động độc lập mà đóng vai trò "Bộ não" (Trung tâm xử lý) trong một sơ đồ rộng hơn:

1.    Radar SIAR tại Đảo Tri Tôn (cách đảo Cây khoảng 120 km về phía Tây Nam) đóng vai trò quét diện rộng tần số VHF để phát hiện mục tiêu tàng hình.

2.    Tín hiệu này được số hóa rồi truyền theo trục kết nối vô tuyến về Cụm nhận dữ liệu trung tâm tại đảo Cây.

3.    Tại đảo Cây, sở chỉ huy sẽ lệnh cho các Cụm radar hỏa lực số 2 xoay góc quét về hướng mục tiêu để sẵn sàng khai hỏa, tạo ra mạng lưới A2/AD khép kín.

Nếu bạn muốn tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hạ tầng quân sự tại đây, tôi có thể cung cấp thêm:

  • Phân tích về kiến trúc kiên cố hóa chống bão của các trạm Radome trên đảo.
  • Sơ đồ so sánh quy mô hệ thống radar của Đảo Cây so với các "pháo đài nhân tạo" ở Trường Sa như Đá Chữ Thập hay Đá Xu Bi.
  • Cách thức hệ thống liên lạc vệ tinh (Satcom) trên đảo đồng bộ dữ liệu radar về căn cứ mẹ ở đảo Hải Nam. [1]

Vui lòng cho biết bạn muốn chọn nội dung nào.

Xin hướng dẩn sự nối kết của hệ thống A2AD giửa Woody, Triton, Subi, Fiery Cross cùng các đảo trong vùng Hoàng Sa và Trường Sa.

Mạng lưới Chống tiếp cận/Chống xâm nhập khu vực (A2/AD) của Tầu cộng tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam) không hoạt động như các pháo đài cô lập. Thay vào đó, chúng được liên kết chặt chẽ thành một hệ thống mạng lưới chiến thuật tích hợp (Integrated Tactical Network), tạo thành một "bức tường điện tử" cấu trúc hình chữ S trải dài toàn bộ Biển Đông.

Sự kết nối này được vận hành dựa trên kiến trúc phân tầng từ thu thập dữ liệu, xử lý chỉ huy, đến kích hoạt hỏa lực thông qua các phương thức cụ thể sau:

I. Kiến trúc kết nối Địa lý - Quân sự (Trục xương sống)

Hệ thống A2/AD này được chia thành hai cụm căn cứ chiến lược, kết nối với nhau và hướng về căn cứ tổng chỉ huy tại đảo Hải Nam (Bộ Tư lệnh Chiến khu Miền Nam):

                   [ ĐẢO HẢI NAM ] (Tổng chỉ huy / Hạm đội Nam Hải)

                         |

            +------------+------------+

            | (Trục Hoàng Sa)         | (Trục Trường Sa)

            v                         v

       [ ĐẢO CÂY ] <-------------> [ ĐÁ XU BI ]

      (Trung tâm chỉ huy Bắc)    (Trung tâm thông tin Nam)

            ^                         ^

            |                         | (Liên kết "Tam giác" Trường Sa)

            v                         v

      [ ĐẢO TRI TÔN ]            [ ĐÁ CHỮ THẬP ] <------> [ ĐÁ VÀNH KHĂN ]

(Vệ tinh trinh sát tàng hình) (Sân bay/Hỏa lực tầm xa)   (Cảng biển/Tên lửa hành trình)

1. Cụm kết nối Hoàng Sa (Đảo Cây - Đảo Tri Tôn)

  • Đảo Tri Tôn (Triton): Đóng vai trò là "Mắt quét tiền phương". Trạm radar SIAR bước sóng dài (VHF) tại đây liên tục quét không phận phía Tây và Tây Nam để phát hiện sớm các máy bay tàng hình.
  • Đảo Cây (Woody): Đóng vai trò là "Bộ não chỉ huy Bắc". Dữ liệu thô từ Tri Tôn lập tức truyền về Đảo Cây thông qua đường truyền vi ba (Microwave) và cáp quang ngầm dưới biển. Tại đây, trung tâm chỉ huy sẽ xử lý dữ liệu để dẫn đường cho hệ thống phòng không HQ-9 trên đảo hoặc chuyển tiếp thông tin về đất liền.

2. Cụm kết nối Trường Sa (Đá Chữ Thập - Đá Xu Bi - Đá Vành Khăn)

  • Ba thực thể này tạo thành "Tam giác sắt" khống chế toàn bộ khu vực phía nam Biển Đông.
  • Đá Xu Bi (Subi Reef): Nằm gần Hoàng Sa nhất, đóng vai trò là "Trạm chuyển tiếp thông tin liên vùng", kết nối mạng lưới Trường Sa với đảo Cây.
  • Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef): Đóng vai trò là "Trung tâm chỉ huy và hậu cần Nam" với trung tâm tình báo lớn, đường băng kiên cố và hệ thống radar phòng không/trinh sát dày đặc.
  • Đá Vành Khăn (Mischief Reef): Đóng vai trò là "Căn cứ hỏa lực và quân cảng", sở hữu cảng nước sâu khổng lồ để tiếp nhận các tàu khu trục mang tên lửa Aegis của Trung Quốc, phối hợp phòng thủ hỏa lực cho Đá Chữ Thập.

II. Các phương thức nối kết kỹ thuật (Hạ tầng truyền dẫn)

Để dòng chảy dữ liệu radar và mệnh lệnh chiến thuật không bị gián đoạn trước các biện pháp chế áp điện tử, hệ thống liên lạc giữa các đảo sử dụng cơ chế bảo mật đa tầng:

  • Cáp quang ngầm dưới biển (Undersea Fiber-Optic Cables): Đây là phương thức kết nối cốt lõi và có độ bảo mật cao nhất. Tầu cộng đã âm thầm đặt hệ thống cáp quang ngầm kết nối trực tiếp từ Căn cứ hải quân Tam Á (Hải Nam) đến Đảo Cây, rồi từ Đảo Cây nối dọc xuống Đá Xu Bi, Đá Chữ Thập và Đá Vành Khăn. Phương thức này truyền tải lượng dữ liệu khổng lồ (băng thông lớn) với độ trễ gần như bằng 0 và hoàn toàn miễn nhiễm với các thiết bị gây nhiễu sóng vô tuyến trên không.
  • Mạng lưới thông tin vệ tinh quân sự (Satcom): Các đài ăng-ten dạng vòm (Radome) Satcom trên tất cả các đảo (Woody, Triton, Subi, Fiery Cross) được kết nối trực tiếp với chòm sao vệ tinh quân sự Thiên Luyện (Tianlian)Bắc Đẩu (Beidou). Đây là kênh liên lạc dự phòng chiến lược khi cáp quang gặp sự cố, giúp đồng bộ hóa bức tranh chiến trường theo thời gian thực (Real-time Common Operational Picture) về thẳng Bắc Kinh.
  • Liên kết dữ liệu chiến thuật đường truyền thẳng (Line-of-Sight Data Links / Microwave): Giữa các đảo có khoảng cách gần (như Đảo Cây và Đảo Tri Tôn, hoặc giữa các thực thể trong Trường Sa), họ sử dụng các tháp truyền thông vi ba tầm thẳng hoặc sóng ngắn phân tán tầng đối lưu. Hệ thống này cho phép chia sẻ dữ liệu trực tiếp giữa các xe phóng tên lửa phòng không tầm xa và các đài radar độc lập trên các đảo xung quanh.

III. Kịch bản vận hành tác chiến liên kết (Data Fusion)

Khi xuất hiện một mục tiêu xâm nhập (ví dụ: một biên đội tàu sân bay hoặc máy bay ném bom nước ngoài), hệ thống A2/AD liên đảo sẽ vận hành theo chuỗi tự động:

1.    Phát hiện đồng thời (Multi-sensor Detection): Radar SIAR tại Tri Tôn phát hiện mục tiêu tàng hình từ xa, trong khi các radar trinh sát mặt biển tại Đá Chữ Thập và Đá Vành Khăn bắt được tín hiệu hạm đội từ phía Nam.

2.    Hợp nhất dữ liệu (Data Fusion): Toàn bộ tín hiệu từ các cảm biến riêng lẻ được truyền qua cáp ngầm về Trung tâm dữ liệu tại Đảo Cây và Căn cứ Hải Nam. Tại đây, siêu máy tính quân sự sẽ tự động loại bỏ nhiễu, gộp các vết radar lại thành một mục tiêu duy nhất trên bản đồ kỹ thuật số.

3.    Phân bổ hỏa lực thông minh (Weapons Assignment): Hệ thống chỉ huy sẽ tự động tính toán xem đảo nào có cự ly bắn tối ưu nhất. Ví dụ, nếu mục tiêu đi vào vùng trung tâm Biển Đông, lệnh khai hỏa có thể truyền từ Đảo Cây, nhưng bệ phóng tên lửa HQ-9B kích hoạt lại nằm ở Đá Xu Bi hoặc tên lửa hành trình diệt hạm YJ-12B sẽ phóng từ Đá Vành Khăn. Các đài radar ở các đảo khác sẽ làm nhiệm vụ "chiếu xạ" (dẫn đường phụ) cho tên lửa, giúp tối ưu hóa khả năng đánh trúng mục tiêu.

Nếu bạn muốn đi sâu hơn vào khía cạnh kỹ thuật hoặc thực tế, tôi có thể tiếp tục trình bày về:

  • Các tần số vô tuyến cụ thể và khả năng chống nhiễu điện tử (ECCM) của mạng lưới cáp quang/vi ba này.
  • Cách thức tàu chiến và máy bay tuần tra săn ngầm (như KQ-200) kết nối vào lưới A2/AD này khi tuần tra giữa Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Tuyên bố và phản ứng quân sự của các quốc gia trong khu vực (như Mỹ, Việt Nam, Philippines) nhằm tìm cách xuyên thủng chuỗi kết nối này.

Bạn muốn tìm hiểu thêm về nội dung nào?

Xin cho biết thêm về sự phối hợp giửa hệ thống Radar SATCOM cùng SIAR và A2AD trên toàn vùng biển Đông nối kết với hệ thống Radar trong vùng lục địa điều hành hệ thống DF’s.

Sự phối hợp giữa hệ thống Radar vệ tinh (SATCOM), Radar chống tàng hình (SIAR), và mạng lưới A2/AD trên Biển Đông với hệ thống radar lục địa tạo nên một chuỗi khép kín hoàn chỉnh, cung cấp dữ liệu định vị mục tiêu động theo thời gian thực cho các dòng tên lửa đạn đạo diệt tàu sân bay như DF-21DDF-26. [1, 2]

Quy trình phối hợp tác chiến điện tử và định vị hỏa lực tầm xa này vận hành qua ba giai đoạn cốt lõi:

Giai đoạn 1: Phát hiện diện rộng (Hợp nhất dữ liệu Không gian và Lục địa)

Do tàu sân bay di chuyển liên tục, các tên lửa đạn đạo tầm xa phóng từ nội địa (như từ Thanh Hải hay Chiết Giang) cần thông tin vị trí ban đầu cực kỳ chính xác. Việc quét tìm kiếm diện rộng được thực hiện bởi sự bổ trợ lẫn nhau giữa vũ trụ và đất liền: [1, 2]

  • Hệ thống vệ tinh (SATCOM & Trinh sát): Chòm sao vệ tinh kiểm soát bởi mạng lưới trạm thu phát SATCOM trên các đảo (Đảo Cây, Đá Chữ Thập) phối hợp với vệ tinh quang học, vệ tinh radar khẩu độ tổng hợp (SAR) và vệ tinh trinh sát điện tử (ELINT) quét toàn bộ mặt biển để xác định tọa độ tương đối của cụm tàu sân bay.
  • Hệ thống Radar bờ biển nội địa (OTH - Over-the-Horizon): Từ sâu trong lục địa Tầu cộng, các trạm Radar vượt đường chân trời (OTH) phóng luồng sóng vô tuyến khổng lồ lên tầng điện ly để phản xạ xuống mặt biển ở khoảng cách từ 1.000 đến 3.000 km. Hệ thống OTH liên tục bám vết các dải mục tiêu di động cỡ lớn mà không phụ thuộc vào độ cong của Trái Đất. [1]

Giai đoạn 2: Thu hẹp tọa độ & Định vị chính xác (Mạng lưới Đảo A2/AD và SIAR)

Khi OTH và vệ tinh phát hiện mục tiêu đi vào Biển Đông, thông tin lập tức truyền qua hệ thống cáp quang ngầm nối lục địa với các pháo đài tiền phương. Lúc này, lưới quét chiến thuật tại Hoàng Sa và Trường Sa chuyển sang chế độ định vị mục tiêu cấp độ hỏa lực:

  • Radar SIAR (như tại đảo Tri Tôn): Đảm nhiệm việc phát hiện các biên đội hộ tống, máy bay cảnh báo sớm (AWACS) hoặc tiêm kích tàng hình (F-35C) bảo vệ tàu sân bay. Sóng ngắn tần số thấp VHF của SIAR triệt tiêu khả năng tàng hình, khóa chặt đường bay của các hộ vệ không quân để ngăn chặn đối phương chế áp điện tử. [1]
  • Radar mảng pha trên các đảo (Woody, Subi, Fiery Cross): Tiếp nhận dữ liệu, chuyển sang quét góc hẹp để tính toán chính xác Véctơ vận tốc (tốc độ di chuyển, hướng di chuyển thực tế) của tàu sân bay. Dữ liệu này liên tục được cập nhật theo từng giây.

Giai đoạn 3: Truyền dữ liệu chiến thuật về Lực lượng Tên lửa (PLARF) điều hành hệ thống DF

Đây là giai đoạn quyết định, kết nối trực tiếp cảm biến ngoài biển với nút bấm phóng tên lửa trong nội địa:

[Mục tiêu di động trên biển]

       |

       v (Radar Biển Đông: SATCOM / SIAR / Cảm biến Đảo)

[Sở chỉ huy Hạm đội Nam Hải / Chiến khu Miền Nam]

       |

       v (Mạng lưới Cáp quang ngầm / Vệ tinh quân sự bảo mật)

[Sở chỉ huy Lực lượng Tên lửa Chiến lược (PLARF) - Lục địa]

       |

       v (Lệnh phóng và Nạp tọa độ ban đầu)

[Xe phóng cơ động Tên lửa DF-21D / DF-26]

       |

       v (Phóng tên lửa vào không gian)

[Liên kết dữ liệu pha giữa - Mid-course Update via SATCOM] ---> [Đầu đạn tự dẫn khóa mục tiêu cuối]

1.    Đồng bộ hóa bức tranh chiến trường (Common Operational Picture): Toàn bộ dữ liệu thu được từ vệ tinh, radar OTH lục địa, radar SIAR và cảm biến trên các đảo được đưa vào hệ thống Hợp nhất dữ liệu (Data Fusion) tại sở chỉ huy Chiến khu Miền Nam.

2.    "Mớm" tọa độ pha đầu: Tọa độ dự báo của tàu sân bay được nạp vào máy tính dẫn đường của các xe phóng tên lửa đạn đạo cơ động DF-21D hoặc DF-26 bố trí sâu trong lục địa. Tên lửa được khai hỏa vút lên tầng ngoại khí quyển. [1, 2]

3.    Cập nhật pha giữa (Mid-course Update qua SATCOM): Trong quá trình tên lửa bay ở pha giữa (mất khoảng vài phút), tàu sân bay dưới biển vẫn đang di chuyển và dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu. Lúc này, các đài SATCOM trên đảo Cây (Woody) hoặc các đảo ở Trường Sa liên tục gửi tín hiệu cập nhật vị trí mới nhất của tàu sân bay lên vệ tinh. Vệ tinh truyền luồng dữ liệu này xuống đầu đạn tên lửa đang bay, giúp tên lửa liên tục điều chỉnh quỹ đạo bám sát vùng di chuyển của tàu đích. [1, 2]

4.    Khai hỏa đầu dò pha cuối (Terminal Seeking): Khi đầu đạn xuyên thủng bầu khí quyển lao xuống với tốc độ cực cao (tốc độ siêu thanh Hypersonic), các radar chủ động băng tần ngắn (X-band) hoặc đầu dò hồng ngoại (IR) tích hợp ngay trên đầu đạn của DF-21D/DF-26 sẽ tự động kích hoạt. Nó quét mặt biển, tự nhận diện hình dáng tàu sân bay trong khu vực định vị và điều khiển các cánh lái cơ động bắn trúng trực tiếp mục tiêu. [1, 2, 3]

Tóm lại

Nếu không có hệ thống SATCOM làm nhiệm vụ kết nối chuyển tiếp thông tin và hệ thống SIAR/Radar đảo làm nhiệm vụ bám bắt mục tiêu kiên cố ngoài biển, các dòng tên lửa "Sát thủ tàu sân bay" DF của lục địa sẽ bị "mù" khi bắn các mục tiêu di động ở khoảng cách hàng ngàn kilômét. Sự phối hợp này biến toàn bộ Biển Đông thành một vùng bẫy hỏa lực được định vị tự động. [1, 2, 3]

Nếu bạn muốn làm rõ hơn về các mắt xích này, tôi có thể:

  • Phân tích sâu về khả năng tính toán của đầu dò radar pha cuối trên tên lửa DF khi lao xuống mục tiêu.
  • Giải thích cách thức hệ thống gây nhiễu và tác chiến điện tử của các tàu sân bay (như hệ thống Aegis) tìm cách cắt đứt mạch liên lạc kết nối này.
  • Tìm hiểu về vai trò của máy bay không người lái trinh sát tầm xa (UAV như WZ-7) trong việc bay tuần tra hỗ trợ chỉ thị mục tiêu cho hệ thống DF. [, 2]

Bạn muốn chọn nội dung nào tiếp theo?

Xin cho biết thêm về hệ thống phòng thủ UAV của Tầu cộng phối hợp với những hệ thống Radar đã kể trên trong toàn vùng.

Để đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn từ các loại máy bay không người lái (UAV) – từ UAV trinh sát chiến lược tầm cao (như MQ-4C Triton, MQ-9 Reaper) đến chiến thuật bầy đàn UAV tự sát (loại giá rẻ tích hợp AI) – Trung Quốc đã thiết lập một Hệ thống phòng thủ chống UAV (Counter-UAV / C-UAS) đa lớp tại các đảo nhân tạo ở Hoàng Sa và Trường Sa. [1, 2, 3]

Hệ thống này không hoạt động độc lập mà sử dụng chính dữ liệu từ mạng lưới radar cảnh báo sớm (SIAR, OTH) và liên kết vệ tinh (SATCOM) đã nêu để kích hoạt các biện pháp đánh chặn phù hợp theo từng cự ly. [1]

I. Phối hợp Radar phát hiện và Phân loại UAV (Tầng cảm biến)

Khó khăn lớn nhất của việc chống UAV là chúng có Diện tích phản xạ radar (RCS) cực nhỏ và thường bay rất thấp hoặc rất cao. Hệ thống radar toàn vùng phối hợp xử lý như sau:

  • Phát hiện tầm cao và tầm xa (Phối hợp OTH, SIAR và SATCOM): Các UAV chiến lược tầm cao của đối phương khi tiếp cận Biển Đông sẽ bị phát hiện sớm bởi Radar vượt đường chân trời (OTH) từ lục địa và các trạm Radar chống tàng hình SIAR (tại đảo Tri Tôn, Đá Xu Bi). Sóng VHF bước sóng dài của SIAR giúp bóc trần lớp vỏ tàng hình vật liệu composite của các UAV cỡ lớn. [1]
  • Phát hiện tầm thấp và "Bầy đàn UAV" (Radar mảng pha băng tần hẹp): Tại các pháo đài như Đảo Cây (Woody), Đá Chữ Thập, Trung Quốc bổ sung các cụm radar mảng pha quét nhanh dải tần cao (băng tần \(X\) và \(K\)). Các radar này có bộ lọc kỹ thuật số Doppler cực nhạy, giúp phân biệt giữa tín hiệu nhiễu của sóng biển, đàn chim bay với một bầy UAV tự sát đang lướt trên mặt nước. [1]

II. Các tầng phòng thủ và Đánh chặn phối hợp (Tác chiến C-UAS)

Sau khi hệ thống radar đồng bộ và chuyển giao tọa độ qua cáp quang ngầm hoặc vệ tinh, mạng lưới phòng thủ chống UAV tại Hoàng Sa và Trường Sa sẽ kích hoạt 3 lớp đánh chặn:

1. Lớp Tác chiến Điện tử (Soft-kill) – Phòng thủ từ xa

Đây là vũ khí ưu tiên hàng đầu để đối phó với UAV nhằm tiết kiệm đạn và vô hiệu hóa bầy đàn:

  • Áp chế định vị vệ tinh (GNSS Spoofing/Jamming): Các trạm tác chiến điện tử công suất lớn gắn trên các tháp thép tại Đảo Cây và Đá Chữ Thập sẽ phát sóng nhiễu để cắt đứt tín hiệu định vị GPS/GLONASS của UAV đối phương, khiến chúng mất phương hướng hoặc tự rơi.
  • Chế áp đường truyền dữ liệu (Data-link Jamming): Hệ thống SATCOM phối hợp định vị hướng sóng để các đài phát nhiễu vi ba chiếu thẳng vào UAV, bẻ gãy kênh liên lạc giữa UAV với trạm điều khiển trên đất liền hoặc tàu sân bay. Trung Quốc cũng phát triển công nghệ "bắt cóc" quyền điều khiển để ép UAV đối phương hạ cánh xuống đảo.

2. Lớp Hỏa lực Tên lửa Phòng không (Hard-kill tầm trung)

  • Đối với các UAV trinh sát tầm cao hoặc dòng UAV vũ trang lớn (như MQ-9), hệ thống radar điều khiển hỏa lực Type 305B trên Đảo Cây sẽ dẫn đường cho tên lửa HQ-9/HQ-9B khai hỏa bắn hạ ở tầm xa đến hơn 100 km. [1, 2]
  • Ở tầm gần hơn (đến 30 km), các bệ phóng tên lửa di động HQ-17A hoặc HQ-22 bố trí trong các công sự kiên cố trên đảo sẽ đảm nhiệm việc tiêu diệt các UAV lọt qua lưới phòng thủ tầm xa.

3. Lớp Phòng thủ Điểm cận chiến (Point-Defense) – Đối phó bầy đàn UAV [1]

Nếu đối phương sử dụng chiến thuật bầy đàn UAV tự sát giá rẻ phóng từ tàu ngầm hoặc tàu xuồng nhỏ để làm quá tải hệ thống tên lửa đắt đỏ, Trung Quốc sử dụng các tổ hợp hỏa lực tốc độ cao đặt tại các cấu trúc hình lục giác quanh bờ biển các đảo: [1, 2]

Tổ hợp vũ khí

Cơ chế phối hợp Radar & Đánh chặn

Chức năng chống UAV

Pháo cao tốc Type 1130 (11 nòng, 30mm)

Tích hợp radar theo dõi băng tần \(K\) riêng biệt trên đỉnh tháp pháo, kết hợp camera hồng ngoại.

Bắn ra màn đạn bão lửa 11.000 phát/phút, tạo lưới lửa cắt nhỏ các bầy UAV tự sát ở cự ly dưới 3 km.

Hệ thống phòng thủ LD-2000 / HQ-10

Radar tìm kiếm mục tiêu tầm gần truyền dữ lửa khóa mục tiêu sang tên lửa tầm ngắn.

Bắn các tên lửa dẫn đường hồng ngoại cỡ nhỏ chuyên trị UAV bay bám mặt biển.

Vũ khí Năng lượng định hướng (Laser/Microwave)

Được thử nghiệm lắp đặt gần các trạm SATCOM để tận dụng nguồn năng lượng điện lớn của đảo.

Phát chùm tia laser hoặc xung vi ba công suất cao thiêu rụi mạch điện tử của UAV trong tích tắc (vô hiệu hóa tức thì nhiều mục tiêu cùng lúc).

III. Sơ đồ chuỗi phản ứng chống UAV toàn vùng

Khi có cảnh báo UAV xâm nhập, quy trình kết nối tự động diễn ra như sau:

[Radar OTH lục địa / Radar SIAR Tri Tôn] phát hiện UAV tầm xa

                       |

                       v (Truyền qua cáp ngầm/Vệ tinh SATCOM)

[Sở chỉ huy Đảo Cây (Woody) / Đá Chữ Thập] tính toán kịch bản đánh chặn

                       |

                       +---> [UAV lớn/Tầm cao]: Lệnh radar hỏa lực dẫn đường cho tên lửa HQ-9 đánh chặn tầm xa.

                       |

                       +---> [Bầy đàn UAV nhỏ]: Kích hoạt đài chế áp điện tử làm nhiễu tín hiệu điều khiển.

                       |

                       +---> [Lọt lưới tầm gần]: Hệ thống tự động chuyển mục tiêu cho Pháo Type 1130 quét sạch bằng màn đạn cơ học.

Nhờ việc tích hợp hệ thống phòng thủ chống UAV vào mạng lưới radar diện rộng này, Tầu cộng cố gắng biến các đảo nhân tạo thành các thực thể "bất khả xâm phạm" trước các cuộc tấn công phi đối xứng bằng thiết bị không người lái. [1]

Để hiểu sâu hơn về cục diện tác chiến không người lái tại vùng biển này, bạn có thể chọn tìm hiểu thêm:

  • Hệ thống UAV trinh sát của chính Trung Quốc (như BZK-005 hoặc WZ-7) phối hợp cất cánh từ Đảo Cây để trinh sát ngược lại đối phương như thế nào. [1, 2]
  • Các lỗ hổng công nghệ của pháo Type 1130 hoặc hệ thống nhiễu điện tử khi đối mặt với bầy đàn UAV tích hợp AI tự trị hoàn toàn (không cần sóng điều khiển). [1]

Vui lòng cho biết khía cạnh bạn quan tâm tiếp theo.

Xin cho biết những đảo nào được trang bị Hệ thống UAV trinh sát như BZK-005 hoặc WZ-7.

Các dòng UAV trinh sát chiến lược và chiến thuật tầm xa của Tầu cộng như BZK-005 (MALE - Tầm cao trung bình, độ bền dài)WZ-7 Soaring Dragon (HALE - Tầm cao lớn, độ bền dài) được bố trí luân phiên và cắm chốt tại các căn cứ đảo sở hữu đường băng quân sự dài từ 2.700m đến 3.000m. [1, 2]

Bản đồ phân bổ các đảo được trang bị hoặc thường xuyên tiếp nhận hai dòng UAV này trên Biển Đông gồm các tọa độ cốt lõi sau:

1. Tại Quần đảo Hoàng Sa (Thuộc chủ quyền Việt Nam)

  • Đảo Cây (Woody Island / Phú Lâm): Đây là căn cứ tiền phương đầu tiên và quan trọng nhất tại Biển Đông được trang bị UAV trinh sát.
    • Ảnh vệ tinh quốc tế đã ghi nhận sự xuất hiện của dòng UAV BZK-005 nằm tại các hangar lớn bên cạnh đường băng của đảo.
    • Đảo Cây đóng vai trò là trạm tiếp nhiên liệu và điều hành chiến thuật cho cả WZ-7 khi dòng UAV này bay tuần tra từ đất liền xuống khu vực trung tâm Biển Đông. [1, 2, 3, 4]

2. Tại Quần đảo Trường Sa (Thuộc chủ quyền Việt Nam)

Các "pháo đài nhân tạo" thuộc Tam giác sắt Trường Sa sở hữu đường băng tiêu chuẩn 3.000m, nhà hangar kiên cố và các trạm kết nối vệ tinh SATCOM, rất tối ưu để vận hành trạm mặt đất cho BZK-005 và WZ-7: [1, 2]

  • Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef): Là trung tâm hậu cần lớn nhất Trường Sa. Đây là nơi đặt các trạm điều khiển mặt đất kiên cố cho UAV quân sự, đóng vai trò căn cứ chuyển tiếp thu nhận tín hiệu trinh sát điện tử (ELINT) từ WZ-7 để đẩy ngược dữ liệu về đất liền. [1, 2]
  • Đá Xu Bi (Subi Reef): Sở hữu đường băng 3.000m, là điểm cất/hạ cánh luân phiên lý tưởng cho dòng UAV BZK-005 khi thực hiện các nhiệm vụ tuần tra quỹ đạo hình vòng tròn khép kín quanh khu vực phía nam Biển Đông. [1, 2]
  • Đá Vành Khăn (Mischief Reef): Thường xuyên phối hợp tiếp nhận dữ liệu định vị mục tiêu từ UAV. Từ đây, bán kính quét của BZK-005 và WZ-7 có thể bao phủ hoàn toàn các rãnh sâu hàng hải hướng về phía Philippines. [1, 2, 3]

3. Căn cứ "Mẹ" hỗ trợ kết nối: Đảo Hải Nam

Dù không nằm trong vùng tranh chấp Hoàng Sa/Trường Sa, Đảo Hải Nam (Căn cứ không quân Lingshui - Lăng Thủy) là nơi đồn trú cố định của các Trung đoàn UAV đặc biệt thuộc Không quân và Hải quân Tầu cộng. [1, 2]

  • Các UAV WZ-7BZK-005 thường cất cánh từ Hải Nam, bay dọc xuống Hoàng Sa (Đảo Cây), quét qua Trường Sa (Đá Chữ Thập) rồi quay trở về. Hệ thống hangar và hạ tầng kết nối tại các đảo cho phép các UAV này hạ cánh khẩn cấp hoặc nạp nhiên liệu để kéo dài thời gian bay trên biển lên tới hơn 40 giờ liên tục. [1, 2, 3, 4]

Vai trò phân nhiệm của từng loại trên các đảo:

  • BZK-005 (Tập trung tại Đảo Cây và radar đảo Trường Sa): Chuyên quét tầm trung bình, chụp ảnh quang học/hồng ngoại (EO/IR) độ nét cao và quét radar khẩu độ tổng hợp (SAR) để kiểm đếm, theo dõi chi tiết hoạt động di chuyển của tàu cá, tàu tuần duyên và tàu chiến các nước. [1]
  • WZ-7 Soaring Dragon (Tập trung bay tầm cao toàn vùng): Do có trần bay cực cao (lên tới gần 18.000m), WZ-7 thường bay tầm cao phía trên lưới phòng không của các đảo để làm nhiệm vụ Trinh sát điện tử (ELINT), đánh chặn tín hiệu vô tuyến của đối phương và trực tiếp truyền tọa độ mục tiêu di động về đất liền để dẫn đường cho hệ thống tên lửa DF-21D/DF-26. [1, 2, 3, 4]

Nếu bạn muốn tiếp tục tìm hiểu sâu hơn, tôi có thể cung cấp thêm thông tin về:

  • Cách thức trạm điều khiển mặt đất (GCS) tại Đảo Cây điều khiển UAV thông qua kết nối vệ tinh khi chúng bay xa khỏi tầm nhìn thẳng.
  • Chi tiết về các phiên bản cải tiến mới nhất của BZK-005 chuyên làm nhiệm vụ tác chiến điện tử (EW) xuất hiện tại vùng biển này. [1, 2]

Bạn muốn chọn nội dung nào tiếp theo?

Xin cho biết có loại UAV nào của Tầu cộng được xếp vào hạng supersonic.

Trung Quốc sở hữu một số loại máy bay không người lái (UAV) được xếp vào phân khúc siêu thanh (Supersonic - từ Mach 1 đến dưới Mach 5) và thậm chí tiệm cận ngưỡng cực siêu thanh (Hypersonic - từ Mach 5 trở lên). Khác với các dòng UAV cánh quạt chạy bằng xăng/dầu truyền thống (MALE) bay chậm, các UAV siêu thanh này chủ yếu sử dụng động cơ phản lực dòng thẳng (Ramjet) hoặc động cơ tên lửa nhằm đạt tốc độ cực cao để xuyên thủng lưới phòng không đối phương. [1, 2, 3]

Dưới đây là các loại UAV siêu thanh nổi bật nhất của quân đội Trung Quốc (PLA):

1. WZ-8 (Vô Trinh-8) – "Báo đen" trinh sát chiến lược siêu thanh (Mach 3 - Mach 4+)

Đây là dòng UAV siêu thanh tiên tiến nhất đã được đưa vào biên chế chính thức của Không quân Trung Quốc (PLAAF). [1, 2]

  • Cơ chế vận hành độc đáo: WZ-8 không tự cất cánh từ đường băng. Nó được treo dưới bụng của máy bay ném bom chiến lược Xi'an H-6M/H-6MW. Khi máy bay mẹ đạt đến độ cao và tốc độ chỉ định, WZ-8 sẽ được thả ra và kích hoạt hai động cơ tên lửa nhiên liệu lỏng YF-50 để bứt tốc. [1, 2, 3, 4]
  • Thông số vận hành: Tốc độ hành trình đạt từ Mach 3 đến Mach 4,5 (gấp 3 đến 4,5 lần tốc độ âm thanh). Trần bay đạt tới 30.000 – 40.000 mét (tầng cận không gian - Near space). [1, 2, 3]
  • Vai trò trong lưới A2/AD: WZ-8 sử dụng radar khẩu độ tổng hợp (SAR) và cảm biến quang học để bay trinh sát chụp ảnh độ phân giải cao toàn vùng Biển Đông, Đài Loan, Nhật Bản. Tốc độ siêu thanh giúp nó miễn nhiễm với phần lớn các loại tên lửa phòng không tầm xa thông thường (như Patriot hay THAAD). Dữ liệu mục tiêu từ WZ-8 được truyền về để chỉ thị mục tiêu cuối cho các tên lửa đạn đạo diệt tàu sân bay dòng DF (DF-21D, DF-26). [1, 2, 3, 4, 5]

2. MD-22 – UAV thử nghiệm cực siêu thanh (Hypersonic)

Được giới thiệu lần đầu dưới dạng mô hình quy mô lớn tại Triển lãm Hàng không Chu Hải, MD-22 là một bước nhảy vọt từ siêu thanh lên cực siêu thanh.

  • Động cơ: Sử dụng động cơ phản lực chu trình kết hợp (RBCC) hoặc động cơ dòng thẳng (Ramjet/Scramjet).
  • Thông số mục tiêu: Thiết kế cho phép đạt tốc độ tối đa lên tới Mach 7 (gấp 7 lần tốc độ âm thanh) với tầm bay khoảng 8.000 km.
  • Vai trò: MD-22 đóng vai trò là phương tiện thử nghiệm công nghệ cho các dòng UAV ném bom tầm xa trong tương lai, có khả năng phóng từ đất liền và bay xuyên qua các lưới phòng thủ dày đặc nhất thế giới.

3. Cụm UAV tàng hình phản lực tốc độ cao (Cận siêu thanh / Siêu thanh tầm ngắn)

Bên cạnh các dòng thuần siêu thanh, Trung Quốc phát triển các hệ thống UAV chiến đấu (UCAV) dùng động cơ phản lực tản nhiệt có tốc độ cận siêu thanh (High-subsonic) đến siêu thanh biên giới:

  • Dark Sword (An Kiếm - Thần Điêu): Dù phần lớn thông tin vẫn nằm trong vòng bảo mật, mô hình và các tài liệu rò rỉ của Tập đoàn AVIC cho thấy Dark Sword được định hình là một UAV tiêm kích siêu thanh sở hữu thiết kế cánh tam giác sâu và cửa hút khí lớn, chuyên làm nhiệm vụ hộ tống hoặc không chiến phối hợp với tiêm kích có người lái J-20.
  • FH-97A (Phi Hồng 97A): Dòng UAV trung thành (Loyal Wingman) sử dụng động cơ phản lực. Tuy tốc độ tối đa của nó chủ yếu ở ngưỡng cận siêu thanh cao (Mach 0.85 - 0.92) để đi kèm tiêm kích, cấu trúc khung thân của nó được tối ưu hóa hoàn toàn cho việc bám đuổi các mục tiêu cơ động cao. [1]

Mối liên hệ với lưới radar đảo tại Biển Đông:

Do thời gian bay của UAV tên lửa siêu thanh như WZ-8 khá ngắn (chỉ từ 1–2 giờ do động cơ tên lửa đốt nhiên liệu rất nhanh), sự phối hợp với các đảo là cực kỳ nghiêm ngặt: [1, 2]

1.    Radar bờ biển và vệ tinh SATCOM phát hiện tọa độ thô của tàu chiến đối phương.

2.    Máy bay mẹ H-6 mang WZ-8 cất cánh. Hệ thống radar trên Đảo Cây (Woody) hoặc Đá Chữ Thập làm nhiệm vụ dẫn đường pha đầu cho máy bay mẹ tiếp cận vị trí thả.

3.    Sau khi WZ-8 được thả và quét siêu thanh qua khu vực, dữ liệu độ nét cao về tọa độ tàu sân bay được truyền thẳng về Trạm SATCOM trên các đảo để xử lý, trước khi kích hoạt loạt đạn tên lửa DF từ lục địa bắn ra. [1, 2]

Nếu bạn quan tâm, tôi có thể cung cấp thêm chi tiết về:

  • Sự khác biệt về mặt kỹ thuật giữa động cơ tên lửa của WZ-8động cơ phản lực Ramjet của các dòng UAV siêu thanh khác.
  • Kịch bản tác chiến khi UAV siêu thanh phối hợp cùng tên lửa hành trình siêu thanh phóng từ tàu khu trục Type 055 trên Biển Đông. [1, 2]

Hãy cho biết hướng đi tiếp theo của bạn.

Xin cho biết sự phối hợp giửa các tàu trong lực lượng hải quân của Tầu cộng phối hợp với các loại UAV.

Sự phối hợp giữa các tàu chiến của Hải quân Trung Quốc (PLAN) và các loại máy bay không người lái (UAV) tạo thành một hệ thống tác chiến mạng lưới hiện đại, biến tàu chiến từ những bệ phóng hỏa lực thuần túy thành các trung tâm điều phối thông tin chiến thuật trên biển.

Sự phối hợp này được phân chia cụ thể theo từng loại tàu và các kịch bản tác chiến sau:

I. Phân nhiệm phối hợp theo từng dòng tàu chiến

1. Tàu sân bay (Type 002 Shandong, Type 003 Fujian)

  • Vũ khí phối hợp: Trở thành căn cứ cất/hạ cánh cho các dòng UAV tàng hình phản lực cỡ lớn như GJ-11 Sharp Sword (Lợi Kiếm) hoặc UAV cánh bằng trinh sát.
  • Cơ chế hoạt động: Trên tàu sân bay Type 003 Fujian (trang bị hệ thống phóng từ trường EMALS), các UAV trinh sát tàng hình được phóng lên trước để làm nhiệm vụ mở đường. Chúng bay song song cùng tiêm kích có người lái J-15T hoặc J-35, đóng vai trò là "mắt thần" chỉ thị mục tiêu tầm xa, giúp tàu sân bay tung đòn đánh chặn từ ngoài tầm trả đũa của đối phương.

2. Tàu đổ bộ tấn công trực thăng (Type 075)

  • Vũ khí phối hợp: Vận hành các dòng UAV trực thăng (VTOL UAV) như AR-500B hoặc Camilux.
  • Cơ chế hoạt động: Boong tàu rộng rãi của Type 075 cho phép triển khai hàng loạt UAV trực thăng cùng lúc. Khi tiến hành chiến dịch đổ bộ hoặc tuần tra, cụm UAV trực thăng này sẽ bay thấp trước mũi đội hình để quét mìn biển, phát hiện các tàu xuồng tự sát, hoặc bắn chỉ thị laser cho pháo hạm từ tàu đổ bộ nã vào bờ biển.

3. Tàu khu trục vạn tấn (Type 055) và Tàu hộ vệ (Type 052D, Type 054A)

  • Vũ khí phối hợp: Sử dụng các UAV trinh sát cất cánh thẳng đứng cỡ nhỏ và trung bình (bố trí ngay tại sàn đáp trực thăng phía đuôi tàu).
  • Cơ chế hoạt động: Hệ thống chiến đấu tích hợp trên tàu Type 055 có thể điều khiển trực tiếp các UAV này. Thay vì phải bật radar chủ động của tàu (vốn dễ làm lộ vị trí tàu trước tên lửa diệt hạm đối phương), tàu chiến sẽ giữ im lặng vô tuyến (EMCON) và thả UAV ra xa. UAV sẽ bật radar và cảm biến quang học để đi tìm mục tiêu, sau đó truyền dữ liệu về tàu qua đường truyền bảo mật.

II. 3 Kịch bản phối hợp tác chiến cốt lõi

1. Mở rộng đường chân trời radar và Chỉ thị mục tiêu tầm xa (Over-the-Horizon Targeting)

  • Thách thức: Radar trên tàu chiến bị giới hạn bởi độ cong của Trái Đất, chỉ có thể nhìn thấy mục tiêu mặt nước ở khoảng cách tối đa 40–50 km.
  • Giải pháp phối hợp: Tàu khu trục Type 055 phóng UAV bay lên độ cao vài ngàn mét. UAV đóng vai trò như một tháp radar di động trên không, kéo dài tầm nhìn của tàu lên tới 200–300 km. Khi phát hiện tàu chiến đối phương, UAV gửi tọa độ chính xác về tàu. Tàu chiến lập tức phóng tên lửa hành trình siêu thanh YJ-18 hoặc tên lửa siêu vượt âm YJ-21 từ các giếng phóng thẳng đứng (VLS) để tiêu diệt mục tiêu ở khoảng cách hàng trăm kilômét mà không cần nhìn thấy trực tiếp.

2. Phối hợp Dẫn đường Pha cuối cho Tên lửa chống hạm

  • Trong các đòn tấn công bão hòa bằng tên lửa hành trình đối hạm phóng từ biên đội tàu khu trục, UAV (đặc biệt là các loại bay chậm có độ bền cao như BZK-005) sẽ bay lảng vảng gần khu vực hạm đội đối phương.
  • Khi tên lửa của Trung Quốc lao đến, hệ thống tác chiến điện tử của đối phương sẽ tìm cách đánh lạc hướng tên lửa. Lúc này, UAV từ trên cao sẽ liên tục chiếu tia laser hoặc cập nhật tọa độ động của tàu đối phương vào đầu dò của tên lửa đang bay qua liên kết dữ liệu (Data Link), đảm bảo tên lửa đánh trúng đích.

3. Chống ngầm và Phòng thủ tầm gần (ASW & Point-Defense)

  • Săn ngầm phối hợp: Các tàu hộ vệ Type 054A phối hợp với UAV trực thăng mang theo phao âm (sonobuoy) kỹ thuật số. UAV sẽ thả phao âm xuống các vùng biển nghi vấn để dò tìm tần số sóng âm của tàu ngầm đối phương, sau đó truyền tín hiệu về trung tâm chống ngầm trên tàu mẹ để tàu thả ngư lôi hoặc phóng tên lửa săn ngầm.
  • Lưới quét UAV tự sát: PLAN cũng thử nghiệm các container chứa bầy đàn UAV tự sát cỡ nhỏ đặt trên boong tàu. Khi phát hiện các xuồng tự sát không người lái (USV) của đối phương áp sát, tàu chiến sẽ phóng hàng loạt UAV tự sát này để lao thẳng vào tiêu diệt mục tiêu từ xa, bảo vệ an toàn cho tàu mẹ.

III. Liên kết mạng lưới đa tầng với Hệ thống Radar đảo

Sự phối hợp giữa tàu chiến và UAV không khép kín trong biên đội hải quân, mà gắn chặt với hệ thống radar A2/AD ở Hoàng Sa và Trường Sa:

[Trạm Radar bờ biển / Radar SIAR trên Đảo] phát hiện hướng di chuyển của mục tiêu

                        |

                        v (Truyền dữ liệu qua Vệ tinh SATCOM)

[Tàu khu trục Type 055 / Biên đội Hải quân trên biển] nhận cảnh báo sớm

                        |

                        v (Tàu mẹ phóng UAV trinh sát dặm xa để tiếp cận)

[UAV hải quân] khóa chặt mục tiêu thô ---> [Tàu chiến] khai hỏa tên lửa diệt hạm YJ-21 tầm xa.

Sự kết hợp này tạo ra một vòng lặp chiến thuật: Radar đảo phát hiện diện rộng -> Tàu hải quân cơ động đánh chặn -> UAV hải quân định vị chi tiết -> Tên lửa tàu chiến tiêu diệt.

Nếu bạn muốn tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về mạng lưới phối hợp này, tôi có thể trình bày thêm về:

  • Cách thức hệ thống liên kết dữ liệu (Data Link) dải tần hẹp của Trung Quốc bảo vệ tín hiệu giữa tàu chiến và UAV không bị đối phương gây nhiễu.
  • Chi tiết về dòng UAV trực thăng săn ngầm AR-500B được trang bị trên các tàu hộ vệ hiện nay.

Bạn muốn chọn nội dung nào tiếp theo?

Hôm nay tôi đã học được những điều quý giá từ kiến thức của bạn, tôi xin dừng lại đây vì phải làm một số việc khác. Sẽ nhờ bạn giúp đở trong tương lai về những vấn đề phức tạp như thế nầy. Cám ơn bạn rất nhiều, chúc bạn có một ngày bân rộn đầy kỳ thú. Hẹn gặp lại bạn trong tương lai gần.  

Rất cảm ơn những lời chúc tốt đẹp và sự đồng hành của bạn trong buổi trao đổi hôm nay! Thật vui khi những thông tin này mang lại giá trị cho bạn.

Tôi luôn sẵn sàng ở đây để cùng bạn phân tích và bóc tách những chủ đề phức tạp, chuyên sâu như mạng lưới quân sự, công nghệ radar hay tác chiến điện tử bất cứ khi nào bạn quay lại.

Chúc bạn giải quyết công việc còn lại trong ngày thật hiệu quả và suôn sẻ. Hẹn gặp lại bạn trong tương lai gần! Chào tạm biệt bạn.

16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?

https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc

Điều chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974

SGN tổng hợp – 21 tháng 1, 2025

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg

Đây là một phần tư liệu bị khuất, sau 1975 góp phần làm rõ bộ mặt của Hà Nội, được chính Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng CSVN Lê Quang Hòa, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại. Bài viết được tổng hợp bởi Facebook Xuan Hao Tran tổng hợp, dựa theo lời kể lại trên blog Bọ Lập, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Chuyện ít người biết, kể ra đây cho mọi người cùng biết vì đây là 1 phần lịch sử của dân tộc. Đây là sự kiện tại trại Davis trong phi trường Tân Sơn Nhất ngày 21 Tháng Một 1974.

Ngày 19 Tháng Một 1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Tầu cộng đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.

Nghị trình của phía Công sản Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vi phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.

Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An Lộc…v.v.. Phái đoàn cs không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai hôm trước.

Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình. Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:

1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của Việt Nam.

2) Yêu cầu phía quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) không tấn công phá rối các phi trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.

Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn cộng sản Bắc Việt và các quan chức MTGPMN vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì. Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.

Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH được Uỷ ban giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) của VNCH.

Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn Cộng sản Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.

Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực bộ chính trị đã trả lời “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Tầu cộng, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH, người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:

“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Tầu cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH gửi công hàm lên án Tầu cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Tầu cộng)”

Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái đoàn cộng sản. Họ lại tảng lờ…

Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông chỉ thẳng mặt tên tướng cộng sản Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng lờ, là tiếp tay cho Tầu cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.

Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát.

Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.

https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/

Woody Island (Yongxing Island) in the Paracel archipelago serves as a critical frontline hub for China’s Anti-Access/Area-Denial (A2/AD) strategy in the South China Sea. Beijing has heavily militarized the island to project air, missile, and surveillance control well beyond its shores. [1, 2, 3]

Core A2/AD Radar and Surveillance Capabilities

  • Target Acquisition: The island frequently hosts advanced ground-based radar networks, including the mobile Type 305A and Type 305B AESA (Active Electronically Scanned Array) target acquisition and engagement radars. These systems detect and track incoming aircraft, cruise missiles, and naval targets. [1, 2, 3, 4]
  • Over-the-Horizon (OTH) Tracking: Woody Island’s radar footprint extends surveillance coverage hundreds of miles out, acting as a crucial targeting asset for China's broader Indo-Pacific defense umbrella. [1, 2, 3]
  • Aerial Early Warning: The island’s 2,700-meter airstrip supports regular deployments of KJ-500 airborne early warning and control (AEW&C) aircraft, which compensate for radar blind spots caused by the Earth's curvature. [1, 2, 3, 4]

Integrated A2/AD Weapons Systems

The radars on Woody Island directly feed targeting data to its deployed offensive and defensive arsenals: [1, 2]

  • Surface-to-Air Missiles (SAMs): The island is routinely equipped with HQ-9 long-range surface-to-air missile batteries (and successor systems) designed to establish a "no-fly" bubble for hostile aircraft. [1, 2, 3, 4]
  • Anti-Ship Missiles: Mobile batteries such as the YJ-62 and YJ-12B anti-ship cruise missiles have been identified in the region, threatening adversary naval assets within the "nine-dash line". [1, 2, 3]
  • Air Power: The upgraded airbase facilitates rotations of J-11 fighter jets and H-6K strategic bombers, allowing the PLA to swiftly intercept or strike targets spanning from the Vietnamese coast to the broader South China Sea. [1, 2, 3, 4, 5]

If you want to understand how this fits into the broader picture, I can:

  • Detail how radar deployments compare on other Chinese outposts (e.g., Mischief or Fiery Cross reefs).
  • Explain the broader strategic implications for a South China Sea Air Defense Identification Zone (ADIZ). [1, 2]

Let me know which of these you would like to explore.

China appears determined to assert itself throughout the Asia Pacific region on Woody Islands

https://www.fpri.org/article/2016/11/implications-emerging-chinese-surveillance-strike-complexes/

Deterring China: Military Modernization, A2AD, and the Indo‑Pacific Balance

https://www.youtube.com/watch?v=z_o01UNMxtU&t=605s

Is China installing a high-tech radar system in the South China Sea?

https://www.csmonitor.com/World/Global-News/2016/0223/Is-China-installing-a-high-tech-radar-system-in-the-South-China-Sea

Has China Withdrawn A Long-Range Missile Battery From Woody Island?

https://thediplomat.com/2016/07/has-china-withdrawn-a-long-range-missile-battery-from-woody-island/

This Map Explains How Chinese Bombers And Missiles Control The South China Sea

https://www.forbes.com/sites/michaelpeck/2020/08/20/this-map-shows-how-chinese-bombers-and-missiles-control-the-south-china-sea/

A Glimpse Into China's Military Presence in the South China Sea

https://worldview.stratfor.com/article/glimpse-chinas-military-presence-south-china-sea

China 'has deployed missiles in South China Sea' – Taiwan

https://www.bbc.com/news/world-asia-china-35592988

Missiles and planes make China’s South China Sea Island bases an effective update of the Maginot Line

https://www.nextbigfuture.com/2018/04/missiles-and-planes-make-chinas-south-china-sea-island-bases-an-effective-update-of-the-maginot-line.html

China Is Building A Runway On Its Closest Island Outpost To Vietnam

https://www.twz.com/runway-being-built-on-chinas-closest-island-outpost-to-vietnam

Militarization of the South China Sea

https://friarmusings.com/2026/06/03/militarization-of-the-south-china-sea/

These are the surface-to-air missiles China just apparently deployed into the South China Sea

https://www.nzherald.co.nz/world/these-are-the-surface-to-air-missiles-china-just-apparently-deployed-into-the-south-china-sea/7AQ7NKBORYOMPSXWM2YTH66AGM/

China’s Stealthy Area Denial

https://www.asianmilitaryreview.com/2023/03/chinas-stealthy-area-denial/

China Expands Presence With Fighters on Woody Island

https://www.defensenews.com/air/2015/11/08/china-expands-presence-with-fighters-on-woody-island/

https://amti.csis.org/woody-island/

https://amti.csis.org/paracels-beijings-other-buildup/

https://medium.com/satellite-image-analysis/china-is-building-on-the-paracel-islands-in-the-south-china-sea-7dafcc7770f9

https://stories.opensourcecentre.org/coral-to-concrete/

https://www.rand.org/content/dam/rand/pubs/research_reports/RR1800/RR1820/RAND_RR1820.pdf

https://www.gettyimages.com/photos/paracel-islands

https://www.gettyimages.com/photos/paracel-islands?page=2

https://www.gettyimages.com/photos/paracel-islands?page=3