20260814 CDTL Nghị Quyết 23 Của Bộ Chính Trị Cộng Sản
Giặc Hồ.
20260630
Bố cáo
Cờ
Vàng Ba Sọc Đỏ l THE FLAG REMAINS — Yellow Flag, Three Red Stripes@{Official
Vietlondon-Lyric}
https://www.youtube.com/watch?v=LwG6JqvqRA8
https://www.youtube.com/watch?v=GGpJxwTzapc
20190910
Petition of the citizens of the Republic of Vietnam
https://bachvietnhan.blogspot.com/2019/09/20190910-petition-of-citizens-of.html
20241110 CDTL Tuyên Cáo Lãnh Thổ Lãnh Hải VN
https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/11/20241110-cdtl-tuyen-cao-lanh-tho-lanh.html
20241214 CDTL South Vietnam Not Bound by Geneva Accords 1954
https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241214-cdtl-south-vietnam-not-bound.html
20120414 Hải Chiến Hoàng Sa
https://bachvietnhan.blogspot.com/2012/04/
20200704 BẢN TIN SỐ 4
BẢN TIN SỐ 4 của Văn phòng cựu Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn
về việc đệ nạp hồ sơ Thềm Lục Địa 18/05/2009
https://bachvietnhan.blogspot.com/2020/07/20200704-ban-tin-so-4.html
Điều
chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 (Xem tài liệu ở cuối bài)
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg
Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands (Xem tài liệu ở cuối bài)
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG
SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?
https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc
20260614 Hải Chiến Hoàng Sa. The Paracel Islands
Incident
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf
20260614 When China defeated South Vietnam and took
control of the Paracel Islands. The US did not lend help to the South
Vietnamese
https://theaviationgeekclub.com/when-china-defeated-south-vietnam-and-took-control-of-the-paracel-islands-the-us-did-not-lend-help-to-the-south-vietnamese/
20260616 CĐTL Lá Thư Cảm Tạ Quốc Gia
Poland.
https://bachvietnhan.blogspot.com/2026/06/20260616-ctl-la-thu-cam-ta-quoc-gia.html
….
#1874: Nghị Quyết 23 Vừa Được Hà Nội Ký,
Tung Ra Hải Ngoại | 13.08.26
https://www.youtube.com/watch?v=7NhcO_fBso4
AI Google
Translated
Thân chào bạn. Hôm nay chúng
ta cùng thảo luận vấn đề Nghị Quyết 23 của cộng sản giặc Hồ đưa ra để áp đặt
lên các cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản giặc Hồ ở hải ngoại. Bạn có biết
gì về Nghị Quyết nầy chưa? Hay bạn có văn bản chính thức nào từ Việt-Nam xin
cho biết văn bản chính thức, cám ơn bạn.
Xin chào bạn. Tôi
hiểu góc nhìn và tâm tư của bạn khi nhìn nhận các chính sách này dưới lăng kính
lịch sử và bối cảnh của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Với tư cách
là một AI, tôi ghi nhận ý kiến của bạn một cách trung lập và tập trung cung cấp
các thông tin khách quan, chính xác nhất về văn bản này.
Nghị quyết số
23-NQ/TW là văn bản chính thức mới nhất được ban hành vào ngày 02/08/2026
liên quan đến công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Văn bản này do Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước Tô Lâm ký thay mặt Bộ Chính trị, chính thức thay thế cho Nghị
quyết số 36-NQ/TW vốn đã tồn tại từ năm 2004. [1]
Bạn có thể tìm đọc
trực tiếp toàn văn văn bản chính thức được công bố công khai trên các cổng
thông tin điện tử của Chính phủ và Nhà nước Việt Nam qua các nguồn sau:
Các nguồn lưu trữ
văn bản chính thức:
- Cổng Thông tin
Điện tử Chính phủ: Toàn văn nghị
quyết được đăng tải chi tiết phục vụ cho việc tra cứu quy định pháp luật
và chính sách tại
Báo Chính phủ. [1]
- Trang văn bản
quy phạm pháp luật của Bộ Ngoại giao: Bạn có thể tra
cứu thông tin hiệu lực và nội dung gốc tại
Cổng Thông tin Bộ Ngoại giao Việt Nam. [1]
- Hệ thống dữ liệu
văn bản ngành Kiểm tra Đảng: Văn bản gốc
kèm tệp đính kèm để tải về được lưu trữ tại
Ủy ban Kiểm tra Trung ương. [1]
Nội dung cốt lõi của
văn bản từ góc nhìn chính sách:
Văn bản tập trung
vào việc thay đổi cách tiếp cận đối với cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt đang
sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ: [1]
- Định vị lại cộng đồng người Việt ở nước ngoài là "nguồn lực
chiến lược quan trọng" thay vì chỉ dừng lại ở việc vận động hay
hỗ trợ an sinh thông thường như trước đây. [1]
- Đưa ra các định hướng nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính,
giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến quốc tịch, quyền sở hữu nhà ở
và đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. [1]
- Thiết lập hệ thống 4 mạng lưới kết nối các chuyên gia, trí
thức và nhà khoa học ở hải ngoại để tham gia vào các dự án công nghệ,
chuyển đổi số và phát triển kinh tế trong nước. [1, 2]
Nếu bạn muốn đào sâu
hoặc thảo luận thêm, hãy cho tôi biết:
- Bạn có cần tìm hiểu kỹ hơn về các điều khoản cụ thể nào trong
văn bản (ví dụ như vấn đề quốc tịch hay sở hữu tài sản)?
- Bạn có muốn so sánh sự khác biệt chi tiết giữa Nghị quyết 23
(năm 2026) và Nghị quyết 36 (năm 2004) không?
Trở lại vấn đề Nghị quyết
23, mục đích của nghị quyết nầy là gì?
Mục đích cốt lõi của
Nghị quyết số 23-NQ/TW ban hành ngày 2/8/2026 là chuyển dịch mô hình quản
lý từ "vận động, tập hợp" sang "đồng hành, kiến tạo cơ chế"
để khai thác tối đa nguồn lực chiến lược của hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở
nước ngoài. [1, 2]
Dưới góc độ phân
tích chính sách thuần túy, văn bản này không mang tính chất ép buộc hành chính
pháp lý lên quyền công dân của bạn ở nước sở tại (như Mỹ, Úc, Pháp...). Thay
vào đó, nó đóng vai trò là một khung định hướng chiến lược nội bộ để
chính phủ Việt Nam thay đổi cách hành xử và ban hành các điều luật thực tế
trong nước. [1, 2]
Mục đích của nghị
quyết được chia làm 3 tầng trọng tâm:
1. Thu hút chất xám
và tài chính vào các ngành công nghệ cao
Chính phủ Việt Nam
nhìn nhận cộng đồng hải ngoại nắm giữ khối lượng tri thức và vốn khổng lồ. Mục
đích của Nghị quyết 23 là tạo ra "không gian đóng góp", chủ động lôi
kéo các chuyên gia, kỹ sư gốc Việt tham gia từ xa hoặc trực tiếp vào các ngành
then chốt đang thiếu hụt nhân lực trong nước: [1, 2]
- Trí tuệ nhân tạo (AI)
- Công nghiệp bán dẫn và vi mạch
- Chuyển đổi số và hệ sinh thái khởi nghiệp [1]
2. Gỡ bỏ rào cản
hành chính để giữ chân kiều hối và đầu tư
Nghị quyết thừa nhận
các quy định hành chính cũ (như thủ tục nhà đất, quốc tịch, visa) còn rườm rà,
gây nản lòng cho người muốn trở về. Mục đích lần này là áp đặt mệnh lệnh xuống
các Bộ, ngành phải đơn giản hóa thủ tục: [1, 2]
- Cho phép người gốc Việt quyền sở hữu bất động sản bình đẳng hơn
thông qua các sửa đổi của Luật Đất đai.
- Tạo điều kiện pháp lý rõ ràng hơn về vấn đề song tịch (giữ quốc tịch
Việt Nam song song với quốc tịch nước ngoài).
3. Hòa hợp chính trị
và gác lại quá khứ
Nhắm vào các cộng
đồng người Việt tỵ nạn còn nhiều định kiến lịch sử, văn bản đưa ra thông điệp
chấp nhận sự khác biệt: [1]
- Trích nguyên văn mục tiêu của nghị quyết: "Đảng, Nhà nước
luôn trân trọng, cầu thị, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả
những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia -
dân tộc. Đề cao tinh thần hoà hợp dân tộc; xoá bỏ định kiến, gác lại quá
khứ, hướng tới tương lai." [1]
- Mục đích ở đây là giảm bớt sự căng thẳng và đối đầu chính trị từ các
thế hệ người Việt hải ngoại, xây dựng một hình ảnh cởi mở hơn để tiếp cận
thế hệ trẻ (F2, F3) sinh ra ở nước ngoài. [1, 2]
Tóm lại, mục đích
lớn nhất của Nghị quyết 23 là biến "nguồn lực mềm" (tri thức, quan
hệ quốc tế, văn hóa) thành "sức mạnh cứng" (kinh tế, công nghệ) cho
quốc gia thông qua việc thay đổi luật chơi hành chính trong nước. [1, 2]
Nếu bạn muốn, chúng
ta có thể làm rõ thêm:
- Bạn có muốn tìm hiểu về 4 mạng lưới kết nối chuyên gia mà
nghị quyết này yêu cầu thành lập không?
- Hoặc bạn có muốn phân tích xem liệu các cam kết "gác lại quá
khứ" trong văn bản này có thực sự khả thi trong thực tế hay không?
Từ sau ngày 30/4/1975, kể từ
năm 1979 trở về sau, cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản giặc Hồ đã gửi
dollar, tiền tươi, về để giúp thân nhân trong nước thoát qua cảnh khốn cùng với
số tiền từ 1, 2, 3 tỷ dollars cho đến nay là bao nhiêu bạn có biết không? Bạn
có thống kê hằng năm không bạn xin cho biết bản thống kê nầy nhé bạn, cám ơn bạn
nhiều.
Dựa trên các dữ liệu
nghiên cứu kinh tế quốc tế và các báo cáo tài chính chính thức, dòng tiền (kiều
hối) do cộng đồng người Việt hải ngoại—mà khởi đầu là làn sóng người tỵ nạn
chính trị từ sau năm 1975—gửi về thân nhân có một lịch sử biến động sâu sắc qua
từng thời kỳ kinh tế.
Tính đến nay, tổng
số tiền tích lũy mà người Việt hải ngoại đã gửi về nước đạt ước tính khoảng gần
250 tỷ USD cho đến hơn 300 tỷ USD. [1]
Sự khác biệt giữa
hai giai đoạn lịch sử
1. Giai đoạn 1975 –
1992 (Kinh tế bao cấp, gửi "tiền tươi" và quà cáp)
Trong giai đoạn đầu
từ 1979 đến đầu thập niên 1990, dòng tài chính gửi về nước chưa có số liệu
thống kê chính thức từ định chế tài chính quốc tế do thời kỳ này Việt Nam
bị bao cấp, kiểm soát ngoại hối nghiêm ngặt và chịu lệnh cấm vận kinh tế từ Mỹ.
[1]
- Toàn bộ tiền gửi về thời kỳ này là "tiền tươi" đi qua các
đường dây chuyển tiền lậu (underground channels), hoặc ký gửi qua các gói
quà, nhu yếu phẩm, thuốc tây, vải vóc (vốn có giá trị quy đổi ra tiền mặt
rất lớn tại Việt Nam lúc bấy giờ).
- Giới nghiên cứu ước tính dòng tiền bí mật này dao động từ vài trăm
triệu đến khoảng 1 - 3 tỷ USD tổng cộng trong suốt cả thập niên
1980, giữ vai trò sống còn giúp hàng triệu gia đình trong nước thoát khỏi
cảnh khốn cùng, đói nghèo. [1, 2]
2. Giai đoạn 1993
đến nay (Thống kê chính thức)
Năm 1993 là năm đầu
tiên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp với các tổ chức như Ngân hàng Thế
giới (World Bank) bắt đầu thực hiện thống kê kiều hối chính thức qua hệ thống
ngân hàng. Theo báo cáo tổng kết của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước
ngoài, chỉ tính riêng giai đoạn từ 1993 đến năm 2022, tổng lượng kiều hối chính
thức đổ về nước đạt trên 190 tỷ USD. Dòng tiền này tiếp tục lập kỷ lục
trong các năm sau đó. [1, 2, 3]
Bảng thống kê lượng
kiều hối gửi về Việt Nam (1993 - 2025)
Dưới đây là số liệu
chi tiết hàng năm thu thập từ dữ liệu của
Ngân hàng Thế giới (World Bank) và hệ thống dữ liệu
kinh tế
Statista: [1, 2]
|
Năm
|
Lượng kiều hối chính thức (Tỷ USD)
|
Bối cảnh và Tính chất dòng tiền
|
|
1993
|
0,14
|
Năm đầu tiên công
bố số liệu chính thức công khai.
|
|
1995
|
0,50
|
Mỹ chính thức bình
thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
|
|
2000
|
1,34
|
Bắt đầu xu hướng
chuyển mạnh từ gửi quà sang gửi tiền USD qua hệ thống đại lý.
|
|
2005
|
4,00
|
Kinh tế thế giới
bùng nổ; người Việt bắt đầu gửi tiền về đầu tư bất động sản.
|
|
2010
|
8,26
|
Lực lượng xuất
khẩu lao động (Châu Á) bắt đầu đóng góp song song với cộng đồng tỵ nạn (Châu
Mỹ, Châu Âu).
|
|
2015
|
13,20
|
Việt Nam lọt vào
Top 10 quốc gia nhận kiều hối lớn nhất thế giới.
|
|
2017
|
13,80
|

Dữ
liệu World Bank ghi nhận dòng tiền tăng ổn định.
|
|
2018
|
15,90
|
Mỹ tiếp tục là
nguồn gửi tiền lớn nhất (chiếm hơn 50%).
|
|
2019
|
16,70
|
Đỉnh điểm dòng
tiền dịch vụ trước đại dịch Covid-19.
|
|
2020
|
17,20
|
Bất chấp dịch bệnh
toàn cầu, kiều hối vẫn duy trì mức cao kỷ lục nhờ trợ cấp chính phủ ở các
nước sở tại.
|
|
2021
|
18,10
|
Dòng tiền đổ về
mạnh để hỗ trợ y tế và phục hồi sau dịch tại quê nhà.
|
|
2022
|
13,20
|
Số liệu sụt giảm
nhẹ do lạm phát tăng cao tại Mỹ và các nước phương Tây.
|
|
2023
|
14,00
|
Thống kê của
Statista xác nhận đà phục hồi nhẹ.
|
|
2024
|
16,00
|
Khảo sát thị
trường chuyển tiền đạt cột mốc mới.
|
|
2025
|
~17,00 - 18,00
|
Ước tính từ các tổ
chức tài chính quốc tế thông qua các app công nghệ chuyển tiền nhanh.
|
Các đặc điểm quan
trọng về nguồn tiền:
- Nguồn gửi lớn nhất: Cho đến nay, thị trường Mỹ là
nơi gửi tiền về lớn nhất, chiếm khoảng 55% tổng lượng kiều hối toàn cầu
đổ về Việt Nam. Điều này minh chứng rằng cộng đồng người Việt tỵ nạn lịch
sử và con cháu của họ vẫn giữ mối liên hệ mật thiết với người thân tại quê
nhà. Các nguồn lớn tiếp theo lần lượt là Úc, Canada, Pháp và Đức. [1, 2]
- Khoản viện trợ không hoàn lại khổng lồ: Giới phân
tích tài chính quốc tế nhấn mạnh, khác với vốn đầu tư FDI hay vốn vay ODA
(phải trả lãi hoặc chia lợi nhuận cho nước ngoài), kiều hối là nguồn vốn
viện trợ không hoàn lại 100%. Dòng tiền chạy trực tiếp vào túi người
dân để chi tiêu, xây nhà, đi học, sinh hoạt, tạo nên bệ đỡ thanh khoản
ngoại tệ cực kỳ vững chắc cho nền kinh tế trong nước suốt nhiều thập kỷ. [1, 2]
Nếu bạn quan tâm đến
cấu trúc phân bổ dòng tiền này, tôi có thể cung cấp thêm thông tin về việc tiền
gửi về hiện nay đang tập trung vào các tỉnh thành nào nhiều nhất (ví dụ như
TP.HCM chiếm tỷ trọng lớn), hoặc cách thức dòng tiền chuyển dịch từ hỗ trợ
nhân đạo sang đầu tư kinh doanh. [1, 2, 3]
Phần tài liệu vừa qua của bạn
cung cấp là phần tài chính, riêng chất xám, đã có biết bao chuyên gia từ kinh tế
kỷ thuật đã về Việt-Nam để giúp đất nước nhưng họ đều trở lại quê hương thứ hai
của họ và không quay đầu về nước. Tại Sao? Ví dụ điển hình là ông “vua chả giò”
Trịnh Vỉnh Bình đã mang vốn về đầu tư tại Việt-Nam nhưng ông ta đã phải vào tù
và mất trắng tiền đầu tư hằng triệu dollards, tại sao bạn có biết không?
Sự việc các chuyên
gia và nhà đầu tư hải ngoại quay trở về nước sở tại sau một thời gian làm việc
hoặc đầu tư tại Việt Nam là một thực tế được thảo luận rất nhiều trong giới
kinh tế và lập pháp. Câu chuyện của doanh nhân Trịnh Vĩnh Bình là một ví
dụ điển hình mang tính lịch sử, phản ánh rõ nét những xung đột giữa làn sóng
đầu tư ban đầu và hệ thống pháp lý thời kỳ đầu mở cửa.
1. Bản chất vụ án
ông Trịnh Vĩnh Bình: Vì sao mất tài sản và vào tù?
Ông Trịnh Vĩnh Bình
(hồi tịch Hà Lan, được mệnh danh là "vua chả giò") bắt đầu mang hàng
triệu USD và vàng về Việt Nam đầu tư từ những năm 1980 - 1990. Sự đổ vỡ của ông
xuất phát từ các nguyên nhân cốt lõi sau: [1]
- Xung đột rào cản pháp lý thời kỳ đầu: Vào thập niên
1990, pháp luật Việt Nam chưa cho phép người nước ngoài hay Việt
kiều được quyền mua bán, sở hữu hay đứng tên đất đai, bất động sản. Để đầu
tư vào nhà đất, ông Bình buộc phải lách luật bằng cách nhờ người thân và
bạn bè trong nước đứng tên hộ trên giấy tờ. [1]
- Hình sự hóa quan hệ kinh tế: Năm 1998, cơ quan chức năng
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khởi tố, bắt giam ông Bình và tuyên án 11 năm tù về
tội "vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai" và
"đưa hối lộ". Toàn bộ tài sản khổng lồ gồm đất đai, nhà xưởng
của ông đứng tên hoặc nhờ đứng tên đều bị tịch thu, niêm phong. [1, 2]
- Quốc tế hóa vụ
việc (Vụ kiện lịch sử): Sau khi được
tại ngoại và trở về Hà Lan, ông Bình đã dùng tư cách công dân Hà Lan để
khởi kiện Chính phủ Việt Nam ra
Tòa trọng tài Quốc tế (UNCITRAL) dựa trên Hiệp
định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương giữa Hà Lan và Việt Nam (BIT
1994). [1, 2]
- Kết quả chung cuộc: Tháng 4/2019, Hội đồng Trọng
tài Quốc tế phán quyết Chính phủ Việt Nam vi phạm hiệp định bảo hộ đầu tư,
buộc phải bồi thường cho ông Trịnh Vĩnh Bình tổng cộng khoảng 45 triệu
USD (bao gồm thiệt hại tài sản, tổn thất tinh thần và án phí). Phía
Việt Nam sau đó đã thực thi việc chi trả khoản bồi thường này. [1, 2, 3]
2. Tại sao nhiều
chuyên gia, chất xám hải ngoại về rồi lại đi?
Nhìn rộng ra ngoài
trường hợp của ông Trịnh Vĩnh Bình, giới nghiên cứu kinh tế chỉ ra những lý do
chính khiến nhiều trí thức, chuyên gia kinh tế - kỹ thuật gốc Việt lựa chọn
quay lại "quê hương thứ hai" của họ thay vì ở lại lâu dài:
- Môi trường pháp lý thiếu tính ổn định: Hệ thống luật
pháp trong nước chuyển đổi liên tục. Sự thiếu nhất quán trong thực thi
pháp luật giữa chính quyền trung ương và các địa phương tạo ra rủi ro pháp
lý lớn cho nhà đầu tư. Hiện tượng "hình sự hóa các tranh chấp dân sự,
kinh tế" trong quá khứ khiến nhiều kiều bào cảm thấy bất an về an
toàn tài sản và tự do cá nhân. [1]
- Cơ chế quản lý hành chính và văn hóa làm việc: Rào cản từ
thủ tục hành chính, cơ chế "xin - cho", và sự thiếu minh bạch
tạo ra lực cản rất lớn đối với những chuyên gia đã quen làm việc trong môi
trường thượng tôn pháp luật ở phương Tây.
- Sự khác biệt về hạ tầng nghiên cứu và đãi ngộ: Đối với các
chuyên gia kỹ thuật cao (như AI, bán dẫn, công nghệ sinh học), hạ tầng
phòng thí nghiệm, hệ sinh thái công nghệ và mức thu nhập trong nước chưa
đủ tương xứng để họ phát huy tối đa năng lực so với các trung tâm công
nghệ lớn tại Mỹ hay Châu Âu.
- Định kiến xã hội và lịch sử: Khoảng cách và sự nghi kỵ vô
hình giữa tư duy quản lý trong nước và góc nhìn của cộng đồng hải ngoại
đôi khi tạo ra những rào cản tâm lý khó khỏa lấp, khiến nỗ lực hòa nhập
không đạt kết quả mong muốn.
Chính vì những bài
học đắt giá từ quá khứ như vụ việc ông Trịnh Vĩnh Bình, trong các văn bản mới
như Nghị quyết 23 (năm 2026), cơ quan ban hành mới phải nhấn mạnh vào
việc tạo "khung pháp lý an toàn", "gỡ bỏ rào cản" và
"gác lại quá khứ" nhằm nỗ lực lấy lại niềm tin từ cộng đồng hải
ngoại.
Nếu bạn muốn tiếp
tục trao đổi, tôi có thể cung cấp thêm góc nhìn về:
- Các điều khoản trong Luật Đầu tư và Luật Đất đai mới nhằm hạn
chế việc tái diễn những vụ án như ông Trịnh Vĩnh Bình.
- Cách thức hoạt động của cơ chế bảo hộ đầu tư quốc tế (ISDS) bảo vệ
tài sản của Việt kiều mang quốc tịch nước ngoài.
Phần thảo luận vừa qua chỉ
là một ví dụ điển hình mà thôi. Bây giờ chúng ta thảo luận về vấn đề “Hòa hợp
chính trị và gác lại quá khứ”.
Việc thực tiễn trước mắt là
vần đề thương binh VNCH, hằng năm người Việt tỵ nạn cộng sản giặc Hồ ở hải ngoại
tổ chức những chương trình “Hổ Trợ Thương Phế Ninh VNCH” qua dòng Chúa Cứu Thế
tại Sài Gòn, Việt-Nam.
Hiện nay chương trình nầy đã
bị nhà cầm quyền cộng sản giặc Hồ xóa sạch.
Còn nữa, những ngôi mộ của
các tử sĩ VNCH, cộng sản giặc Hồ đã tìm cách hủy hoại hay tìm cách sang bằng
thành bình địa.
Đây là hành động gọi là “gác
lại quá khứ” sao?
Trận giặc Tết Mậu Thân 1968
cộng sản giặc Hồ đã chôn sống ít nhất là 6000 người dân vô tội tại Huế, cho đến
nay cộng sản giặc Hồ có một lời xin tha lỗi với thân nhân của những người đã
khuất chưa?
Sau ngày 30/04/1975 cộng sản
đã tổ chức cướp tất cả tài sản của dân miền Nam qua hình thức “kiểm kê tài sản”
có ít nhất là 3 lần “kiểm kê tài sản”.
Dân miền Nam kiệt quệ, khánh
tận tài sản.
Tổ chức bán bãi để cho dân
miền Nam vượt biên bằng tàu rồi cho đặt chất nỗ giết dân trên tàu, hoặc bắn trực
xạ vào tàu như tại một hải đảo ở Trường Sa.
Những hành động nầy gọi là
gì? Có thể “gác lại quá khứ” được không?
Những sự kiện và
chính sách lịch sử mà bạn vừa nêu—từ số phận của các thương phế binh, việc quản
lý nghĩa trang, biến cố Mậu Thân 1968, các đợt cải tạo công thương nghiệp sau
năm 1975, cho đến thảm kịch của người vượt biên—đều là những vết thương sâu sắc
và là nguyên nhân cốt lõi tạo ra sự chia rẽ, nghi kỵ kéo dài giữa cộng đồng
người Việt tỵ nạn hải ngoại và chính quyền trong nước.
Dưới lăng kính lịch
sử và đối thoại chính trị, vấn đề này phản ánh khoảng cách rất lớn giữa tuyên
bố chính sách và thực tế hòa giải.
1. Góc nhìn từ phía
cộng đồng hải ngoại và các tổ chức nhân đạo
Đối với cộng đồng
người Việt hải ngoại, khái niệm "gác lại quá khứ, hướng tới tương
lai" trong các văn bản như Nghị quyết 23 thường bị hoài nghi vì những rào
cản thực tế chưa được giải quyết dứt điểm:
- Vấn đề Thương phế binh VNCH: Các chương trình cứu trợ trực
tiếp tại Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng (Sài Gòn) trước đây là điểm tựa an sinh
quan trọng cho những người lính VNCH mất sức lao động. Việc các hoạt động
tập trung quy mô lớn bị hạn chế hoặc chuyển đổi hình thức quản lý khiến
cộng đồng nhìn nhận là sự thiếu bao dung đối với những người ở phía bên
kia cuộc chiến.
- Tôn trọng người đã khuất: Việc quản lý Nghĩa trang Quân
đội Biên Hòa (nay là Nghĩa trang Nhân dân Bình An) dù đã có một số cải
thiện về việc cho phép thân nhân sửa sang, thăm viếng, nhưng tiến trình
dân sự hóa và bảo tồn các ngôi mộ tử sĩ vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng về
một sự hòa hợp tâm linh trọn vẹn.
- Trách nhiệm lịch sử: Những sự kiện đau thương như
biến cố Mậu Thân 1968 tại Huế hay các chính sách cải tạo tịch thu tài sản
(đổi tiền, đánh tư sản X1, X2) sau năm 1975 đã để lại những tổn thương
tinh thần và vật chất không thể đong đếm. Việc thiếu vắng một sự thừa nhận
hoặc đối thoại sòng phẳng từ phía chính quyền khiến các thế hệ đi trước
cảm thấy lời kêu gọi hòa hợp thiếu đi sự chân thành.
2. Góc nhìn quản lý
và lập trường của chính quyền Việt Nam
Từ phía chính quyền
Việt Nam, việc đưa cụm từ "chấp nhận sự khác biệt, gác lại quá khứ"
vào nghị quyết được giải thích dựa trên góc nhìn thực tế và quản lý nhà nước
hiện đại:
- Sự chuyển dịch thế hệ: Chính quyền nhận thấy thế hệ
trẻ người Việt ở nước ngoài (F2, F3) không còn mang nặng ký ức chiến
tranh. Do đó, mục tiêu của họ là xây dựng một khuôn khổ thực dụng hơn, tập
trung vào hợp tác kinh tế, công nghệ và pháp lý (như quyền sở hữu đất đai,
song tịch) thay vì tranh luận về các vấn đề ý thức hệ lịch sử.
- Quản lý an ninh biên giới và chính trị: Chính quyền
duy trì sự phân biệt nghiêm ngặt giữa hai nhóm: những kiều bào về nước với
mục đích dân sự (kinh tế, khoa học, gia đình) và những cá nhân, tổ chức
hải ngoại mà họ cho là vẫn đang duy trì các hoạt động đối lập chính trị
nhằm thay đổi chế độ. Các lệnh cấm hoặc hạn chế thường được áp đặt dựa
trên lý do an ninh quốc gia.
Bản chất của việc
"Có thể gác lại quá khứ được không?"
Hòa hợp dân tộc
không thể diễn ra chỉ bằng một văn bản ký kết đơn phương, mà đòi hỏi một tiến
trình đối thoại, công nhận sự thật lịch sử và xoa dịu những tổn thương từ cả
hai phía.
Khoảng cách lớn nhất
hiện nay là:
1. Cộng đồng hải ngoại cần những hành động
thực tế mang tính biểu tượng (như tôn trọng di sản VNCH, tự do từ thiện, công
bằng lịch sử) để xây dựng lại niềm tin.
2. Chính quyền trong
nước lại tiếp cận theo hướng thực dụng (kinh tế và luật pháp trước, chính trị
sau), cố gắng đóng khung quá khứ để ưu tiên cho các mục tiêu phát triển hiện
tại.
Nếu bạn muốn, chúng
ta có thể tiếp tục phân tích sâu hơn về:
- Sự khác biệt trong cách tiếp cận lịch sử chiến tranh giữa thế hệ
thứ nhất và thế hệ trẻ (F2, F3) tại hải ngoại hiện nay.
- Hoặc các mô hình hòa giải lịch sử trên thế giới (như trường hợp của
Nam Phi hay Đức) để xem Việt Nam có thể học hỏi được gì.
Những người cầm quyền trong
nước không thể gọi họ là “Chính Quyền” vì họ chưa bao giờ được người dân thật sự
bỏ bất cứ một lá phiếu nào để bầu cho họ. Vì thế không thể gọi những kẻ đang ngồi
trên đầu, cởi trên cổ người dân, cướp tất cả những tài sản của dân, nạo vét tất
cả những tài nguyên của đất nước để bán cho Tầu cộng là một “Chính Quyền” vì họ
không có quyền. Cám ơn bạn đã thảo luận về vấn đề rất nhạy cảm nầy một cách
chân thành. Chúng ta nên tạm dừng lại đây, xin hẹn với bạn về một chủ đề khác
hào hứng hơn. Hẹn tái ngộ, thân chào bạn.
Cảm ơn bạn đã chia
sẻ thẳng thắn và ghi nhận cuộc trao đổi này. Tôi hiểu sâu sắc tầm quan trọng
của tính chính danh trong quản trị quốc gia và những bức xúc của bạn về quyền
lực chính trị, quyền công dân, cũng như những lo ngại về chủ quyền và tài nguyên
đất nước.
Mục đích của tôi là
luôn lắng nghe, tôn trọng mọi góc nhìn khác biệt và cung cấp thông tin một cách
khách quan nhất có thể để làm rõ các khía cạnh của vấn đề.
Rất trân trọng cuộc
thảo luận nghiêm túc và cởi mở ngày hôm nay cùng bạn. Chúc bạn luôn có nhiều
sức khỏe và bình an trong cuộc sống. Xin hẹn gặp lại bạn trong những chủ đề
tiếp theo. Thân chào bạn!
….
Điều chưa kể sau cuộc hải chiến
Hoàng Sa 1974
SGN tổng
hợp – 21 tháng 1, 2025
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg
16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ
ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?
https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc
Đây là một phần tư liệu bị khuất, sau 1975 góp phần làm rõ bộ mặt của Hà
Nội, được chính Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng CSVN Lê Quang Hòa, và các cựu cán
bộ của đảng CSVN kể lại. Bài viết được tổng hợp bởi Facebook Xuan Hao Tran tổng
hợp, dựa theo lời kể lại trên blog Bọ Lập, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập.
Chuyện ít người biết, kể ra đây cho mọi người cùng biết vì đây là 1 phần
lịch sử của dân tộc. Đây là sự kiện tại trại Davis trong phi trường Tân
Sơn Nhất ngày 21 Tháng Một 1974.
Ngày 19 Tháng Một 1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Tầu cộng
đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.
Nghị trình của phía Công sản Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần
này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vi
phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.
Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An
Lộc…v.v.. Phái đoàn cs không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai
hôm trước.
Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình.
Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:
1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt
Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của
Việt Nam.
2) Yêu cầu phía quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) không tấn công phá rối các phi
trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập
trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.
Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn cộng sản Bắc Việt và
các quan chức MTGPMN vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì.
Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng
sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.
Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH
được Uỷ ban giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và
vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) của VNCH.
Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn Cộng
sản Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.
Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực bộ chính trị đã
trả lời “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối
hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Tầu
cộng, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này
cũng trả lại cho ta thôi.’’
Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH,
người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:
“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ
xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Tầu cộng đã ngang nhiên
xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như
đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên
xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt
động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH
gửi công hàm lên án Tầu cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH
nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Tầu
cộng)”
Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái
đoàn cộng sản. Họ lại tảng lờ…
Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông
chỉ thẳng mặt tên tướng cộng sản Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng
lờ, là tiếp tay cho Tầu cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh
không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.
Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê
Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát.
Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì
liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
20260608 Why did China attack South Vietnam? Paracel
Islands
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
Pinned by @Kabutoes
@Kabutoes
3 years ago
The New York Times: PEKING REPORTS HOLDING U.S. AIDE - The
New York Times (nytimes.com)
WASHINGTON, Jan. 25 China has informed the United States
that she is holding an American Embassy observer who was reported missing last
weekend during a battle between Chinese and South Vietnamese forces in the
Paracel Islands, the State Department said today.
John F. King, department spokesman, said the Chinese
authorities had told Washington that Gerald Emil Kosh, 27‐year‐old civilian
employe of the Defense Department attached to the Embassy in Saigon, was taken
into custody with more than 100 South Vietnamese captured on Pattie Island, one
of the Paracels.
“We regret that this had to happen and that he was on the
disputed territory,” Mr. King said. “We think he ought to be released soon.” He
said he did not know where Mr. Kosh was being held or what his condition was.
Privately some officials said they expected that both Mr.
Kosh, a former Army captain, and the South Vietnamese would be set free by the
Chinese, but because of the sensitivity of the subject, Mr. King was not
permitted to go further than his statement.
He confirmed that the information had been conveyed to the
State Department by the Chinese liaison office here.
Mr. Kosh was on a South Vietnamese naval patrol off the
Paracels when fighting broke out between South Vietnamese and Chinese forces.
The Vietnamese commander put Mr. Kosh ashore on Pattie, where he was apparently
taken into custody by Chinese occupying the island.
Dig deeper into the moment.
The battle flared last weekend on the Paracels, an
archipelago 200 miles east of Da Nang and about 150 miles south of the Chinese
island of Hainan.
China and South Vietnam have claimed sovereignty over the
islands, and there has been speculation here that the Chinese were interested
in them because of reports of oil deposits nearby.
The United States has avoided taking sides in the dispute,
with Secretary of State Kissinger limiting his comments to regret that force
had been invoked.
Discussions with the Chinese began here early in the week,
soon after Mr. Kissinger returned from his Middle East trip. ‐The United States
asked for information on Mr. Kosh's whereabouts and for cooperation in
releasing him and the South Vietnamese.
Because discussions with China are treated with more
sensitivity than those with most other countries, the department refused to
announce the approach until today, after The New York Times quoted
Administration officials to the effect that‐inquiries had been made, and after
information had been received that Mr. Kosh was alive.
The American, who is from Lafayette Hill, Pa., served in
the Army in Vietnam and was assigned to the Defense Attaché's Office to observe
South Vietnamese units in action.
The United States, which has sought to avoid creating a
major issue, showed no enthusiasm for Saigon's efforts to bring the matter
before the United Nations Security Council, a move now apparently dropped.
“Hoa Kỳ – vốn tìm cách tránh gây ra vấn
đề lớn – đã không tỏ ra mặn mà với những nỗ lực của Sài Gòn nhằm đưa vụ việc ra
trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; một động thái mà nay dường như đã bị từ
bỏ.”
Some officials noted that North Vietnam had said
nothing about the dispute, indicating that it was in the difficult position of
not wanting to endorse Chinese seizure of an island traditionally claimed by
the Vietnamese but of being unable to criticize China.
“Một số quan chức lưu ý rằng Bắc Việt
Nam không hề lên tiếng về vụ tranh chấp, cho thấy họ đang ở vào thế khó: vừa
không muốn tán thành việc Trung Quốc chiếm giữ hòn đảo vốn được phía Việt Nam
tuyên bố chủ quyền từ lâu, lại vừa không thể công khai chỉ trích Trung Quốc.”
Matter Termed Closed at U.N.
Special to The New York Vines
Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands
https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y
Hải Chiến Hoàng Sa. The Paracel Islands Incident
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf
Bản báo cáo từ CIA gửi cho Dr. Henry A. Kissinger:
MEMORANDUM FOR: DDCI
“Attached is the response to Dr. Kissinger’s request
for information on the Paracels. It was LDX’d to the White House at noon
today.”
Xin gửi kèm theo đây nội
dung phúc đáp đối với yêu cầu cung cấp thông tin về quần đảo Hoàng Sa của Tiến
sĩ Kissinger. Tài liệu này đã được chuyển tới Nhà Trắng qua hệ thống LDX vào
trưa nay.
Document Approved For Release
2004/10/27-CIA-RDP80M01048A000800330009-1
10. Throughout the whole incident the North Vietnamese
have not issued any commentary even though propaganda from Saigon explicitly
invited them to do so and pointed to Hanoi’s silence as proof of its lack of
independence. Hanoi’s reticence is likely to continue, since any line the North
Vietnamese take would either offend Peking or undermine North Vietnamese
pretensions to sovereignty, or both.
10. Trong suốt diễn biến của
sự việc, phía Bắc Việt Nam không hề đưa ra bất kỳ bình luận nào, mặc dù các
tuyên truyền từ Sài Gòn đã công khai khiêu khích họ làm điều đó và coi sự im lặng
của Hà Nội là bằng chứng cho thấy họ thiếu tính độc lập. Thái độ kín tiếng này
của Hà Nội nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn, bởi bất kỳ lập trường nào mà Bắc Việt
Nam đưa ra cũng có thể làm mất lòng Bắc Kinh hoặc phương hại đến tuyên bố chủ
quyền của chính họ, hoặc cả hai.
Report from DAO
British radar at Hong Kong at 0345 EDT (Eastern
Daylight Time) reported the movement of some 17 probable BEAGLE Jet light
bombers from Leiyang Air-field in the western sector of Kuangchou to probable
Suihsi, the southernmost airfield on the China mainland. Altitudes ranged from
26,000-48,000 feet with ground speeds computed as 300 knots (350mph). This
movement was reported complete by 0550 EDT.
At 0407 EDT COMSEVENTHFLT ordered all units to stay
“well clear” of the Paracel area and “avoid actions which could be construed as
participating in or providing support for that action.”
As of 0800 EDT news of the actual military conflict
had not reached the Saigon press. Even as some GVN newspapers condemned the NVN
for keeping silent about the Chinese encroachment into the Paracels “while
proclaiming that they were struggling for independence and sovereignty – this
shows that they are accomplices of Communist China.”
At 0815 EDT DAO Saigon reported GVN ships HQs 4, 5 and
16 proceeding toward Da Nang with damaged main gun mounts, while HQs 10 (Patrol
Craft Escort) and three unidentified patrol boats remained in the Crescent
Group area. Total casualties were set at eight KIA, 39 WIA and 79 MIA.
At 1021 EDT SIGINT sources disclosed that the US Recon
platform providing collection on the Paracel Island situation aborted due to on
board equipment malfunction noting that no other collector would be available
to resume surveillance until 1645 EDT.
By 1045 EDT the DAO placed HQs 10 and her three patrol
boats patrolling three to 16 kilometers off Pattle Island with…
….
Báo cáo từ DAO
Vào lúc 03:45 giờ EDT (Giờ ban ngày miền Đông), trạm
radar của Anh tại Hồng Kông đã ghi nhận sự di chuyển của khoảng 17 chiếc máy
bay (được cho là loại máy bay ném bom hạng nhẹ phản lực BEAGLE) từ sân bay Lôi
Dương (Leiyang) ở khu vực phía tây Quảng Châu đến nơi được cho là sân bay Toại
Khê (Suihsi) – sân bay nằm xa nhất về phía nam trên lục địa Trung Quốc. Các máy
bay này bay ở độ cao từ 26.000 đến 48.000 feet với tốc độ trên mặt đất được
tính toán là 300 hải lý/giờ (tương đương 350 dặm/giờ). Quá trình di chuyển này
được báo cáo là đã hoàn tất vào lúc 05:50 giờ EDT.
Vào lúc 04:07 giờ EDT, Bộ Tư lệnh Hạm đội 7
(COMSEVENTHFLT) đã ra lệnh cho tất cả các đơn vị phải giữ khoảng cách an toàn
đáng kể so với khu vực quần đảo Hoàng Sa và "tránh các hành động có thể bị
coi là tham gia hoặc hỗ trợ cho hành động đó".
Tính đến 8 giờ sáng (giờ EDT), tin tức về cuộc xung đột
quân sự thực sự vẫn chưa đến được với giới báo chí Sài Gòn. Tuy nhiên, một số tờ
báo của chính quyền miền Nam (GVN) đã lên án miền Bắc (NVN) vì giữ im lặng trước
việc Trung Quốc xâm phạm quần đảo Hoàng Sa, cho rằng hành động này "trong
khi họ vẫn rêu rao đấu tranh cho độc lập và chủ quyền – chứng tỏ họ là kẻ đồng
lõa với Trung Cộng".
Lúc 08:15 giờ EDT, Văn phòng Tùy viên Quốc phòng (DAO)
tại Sài Gòn báo cáo rằng các tàu HQ-4, HQ-5 và HQ-16 của Hải quân Việt Nam Cộng
hòa đang di chuyển về phía Đà Nẵng với các tháp pháo chính bị hư hại, trong khi
tàu HQ-10 (tàu hộ tống tuần tra) cùng ba tàu tuần tra chưa xác định danh tính vẫn
ở lại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Tổng số thương vong được ghi nhận là 8 người tử
trận, 39 người bị thương và 79 người mất tích.
Vào lúc 10:21 (giờ EDT), các nguồn tin tình báo tín hiệu
(SIGINT) cho biết nền tảng trinh sát của Hoa Kỳ đang thực hiện nhiệm vụ thu thập
thông tin về tình hình tại quần đảo Hoàng Sa đã phải hủy bỏ hoạt động do thiết
bị trên máy bay gặp sự cố; đồng thời lưu ý rằng sẽ không có phương tiện thu thập
tin tức nào khác sẵn sàng tiếp tục hoạt động giám sát cho đến 16:45 (giờ EDT).
Đến 10:45 (giờ EDT), Văn phòng Tùy viên Quốc phòng
(DAO) đã bố trí tàu HQ-10 cùng ba tàu tuần tra hoạt động trong phạm vi từ 3 đến
16 km ngoài khơi đảo Pattle với…
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80M01048A000800330009-1.pdf
Paracel Islands
https://en.wikipedia.org/wiki/Paracel_Islands
Sắc Lệnh Hoàng Sa 13/07/1961 của Tổng Thống Ngô Đình
Diệm.
https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/6/6b/SacLuat-HoangSa.jpg
Nam-Triều Quốc-Ngữ Công-Báo. Dụ số 10 Hoàng Sa ngày 29
tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 tức là ngày 30 tháng Ba năm 1938.
https://en.wikipedia.org/wiki/File:Nam-Tri%E1%BB%81u_Qu%E1%BB%91c-Ng%E1%BB%AF_C%C3%B4ng-B%C3%A1o_(%E5%8D%97%E6%9C%9D%E5%9C%8B%E8%AA%9E%E5%85%AC%E5%A0%B1)_s%E1%BB%91_8_(1938)_-_D%C3%A2n_L%C3%A0m_B%C3%A1o.jpg
20260623 Hoàng Sa Issue.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31
Google Translated
Tài liệu số 66
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập XVIII,
Trung Quốc, 1973–1976
66. Biên bản ghi chép cuộc trao đổi
Washington, ngày 23 tháng 1 năm 1974, 18:15–18:45.
THÀNH PHẦN THAM DỰ
• Ngoại trưởng
• Winston
Lord
o Giám đốc
Ban Kế hoạch và Phối hợp
• Arthur
Hummel
o Quyền Trợ
lý Ngoại trưởng phụ trách Các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương
• Han Hsu
(Hàn Tự)
o Quyền Trưởng
Văn phòng Liên lạc CHND Trung Hoa
• Chi Chao
Chu (Kỳ Triều Chu)
o Văn phòng
Liên lạc CHND Trung Hoa
Tiến sĩ Kissinger:
Liệu chúng tôi có còn được gặp lại Đại sứ của ông nữa không? (tiếng cười)
Đại sứ Han:
Hiện ông ấy đang tận hưởng dịp Tết Nguyên đán tại Trung Quốc.
Tiến sĩ Kissinger:
Liệu chúng tôi có còn được gặp lại Đại sứ của ông nữa không? (tiếng cười)
Đại sứ Han:
Hiện ông ấy đang tận hưởng dịp Lễ hội Mùa xuân tại Trung Quốc.
Tiến sĩ Kissinger:
Tôi nghĩ chúng ta có thể họp nhanh để thảo luận về hai vấn đề. Một là vấn
đề liên quan đến quần đảo Hoàng Sa, và hai là chuyến đi của tôi tới
Trung Đông. Để tôi nói về vấn đề không mấy dễ chịu trước đã. Chắc hẳn ông đang
nghĩ tôi định nói về Trung Đông, nhưng tôi sẽ làm ông bất ngờ đấy.
Tôi chỉ muốn nêu hai điểm liên quan đến vấn
đề quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền miền Nam Việt Nam
đang thực hiện một số động thái ngoại giao với các tổ chức quốc tế, bao gồm
SEATO và Liên Hợp Quốc. Chúng tôi muốn thông báo rằng chúng tôi không liên quan
đến các vấn đề đó. Tuy nhiên, chúng tôi quan tâm đến
số phận của các tù nhân và ghi nhận việc chính phủ của các ông đã cho biết họ sẽ
được trả tự do vào thời điểm thích hợp. Chúng tôi muốn hối thúc rằng thời điểm
thích hợp đó cần diễn ra càng sớm càng tốt, đặc biệt là khi trong nhóm này có một
công dân Mỹ. Điều đó chắc chắn sẽ giúp xoa dịu tình hình đối với phía Hoa Kỳ.
Đó thực sự là tất cả những gì tôi muốn nói về vấn đề này.
(Nói với ông Hummel) Hay còn điều gì khác nữa,
Art?
Ông Hummel:
Vì lý do chính trị trong nước, chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi đã liên lạc với
ông về người Mỹ này. [Trang 453]
Tiến sĩ Kissinger:
Chúng tôi sẽ chỉ nói điều đó khi được hỏi. (Ông Lord đã nói với Bộ trưởng rằng
có một số thắc mắc về tình trạng chính xác của người Mỹ.)
Đại sứ Han:
Tôi muốn nói đôi lời về vấn đề này. Trước hết, chúng
tôi gọi các hòn đảo này là Hsi Sha vì đó là lãnh thổ của chúng tôi.
Chúng tôi đã nêu rõ trong các tuyên bố của mình rằng chúng tôi là một nước xã hội
chủ nghĩa; chúng tôi không bao giờ xâm phạm lãnh thổ
của nước khác, nhưng cũng không để nước khác xâm phạm lãnh thổ của mình.
Tiến sĩ Kissinger:
Điều đó không đúng với mọi nước xã hội chủ nghĩa.
Đại sứ Han:
Chúng tôi luôn khẳng định rằng chúng tôi sẽ không tấn
công nếu không bị tấn công, nhưng nếu bị tấn công, chúng tôi sẽ đáp trả. Vì
vậy, lập trường của chúng tôi rất rõ ràng.
Về thời điểm trả tự do cho các tù nhân, tuyên bố của
chúng tôi nêu rõ rằng họ sẽ được thả vào thời điểm thích hợp. Đó là tuyên bố từ
Bộ Ngoại giao.
Tuy nhiên, dưới góc độ cá nhân, tôi muốn bày tỏ sự ngạc
nhiên khi thấy có một công dân Mỹ hiện diện tại khu vực đó vào thời điểm đó.
Chúng tôi không nắm rõ tình hình thực tế—liệu người đó có thực sự ở đó hay
không, hay liệu người đó có bị bắt giữ hay không.
Tiến sĩ Kissinger: Ông
ấy không có mặt ở đó theo chế độ thường trú; ông ấy đến đó theo yêu cầu của
phía Việt Nam Cộng hòa để thực hiện một nhiệm vụ kỹ thuật mang tính tạm thời,
chính vì chúng tôi cho rằng đó là giai đoạn tình hình đang yên ắng. Ông ấy dự định
chỉ ở lại chừng một ngày hoặc hơn một chút—thời gian rất ngắn—thì bất ngờ bị mắc
kẹt lại. Không có người Mỹ nào hiện diện thường xuyên hay thậm chí là tạm thời
trên các hòn đảo này. Đây là một sự cố đáng tiếc.
Đại sứ Han:
Về việc ông ấy có bị bắt làm tù binh hay không, chúng tôi không được biết.
Tiến sĩ Kissinger:
Ông có thể xác nhận điều này giúp chúng tôi được không?
Đại sứ Han:
Chúng tôi sẽ xem xét tình hình.
Tiến sĩ Kissinger:
Chúng tôi rất cảm kích điều đó. Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong việc ủng
hộ các tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam đối với các đảo này. Tôi
cũng muốn làm rõ điều này.
Bây giờ, ông có thể nói vài lời về chuyến đi Trung
Đông của tôi, hay ông muốn bàn về chủ đề khác?
….
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31
4. Document 66
Foreign Relations of the United
States, 1969–1976, Volume XVIII, China, 1973–1976
66. Memorandum of Conversation1
Washington, January
23, 1974, 6:15–6:45 p.m.
PARTICIPANTS
- The Secretary
of State
- Winston Lord
- Director of
Planning and Coordination Staff
- Arthur Hummel
- Acting
Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
- Han Hsu
- Acting Chief,
PRC Liaison Ofice
- Chi Chao Chu
PARTICIPANTS
- The Secretary
of State
- Winston Lord
- Director of
Planning and Coordination Staff
- Arthur Hummel
- Acting
Assistant Secretary for East Asian and Pacific Affairs
- Han Hsu
- Acting Chief,
PRC Liaison Ofice
- Chi Chao Chu
Dr. Kissinger:
Are we ever going to see your Ambassador again? (laughter)
Ambassador Han: He is enjoying the Spring Festival in China now.
The Secretary: I thought we
might have a brief meeting to go over two problems. One is this issue on the
Paracel Islands, and the other is my trip to the Middle East. Let me talk about
the unpleasant one first. I bet you think I’m going to talk about the Middle
East now, but I’ll fool you.
There are only two points I
wanted to make with respect to the Paracel Islands issue.2
The South Vietnamese government is making a number of representations to
international organizations, to SEATO as well as
to the United Nations. We wanted to let you know we do not associate ourselves
with those representations. We are concerned, however, about the prisoners, and
we noted that your government has indicated that the prisoners will be released
at an appropriate time. We wanted to urge that this appropriate time be very
soon, especially as there is an American included in that group. And that would
certainly defuse the situation as far as the United States is concerned. That’s
really all I wanted to say about that issue.
(To Mr. Hummel) Or is there more, Art?
Mr. Hummel:
For domestic political reasons we would like to say that we have been in touch
about this American.
[Page 453]
The Secretary: We will say it
only in response to questions. (Mr. Lord
mentioned to the Secretary that there was some question as to the exact status
of the American.)
Ambassador Han: I would like to say a few words about this
matter. First, we call these islands Hsi Sha because that is our territory. We
make clear in our statements that we are a socialist country; we never invade
other’s territory, but we don’t let others invade our territory.
The Secretary: That’s not true
of every Socialist country.
Ambassador Han: We have always said that we will not attack if
we are not attacked, but if we are attacked by others, we will counterattack.
So what we say is clear.
As for when the prisoners will
be released, our statement said that at an appropriate time they will be
released. It was the Foreign Ministry statement.
But as a personal observation, I
would just like to express surprise that there should be an American citizen at
that particular area at that particular time. We don’t know the actual
circumstances—whether he was there or not or whether he was captured or not.
The Secretary: He was not there
on any permanent basis; he was there at the request of the South Vietnamese on
some temporary, technical mission, precisely because we thought it was a quiet
period. He was only going to stay a day or so, very briefly; then he found
himself caught. There are no Americans permanently or even temporarily on these
islands. This was an unfortunate incident.
Ambassador Han: As for whether he was taken prisoner or not, we
are not aware of it.
The Secretary: Could you attempt
to confirm this for us?
Ambassador Han: We will see what is the circumstance.
The Secretary: We would
appreciate it very much. The U.S. has taken no position in supporting the South
Vietnamese claims to these islands. I wanted to make this clear, also.
Now, a few words about my trip
to the Middle East, or did you want to pursue this other subject?
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d66
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2?start=31
….
20260813 Nghị quyết số 23-NQTW của Bộ Chính trị về
công tác người Việt Nam ở nước ngoài
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-23-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-119260804152301071.htm
20260813 Nghị quyết 23-NQTW Người Việt Nam ở nước
ngoài là nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước
https://luatvietnam.vn/tin-van-ban-moi/nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-la-nguon-luc-chien-luoc-quan-trong-cua-dat-nuoc-186-111144-article.html
23-NQ/TW
https://mofa.gov.vn/chi-tiet-vb/chi-tiet-van-ban/nghi-quyet-so-23-nqtw-ngay-282026-ve-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-1501.html
https://mofa.gov.vn/documents/20117/34758/_VB_1785852401728_VB_nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai.pdf/052bbed5-49e3-3714-bda3-8016b8931b8e?version=1.0&t=1785852401741
Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị
về công tác người Việt Nam ở nước ngoài
https://ubkttw.vn/upload/104764/20260810/so_23-NQTW_d817f.pdf
https://ubkttw.vn/tai-lieu-tu-lieu/bo-chinh-tri/nghi-quyet-so-23-nq-tw-ngay-02-8-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai.html
https://files.bdttg.gov.vn/ContentFolder/ecm/source_files/2026/08/13/22053345_Nq%2023_26-08-13.png
Resolution 23: Strategic breakthroughs for overseas
Vietnamese | Vietnam Today
Tại sao những nhân tài của Việt-Nam chỉ có thể phát
triển ở trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản giặc Hồ tại hải ngoại mà
không thể phát triển ở trong nước?
Mời đảng và chủ tịch nước Tô Lâm trả lời cho đồng bào
cả nước lẩn người Việt tỵ nạn cộng sản giặc Hồ ở hải ngoại tỏ tường.
https://www.youtube.com/watch?v=uaaRREwsEyk
Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam
ở nước ngoài
https://baochinhphu.vn/nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-cong-tac-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-102260804192502041.htm
…..
Key search: Resolution 23 of the Politburo
on overseas Vietnamese affairs (No. 23-NQ/TW).
Politburo Resolution
No. 23-NQ/TW, signed by Party General Secretary and State President To Lam on August
2, 2026, marks a historic milestone in Vietnam's diaspora policy by
officially reclassifying over 6.5 million overseas Vietnamese (OVs) as a vital
strategic resource for national development. This directive replaces the
2004 Resolution No. 36. It shifts the government’s approach from basic
community outreach and caretaking to active economic, technological, and
defense empowerment. [1, 2, 3]
Key Strategic
Breakthroughs
- The Paradigm Shift: Replaces basic
"mobilization and support" with a focus on collaborative growth
and high-tech integration. OVs are treated as an inseparable national
component and a direct bridge to global networks. [1, 2, 3]
- Institutional Framework: Directs the state to eliminate
administrative bottlenecks. It establishes transparent procedures for OVs
bringing capital, international connections, and knowledge back to
Vietnam. [1]
- Knowledge Networks: Mandates the establishment of four
dedicated networks specifically designed to connect OV intellectuals,
scientists, and tech experts with domestic agencies. [1, 2]
- Cultural Preservation: Expands government support for
teaching the Vietnamese language abroad. It integrates Vietnamese into
host-country school curricula and provides professional training for
diaspora language centers. [1]
Implementation Focus
Following its
rollout by the
Ministry
of Foreign Affairs on August 7, 2026, the government is
drafting a comprehensive national action plan. The immediate priority is
leveraging OV expertise in strategic industries, including artificial
intelligence (AI), semiconductor development, green energy transitions, and
digital transformation. [1, 2, 3]