Wednesday, May 20, 2026

20260521 Cộng Đồng Tham Luận

20260521 Cộng Đồng Tham Luận


Acting Secretary of the Navy Releases Navy Shipbuilding Plan

https://www.youtube.com/watch?v=i-r_bU1HwXQ

'Would You Agree?': Mark Kelly Presses Acting Navy Sec. Hung Cao About Domestic Shipbuilding

https://www.youtube.com/watch?v=iGCtcBsuP7s

Pete Hegseth Welcomes USS Gerald Ford Sailors Home After Historic Deployment | APT

https://www.youtube.com/watch?v=Okts2eLQxuM

U.S. Renews Policy Stripping Hong Kong of Trade Privileges | China in Focus

https://www.youtube.com/watch?v=bYamFM2A0aI

US indicts former Cuban President Raúl Castro

https://www.youtube.com/watch?v=qG0YTSEBO7w

How Does US Treasury Rally Allies and Handle China? | Taiwan Talks EP836

https://www.youtube.com/watch?v=iVeC-EChKEk&t=24s

Community Reactions to New Acting Navy Secretary Hung Cao

https://www.youtube.com/watch?v=HWOCh2GJkOk

Acting Navy Secretary thanks sailors for long, demanding deployment

https://www.youtube.com/watch?v=HXDMZnEdUTc

Why Putin Rushed to Beijing After Trump Left China

https://www.youtube.com/watch?v=DWL39AJlmHM&t=2973s

FULL REMARKS: Rubio Offers Cuba New Deal as U.S. Announces Major Aid and Pressure Campaign | AC1B

https://www.youtube.com/watch?v=burV-efX0l0

What Trump Achieved in Beijing — and Why Taiwan Matters

https://www.youtube.com/watch?v=koU-mslp0N4

[Đẩy Lùi NQ36] Hoa Kỳ quyết triệt hạ kẻ thủ ác xuyên quốc gia

https://machsongmedia.org/all/vietnam/dan-chu/day-lui-nq36-hoa-ky-quyet-triet-ha-ke-thu-ac-xuyen-quoc-gia.html

[Đẩy Lùi NQ36] Sắp tới, nhà nước Việt Nam sẽ khó gửi “phóng viên” đến Hoa Kỳ nằm vùng

https://machsongmedia.org/all/vietnam/phat-trien-cong-dong/day-lui-nq36-sap-toi-nha-nuoc-viet-nam-se-kho-gui-phong-vien-den-hoa-ky-nam-vung.html

NGÀY ẤY NUÔI LÝ TƯỞNG – NGÀY NAY CÓ ÂN HẬN?

https://www.youtube.com/watch?v=QEWgrMmiEcc

TÔI ĐÃ BIẾT

https://www.youtube.com/watch?v=XbOa_fu6F_0

“Những thế hệ anh hùng – Di sản Tháng Tư” Children of Heroes – The Legacy of April.

https://www.youtube.com/watch?v=VZcdNYo8yFI

#1790: Lý Do Đảng Càn Quét Nhà Cửa Tại Hà Nội Và Phú Quốc | 20.05.26

https://www.youtube.com/watch?v=m6AjALB2pIs

The Pain of April - Karaoke with Vocal

https://www.youtube.com/watch?v=_63XISIjmto

20.5.26 BA SIÊU CƯỜNG QUỐC MỸ - NGA - TÀU CHI PHỐI THẾ GIỚI

https://www.youtube.com/watch?v=8A9yf2BhoP8

20.5.26 TIN TỨC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI HÔM NAY - NHÀ PHÂN TÍCH THỜI SỰ TRẦN TRUNG QUÂN

https://www.youtube.com/watch?v=3fCU6SvQcKg

20.5.26 TD3TV2

https://www.youtube.com/watch?v=rLlkyg07VE0&t=5137s

MỸ vs IRAN & BÓNG MỜ TRUNG CỘNG

https://www.youtube.com/watch?v=J23P_ffMY_k

20260521 CDTL DDE D597 25 May 1954 Điện tín về Cuộc họp giữa Smith và Bửu Lộc tại Geneva, sáng ngày 25 tháng 5.

20260521 CDTL DDE D597 25 May 1954 Điện tín về Cuộc họp giữa Smith và Bửu Lộc tại Geneva, sáng ngày 25 tháng 5

Phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao.

 

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d597

Google Translated

Tài liệu 597

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Hội nghị Geneva, Tập XVI

396.1 GE/5–2554: Điện tín về Cuộc họp giữa Smith và Bửu Lộc tại Geneva, sáng ngày 25 tháng 5 Phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Geneva, ngày 25 tháng 5 năm 1954 — 9 giờ tối

Secto 298. Thông tin được gửi lại từ Paris (điện số 328)Sài Gòn (điện số 109). Sáng nay, Hoàng thân Bửu Lộc đã đến gặp tôi trước khi ông trở lại Paris ngay trong ngày hôm nay, và [Trang 915] sau đó sẽ tiếp tục về Sài Gòn. Ông đã hỏi ý kiến ​​tôi về hội nghị cũng như tình hình tại Đông Dương. Tôi trả lời ông rằng, với sự thẳng thắn của một người lính, tôi xin khẳng định rằng: với ưu thế áp đảo về quân số (tỷ lệ hai chọi một) cùng ưu thế vượt trội về vũ khí trang bị, lực lượng Liên quân Pháp - Việt lẽ ra phải có khả năng đánh bại Việt Minh—ngay cả khi được chỉ huy bởi một vị tướng hạng hai—với điều kiện là phải có một tình hình chính trị ổn định cùng một bộ máy lãnh đạo chính trị vững mạnh ở hậu phương, đủ sức khơi dậy lòng trung thành của các lực lượng vũ trang Việt Nam cũng như củng cố quyết tâm giành chiến thắng nơi họ.

Chúng tôi đã sẵn sàng gia tăng sự hỗ trợ của mình, đặc biệt là dưới hình thức một phái bộ huấn luyện; chúng tôi tin rằng thực tiễn đã chứng minh các phương pháp sản xuất hàng loạt của chúng tôi luôn mang lại hiệu quả, cho dù là trong việc sản xuất ô tô hay huấn luyện binh sĩ. Ông Bửu Lộc khẳng định rằng ông tin chắc hơn bao giờ hết rằng Quốc trưởng Bảo Đại vẫn kiên quyết không từ bỏ cuộc đấu tranh, nhưng lại không muốn trở về Việt Nam nếu chưa mang theo được các hiệp ước thiết lập nền độc lập của Việt Nam khỏi Phápnhững văn kiện đã được ký kết và đóng dấu hoàn chỉnh. Khi rời Sài Gòn vào đầu tháng Tư, Quốc trưởng Bảo Đại đã nghĩ rằng mục tiêu này sẽ được hoàn tất chỉ trong vòng hai hoặc ba tuần. Trên thực tế, phía Pháp đã từ chối ký kết các hiệp ước này với lý do rằng việc ký kết cần phải chờ đến khi các thỏa thuận phụ trợ về tài chính và văn hóa được hoàn tất; tuy nhiên, theo nhận định của ông Bửu Lộc, nguyên nhân thực sự nằm ở chỗ người Pháp không muốn đưa ra bất kỳ cam kết nào mang tính ràng buộc không thể đảo ngược, cho đến khi họ biết rõ kết quả của Hội nghị Geneva sẽ ra sao.

Ông ấy đã đề nghị chúng tôi hỗ trợ trong việc nhấn mạnh một cách mạnh mẽ với phía Pháp về những lợi ích, và quả thực là cả sự cần thiết, của việc ký kết các hiệp định này mà không được chậm trễ thêm nữa. Tôi đã trả lời rằng chúng tôi hoàn toàn ủng hộ hành động đó và sẽ làm tất cả những gì có thể để thúc đẩy việc này thành hiện thực. Ông Bửu Lộc phát biểu rằng Quân đội Việt Nam cần phải có thêm quyền tự chủ cũng như bản sắc dân tộc riêng. Tôi đáp lại rằng chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm đó, và đây cũng chính là ý tưởng của Tướng O’Daniel – người vốn mong muốn thành lập các sư đoàn quân sự thuần Việt. Ông Bửu Lộc nói tiếp rằng, một khi có được quyền tự chủ về quân sự cùng với sự bảo đảm về việc chúng tôi sẽ tiếp tục duy trì viện trợ quân sự, Việt Nam sẽ vẫn kiên cường tiếp tục cuộc chiến ngay cả trong trường hợp phía Pháp đồng ý ký kết một thỏa thuận đình chiến, hay thậm chí là rút toàn bộ lực lượng quân sự của họ ra khỏi Việt Nam. Ông Bửu Lộc tin tưởng rằng Quân đội Quốc gia Việt Nam, với sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ, hoàn toàn có khả năng trấn giữ khu vực phía đông nam của Đồng bằng Bắc Bộ. Chính phủ của ông tin chắc rằng họ tuyệt đối không được phép để mất vùng đồng bằng phía Bắc vào tay phe Cộng sản – điều mà rất có thể sẽ dẫn đến việc phe này chiếm đoạt toàn bộ miền Nam Việt Nam ngay sau đó.

Ông cho biết mình sẽ sớm trở lại Sài Gòn, và việc ông nán lại trong vài ngày qua chỉ là do nhiều phái đoàn của giới quốc gia Việt Nam đang lần lượt đến ParisGeneva, đồng thời đã đề nghị ông ở lại để trực tiếp thông tin tình hình cho họ. Ông nói rằng mình đang thúc giục Bảo Đại giao phó việc tiếp tục đàm phán với phía Pháp cho Bộ trưởng Ngoại giaoBộ trưởng Đắc Khê đảm nhiệm; đồng thời để ông Bửu Lộc dẫn các [Trang 916] Bộ trưởng khác—những người hiện đang tham gia vào các cuộc đàm phán này—trở về Sài Gòn để thực thi công tác điều hành và tái thiết đất nước.

Smith.

List of Abbreviations and Symbols

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/persons

The Geneva Conference on Indochina May 8–July 21, 1954

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/comp2

III. Proceedings of the Conference: Continued Discussions of Conference Arrangements, Procedures, and Participants; United States Positions and Tactics at the Conference; Arrangements and Discussions on Collective Defense in Southeast Asia; Consideration of United States Military Intervention in Indochina; Proposals on Indochina by the Various Delegations; Efforts To End Hostilities in Indochina and To Preserve Peace in Southeast Asia; United States Participation in the Final Stage of the Indochina Phase of the Conference; Conclusion of the Geneva Conference (May 8–July 21)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7

May 25, 1954 (Documents 597–606)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7subch18

1.    Document 597

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, The Geneva Conference, Volume XVI

396.1 GE/5–2554: Telegram

Smith–Buu Log Meeting, Geneva, May 25, Morning: The United States Delegation to the Department of State

secret

Geneva, May 25, 1954—9 p.m.

Secto 298. Repeated information Paris 328, Saigon 109. Prince Buu Loc called on me this morning prior to his return to Paris today and [Page 915] then to Saigon. He asked me for my views on the conference and the situation in Indochina. I told him I would speak with the frankness of a soldier to say that with two to one numerical superiority and great superiority in armament the Franco-Vietnamese forces should be able, even under second class general, to defeat the Viet Minh provided there was a political situation and a political leadership behind the lines which would inspire the loyalty of the Vietnamese forces and their determination to win. We were prepared to increase our assistance, particularly in form of a training mission and we thought the record showed our methods of mass production achieved results whether in producing automobiles or training troops. Buu Loc said that he was sure that Bao Dai was more than ever determined not to give up the fight but did not want to return to Vietnam without bringing back the treaties establishing Vietnam’s independence from France fully signed and sealed. When Bao Dai left Saigon in early April he thought this would be accomplished in two or three weeks. Actually the French were refusing to sign these treaties on the pretense that signature must await conclusion of the subordinate financial and cultural agreements, but, actually, Buu Loc thought because the French did not want to commit themselves irrevocably until they saw how the Geneva conference would turn out. He asked our assistance in bringing strongly to French attention the advantage and indeed necessity in signing these accords without further delay. I told him we favored such action and would do what we could to bring it about. Buu Loc said that it was necessary that the Vietnamese Army have more autonomy and national identity. I told him that we sympathized with that idea and that was the idea of General O’Daniel who wished to form Vietnamese divisions. Buu Loc then went on to say that with military autonomy and with assurance of our continued military assistance, Vietnam would keep up the fight even if the French should agree to an armistice or even withdrawal their military forces in Vietnam. Buu Loc felt that Vietnamese National Army supported by US could hold the southeastern quarter of the Tonkin delta. His government was convinced that it must not yield the northern delta to the Communists which would probably thereafter take over southern Vietnam.

He said he was returning promptly to Saigon and had only stayed these last few days because various delegations of Vietnamese nationalists were arriving in Paris and Geneva and had asked him to stay over and brief them. He said he was urging Bao Dai to leave the further negotiations with the French in the hands of the Vietnamese Foreign Minister and Minister Dac Khe and let Buu Loc take the [Page 916] other Ministers now engaged in such negotiations back to Saigon to govern and reorganize the country.

Smith.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d597

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_915

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_916

Thân thế (các) nhân vật

Bao Dai,

Chief of State of Vietnam.

Buu Loc, (Bảo Đại)

Prince, Prime Minister of the State of Vietnam until June 16, 1954.

Nguyễn Đắc Khê, QG

Minister of Democratization of the State of Vietnam; Deputy Chief of the State of Vietnam Delegation at the Geneva Conference.

https://ideas.repec.org/a/bcp/journl/v6y2022i4p61-67.html

https://www.researchgate.net/publication/367721061_The_democratic_republic_of_Vietnam_delegation_with_Geneva_conference_in_1954

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d452

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d739

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/ReconsideringGenevaConf_1.pdf

O’Daniel, Lieutenant General John W.,

USA, Chief of the Military Assistance Advisory Group, Indochina to October 1955

https://en.wikipedia.org/wiki/John_W._O%27Daniel

https://valor.militarytimes.com/hero/13907

http://www.vietnamgear.com/bio/7.aspx

http://www.dogfacesoldier.org/vips/vips_odaniel.htm

Smith, Walter Bedell,

Under Secretary of State; Head of the United States Delegation at the Geneva Conference, May 3–June 20, and July 17–21, 1954.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch5subch4

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch006.asp

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/ReconsideringGenevaConf_1.pdf

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80B01676R002500010001-5.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d1027

https://search.library.wisc.edu/digital/ABHSHVCERGRA6I86/pages/ALUZ5OG5PRZCCH83?as=text&view=scroll

https://nara-media-001.s3.amazonaws.com/arcmedia/dc-metro/rg-263/6922330/Box-2-17-3/263-a1-27-box-2-17-3.pdf

https://en.wikipedia.org/wiki/Walter_Bedell_Smith

20260521 CDTL DDE D130 10 November 1952 Điện tín từ Đại sứ Dunn tại Pháp gửi Bộ Ngoại giao. Ngăn cộng sản.

20260521 CDTL DDE D130 10 November 1952 Điện tín từ Đại sứ Dunn tại Pháp gửi Bộ Ngoại giao. Ngăn cộng sản.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d130

Google Translated

Tài liệu 130

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

740.5/11–1052: Điện tín từ Đại sứ Dunn tại Pháp gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Paris, ngày 10 tháng 11 năm 1952 — 7 giờ tối

2870. Về Điện tín số 2609 của Bộ, ngày 4 tháng 11.1

1. Chúng tôi đã xem xét với sự quan tâm đặc biệt đối với phương hướng thực hiện được phác thảo trong bức điện tham chiếu, và chúng tôi hoàn toàn thấu hiểu sự cần thiết của việc có thêm các bên khác cùng tham gia hỗ trợ Pháp trong việc tài trợ cho các chiến dịch tại Đông Dương. Chúng tôi hiểu rằng bức điện tham chiếu nói trên chỉ đề cập đến khoản viện trợ giúp giảm bớt gánh nặng lên nguồn ngân sách của Pháp, và rằng sự hỗ trợ về nhân lực không được xem xét trong bối cảnh này. Chính gánh nặng ngân sách này là yếu tố tác động sâu sắc đến tư duy của Pháp trong các vấn đề liên quan đến NATO, EDC, Đức cũng như các vấn đề quốc phòng nói chung. Phía Pháp cũng sẽ hoan nghênh bất kỳ triển vọng nào giúp giảm bớt sự hao hụt về nhân lực quân sự; tuy nhiên, vào thời điểm hiện tại, họ dường như chỉ kỳ vọng sự giải tỏa này đến từ "việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương" hoặc sự phát triển dần dần của quân đội quốc gia tại các Quốc gia Liên kết—bởi lẽ, họ dường như nhận định rằng bất kỳ sự tham gia quân sự nào từ các quốc gia khác—trong bối cảnh chưa có sự can thiệp công khai từ phía Tầu cộng—là điều rất khó xảy ra và thậm chí có thể là điều không mong muốn.

2. Từ lâu, phía Pháp đã luôn khao khát nhận được sự thừa nhận từ nội bộ rằng việc họ bảo vệ Đông Dương là nhằm phục vụ lợi ích của thế giới tự do, chứ không đơn thuần là đang tiến hành một cuộc chiến tranh thuộc địa. Chắc hẳn Ngài vẫn còn nhớ rằng trong cuộc thảo luận giữa Bộ trưởng và các Bộ trưởng Pháp vào tháng Năm vừa qua, câu hỏi đầu tiên mà ông Pinay đặt ra là liệu Hoa Kỳ trên thực tế có thừa nhận nỗ lực của Pháp tại Đông Dương là vì lợi ích chung của khối đồng minh—chứ không chỉ đơn thuần là vì lợi ích riêng của Pháp—hay không; và Bộ trưởng đã trả lời là có.

Trong những tuần gần đây, các cuộc thảo luận công khai về tình hình này ngày càng gia tăng, cùng với đó là những tuyên bố xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn, cho rằng Pháp không thể tiếp tục mãi mãi việc đơn phương gánh vác gánh nặng của một cuộc chiến mà trong đó, lợi ích quốc gia của chính họ không còn là yếu tố chi phối chủ đạo, mà thay vào đó là mục tiêu ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản tại khu vực Đông Nam Á.

3. Theo nhận định của chúng tôi, điều kiện tiên quyết để có thể nhận được dù chỉ là sự hỗ trợ mang tính biểu tượng từ các quốc gia khác chính là việc thiết lập một khuôn khổ chính trị nhằm gắn kết các quốc gia này với nỗ lực của phía Pháp. Có lẽ phía Pháp đã cân nhắc đến điều này khi họ đề nghị thảo luận vấn đề Đông Nam Á theo cơ chế ba bên vào tháng 12 vừa qua. Nếu trong tương lai gần, chính phía Pháp chủ động nêu lên vấn đề về phương thức tiếp cận các quốc gia khác, chúng tôi tin rằng chúng ta nên dẫn chiếu đến thư trả lời của Bộ trưởng gửi ông Pinay vào tháng 5 năm ngoái; đồng thời tái khẳng định niềm tin của chúng ta rằng chiến dịch tại Đông Dương là vấn đề mang lại lợi ích cho toàn thế giới tự do chứ không chỉ riêng cho nước Pháp; tuyên bố rằng chúng ta ủng hộ [Trang 279] về nguyên tắc ý tưởng tìm kiếm và tổ chức thêm sự hỗ trợ từ các quốc gia khác; và rằng chúng ta sẵn sàng ủng hộ những đề nghị của phía Pháp nhằm đạt được mục tiêu này, miễn là các đề nghị đó mang tính khả thi và phù hợp.

4. Mặt khác, bất kỳ sáng kiến ​​nào từ phía chúng ta vào thời điểm hiện tại—trong bối cảnh tư duy hiện hành của phía Pháp—rất có thể sẽ khơi dậy sự nghi ngờ gay gắt rằng chúng ta chỉ đơn thuần đang tìm cách cắt giảm khoản viện trợ của chính mình. Điều này có thể gây ra tác động làm nản lòng nghiêm trọng đối với quyết tâm của họ liên quan đến vấn đề Đông Dương. Do đó, tôi mong rằng sẽ không có bước đi nào được thực hiện với phía Pháp vào lúc này theo hướng đã nêu trong bức điện tham chiếu; và thực tế rằng chúng ta thậm chí đang cân nhắc vấn đề này cần phải được giữ kín một cách tuyệt đối.

1.    Trong bức điện số 2609 gửi tới Paris ngày 4 tháng 11, Bộ Ngoại giao đã thảo luận về khả năng huy động sự hỗ trợ tài chính từ các quốc gia thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhằm hỗ trợ cho nỗ lực của Pháp tại Đông Dương. Bộ nhận định rằng những nỗ lực ban đầu sẽ đạt hiệu quả tốt nhất nếu được thực hiện với Canada và Bỉ. Bộ cũng nhấn mạnh tác động tích cực đối với Quốc hội Hoa Kỳ—vốn có thể đạt được thông qua nỗ lực giảm bớt gánh nặng của cuộc chiến tranh Đông Dương đối với Hoa Kỳ. (740.5/11–552) Để xem toàn văn bức điện số 2609, xin tham khảo Tập VI.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1

1.    Document 130

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

740.5/11–1052: Telegram

The Ambassador in France (Dunn) to the Department of State

secret

Paris, November 10, 1952—7 p.m.

2870. Re Deptel 2609, Nov 4.1

1.

We have considered with great interest the possible line of approach outlined in reftel, and we fully appreciate the desirability of having others participate in assisting France in financing the Indo-Chinese operations. We assume that reftel concerned with aid that would only alleviate strain on French budgetary resources, and that manpower assistance not considered in this context. It is the budgetary strain which deeply affects French thinking in NATO, EDC, Germany and defense questions in general. They would equally welcome any prospect of relieving drain on Friday [French] military manpower but at present time seem to expect such relief only from “settlement of Indochina war” or eventual development of Associated States Natl Armies, as they apparently see any military participation by other countries, in absence of overt Chinese intervention, as highly unlikely and perhaps undesirable.

2.

French have long been anxious for internal recognition that they are defending Indochina in interest of free world rather than merely waging a colonial war. You will recall that during Secretary’s discussion with French ministers last May, Pinay‘s first question was whether US did in fact recognize Fr effort in Indochina as in general allied interest rather than purely Fr interest and that Secy replied in affirmative.

In recent weeks there has been increasing public discussion of this situation and increasingly frequent statements that Fr could not continue indefinitely to carry by herself the burden of a war in which her natl interest was less of a controlling factor than of preventing the spread of Communist aggression in Southeast Asia.

3.

It seems to us that pre-condition for obtaining even symbolical aid from other countries is establishment of pol framework for associating them with Fr effort. Fr may have had this in mind when they suggested Southeast Asia problem be discussed tripartitely in Dec. Should Fr themselves bring up in immediate future question of possible approach to other countries, we believe we should refer to Secty’s reply to Pinay last May, reiterate our belief Indochina campaign of interest to free world rather than solely to France, state that we support [Page 279] in principle the idea of obtaining and organizing additional assistance from other nations, and that we would be prepared to support such Fr proposals to this end as might be practicable and desirable.

4.

On other hand, any initiative by us at present might well, in current state of Fr thinking, arouse strong suspicion we merely seeking ways of reducing our own assistance. This might have seriously discouraging effect on their own determination with respect to Indo-china. Accordingly I hope no steps will be taken with Fr at this time along lines reftel, and fact that we are even considering subject should be most closely held.

Dunn

1.    In telegram 2609 to Paris, Nov. 4, the Department of State discussed the possibility of obtaining the financial support of members of the North Atlantic Treaty Organization for the French effort in Indochina. It was considered that initial efforts might best be made with Canada and Belgium. The Department emphasized the favorable effect upon Congress which could be achieved by an attempt to reduce the burden of the Indochina war for the United States. (740.5/11–552) For the complete text of telegram 2609, see volume vi.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d130

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_279

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v06p1

Thân thế (các) nhân vật

Dunn, James Clement,

Ambassador in Italy to March 17, 1952; Ambassador in France, March 27, 1952–March 2, 1953; Ambassador in Spain from April 9, 1953.

https://en.wikipedia.org/wiki/James_Clement_Dunn

https://history.state.gov/departmenthistory/people/dunn-james-clement

https://history.state.gov/departmenthistory/people/dunn-james-clement

https://www.nytimes.com/1979/04/11/archives/james-clement-dunn-us-diplomat-in-europe.html

https://time.com/archive/6887313/foreign-relations-back-to-madrid/

https://www.washingtonpost.com/archive/local/1979/04/14/james-c-dunn-88-us-ambassador-to-four-countries-after-war-dies/cbce7e8e-38a2-4bd8-986e-d819a8782bbe/

https://www.trumanlibrary.gov/taxonomy/term/6156

https://www.nytimes.com/1953/03/06/archives/james-c-dunn-takes-oath-foreign-service-veteran-goes-to-spain-as.html

Pinay, Antoine,

Prime Minister of France, March 8, 1952–January 8, 1953.

https://simple.wikipedia.org/wiki/Antoine_Pinay

https://en.wikipedia.org/wiki/Antoine_Pinay

https://grokipedia.com/page/Antoine_Pinay

https://www.britannica.com/biography/Antoine-Pinay

https://www.archontology.org/nations/france/france_govt09/pinay.php

https://gerontology.fandom.com/wiki/Antoine_Pinay

20260521 CDTL HST D568 15 October 1950 Điện tín từ Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Ngoại trưởng. Pháp mất kiểm soát biên giới miền Bắc.

20260521 CDTL HST D568 15 October 1950 Điện tín từ Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Ngoại trưởng. Pháp mất kiểm soát biên giới miền Bắc.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d568

Google Translated

Tài liệu 568

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1950, Đông Á và Thái Bình Dương, Tập VI

751G.00/10–1550: Điện tín từ Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Ngoại trưởng.

Tối mật

Khẩn cấp (NIACT)

Sài Gòn, ngày 15 tháng 10 năm 1950 — 3 giờ chiều

556. Gửi RuskJessup.

A. Tình hình quân sự và chính trị tại Đông Dương đòi hỏi Chính phủ Hoa Kỳ phải dành sự cân nhắc ở cấp độ cao nhất đối với những biện pháp tức thời có thể được triển khai tại đây, nhằm ngăn chặn nguy cơ đánh mất Đông Dương và kéo theo đó là toàn bộ khu vực Đông Nam Á.

1. Hậu quả từ những thất bại của quân Pháp tại Bắc Kỳ nghiêm trọng hơn nhiều so với những gì được phản ánh qua việc mất đi 9 tiểu đoàn với 7.000 binh sĩ cùng các vị trí trọng yếu dọc biên giới Tầu cộng. Chúng tôi nhận định rằng:

(a) Việc mất toàn bộ vùng biên giới miền núi trải dài từ Lào Cai đến Móng Cái hiện gần như là điều không thể tránh khỏi. Tình hình sẽ trở nên vô cùng nan giải nếu quân Pháp không thể rút lui hoặc kết nối các đồn trú; tổn thất nhân sự có thể lên tới 20% tổng lực lượng Liên hiệp Pháp (không tính quân Việt) tại Đông Dương. Vào thời điểm viết báo cáo này, một số đồn bốt bổ sung đã bị bao vây, và công tác chuẩn bị rút quân khỏi cứ điểm Lạng Sơn gần như chắc chắn đang được tiến hành.

(b) Các kế hoạch tấn công của Pháp dự kiến ​​triển khai tại miền Bắc vào tháng tới hiện không thể thực hiện được, do các lực lượng dự bị chiến lược đã bị xóa sổ và các vị trí then chốt đã bị đánh mất.

(c) Trong bối cảnh này, và trong khi quá trình xây dựng một đội quân Việt Minh kiểu mới tại miền Nam Tầu cộng vẫn đang tiếp diễn, việc kiểm soát toàn bộ vùng Đồng bằng Bắc Kỳ—bao gồm cả Hà Nội và Hải Phòng—cũng như toàn bộ khu vực Bắc Đông Dươngbao gồm cả Lào—không còn có thể được bảo đảm nữa.

2. Nguồn nguy hiểm chủ yếu nằm ở hiệu ứng "quả cầu tuyết" nảy sinh từ tác động của những thất bại đối với tình hình chính trị vốn đã và đang xấu đi. Chúng tôi lo ngại rằng chuỗi thất bại kéo dài có thể châm ngòi cho những phản ứng dây chuyền tại các vùng hậu phương, nơi những người Việt Nam đang giữ thái độ trung lập sẽ bị cám dỗ tìm cách thỏa hiệp với Hồ Chí Minh.

3. Những thành quả mà phía Việt Minh (VM) đạt được cho đến nay—dù họ mới chỉ đưa khoảng một phần ba số đơn vị đã được huấn luyện tại Tầu cộng vào tham chiến—chắc chắn đã vượt xa cả những kỳ vọng của chính người Tầu cộng lẫn phía Việt Minh. Sự tham gia của Tầu cộng chắc chắn sẽ diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng. Chúng tôi dự báo rằng dòng tân binh Việt Nam đổ về các trại huấn luyện tại Tầu cộng sẽ gia tăng mạnh mẽ; và chẳng bao lâu nữa, lực lượng mới này rất có thể sẽ đủ khả năng tung ra một đợt tấn công tổng lực vào vùng đồng bằng—với mũi nhọn là xe tăng và được yểm trợ bởi không quân—mà phía Pháp hoàn toàn không có phương tiện nào để chống đỡ.

4. Nếu quân đội Pháp không thể hiện phong độ chiến đấu nào khá hơn so với 10 ngày qua, thì chúng ta buộc phải bổ sung thêm sự yếu kém trong năng lực chỉ huytình báo quân sự của họ vào danh sách những điểm trừ — những yếu tố mà chúng ta đang nỗ lực tìm kiếm các nhân tố đối trọng để cân bằng lại. Bất chấp những lời cảnh báo liên tục từ phía chúng ta, cho đến tận thời điểm hiện tại, dường như họ vẫn chưa thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa sâu xa của việc đường biên giới Tầu cộng trên thực tế đã không còn đóng vai trò là ranh giới phân định giữa Tầu cộng và lực lượng của Hồ Chí Minh. Hơn nữa, họ vẫn tiếp tục tỏ ra quá e dè, ngần ngại trong việc thực hiện bất kỳ hành động nào có nguy cơ chọc giận phe Tầu cộng — ngay cả những hoạt động cần thiết như trinh sát biên giới trên không ở cấp độ cao.

5. Mặc dù phía Pháp đã biết và thông báo cho Phái bộ từ nhiều tháng trước rằng một cuộc tấn công vào tuyến RC 4 có khả năng sắp xảy ra, họ lại không hề rút quân hay tăng cường lực lượng cho các vị trí đóng giữ của mình. Dường như không một ai muốn nhận trách nhiệm cho việc phải hạ cờ đầu hàng. Phía Pháp khăng khăng cho rằng sự thất thủ của Đông Khê chỉ là [Trang 895] một sự kiện đơn lẻ, và đã không chịu thừa nhận mối liên hệ giữa mối đe dọa đang gia tăng ở phía Bắc với những sự chuẩn bị khủng bố ngày càng mạnh mẽ tại các thành phố lớn cũng như khu vực quanh các sân bay. Họ đã đánh giá thấp một cách tai hại sự gia tăng hiệu quả chiến đấu của quân Việt nhờ vào việc được bổ sung các loại vũ khí tự động cùng một lực lượng pháo binh dã chiến đầy đủ.

Mặc dù kỳ vọng lớn nhất của Pháp là thuyết phục Hoa Kỳ tiến hành can thiệp trên không vào thời điểm thích hợp, nhưng họ lại đã xao nhãng việc thông báo cho chúng tôi một cách kịp thời và đầy đủ về những diễn biến gần đây—thông tin vốn cần thiết để chính phủ chúng tôi đánh giá tình hình, qua đó đưa tàu sân bay hoặc lực lượng không quân vào vị trí sẵn sàng, nếu quả thực đó là chủ trương của chúng tôi. Hiện nay, chúng tôi lo ngại rằng tình hình có thể đang dần trượt vào một cuộc tổng tấn công toàn diện của liên quân Trung-Việt, mà phía Pháp lại không nhận diện được bản chất đó, cũng như không kịp thời phát đi những tín hiệu cảnh báo cần thiết tới thế giới.

B. Trong bối cảnh hiện tại, hầu hết các biện pháp mà Hoa Kỳ đang áp dụng đều quá nhỏ giọt và chậm trễ. Chương trình viện trợ kinh tế khiêm tốn của chúng ta mới chỉ bắt đầu phát huy tác dụng. Viện trợ quân sự thì quá ít ỏi, và cho đến nay vẫn dựa trên một sự đánh giá mà chúng tôi tại Sài Gòn cho là chưa thấu đáo về những mối nguy hiểm của tình hình hiện tại tại Đông Dương, cũng như về tầm quan trọng của khu vực này đối với công cuộc phòng vệ lâu dài của Hoa Kỳ. Mặc dù chúng tôi hiểu rằng Đông Dương được xếp vào diện "ưu tiên cao nhất" đối với nguồn viện trợ MDAP, nhưng thước đo thực tế về tính cấp bách mà sự ưu tiên này mang lại lại nằm ở chỗ: những chiến đấu cơ vốn đang rất cần thiết và đã được yêu cầu từ tháng Hai thì nay phải đến tận tháng Mười Một mới cập bến.

Gần đây, chúng tôi đã đặt nhiều kỳ vọng vào việc nhanh chóng thành lập một đội quân quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, điều này không thể diễn ra kịp thời để tác động đến tình hình hiện tại, cũng như không còn sức lôi cuốn như lẽ ra nó đã có trước những thất bại vừa qua.

C. Trước những bất cập này, chúng tôi trân trọng đề nghị các điểm sau đây để được xem xét ở cấp cao trong thời gian sớm nhất:

1. Mặc dù việc thành lập một đội quân Việt hứa hẹn mang lại những kết quả khiêm tốn hơn so với kỳ vọng trước đây, song quyết định và tuyên bố về việc thành lập đội quân này vẫn có thể giúp vực dậy tinh thần của người Việt; điều kiện tiên quyết là đội quân này phải có chỉ huy riêng, có nòng cốt riêng về bộ tham mưu và các dịch vụ tiếp liệu, đồng thời phải hợp tác với phía Pháp trên cương vị một đồng minh và đối tác, thay vì chỉ là một lực lượng chịu sự bảo hộ. Hơn nữa, quy mô nhân sự của đội quân này phải thực sự tạo nên một sự gia tăng cụ thể về tổng số lực lượng vũ trang hiện diện tại Đông Dương. Theo các kế hoạch hiện hành của phía Pháp, những điều kiện này dường như vẫn chưa được đáp ứng một cách thỏa đáng. Như chúng tôi đã đề cập trong các bức điện tín trước đây, chúng tôi tin rằng Hoa Kỳ sẽ được yêu cầu đóng góp một phần kinh phí trực tiếp cho lực lượng này.

2. Mức độ khẩn cấp trong việc cung cấp viện trợ của Mỹ cần phải được thay đổi hoàn toàn. Với tất cả sự tôn trọng, chúng tôi đề nghị rằng những mặt hàng cần thiết nhất nên được chuyển đến khu vực này với tốc độ tương tự như khi được chuyển đến một lực lượng Mỹ đang hoạt động ở khu vực Thái Bình Dương theo chỉ thị của Tham mưu trưởng Liên quân. Mặc dù điều này có thể nằm ngoài khuôn khổ các thủ tục MDAP, tôi đã chỉ thị MAAG chuẩn bị danh sách ưu tiên hàng đầu của Pháp cần thiết ngay hôm nay, để đáp ứng một đợt vận chuyển viện trợ quy mô lớn. Người Pháp hiểu rằng điều này không phải theo chỉ thị của Chính phủ Mỹ.

3. Các tờ báo đưa tin rằng vấn đề Đông Dương nằm trong chương trình nghị sự của cuộc họp diễn ra tại khu vực Trung Thái Bình Dương. Chúng tôi không rõ liệu thực hư có đúng như vậy hay không. Phái bộ đã từ lâu thúc giục—và tại hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao, quyết định đã được đưa ra—[Trang 896] về việc tổ chức các cuộc tham vấn chiến lược tại khu vực này sớm nhất có thể. Sẽ tốt hơn nếu các cuộc tham vấn này được tổ chức trước khi những khó khăn hiện tại nảy sinh; tuy nhiên, giờ đây chúng lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.

Xin trân trọng kiến ​​nghị rằng, cả tại Hoa Kỳ lẫn vào thời điểm kết thúc hội nghị giữa Thái Bình Dương, cần tránh đưa ra những tuyên bố hàm ý rằng tuyến phòng thủ của Hoa Kỳ chạy dọc theo chuỗi đảo nằm ngoài khơi châu Á. Mỗi khi luận điểm này được phát ngôn trong năm vừa qua, chúng tôi đều ghi nhận những phản ứng đầy bất an; việc tiếp tục đưa ra luận điểm này sẽ giáng một đòn chí mạng vào các lợi ích của Khối cường quốc phương Tây.

4. Chúng tôi cũng tin rằng thời điểm đã chín muồi—như Phái bộ ngoại giao đã khẩn thiết đề nghị gần đây—cho việc tiến hành tham vấn giữa Pháp và Hoa Kỳ về công tác hoạch định quân sự tại khu vực này.

5. Chúng tôi hy vọng có thể tìm ra một phương cách nào đó để vận dụng một phần nguồn lực của Liên Hợp Quốc vào chiến trường này. Các biện pháp trọng tài hay trung gian hòa giải hiện dường như là điều không thể bàn tới, không chỉ vì sự can thiệp của khối Xô Viết, mà còn bởi lẽ đề nghị ngừng bắn và hòa giải vào lúc này dường như là điều bất khả thi để phía Pháp chấp nhận, hay để phía Hoa Kỳ đưa ra. Hơn nữa, sự can thiệp như vậy sẽ vô tình khoác lên Hồ Chí Minh một tấm áo hợp pháp, đồng thời làm suy yếu mặt trận toàn cầu chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Thêm vào đó, bất kỳ cam kết nào được thiết lập như là kết quả của sự can thiệp này cũng sẽ không được phía Cộng sản tôn trọng.

Tuy nhiên, chúng tôi giả định rằng Bộ đang cân nhắc khả năng thành lập một ủy ban biên giới thuộc Liên Hợp Quốc, hoạt động dưới sự ủy nhiệm của Đại hội đồng, với phạm vi nhiệm vụ giới hạn ở việc xác định trách nhiệm đối với các hành vi vi phạm biên giới và tích cực tiếp tay cho hành động xâm lược chống lại một quốc gia láng giềng. Tất nhiên, chúng tôi nhận thức rõ rằng, theo quan điểm của mình, khối Xô Viết đang tiến hành giao thương với cầm quyền Hồ Chí Minh – một nhà cầm quyền được công nhận về mặt pháp lý.

Thực tếliên minh Nga-Trung đang xâm lược Đông Dương, sử dụng các lực lượng Việt Minh mà họ đang gấp rút huấn luyện và trang bị để làm mũi nhọn xâm lăng. Giờ đây, chúng ta buộc phải tính đến khả năng rằng chỉ còn là vấn đề của vài tuần, hoặc thậm chí vài ngày, trước khi Tầu cộng công khai tham gia vào cuộc xâm lược này.

Bộ gửi Paris; Công điện số 556 của Bộ, gửi để biết tới Paris (số 266).

Heath.

1.    Xem chú thích biên tập ở dưới.

List of abbreviations and symbols

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/terms

Multilateral Relations:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp1

Indochina:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp5

Policy of the United States with respect to Indochina; United States recognition of Vietnam, Laos, and Cambodia as Associated States within the French Union; the extension of United States military assistance to French Union forces; United States economic, military, and diplomatic support for the Associated States (Documents 439–607)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/ch6

1.    Document 568

Foreign Relations of the United States, 1950, East Asia and the Pacific, Volume VI

751G.00/10–1550: Telegram

The Minister at Saigon (Heath) to the Secretary of State

top secret
niact

Saigon, October 15, 1950—3 p. m.

556. For Rusk and Jessup.

A.

Military and political situation in Indochina demands highest level consideration US Government with respect to what immediate steps may be taken here to prevent loss of Indochina and with it, all of SEA.

1.

Consequences French defeats in Northern Tonkin are far graver than indicated by loss of 9 battalions with 7,000 men and key positions along Chinese frontier. We believe:

(a)

Loss of entire mountainous frontier region from Lao Kay to Mon Cay is now almost inevitable. Highly problematic if French can withdraw or link up garrisons, and losses might involve as much as 20 percent all French union forces (exclusive of Viets) in Indochina. At this writing several additional posts surrounded and preparations for withdrawal from Langson bastion are almost certainly underway.

(b)

French offensive plans scheduled for north next month cannot now be implemented in view elimination strategic reserves and loss of pivotal positions.

(c)

In these circumstances and while build-up of new model VM army in southern China continues, control of all Tonkin delta including Hanoi and Haiphong and of northern Indochina including Laos can no longer be assured.

2.

Prime source of danger is snow-balling effect produced by impacts of defeats on already deteriorating political situation. We fear continuation of defeats may set up chain reactions in rear areas where fence-sitting Viets will be tempted to seek an accommodation with Ho Chi Minh.

3.

Successes so far obtained by VM who have only committed about third of elements trained in China doubtless have exceeded even Chinese and VM expectations. Chinese participation will surely take ample forms. We look for much-increased flow of Viet recruits to China training camps and before long their new forces may well be able to hurl tank-led plane-covered assault against delta which French have no means to resist.

4.

If French reveal no better military form than in past 10 days, then we must also add deficient French generalship and military intelligence to debit side of ledger for which we seek balancing factors. In spite of our constant warnings, they do not up to present time appear to have grasped full implication of practical disappearance of Chinese border as line of demarcation between Red China and Ho Chi Minh. Moreover, they have shown continuing squeamishness about taking any action which would provoke Chinese Communists, even including necessary high level aerial frontier reconnaissance.

5.

Although French knew and informed Legation months ago that attack on RC 4 line possibly impending, they neither withdrew nor reinforced their positions. Apparently no one wished to take responsibility for hauling down flag. French insisted that fall of Dongkhe was [Page 895] an isolated action and failed to admit connection between gathering threat in north and increasing terrorist preparations in large cities and around airports. They woefully underestimated the enhancement of Viet combat efficiency due to addition automatic weapons and an adequate field artillery. Although France’s great hope is to induce US to undertake eventual air intervention, they have neglected to inform us currently and completely of recent actions in time for our government to make estimate of situation which would be required to move carriers or air into position if indeed such were our intention. We now fear that the situation may be gradually sliding into one of all-out Sino-Viet general offensive without French recognizing it as such and sending up in time the necessary danger signals to the world.

B.

In this situation most measures now being applied by US are little and late. Our small program of economic aid is just beginning to take hold. Military aid is too little and is so far based on what we in Saigon believe to be an inadequate appreciation of dangers of present situation in Indochina and importance of Indochina to eventual defense of US. Although we understand Indochina in “highest priority” for MDAP assistance, measure of urgency secured by such priority is fact that vitally needed fighter aircraft demanded in February are arriving only in November.

We have lately placed much hope in rapid formation of Viet national army. This cannot happen in time to affect present situation nor can it have the same appeal as it would have had before recent defeats.

C.

In view of these inadequacies, we therefore propose following for earliest high level consideration:

1.

Although formation of Viet army promises less than formerly, nevertheless decision and declaration for formation of such an army might put spirit in Viets provided that such an army has its own commander, nucleus of its own staff and supply services, and that it will cooperate with French as an ally and associate rather than as tutelar. Also that its numbers will constitute a set increase in forces under arms in Indochina. These conditions do not appear to be adequately met under present French plans. As we have indicated in previous telegrams, we believe that US will be called on for some direct financing of this force.

2.

Scale of urgency for delivery of US aid must be completely transformed. With all respect, we suggest that most urgently needed items should be moved to this theater with same rapidity as they would be moved under directions of JCS to a US force engaged in Pacific area. Although this may be outside the framework of MDAP procedures, I have directed MAAG to prepare with the French topmost priority list needed today, to meet a massive VM thrust. French understand this not in pursuance of instructions US Government.

3.

Newspapers report that Indochina is on agenda of meeting in mid-Pacific.1 We do not know whether or not this be the case. Legation has long urged, and at Foreign Minister’s conference it was decided [Page 896] to hold, earliest strategic conversations in this area. It would have been better had these been held before present difficulties but they now all the more necessary. Respectfully suggest that both in US and, at conclusion of mid-Pacific meeting, statements to effect that US line of defense runs through chain of islands off shore from Asia should be avoided. Each time this thesis has been stated in last year, we have had perturbed reaction [and] would be critical blow to Western Power interests.

4.

Also believe time has come, as Legation has recently urged; for need French-US consultation in military planning in this area.

5.

We hope some way can be found to apply some of resources of UN to this theater. Arbitration or good offices now seem out of question, not only because Soviet bloc interference but because proposal of cease fire and conciliation would now seem be impossible for French to accept or for US to propose. Moreover, such interposition would confer cloak of legality on Ho Chi Minh and weaken world-wide front against Communists. Furthermore, any engagements taken as result such intervention would not be respected by Communists.

We assume, however, Department considering possibility of UN border commission operating under Assembly mandate with terms of reference restricted to establishing responsibility for border violations and actively abetting aggression on a neighboring state. We realize, of course, that Soviet bloc is, in its view, holding commerce with legally recognized Ho Government.

Fact is that Russia-China is invading Indochina using VM forces they are rapidly training and equipping as an invasion force. We must now reckon with possibility that it may be only question of weeks or even days before China overtly participates in this aggression.

Department pass Paris; sent Department 556, repeated information Paris 266.

Heath

1.    See editorial note, infra.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d568

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_895

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_896

Thân thế (các) nhân vật

Harry S. Truman

https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_presidents_of_the_United_States

https://www.whitehousehistory.org/the-presidents-timeline

https://en.wikipedia.org/wiki/Harry_S._Truman

https://millercenter.org/president/truman/life-in-brief

https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman

https://www.trumanlittlewhitehouse.org/key-west/president-truman-biography

https://www.trumanlibrary.gov/education/trivia/biographical-sketch-harry-truman

https://www.history.com/articles/harry-truman