20260406 CDTL HST DDE D85 20 June 1952 Điện tín của Bộ
trưởng Ngoại giao gửi tới Sứ quán tại Sài Gòn
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d85
Google Translated
Tài liệu 85
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954,
Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
751G.00/6–2052: Điện tín của Bộ trưởng Ngoại
giao gửi tới Sứ quán tại Sài Gòn
Tối mật
Washington, ngày 20 tháng 6 năm 1952 — 9:13 tối
2014. Kính gửi Trưởng Phái bộ. Tiếp theo Điện tín số
7404 của Bộ, ngày 17 tháng 6, liên quan đến các cuộc đàm phán với ông
Letourneau, dưới đây là bản tóm tắt các chủ đề đã được đề cập, ngoại trừ vấn
đề viện trợ bổ sung đã được nêu trong điện tín tham chiếu:
(1) Các hoạt động quân sự.
Theo báo cáo, hai sư đoàn Việt Minh đã bị loại
khỏi vòng chiến đấu kể từ tháng Hai, sau cuộc rút quân khỏi
Hòa Bình—một chiến dịch tự nguyện được thực hiện vì các mục đích chiến lược,
chứ không phải là một cuộc di tản bắt buộc. Việc chuyển giao hàng hóa theo
chương trình viện trợ quân sự của Hoa Kỳ nhìn chung diễn ra suôn sẻ kể từ
các cuộc đàm phán với Tướng de Lattre vào tháng Chín năm ngoái. Các chi
tiết cụ thể hiện đang được phối hợp giải quyết với Ngũ Gíac Đài. Triển vọng
nhìn chung là khả quan.
(2) Các Quân đội Quốc
gia. Việc phát triển các quân đội quốc gia đang tiến triển thuận lợi, mặc
dù chậm hơn so với kỳ vọng ban đầu. Tính đến nay, đã có 52 tiểu đoàn,
trong đó 40 tiểu đoàn thuộc Việt Nam, 6 thuộc Campuchia và
6 thuộc Lào. Trong số 52 tiểu đoàn này, 21 tiểu đoàn hầu
như không còn sĩ quan Pháp; số lượng sĩ quan Pháp hạn chế tại các
tiểu đoàn còn lại cũng đang được cắt giảm dần. Theo chương trình huấn luyện hiện
hành, các trường quân sự đang đào tạo và cho ra trường mỗi năm 400 sĩ
quan chính quy và khoảng 400 sĩ quan dự bị (sĩ quan ứng viên). Đến năm 1955—thời
điểm chương trình phát triển các quân đội quốc gia do Pháp khởi xướng dự
kiến sẽ hoàn tất—sẽ có tổng cộng 3.000 sĩ quan tốt nghiệp từ các trường
sĩ quan, bao gồm 1.400 sĩ quan chính quy bản xứ và 1.600 sĩ quan
dự bị. Hiện tại, tổng số sĩ quan là 1.549 người.
Tổng chỉ tiêu đề ra cho năm 1955 là 5.000
người. Do đó, vẫn còn tồn đọng một khoảng thiếu hụt xấp xỉ 400 người. Về
đội ngũ Hạ sĩ quan (NCO), các trường hiện hành đang đào tạo 1.450
người mỗi năm. Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng hiện có là 5.600
người. Vì nhu cầu cần đạt mức 20.000 người vào năm 1955, nên theo
kế hoạch hiện tại, tình trạng thiếu hụt vẫn còn tồn tại. Ông khẳng định rằng vấn
đề trong việc phát triển các lực lượng quân đội quốc gia nằm ở sự khó khăn
trong việc tuyển mộ các ứng viên sĩ quan phù hợp, thay vì nằm ở những trở ngại
về tài chính hay huấn luyện như trước đây. Ông cho biết chương trình đào tạo sĩ
quan hiện hành đã đạt mức tối đa có thể thực hiện được, xét theo quy mô số lượng
học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông tại AS. Ông cũng báo cáo về những
khó khăn trong việc tuyển mộ các chuyên gia phục vụ trong quân đội, chẳng hạn
như bác sĩ y khoa và nha sĩ.
(3) Ông Polit.
Let cho biết trường đào tạo công chức Việt Nam—nơi ông đặc biệt
coi trọng trong bối cảnh thiếu hụt nhân sự hành chính—sẽ được khai giảng vào
tháng 10 năm 1952. Ông khẳng định rằng những bước tiến đạt được là vô cùng thỏa
đáng, nếu xét đến việc đất nước mới chỉ giành độc lập được ba năm.
(4) Về Chính phủ Việt Nam
mới, ông Let đã đề cập đến những điểm mạnh và điểm yếu của chính quyền
ông Hữu với những nhận định tương tự như các báo cáo từ Sài Gòn. Ông
cho rằng ông Hữu đã đạt được nhiều tiến bộ hơn mức thường được ghi nhận.
Mặt khác, ông Tâm sở hữu thế mạnh to lớn; với tư cách là một kẻ
thù của phe Cộng sản, ông được kỳ vọng sẽ thúc đẩy nỗ lực chiến tranh
lên một tầm mức đáng kể. Ông Let đặc biệt phấn khởi trước tuyên bố của ông
Tâm về ý định thiết lập ngay lập tức một ngân sách quốc gia. Ông
phát biểu khá dè dặt về vấn đề Quốc hội và dường như còn chưa chắc chắn về sự cần
thiết của cơ quan này, song ông khẳng định đây hoàn toàn là một vấn đề nội bộ của
Việt Nam. Ông tin chắc rằng ông Tâm sẽ thành công trong việc mở rộng
thành phần nội các của mình vào thời điểm thích hợp. Những khó khăn về ngân
sách tại Việt Nam cũng đã được trình bày chi tiết. Phía Pháp tin
rằng tương lai dưới sự lãnh đạo của ông Tâm hứa hẹn sẽ mang lại những
chuyển biến tích cực.
(5) Bảo Đại.
Cần nhấn mạnh mạnh mẽ rằng Bảo Đại là nhân vật quyền lực duy nhất tại Việt
Nam, ngoại trừ Hồ Chí Minh. Ông nhận được sự tín nhiệm của đông đảo
quần chúng và là người duy nhất có khả năng dung hòa các luồng ý kiến khác
nhau. Ông đã tuyên bố: “Không việc gì có thể thực hiện được tại Việt Nam
nếu thiếu Bảo Đại”. Nếu Nguyên thủ Quốc gia có nhận thức về
những trọng trách mà mình đang gánh vác chưa đạt đến mức độ mà chúng ta mong đợi,
thì chúng ta buộc phải tự điều chỉnh để thích nghi với thực tế này, đồng thời
thừa nhận một nguyên tắc cơ bản rằng mọi sự thay đổi chỉ có thể được hiện thực
hóa thông qua chính quyền lực của ông.
(6) Lào và Campuchia.
Tình hình chính trị tại Lào được đề cập khá sơ lược, chỉ kèm theo đôi lời
bình luận ngắn gọn. Ông Let cho rằng hệ thống quân chủ lập hiến hiện
hành là mô hình lý tưởng nhất; rằng người dân Lào là những con người
trung thực, thẳng thắn và đáng tin cậy—ngay cả khi họ vẫn phải tiếp tục nhận viện
trợ vô thời hạn. Về cuộc khủng hoảng nội các vừa qua tại Campuchia, ông
Let nhận định rằng sự việc này đã được dự báo từ trước và nhìn chung, đó là
một điều tốt. Ông cho rằng một trong những vấn đề nghiêm trọng của đất nước này
là việc Nhà vua thiếu thông tin về tình hình chung trong nước, đồng thời Đảng
Dân chủ cũng chưa đủ mạnh để có thể thực hiện các biện pháp đối phó, dù là với Việt
Minh hay với các nhóm đối lập trong nội bộ Campuchia. Ông nhận định
rằng tình hình này cần được tiếp tục theo dõi, song nhìn chung thì chưa đến mức
đáng báo động.
(7) Chính sách của Pháp đối với Đông Dương.
Let tuyên bố rằng ông tin một giải pháp quân sự tại Việt Nam là
điều bất khả thi cho đến khi đạt được một thỏa thuận tổng thể. Ông nhận định rằng,
nếu viễn cảnh thất bại của Việt Minh hiện hữu, phe Trung Cộng
có lẽ sẽ ồ ạt viện trợ thêm đủ trang thiết bị để giúp lực lượng này tiếp
tục cầm cự. Nếu cuộc chiến chỉ đơn thuần diễn ra giữa Hồ Chí Minh
và Bảo Đại, việc giải quyết vấn đề sẽ khá đơn giản; tuy nhiên, thực tế
không phải vậy, và quyền định đoạt các vấn đề cũng không nằm trong tay ông
Hồ. Theo quan điểm của Let, ông Hồ hầu như không nắm
giữ chút quyền hành nào—nếu có chăng thì cũng rất ít ỏi—trong việc đưa ra các
quyết định quan trọng, và bản thân ông Hồ giờ đây cũng đã nhận thức
rõ rằng mình chỉ là một quốc gia vệ tinh lệ thuộc vào Liên Xô.
Các tuyên bố liên quan đến vấn đề này đã được xem xét
lại trong các phiên họp sau đó, khi sự việc trở nên rõ ràng hơn — rằng ông hoàn
toàn không có ý định cắt giảm nỗ lực quân sự tại Đông Dương vì lo ngại rằng điều
đó sẽ chỉ dẫn đến sự gia tăng tương ứng trong sự can thiệp của phe Trung Cộng;
mà thay vào đó, [Trang 206] bất kỳ giải pháp nào cho cuộc chiến tại Đông
Dương cũng sẽ phụ thuộc vào một giải pháp tổng thể cho khu vực Viễn Đông.
Có thể coi mục tiêu của Pháp là bảo vệ nền độc
lập và tự do của các quốc gia Liên kết (AS) thông qua việc giao phó
trách nhiệm lớn hơn cho chính các quốc gia này trong việc gánh vác trọng trách
chiến đấu. Minh chứng cho việc mục tiêu này đang được hiện thực hóa chính là thực
tế: vào năm 1946, số thương vong phía Pháp chiếm 88% tổng số, trong khi
lực lượng bản địa chiếm 9%; đến năm 1951, tỷ lệ này đã thay đổi với 17% thuộc về
phía Pháp và 52% thuộc về lực lượng bản địa. Cũng đã có nhận định cho rằng
những thành quả mà Pháp đạt được chỉ có thể được duy trì nếu một bộ máy
hành chính vững mạnh được thiết lập ngay trong nội bộ các quốc gia này.
Ông đã đề cập đến vai trò của Pháp trong các hội
đồng đa phương, cho rằng vai trò này dựa trên sự cần thiết phải duy trì thế cân
bằng giữa Lào và Campuchia ở một bên, với Việt Nam ở bên
kia—và trên thực tế, là giữa từng quốc gia riêng lẻ với hai quốc gia còn lại.
Về vấn đề Liên hiệp Pháp: Ông đã cam đoan với
chúng tôi rằng một khi chiến tranh kết thúc, sẽ có thể xem xét một cơ sở mới
cho mối quan hệ trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. (Tại bữa tiệc trưa ở Câu
lạc bộ Báo chí, ông đã tuyên bố rằng Liên hiệp Pháp không phải là một
nhà tù, và trong tương lai, các quốc gia thành viên sẽ được tự do rời khỏi khối
này). Khi nói vậy, ông hoàn toàn không có ý định rằng các thỏa thuận nền tảng sẽ
bị sửa đổi; thay vào đó, các thỏa thuận này sẽ được diễn giải theo hướng ngày
càng tự do hơn, và những điều khoản cụ thể trong các hiệp định hiện hành—chẳng
hạn như Hiệp định Pau—có thể được xem xét lại và thay đổi theo ý muốn.
Ông đã dành một khoảng thời gian để giải thích những khó khăn trong việc giải
quyết các vấn đề này tại Pháp, đồng thời chỉ ra rằng Hiệp định ngày 8
tháng 3 là văn kiện duy nhất đã được phê chuẩn—hay nói đúng hơn là văn kiện
duy nhất được trình lên Quốc hội để xem xét. Các văn kiện khác chưa được phê
chuẩn, và trong bối cảnh hiện tại, cũng không thể được phê chuẩn.
Để đáp lại các câu hỏi của Phụ tá Bộ trưởng Allison
liên quan đến những sửa đổi có thể có, phía Pháp đã khẳng định rõ rằng
hiện tại họ sẽ tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng câu chữ của luật pháp, nhưng sẽ
không khép lại cánh cửa đối với những điều chỉnh có thể diễn ra trong tương
lai. Khi trả lời thêm các câu hỏi từ phía Hoa Kỳ, họ đã giải thích khá
chi tiết về phạm vi quyền tài phán hiện hành của Pháp đối với các vấn đề
nội bộ của ba quốc gia này. Liên quan đến quy chế thương mại ưu đãi dành cho Pháp
và ba quốc gia nói trên, phía Pháp tuyên bố rằng lợi ích của họ tất
nhiên sẽ được duy trì, nhưng họ không hề có ý định ngăn cản các quốc gia này tiến
hành giao thương với thế giới bên ngoài. Việc giao thương với Nhật Bản
được xem là đặc biệt đáng khuyến khích. Các Quốc gia Liên kết có quyền tự do
đàm phán các thỏa thuận thương mại với bất kỳ quốc gia nào mà họ lựa chọn.
(8) Quan hệ Công chúng.
Phía Hoa Kỳ đã chỉ ra sự thiếu sót trong việc công bố các thông tin thực
tế về hoạt động của Ủy ban Kiểm soát (IC) tại Pháp và các nước Đồng
minh, cũng như đối với thế giới bên ngoài. Ông Let đã sẵn lòng thừa nhận
điều này và cam kết với chúng tôi rằng vấn đề này sẽ được chú trọng giải quyết;
trong đó bao gồm việc công bố thông tin về sự tham gia của Hoa Kỳ — với
khoản đóng góp chiếm gần một phần ba tổng chi phí hoạt động. Ông Let
cũng đề cập đến sự vô ích của việc cố gắng thuyết phục người châu Á rằng họ [Trang
207] đã thực sự độc lập chừng nào người da trắng vẫn còn hiện diện tại đó, cũng
như mối nguy hiểm tiềm tàng khi đánh giá thấp mức độ nghiêm trọng của các vấn đề
kinh tế, xã hội và chính trị mà họ đang phải đối mặt trên cương vị một dân tộc
có chủ quyền.
(9) Giải pháp Tối ưu cho Vấn đề Đông Dương.
Ông đã mở rộng luận điểm ban đầu của mình, cho rằng một giải pháp chính trị tổng
thể tại Đông Á là giải pháp khả thi duy nhất cho Vấn đề Đông Dương.
Ông hoàn toàn không bi quan, và tin rằng sức mạnh mà chúng ta hiện đang thể hiện
tại Đông Dương là tiền đề tuyệt đối cần thiết cho sự thành công của các
cuộc đàm phán nhằm đạt tới một giải pháp tổng thể sau này. Ông không khẳng định
rằng Việt Minh có thể bị xóa sổ hoàn toàn với tư cách là một lực
lượng quân sự chính quy hay du kích; thay vào đó, điều tốt nhất có thể kỳ vọng
là họ sẽ bị đẩy lùi lên vùng đồi núi – những khu vực tương đối kém phát triển –
để rồi một thời gian sau đó, chính quyền Việt Nam sẽ đủ vững mạnh để tổ
chức quản lý những khu vực đã được giải phóng bởi Liên hiệp Pháp và sau
này là quân đội quốc gia. Ông đã nhắc lại những quan điểm của Tướng de
Lattre, với hàm ý rằng chỉ có chính người Việt Nam mới có thể
bình định được chính người dân bản địa.
(10) Đàm phán với Hồ Chí Minh.
Khi trả lời câu hỏi của Hoa Kỳ, ông Let đã khẳng định dứt khoát rằng
việc đàm phán với ông Hồ là điều hoàn toàn không thể, đơn thuần
chỉ vì lý do làm như vậy sẽ gây nguy hại đến an ninh của quân đội Liên hiệp
Pháp. Lập luận của ông về vấn đề này rất mạnh mẽ, và Bộ Ngoại giao
có tin rằng ngay cả khi đã có nỗ lực liên hệ với ông Hồ hoặc đại
diện của ông (điều mà chúng tôi thực sự hoài nghi), thì nỗ lực đó cũng đã thất
bại; và rằng, theo quan điểm của phía Pháp, vấn đề về một cuộc đàm phán
hòa bình song phương không còn được đặt ra nữa. Ông Let tuyên bố rằng một
giải pháp cho Đông Dương chỉ có thể được hình dung như một phần của giải
pháp tổng thể cho khu vực Đông Á, bao gồm cả vấn đề Triều Tiên.
Hơn nữa, ông nói thêm rằng sẽ không có bất kỳ cuộc đàm phán nào thuộc bất cứ
hình thức nào được khởi xướng mà không thông báo trước cho Hoa Kỳ. Ông
Let tin rằng mục tiêu của Liên Xô là buộc Pháp phải duy trì một
phần lực lượng quân sự của họ bên ngoài châu Âu; và rằng nếu Việt
Minh chịu thất bại nặng nề, Trung cộng sẽ tăng viện cho họ—dù chỉ
là để giữ chân quân Pháp tại vùng Viễn Đông. Đây chính là lý do
càng củng cố thêm việc các đội quân quốc gia vẫn tiếp tục là mục tiêu ưu tiên
hàng đầu của chúng ta.
(11) Viện trợ Quân sự.
Tại cuộc họp với các quan chức Bộ Quốc phòng vào ngày 16 tháng 6, ông
Let đã nêu ra ba điểm chính. Điểm thứ nhất là sự cần thiết phải tăng cường
số lượng máy bay vận tải nhằm cho phép thực hiện thêm các chiến dịch đổ bộ đường
không. Ông đặc biệt đề nghị cung cấp các máy bay loại C-119. Bộ Quốc
phòng phúc đáp rằng họ không khuyến khích sử dụng loại máy bay này tại Đông
Dương (IC), bởi lẽ chúng sẽ tạo ra nhu cầu bảo trì và nhân sự phi hành đoàn
tăng vọt. Vấn đề này sẽ được các chuyên gia kỹ thuật của cả hai bên tiếp tục
nghiên cứu thêm. Thứ hai, ông Let khẳng định rằng tại Đông Dương
đang có nhu cầu về máy bay phản lực, đặc biệt là trong trường hợp xảy ra một cuộc
xâm lược. Khi chưa có xâm lược thì nhu cầu này ít cấp bách hơn; tuy nhiên, do
thời gian sẽ không cho phép kịp điều động máy bay đến nơi và phát huy tác dụng
hữu ích sau khi cuộc xâm lược đã nổ ra, nên các máy bay này cần phải được bố
trí sẵn sàng tại chỗ để ứng phó với tình huống đó. Bộ Quốc phòng trả lời
rằng các máy bay phản lực đã được đưa vào chương trình của Năm Tài khóa 1953.
Điểm thứ ba liên quan đến [Trang 208] việc cung cấp phụ tùng thay thế. Ông
Let cho biết nhiều phương tiện cơ giới và máy bay đã không thể hoạt động do
thiếu hụt một số phụ tùng thay thế thiết yếu. Bộ Quốc phòng phúc đáp rằng
hầu hết các phụ tùng thay thế hiện đang được vận chuyển đi, và nhờ đó tình hình
sẽ sớm được cải thiện.
Phía Quốc phòng đã tóm tắt tình hình bàn giao các hạng
mục sản phẩm cuối cùng, và ông Let bày tỏ sự hài lòng đối với thời điểm
cũng như nội dung của các đợt bàn giao dự kiến này. Các cuộc họp trước đó ở cấp
tham mưu đã tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin, nhờ đó mà tại hội nghị lần
này, ông Let hầu như không còn vấn đề gì để thảo luận thêm.
Bản tóm tắt toàn bộ nội dung các cuộc trao đổi đang được
gửi đi qua đường công văn mật.
Acheson.
1. Được
soạn thảo bởi William M. Gibson thuộc PSA. Được gửi bằng đường hàng
không tới Paris và London để tham khảo.↩
2. Văn
bản này đề cập đến bài diễn văn do Letourneau trình bày trước Câu lạc bộ
Báo chí Hải ngoại tại Washington vào ngày 17 tháng 6.↩
List of Sources
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
List of Persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
Policy of the United States with respect to Indochina,
1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and
diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1.
Document 85
Foreign Relations of the United
States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
751G.00/6–2052: Telegram
The Secretary of State to the Legation
at Saigon1
top secret
Washington, June 20,
1952—9:13 p.m.
2014. For Chief of Mission. Further to Deptel 7404, June 17, re
Letourneau talks, fol is summary of subjs covered other than that of additional
aid outlined in reftel:
(1)
Mil Operations. Let stated two VM divs have been put
out of action since Feb fol Hoa Binh withdrawal which was voluntary operation
carried out for strategic purposes rather than enforced evacuation. Deliveries
under US mil aid program satisfactory in the main since de Lattre conversations
last Sep. Details being worked out with Pentagon. Outlook favorable.
(2)
Natl Armies. Development of natl armies proceeding
favorably if more slowly than originally hoped. To date there are 52 battalions
of which 40 are Vietnamese, 6 Cambodian and 6 Laos. Of 52, 21 have practically
no Fr officers; limited numbers in others being steadily reduced. Under present
training program mil schools are turning out 400 regular and approx 400 reserve
(candidate) officers each year. By 1955, when Fr state natl armies development
program will have been completed, 1400 regular native officers and 1600
reserves, or total of 3,000 will have been graduated from officer schools.
There are now 1549 officers. Total goal for 1955 is 5,000. Thus gap of 400 odd
still remaining. Re NCOs, present schools are training 1450 NCOs per annum. At
present time there are 5600. As 20,000 are needed by 1955 deficit still exists
in present planning. Let stated problem of developing natl armies rests in
inability recruit suitable officer candidates rather than in financial or
training difficulties as heretofore. He stated present officer training program
is maximum which can be carried out under present scale graduation secondary
schools in AS. He reported problem in recruiting specialists for armies such as
doctors and dentists.
(3)
Polit. Let reported that school for training Viet civil
servants, to which he attaches great importance in light lack of admin
personnel, will be opened in Oct 1952. Claims progress has been eminently satis
considering only three years of independence.
(4)
New Vietnamese Govt. Let spoke of strength and weakness
of Huu govt in terms similar to that reported by Saigon. He felt Huu had made
more progress than is usually credited to him. On other hand Tam has great
strength and as staunch enemy of Commies cld be expected to further war effort
by considerable degree. Let particularly encouraged by Tam‘s declaration
intention to estab a natl budget immed. He spoke sparingly of Natl Assembly and
seemed uncertain as to desirability but termed it purely Vietnamese problem. He
was sure that Tam wld succeed in broadening base his cabinet in due course.
Budgetary difficulties in Vietnam were outlined in detail. Fr believes future
under Tam holds prospect for improvement.
(5)
Bao Dai. Let emphasized strongly that Bao Dai is only
strong man in Vietnam other than Ho Chi Minh. He has confidence of great
numbers of people and is only man who can consolidate varying opinions. He
stated “nothing can be done in Vietnam without Bao Dai“. If the Chief of State
has a lesser concept of the responsibilities he holds than we wld desire we
must adjust ourselves to this fact and recognize the basic consideration that
changes can only be brought about through his authority.
(6)
Laos and Cambodia. Polit conditions in Laos were
glossed over with only slight comment. Let feels present system of
constitutional monarchy is most desirable one; that Laotians are honest,
straight-forward people who can be counted on even if they must continue to
receive help indefinitely. Be recent cabinet crisis in Cambodia, Let stated it
had been expected for some time and that on the whole it was a good thing. He
thought that one of their serious problems was that king was uninformed about
gen conditions in the country and that democratic party was not strong enough
to take action against either the VM or the Cambodian dissidents. He thought
situation bore watching but was on the whole not alarming.
(7)
Fr Policy Toward IC. Let stated that he believed a mil
decision in Vietnam was impossible until an overall settlement was reached. He
stated that if a defeat of the VM were in view the Chi Commies wld probably
pour in enough additional equipment to keep them going. If the war were one
simply between Ho and Bao Dai it wld be quite simple to settle, but it is not
that and matters are not in Ho‘s hands. In Let’s opinion Ho had little if any
authority in important decisions and knows now that he is a Soviet satellite.
Let statements in this re were reviewed at subsequent
sessions when it became more clear that he in no sense meant that there shld be
any decrease in the mil effort in IC because of fear that it wld only bring
about a comparable increase in Chi Commie intervention, but rather [Page 206] that any settlement
of the IC war wld depend upon the overall settlement in the Far East.
Let termed the Fr aim as to protect the independence
and freedom of the AS by bringing about a larger responsibility for the states
themselves in carrying the burden of battle. That this is being accomplished is
demonstrated by the fact that Fr casualties in 1946 were 88% of the total, and
indigenous 9%. While in 1951 Fr were 17% and indigenous 52%. It was stated that
Fr gains achieved cld only be maintained if strong admin were established
within the states themselves.
He spoke of Fr’s role in multipartite boards as based
on necessity of maintaining a balance between Laos and Cambodia on one side and
Vietnam on the other and in fact between each of the states and the other two.
Re Fr admin Let assured us that once war was over it
wld be possible to examine new basis of Fr Union relationship. (Let stated at
Press Club lunch that Fr Union is no prison and AS wld in future be free to
leave.2) He did not in any sense mean by this
that basic accords wld be amended but that increasingly liberal interpretation
wld be given them and precise provision of existing agreements such as Pau
Accords cld be reexamined and changed at will. He devoted some time to
explaining difficulties of dealing with such subjects in Fr and pointed out
that Mar 8 agreements were only ones ratified or for that matter submitted to
Assembly. Others had not been and cld not be under present circumstances.
In reply to Asst Secy Allison‘s questions re possible
modifications he made it clear that Fr wld adhere to ltr of the law for the
present but wld not close door to possible future adjustments. In ans to
further US questions he explained at some length present jurisdiction of Fr
over internal affairs of the three states. With re to preferential commercial
status for Fr and three states he stated that Fr interests wld of course be
maintained but there was no intention to preclude states carrying on trade with
outside world. Trade with Jap was particularly desirable. Assoc States cld
freely negot trade agreements with countries of choice.
(8)
Pub Relations. US pointed out failure to publicize
facts of IC operation in Fr and AS as well as outside world. Let readily agreed
to this and gave us assurances of attn to this matter including fact that US
participation amounting to nearly one-third of total cost wld be publicized.
Let spoke of futility of convincing Asians that they [Page 207] were independent as
long as white man remains and danger of underestimating gravity of econ, social
and polit problems they face as sovereign people.
(9)
Ultimate Solution to IC Question. Let expanded his
original point that overall polit settlement in East Asia was only possible
solution to IC question. He was not at all pessimistic and believed that
strength we are now demonstrating in IC absolute prerequisite to success of
eventual negot overall settlement. He did not claim that VM cld be totally
eradicated as a mil or guerrilla force but that best that cld be hoped for was
that they wld be driven into hills in relatively unproductive areas while some
time later Viet admin wld be strong enough to organize such areas freed by Fr
Union and later natl army troops. He reiterated de Lattreisms to the effect
that only Vietnamese cld pacify natives.
(10)
Negot with Ho Chi Minh. In ans to US question Let
stated emphatically that negot with Ho was out of question if only on grounds
that it wld jeopardize security of Fr Union troops. His presentation in this
respect was strong and Dept gained impression that even if an attempt had been
made to contact Ho or his representatives (which we seriously doubt) it had
failed and that there was no longer any question so far as Fr are concerned of
a bilateral peace negot. Let stated that a settlement for IC cld only be envisaged
as a part of gen East Asian settlement including Korea. He added furthermore
that no negot of any kind wld be initiated without prior notice to US. Let
believes that Soviet objective is to obligate the Fr to maintain part of their
forces outside of Europe and that if the VM suffered serious defeat Chi wld
reinforce them if only to keep the Fr engaged in FE. This was all the more
reason why the natl armies remained our prime objective.
(11)
Mil Aid. At his conf with officials of Defense on June
16 Let raised three main points. The first was need for increased transport
aircraft to enable additional paratroop operations to be made. He specifically
requested C-119 type planes. Defense responded to the effect that they did not
recommend that type for use in IC because of the greatly increased demands they
wld create for maintenance and flying crews. The question wld be further
studied by technicians of both sides. Secondly, Let stated that there was a
requirement for jet airplanes in IC, particularly in the event of an invasion.
In the absence of an invasion need less urgent, but since time wld not permit
them to be sent after an invasion were launched and serve a useful purpose they
shld be on hand pending such an eventuality. Defense responded that jet planes
were on the FY 53 program. The third point concerned [Page 208] the supply of spare
parts. Let stated that many vehicles and planes were unable to operate due to
the lack of a few critical spare parts. Defense responded that almost all of
the spares were now being shipped and that the situation shld be eased thereby.
Defense summarized the end-item program deliveries and Let expressed
satisfaction with the timing and contents of the expected deliveries. Prior
mtgs at the staff level resulted in an exchange of info which left little for
discussion by Let at this conf.
Summary of entire conversations being pouched.
Acheson
1. Drafted by William
M. Gibson of PSA. Transmitted by air to Paris and London for information.↩
2. Reference is to an
address delivered by Letourneau before the Overseas Press Club in Washington on
June 17.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d85
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_206
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_207
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_208
Thân thế (các) nhân vật
Acheson, Dean,
Secretary
of State to January 20, 1953.
https://en.wikipedia.org/wiki/Dean_Acheson
https://history.state.gov/departmenthistory/people/acheson-dean-gooderham
https://millercenter.org/president/truman/essays/acheson-1949-secretary-of-state
https://www.britannica.com/biography/Dean-Acheson
https://professorships.jhu.edu/professorship/dean-acheson-chair/
https://adst.org/oral-history/fascinating-figures/dean-acheson-architect-of-the-cold-war/
https://www.trumanlibrary.gov/library/personal-papers/dean-g-acheson-papers
https://www.ebsco.com/research-starters/history/dean-acheson
Allison, John M.,
Acting Assistant Secretary of State for Far
Eastern Affairs, to January 31, 1952; Assistant Secretary of State for Far
Eastern Affairs, February 1, 1952–April 7, 1953; Ambassador in Japan from May
28, 1953.
https://en.wikipedia.org/wiki/John_M._Allison
https://grokipedia.com/page/John_M._Allison
https://search.library.wisc.edu/digital/A2LWVT7DTTEDZP8W/pages/ACDCHMPAAPPKTS8N?as=text&view=scroll
https://www.trumanlibrary.gov/library/truman-papers/harry-s-truman-paperspresidents-secretarys-files
https://nsarchive.gwu.edu/briefing-book/nuclear-vault/2024-02-29/castle-bravo-70-worst-nuclear-test-us-history
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v14p2/d747
https://apjjf.org/2022/10/inoue
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v12p1/d281
Bao Dai,
Chief
of State of Vietnam.
De Lattre
De Tassigny, Général d’Armée Jean,
French
High Commissioner and Commander of French Forces in Indochina, December
1950–November 1951; died January 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_de_Lattre_de_Tassigny
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d8
https://www.britannica.com/biography/Jean-de-Lattre-de-Tassigny
https://ww2db.com/person_bio.php?person_id=738
Gibson, William M.,
Deputy Director, Office of Philippine and
Southeast Asian Affairs, Department of State, 1952; First Secretary and Consul
of the Embassy in France, from December 6, 1952.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
https://search.library.wisc.edu/digital/AIO6DKGPQCTEHE87/pages/AN53LEDUF24QWV8N?as=text&view=scroll
https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1948-08-august_0.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v06p1/persons
https://search.library.wisc.edu/digital/AO2WVLY2YVFBWI8B/pages/AP6OH63ZF3MU2E84?as=text&view=scroll
https://legal.un.org/ilc/documentation/english/reports/a_46_10.pdf
Ho Chi Minh,
President of the Democratic Republic
of Vietnam; also Chairman and General Secretary of Dang Lao Dong, Workers’
Party of Vietnam, leader of the Vietnamese Communist Party and President of the
Democratic Republic of Vietnam until his death in 1969
Letourneau, Jean,
French Minister in Charge of Relations with
the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner
in Indochina, April 1952–July 19, 1953.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53
https://en.wikisource.org/wiki/United_States_%E2%80%93_Vietnam_Relations,_1945%E2%80%931967:_A_Study_Prepared_by_the_Department_of_Defense/IV._A._4._U.S._Training_of_Vietnamese_National_Army,_1954%E2%80%9359
https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html
Nguyen Huu Tri,
Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet
(Vietnamese political party).
Nguyen Van Tam,
Minister of the Interior of the State of Vietnam and Acting Governor of
Northern Vietnam to June 3, 1952; Prime Minister of the State of Vietnam, June
3, 1952–December 17, 1953.