20260826 CDTL NRM D57 12 November 1973 57. Bản ghi nhớ cuộc hội đàm.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d57
Google Translated
Tài liệu số 57
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập XVIII, Trung Quốc, 1973–1976
57. Bản ghi nhớ cuộc hội đàm.
Bắc Kinh, ngày 12 tháng 11 năm 1973, 15:00–17:30.
THÀNH PHẦN THAM DỰ
Thủ tướng Chu Ân Lai
Bộ trưởng Ngoại giao Cơ Bằng Phi
Thứ trưởng Ngoại giao Kiều Quán Hoa
Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Vương Hải Dung
Hai quan chức Bộ Ngoại giao Trung Quốc
Đường Văn Sinh, Phiên dịch viên
Thẩm Nhược Vân, Phiên dịch viên
Một thư ký ghi chép phía Trung Quốc
Henry A. Kissinger, Ngoại trưởng
Đại sứ David Bruce, Trưởng Văn phòng Liên lạc Hoa Kỳ
Đại sứ Robert Ingersoll, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Tokyo
Winston Lord, Giám đốc Ban Kế hoạch và Phối hợp, Bộ Ngoại giao
Alfred Jenkins, Văn phòng Liên lạc Hoa Kỳ
[Trang 360]
Bộ trưởng Kissinger: Thưa Thủ tướng, tôi xin trả lời ông về vấn đề sản xuất máy bay tại Đài Loan.2 Đây không phải là hoạt động sản xuất máy bay hoàn chỉnh mà chỉ là lắp ráp, trong đó chúng tôi cung cấp các linh kiện. Loại máy bay này là tiêm kích tầm ngắn và sẽ không làm tăng tổng số lượng máy bay hiện có tại Đài Loan. Khi chúng tôi ngừng cung cấp linh kiện, họ sẽ không thể tiếp tục sản xuất chúng nữa. Vì vậy, trên thực tế, việc này khác với việc cung cấp trực tiếp máy bay cho họ. Họ không có năng lực độc lập để sản xuất loại máy bay đang được phát triển này. Điều tương tự cũng áp dụng cho tất cả các thỏa thuận hợp tác sản xuất khác. Đó là loại máy bay F-5E, với số lượng 100 chiếc được sản xuất trong giai đoạn từ năm 1973 đến 1978.
Thủ tướng Chu: Như vậy thì Tưởng Kinh Quốc sẽ yên tâm.
Bộ trưởng Kissinger: Theo nhận định của chúng tôi thì hiện nay ông ấy (Tưởng Giới Thạch) không còn hoạt động tích cực nữa.
Thủ tướng Chu: Ông ấy không thể hoạt động được nữa, và cũng khó mà sống thêm được năm năm nữa. Nhưng tôi không mong ông ấy qua đời. Ông ấy có thể sống bao lâu tùy ý. Nếu muốn, ông ấy có thể sống đến 100 tuổi. Ý tôi là, như vậy thì Tưởng Kinh Quốc sẽ yên tâm hơn vì ông ấy có thể tiếp tục lãnh đạo đất nước cho đến năm 1978.
Bộ trưởng Kissinger: Chúng tôi không có kế hoạch nào cho loại máy bay này hay dự án này vượt quá mốc năm 1978.
Thủ tướng Chu: Ông nói đó là loại có tầm hoạt động ngắn. Thực ra, bán kính hoạt động có thể lên tới 180 km. Đó là bán kính tác chiến.
Bộ trưởng Kissinger: Và quay trở về được chứ? Bay một chiều thì có thể, nhưng quay về thì không.
Thủ tướng Chu: Nếu có thiết bị tiếp nhiên liệu thì máy bay sẽ quay về được.
Bộ trưởng Kissinger: Loại F-5E ư?
Thủ tướng Chu: Đúng vậy. Kể cả máy bay lớn hơn cũng không thành vấn đề. Tôi chỉ muốn làm rõ xem liệu đây có phải là nhà máy lắp ráp hay không.
Bộ trưởng Kissinger: Đó là nhà máy lắp ráp chứ không phải nhà máy sản xuất. Chúng tôi cung cấp linh kiện. Họ không tự sản xuất linh kiện. Vì vậy, họ không có năng lực độc lập.
Thủ tướng Chu: Nhật Bản có khả năng sản xuất loại máy bay này hoặc loại lớn hơn không?
Bộ trưởng Kissinger: Nhật Bản chưa từng sản xuất loại máy bay nào như thế này, nhưng họ chắc chắn có đủ năng lực. Tôi cần kiểm tra lại, nhưng... Đại sứ Ingersoll này, ông có biết liệu chúng ta có chương trình hợp tác sản xuất nào không?
Đại sứ Ingersoll: Không phải loại F5; mà là F4. [Trang 361]
Bộ trưởng Kissinger: Họ đang sản xuất loại F4. F4 có tầm hoạt động đủ để tấn công hiệu quả. F5 không phải là máy bay ném bom. F4 có thể được sử dụng hiệu quả cho nhiệm vụ ném bom.
Thủ tướng Chu: Thực ra, F5E cũng có khả năng ném bom. Điểm khác biệt duy nhất là nó nhẹ hơn. F4, tức loại Phantom, có thể mang tải trọng lớn hơn.
Bộ trưởng Kissinger: Đúng vậy. F4 có thể mang tải trọng lớn hơn.
Thủ tướng Chu: Nhưng tầm hoạt động của cả hai thì như nhau.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi không chắc về điều này. Tôi thực sự không nắm rõ các thông số kỹ thuật cụ thể. Về mặt chiến lược, chúng tôi luôn coi F5 thuần túy là máy bay tiêm kích, không có khả năng ném bom. Chúng tôi sử dụng nó để hỗ trợ tác chiến chiến thuật.
F4 được dùng cho nhiệm vụ mà chúng tôi gọi là ngăn chặn từ xa (deep interdiction) – tức là thâm nhập sâu vào phía sau chiến tuyến và tạo ra tác động chiến lược – nhưng tôi không biết chính xác các thông số kỹ thuật. Ví dụ, trong kế hoạch chiến lược của chúng tôi đối với Việt Nam, F5 luôn được dự kiến dùng để hỗ trợ hỏa lực ném bom cho bộ binh ở tiền tuyến, còn F4 dùng để cắt đứt các tuyến tiếp tế/liên lạc nhờ khả năng mang tải trọng bom lớn; và tôi từng nghĩ nó có tầm bay xa hơn. Tôi sẽ phải kiểm tra lại vấn đề này. Tôi sẽ có câu trả lời vào ngày mai.
Đại sứ Ingersoll: F4 có khả năng tiếp nhiên liệu trên không.
Thủ tướng Chu: Điều đó không quan trọng. Sẽ rất tốt nếu việc này có thể bị trì hoãn thêm năm năm nữa, bởi vì như vậy họ có thể duy trì viễn cảnh đó thêm năm năm nữa. Trong trường hợp đó, cam kết gần đây của ông sẽ có thể được thực hiện theo cách này: Nó sẽ không khơi dậy tham vọng của một nước thứ ba. Tôi nhìn nhận vấn đề như vậy. Chuyện là 100 hay 200 máy bay cũng không quan trọng.
Và tất nhiên, còn một điểm nữa. Có thể cho phép tấn công Đại lục, nhưng nếu họ khăng khăng muốn tấn công Đại lục, chúng tôi hoan nghênh họ. Hãy cứ để họ thử xem sao.
Bộ trưởng Kissinger: Ông có thể tin tưởng vào cam kết của chúng tôi rằng họ sẽ không được phép tấn công Đại lục. Nếu họ làm vậy, họ sẽ hoàn toàn mất đi sự ủng hộ của Mỹ.
Thủ tướng Chu: Nếu họ có ý định làm điều đó, họ sẽ hành động đơn phương.
Bộ trưởng Kissinger: Sẽ không có cuộc tấn công nào, cũng không có cuộc tấn công nào do Mỹ bảo trợ trong tương lai, hay bất kỳ cuộc tấn công nào mà Tổng thống chúng tôi có thể kiểm soát.
Thủ tướng Chu: Những gì ông nói với tôi hôm qua đã được báo cáo lên Chủ tịch. Có một điểm tôi chưa giải thích kỹ vì bản thân tôi cũng chưa hoàn toàn hiểu rõ. Hôm qua ông có đề cập đến khả năng tìm kiếm—rằng ông muốn tìm—một cách thức liên quan đến quan hệ song phương của chúng ta, nhằm tìm ra những câu chữ tương tự như trong Thông cáo Thượng Hải hoặc có sự điều chỉnh đôi chút để có thể [Trang 362] thúc đẩy sự phát triển quan hệ giữa hai bên. Tôi chưa có cơ hội đưa ra một thông cáo hay một hình thức nào khác?
Bộ trưởng Kissinger: Tôi muốn hỏi Thủ tướng xem liệu ngài có cho rằng việc ra một bản thông cáo chung khi kết thúc chuyến thăm của tôi là phù hợp hay không; nếu có, chúng tôi sẵn sàng thực hiện việc này. Ý kiến của tôi đề cập đến vấn đề thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức. Chúng tôi không thể đẩy nhanh tiến độ hơn so với lộ trình mà tôi đã trình bày nếu áp dụng "công thức Nhật Bản". Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể tìm ra một công thức linh hoạt hơn—miễn là cả hai bên đều hiểu rằng mục tiêu cuối cùng vẫn là thiết lập quan hệ ngoại giao—thì chúng tôi sẵn sàng thực hiện việc đó sớm hơn.
Thủ tướng Chu: Hôm qua, ông đã nhắc lại rằng phía ông không ủng hộ ý tưởng về "hai nước Trung Quốc". Trong bối cảnh đó, ông đang hình dung về một công thức linh hoạt như thế nào? Đây cũng là một vấn đề nan giải đối với chúng tôi. Có lẽ ông đã nghĩ ra được một ý tưởng hay.
Bộ trưởng Kissinger: Thực ra thì tôi chưa có ý tưởng cụ thể nào cả. Nếu Thủ tướng muốn, tôi có thể trình bày một phương án vào cuối ngày hôm nay, sau khi đã có dịp thảo luận với các cộng sự của mình. Tôi đang nghĩ đến một văn bản tương tự như Thông cáo Thượng Hải, trong đó làm rõ rằng việc thiết lập quan hệ ngoại giao không đồng nghĩa với việc từ bỏ nguyên tắc "chỉ có một nước Trung Quốc".
Thủ tướng Chu: Cô ấy (phiên dịch viên) đã đoán rất đúng ý ông. Khi chúng tôi làm việc với Chủ tịch, tôi đã không dám giải thích về tuyên bố đó, nhưng cô ấy lại dám đưa ra lời giải thích về tuyên bố này.
Bộ trưởng Kissinger: Thưa Thủ tướng, theo tôi hiểu, vấn đề đối với việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai bên – trong khi chúng tôi vẫn duy trì quan hệ với Đài Loan – là điều này có thể dẫn đến chính sách "hai nước Trung Quốc", một chính sách mà chúng ta đã thống nhất là sẽ không ủng hộ. Điều chúng ta cần tìm kiếm là một phương thức thể hiện rõ ràng rằng nguyên tắc đó không bị từ bỏ; rằng cả hai bên đều công nhận chỉ có một nước Trung Quốc.
Thủ tướng Chu: Cô ấy (phiên dịch viên) đã đoán rất chính xác suy nghĩ của ông.
Bộ trưởng Kissinger: Vâng. [Trang 363]
Thủ tướng Chu: Vậy ra người lớn tuổi lại không bằng người trẻ tuổi.
Bộ trưởng Kissinger: Cô ấy đã có cuộc trò chuyện dài với ông Lord trên máy bay.
Ông Lord: Chúng tôi cũng đã có những cuộc trao đổi riêng với người đồng cấp của mình.
Phiên dịch viên: Còn một vấn đề khác đã được thảo luận trên máy bay.
Thủ tướng Chu: Có một vấn đề khác được đề cập liên quan đến Tổng lãnh sự quán. Có lẽ ông chưa tìm hiểu kỹ về điểm này. Theo thông tin chúng tôi nắm được, hiện có tổng cộng mười hai cơ sở như vậy. Ban đầu chỉ có mười. Gần đây họ đã lập thêm hai cơ sở nữa.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi biết có một cơ sở ở New York.
Ông Jenkins: Có một cơ sở ở Atlanta.
Bộ trưởng Kissinger: Việc này hẳn là để dành cho ông Jenkins.
Tôi không chú ý đến văn phòng ở New York. Và cách lý giải của chúng tôi – cách chúng tôi tự nhìn nhận vấn đề – chính là điều tôi đã nói với ông hôm qua: rằng chính quyền Đài Loan đang chuẩn bị cho ngày chúng ta tiến tới việc chỉ công nhận Bắc Kinh; một ngày mà chúng ta biết là không thể tránh khỏi. Khi đó, họ muốn có một cơ quan đại diện tại Mỹ để duy trì các hoạt động trao đổi với chúng ta, và tôi tin rằng vì lý do đó họ đã chọn đặt Tổng lãnh sự quán tại New York, bởi việc đặt nó ở Washington sẽ không phù hợp. Đó là cách chúng tôi tự nhìn nhận vấn đề.
Và theo cách nhìn nhận nội bộ của chúng tôi, nơi này cũng được dự tính là một điểm tiếp xúc tiềm năng với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bất cứ khi nào các cuộc thảo luận diễn ra.
Phiên dịch viên: Hôm qua ông có đề cập đến một điểm tiếp xúc với Tưởng Giới Thạch.
Bộ trưởng Kissinger: Một điểm tiếp xúc với Hoa Kỳ sau khi chúng ta đã thực hiện bước chuyển đổi – giả sử là vào thời điểm không muộn hơn giữa năm 1976 – và thứ hai, một địa điểm tiềm năng để chính quyền Đài Loan đàm phán với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Điều này không dựa trên thông tin xác thực mà dựa trên cách chúng tôi lý giải động cơ của họ. Cách lý giải thứ hai này có thể không chính xác.
Thủ tướng Chu: Đó chỉ là một ý tưởng thôi.
Bộ trưởng Kissinger: Đó là kết quả phân tích của chúng tôi về vấn đề này.
Thủ tướng Chu: Ông có điều gì muốn nói với tôi trước không?
Bộ trưởng Kissinger: Hiện tôi đã có thông tin về tình hình đàm phán liên quan đến đồng rupee mà ông quan tâm. Khó khăn của chúng tôi là không thể tiêu hết số tiền rupee đã tích lũy được. Do đó, chúng tôi đã chấp nhận phương án sử dụng 35% tổng số tiền rupee trong các tài khoản bị phong tỏa này – vốn chỉ được phép chi tiêu tại Ấn Độ – nhưng [Trang 364] ngay cả với mức đó, chúng tôi cũng phải mất tới hai mươi năm mới tiêu hết. Khó khăn thực sự nằm ở chỗ chúng tôi đã để các khoản nợ tích tụ quá lớn mà không tính toán xem có thể làm gì với chúng. Ngoài ra, các khoản nợ bằng đô-la mà họ nợ chúng tôi cũng gia tăng nhanh chóng, dù quy mô nhỏ hơn nhiều. Đó là cơ sở lý giải cho vấn đề này.
Thủ tướng Chu: Vậy hiện tượng xảy ra tại Ấn Độ... ông không gặp tình trạng tương tự ở các quốc gia khác sao?
Bộ trưởng Kissinger: Không hoàn toàn ở mức độ đó. Chúng tôi từng gặp tình trạng này ở Nhật Bản, nhưng vấn đề đang dần được giải quyết. Tuy nhiên, chúng tôi lại gặp một hiện tượng khác ở các nước khác: các khoản vay viện trợ cấp trong nhiều năm đến hạn phải trả, và thực tế là chúng tôi lại cấp thêm viện trợ để họ có tiền trả nợ; còn khi chúng tôi không cấp viện trợ thì họ không trả nợ, thành ra rốt cuộc họ vẫn nhận được viện trợ. Ví dụ, chúng tôi đã hỗ trợ Pakistan – nước đang giữ một khoản tiền lớn của chúng tôi – bằng cách tái cơ cấu nợ sau cuộc chiến năm 1971; đây thực chất là một cách cấp thêm tiền cho họ.
Còn hai vấn đề nhỏ nữa. Tôi được biết Đại sứ Hoàng Hoa đã gặp đại diện phái đoàn của chúng tôi, và theo thông tin trong điện tín, cuộc gặp diễn ra suôn sẻ. Nếu thông tin này không chính xác, chúng tôi sẽ điều chỉnh và đưa ra chỉ đạo phù hợp. Tôi tin rằng hai bên đã đạt được sự hiểu biết thấu đáo.
Thủ tướng Chu: Cảm ơn ông, chúng tôi cũng đã nắm được thông tin này.
Bộ trưởng Kissinger: Thông tin của ông cũng giống như vậy.
Thủ tướng Chu: Đúng vậy.
Bộ trưởng Kissinger: Chúng ta sẽ tiếp tục tiến hành. Chúng tôi đã chỉ thị cho phái đoàn của mình tuân theo khuyến nghị của Đại sứ Hoàng, để phía các ông chủ động về mặt thời gian.
Vấn đề duy nhất còn lại mà tôi muốn đề cập là: tôi hiểu rằng trong các cuộc đàm phán về tài sản tư nhân bị phong tỏa, chỉ còn một điểm chưa được giải quyết. Đó là đề xuất của các ông về việc loại trừ khỏi thỏa thuận dàn xếp những tài sản bị phong tỏa thuộc sở hữu của các ngân hàng từ nước thứ ba. Chúng tôi không thể chấp nhận điểm này, bởi vì nếu loại trừ nội dung đó, chúng tôi sẽ không bao giờ có thể thuyết phục Quốc hội phê chuẩn thỏa thuận.
Thủ tướng Chu: Có vẻ như các nước thứ ba đã chuyển số tiền đó cho chúng tôi rồi. Giờ phải làm sao đây? Trả lại tiền cho họ chăng?
Bộ trưởng Kissinger: Phía chúng tôi tin rằng mình có thể kiện các ngân hàng đó và thu hồi lại số tiền này.
Thủ tướng Chu: Lấy ví dụ như trường hợp của Bỉ chẳng hạn.
Bộ trưởng Kissinger: Vâng, tôi biết. Đó chính là vấn đề mấu chốt.
Thủ tướng Chu: Số tiền không lớn lắm, nhưng họ đã rất... ngay khi thiết lập quan hệ ngoại giao với chúng tôi, họ đã chuyển số tiền đó cho chúng tôi.
Bộ trưởng Kissinger: Nhưng theo quan điểm của chúng tôi thì việc đó là bất hợp pháp.
Thủ tướng Chu: Còn đối với chúng tôi, việc đó là hợp pháp.
Bộ trưởng Kissinger: Khó khăn đối với chúng tôi là việc đó sẽ làm giảm tỷ lệ thanh toán theo phần tương ứng từ 40% xuống còn 25%; chúng tôi tin rằng Quốc hội sẽ không chấp nhận mức này.
Thủ tướng Chu: Ý ông là nếu loại trừ khoản tiền mà các ngân hàng nước thứ ba đã chuyển cho chúng tôi, thì chỉ còn lại 25% thôi sao?
Bộ trưởng Kissinger: Khi đó, tôi nghĩ tỷ lệ tài sản bị phong tỏa so với các yêu cầu bồi thường của tư nhân sẽ vào khoảng 22 phần trăm. Trong khi đó, nếu tính cả khoản tiền kia thì tỷ lệ này sẽ là khoảng 40 phần trăm. Và theo kinh nghiệm của chúng tôi, Quốc hội sẽ không chấp thuận một thỏa thuận dàn xếp với mức thấp chỉ 22 phần trăm như vậy.
Thủ tướng Chu: Nhưng đối với chúng tôi, con số đó rất nhỏ. Cho đến nay, tôi vẫn thấy khó hiểu về tỷ lệ thuế áp dụng giữa các quốc gia được quý vị dành quy chế tối huệ quốc và những quốc gia không được hưởng quy chế này. Theo tôi hiểu, nếu chúng tôi không được hưởng quy chế tối huệ quốc thì mức thuế áp dụng cho chúng tôi sẽ khác biệt.
Bộ trưởng Kissinger: Về nguyên tắc, chúng tôi sẵn sàng dành cho quý vị quy chế tối huệ quốc. Tuy nhiên, trước đây chúng tôi chưa thể thực hiện điều này khi vẫn còn các yêu cầu bồi thường chưa được giải quyết. Nếu thỏa thuận dàn xếp này đạt được, về nguyên tắc, chúng tôi sẵn sàng cấp quy chế tối huệ quốc cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Khó khăn hiện nay liên quan đến quy chế tối huệ quốc không xuất phát từ phía Trung Quốc, mà do những người đang đưa ra các tu chính án nhắm vào Liên Xô nhưng lại có thể áp dụng cả với Trung Quốc, mặc dù bản thân họ có thể có thiện cảm với Trung Quốc. Chẳng hạn như Thượng nghị sĩ Jackson. Tôi sẽ phải gặp Thượng nghị sĩ Jackson ngay khi trở về để tháo gỡ những trở ngại đó. Tôi biết ông ấy không có ý định nhắm các biện pháp của mình vào Trung Quốc. Các biện pháp của ông ấy là nhằm vào Liên Xô. Về phía chính quyền, chúng tôi sẵn sàng cấp quy chế tối huệ quốc cho Trung Quốc và sẵn sàng dành cho họ vị thế kinh tế tương đương với Liên Xô.
Thủ tướng Chu: Vừa rồi ông đã bàn với tôi về vấn đề chính trị, còn về điểm ông vừa nêu, tôi hoàn toàn hiểu rõ. Bởi vì điều tôi muốn biết là xét về mặt tài chính, liệu quy chế tối huệ quốc có đồng nghĩa với việc giảm thuế hay không?
Bộ trưởng Kissinger: Từ Hoa Kỳ ư? Không có thuế xuất khẩu nào cả. Chúng tôi không áp dụng thuế xuất khẩu.
Thủ tướng Chu: Vậy chỉ giới hạn ở thuế nhập khẩu thôi sao?
Bộ trưởng Kissinger: Vâng.
Thủ tướng Chu: Sự khác biệt giữa mức thuế áp dụng cho các quốc gia được hưởng quy chế tối huệ quốc và những quốc gia không được hưởng quy chế này là gì?
Bộ trưởng Kissinger: Tôi sẽ cần kiểm tra lại, nhưng sự khác biệt là rất lớn và tùy thuộc vào từng trường hợp; tuy nhiên, ở một số nhóm mặt hàng thì mức chênh lệch rất đáng kể. Tôi sẽ có câu trả lời cho Ngài vào ngày mai. [Trang 366]
Thủ tướng Chu: Các ông dành quy chế tối huệ quốc cho Nhật Bản.
Bộ trưởng Kissinger: Vâng. Chúng tôi dành quy chế này cho khoảng 100 quốc gia.
Thủ tướng Chu: Họ thuộc các nhóm khác nhau.
Bộ trưởng Kissinger: Các nước xã hội chủ nghĩa đã bị loại khỏi danh sách này sau Chiến tranh Triều Tiên. Thực chất, đó chính là nguồn gốc của sự phân biệt đối xử này.
Thủ tướng Chu: Còn Nam Tư thì sao?
Bộ trưởng Kissinger: Vâng. Chúng tôi đã dành quy chế này cho Nam Tư và Ba Lan.
Thủ tướng Chu: Còn Romania?
Ngoại trưởng Kissinger: Không, nhưng chúng tôi sẽ dành quy chế đó cho Romania. Romania đã phải chờ đợi vì trước đây, để cấp quy chế tối huệ quốc, chúng tôi buộc phải trình một dự luật riêng lên Quốc hội cho từng quốc gia. Hiện nay, chúng tôi đã trình một dự luật cho phép nhánh Hành pháp có quyền quyết định cấp quy chế tối huệ quốc cho bất kỳ quốc gia nào, và dự luật đó vẫn đang được Quốc hội xem xét. Chúng tôi muốn thực hiện việc này theo cơ chế chung, nhưng nếu cần thiết, chúng tôi vẫn có thể triển khai các biện pháp cụ thể cho từng quốc gia.
Thủ tướng Chu: Nhưng còn dự luật về việc cấp quy chế tối huệ quốc cho Liên Xô thì đã bị hoãn lại rồi.
Bộ trưởng Kissinger: Không, thưa Thủ tướng, đây không phải là dự luật nhằm cấp quy chế tối huệ quốc...
Thủ tướng Chu: Chính phủ của ông đã yêu cầu điều đó mà.
Bộ trưởng Kissinger: Đây không phải là dự luật cấp quy chế tối huệ quốc riêng cho Liên Xô, mà là dự luật trao cho nhánh Hành pháp quyền quyết định cấp quy chế này cho hầu hết mọi quốc gia, và do đó bao gồm cả Liên Xô. Tôi có thể giải thích cho Thủ tướng hiểu những vấn đề phức tạp khiến chúng tôi phải hoãn dự luật đó. Lý do là tại Thượng viện, chúng tôi dự kiến sẽ có một tu chính án do Thượng nghị sĩ Jackson đề xuất; tu chính án này không chỉ ngăn cản việc chúng tôi cấp quy chế tối huệ quốc cho Liên Xô mà còn hạn chế khả năng cấp tín dụng, và nội dung của nó được soạn thảo theo cách có thể áp dụng cả với Trung Quốc. Ông Jackson chưa tính đến điều này. Tu chính án đó đề cập đến vấn đề di cư; ông Jackson đang tập trung vào vấn đề người Do Thái. Chúng tôi cần tìm cách điều chỉnh dự luật này. Để làm được điều đó, chúng tôi cần tạo ra sự khác biệt lớn nhất có thể giữa dự luật của Hạ viện và Thượng viện, nhằm tạo dư địa đàm phán khi hai dự luật này được thống nhất. Vì vậy, ban đầu chúng tôi yêu cầu Hạ viện loại bỏ hoàn toàn điều khoản về quy chế tối huệ quốc. Khi họ không làm theo, chúng tôi đã đề nghị họ hoãn xem xét dự luật vì hai lý do. Một là để có thể phần nào kiểm soát hành động của Liên Xô tại Trung Đông; hai là để chúng tôi có cơ hội thảo luận với các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ về việc dự luật mà họ nhắm vào Liên Xô lại có phạm vi áp dụng quá rộng sang các quốc gia khác, qua đó làm mất đi mục đích ban đầu của chính dự luật đó. Tuy nhiên, chắc chắn dự luật sẽ được đưa ra bỏ phiếu muộn nhất là vào đầu tháng Hai. [Trang 367]
Thủ tướng Chu: Chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề này. Chỉ còn lại một điểm nữa thôi, và không còn vấn đề nào khác liên quan đến các tài sản bị phong tỏa.
Bộ trưởng Kissinger: Vâng. Một điểm. Đó là điểm duy nhất. Tôi nghĩ các vấn đề còn lại có thể giải quyết được. Ông đã nêu vấn đề thứ ba. Chúng ta có thể giải quyết hai trong số đó.
Thủ tướng Chu: Tôi muốn làm rõ thêm một số điểm về các vấn đề quốc tế. Như chúng ta đã thảo luận, tình hình Trung Đông rất phức tạp. Hôm qua ông có đề cập đến hai bước cần thực hiện: bước đầu tiên là tiến hành tách lực lượng quân sự, và thỏa thuận về việc này đã được ký kết giữa Ai Cập và Israel.
Bộ trưởng Kissinger: Không, thưa Thủ tướng. Theo cách hiểu đó thì có ba bước. Bước đầu tiên là ổn định lệnh ngừng bắn. Sau đó là bắt đầu các cuộc đàm phán hòa bình. Các cuộc đàm phán hòa bình này sẽ bao gồm hai bước. Bước đầu tiên là điều mà chúng tôi gọi là tách lực lượng, nhưng mục đích thực sự là rút lực lượng Israel lùi lại một khoảng cách nhất định; bước thứ hai là giải quyết vấn đề biên giới cuối cùng.
Thủ tướng Chu: Và còn vấn đề thực hiện lệnh ngừng bắn có sự giám sát đối với phía Syria nữa. Họ cũng sẽ ký thỏa thuận này chứ?
Bộ trưởng Kissinger: Vâng. Syria đã đồng ý với lệnh ngừng bắn. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Syria cần trở thành một phần không thể thiếu của các cuộc đàm phán, và theo cảm nhận của chúng tôi thì họ đã sẵn sàng tham gia.
Thủ tướng Chu: Vậy, khi thảo luận về việc tách lực lượng quân sự, liệu sẽ có một hội nghị được tổ chức để bàn về vấn đề này hay nó sẽ được thảo luận riêng rẽ?
Bộ trưởng Kissinger: Không, đó sẽ là giai đoạn đầu của hội nghị hòa bình. Tuy nhiên, như tôi đã giải thích với Thứ trưởng sáng nay4 – và tôi tin là đã nói với Ngài hôm qua – nhận định của tôi là hội nghị hòa bình chính thức sẽ không mang lại nhiều kết quả hơn so với Hội nghị về Việt Nam trước đây. Và nhiều khả năng các cuộc đàm phán thực chất sẽ diễn ra riêng biệt bên ngoài khuôn khổ chính thức. Như tôi đã giải thích với Thứ trưởng sáng nay, vấn đề là tại hội nghị chính thức, Liên Xô có thể sẽ cố gắng giành lại một phần lãnh thổ đã mất bằng cách đưa ra những lập trường khá cực đoan. Do đó, đôi khi chúng tôi có thể cần phải tạo ra thế bế tắc để chứng minh rằng đó không phải là con đường dẫn đến một giải pháp hòa bình.
Thủ tướng Chu: Liệu Anh và Pháp có tham gia hội nghị không? [Trang 368]
Bộ trưởng Kissinger:: Việc này vẫn chưa được quyết định dứt khoát. Tôi nghi ngờ khả năng đó vì Israel sẽ không tham gia nếu có sự góp mặt của Anh và Pháp. Hơn nữa, Anh và Pháp có thể sẽ ngả theo lập trường của Liên Xô. Vì vậy, sự hiện diện của họ không hẳn là một lợi thế.
Thủ tướng Chu: Nhưng dư luận tại các nước đó đã bày tỏ mong muốn được tham gia hội nghị.
Bộ trưởng Kissinger: Như tôi đã nói với Ngài hôm qua, luôn có sự khác biệt giữa những gì họ tuyên bố công khai và những gì họ nói trong các cuộc trao đổi riêng. Không phải lúc nào cũng vậy, nhưng rất thường xuyên.
Thủ tướng Chu: Để đáp ứng yêu cầu của dư luận trong nước chăng?
Bộ trưởng Kissinger: Đúng vậy. Chúng tôi sẽ không gạt họ ra nếu họ muốn tham gia và các bên khác cũng chấp thuận. Chúng tôi không có lý do gì để loại họ. Nhưng thẳng thắn mà nói, tôi không thể hình dung ra một giải pháp hòa bình nào có thể đạt được tại một diễn đàn công khai với thành phần tham dự như vậy – với quá nhiều nhóm đại diện khác nhau cùng góp mặt.
Thủ tướng Chu: Có vẻ như trong số các quốc gia Ả Rập cũng tồn tại khá nhiều quan điểm cực đoan.
Bộ trưởng Kissinger: Vâng. Iraq và, ở một mức độ nào đó, là Algeria.
Thủ tướng Chu: Libya.
Bộ trưởng Kissinger: Libya, Nam Yemen. Libya không tỏ ra đặc biệt anh dũng trong thời gian chiến tranh, nhưng sự táo bạo của họ lại gia tăng khi lệnh ngừng bắn kéo dài.
Thủ tướng Chu: Libya chưa cắt đứt quan hệ với các ông chứ?
Bộ trưởng Kissinger: Chưa. Họ chỉ gây khó khăn cùng cực cho cuộc sống của những người đang ở đó. Họ rất chống Liên Xô.
Thủ tướng Chu: Ông ta cũng là bạn của Tưởng Giới Thạch.
Bộ trưởng Kissinger: Thật sao? Chuyện này tôi không biết.
Thủ tướng Chu: Một hiện tượng rất kỳ lạ. Nhưng chúng tôi không đi sâu vào vấn đề đó. Trên thế giới có biết bao điều kỳ quặc. Có phải là do các công ty Hoa Kỳ có vốn đầu tư vào các mỏ dầu tại Libya không?
Bộ trưởng Kissinger: Nhiều nước châu Âu cũng có vốn đầu tư ở đó, và phần lớn dầu mỏ của Libya được xuất sang châu Âu chứ không phải Hoa Kỳ. Chỉ 12 phần trăm lượng dầu của chúng tôi đến từ Trung Đông. Phần lớn trong số đó đến từ Ả Rập Xê-út.
Đại sứ Ingersoll: Và Iran.
Bộ trưởng Kissinger: Sáu phần trăm. Chúng tôi nhập thêm 6 phần trăm từ Iran.
Thủ tướng Chu: Vậy tổng tỷ lệ sẽ là gần 20 phần trăm?
Bộ trưởng Kissinger: Vâng. Mười tám phần trăm.
Thủ tướng Chu: Ông nghĩ sao về Vua Faisal? [Trang 369]
Bộ trưởng Kissinger: Một nhân vật phức tạp.
Thủ tướng Chu: Ông ấy cũng là một người bạn cũ của tôi; tôi đã hiểu rất rõ về ông ấy tại Hội nghị Bandung.
Bộ trưởng Kissinger: Một con người rất phức tạp. Thuộc về một thời kỳ trước đây. Rất nguyên tắc, nhưng lại hành xử trong khuôn khổ rất truyền thống. Ông ấy đang ở trong một tình thế rất phức tạp vì bị bao vây: một bên là Iraq ở phía bắc và Nam Yemen ở phía nam. Do đó, ông ấy rất dễ bị tổn thương trước các quốc gia theo đường lối cấp tiến. Mặt khác, về mặt tình cảm, ông ấy là một người bạn tốt của Hoa Kỳ. Theo cảm nhận của tôi, ông ấy đang cố gắng tìm cách thoát khỏi chính sách mà mình đã áp dụng trong cuộc chiến tranh vừa qua. Tôi nghĩ ông ấy sẽ tìm ra giải pháp trong một hoặc hai tháng tới. Tôi đang nói về chính sách dầu mỏ—việc thoát khỏi chính sách dầu mỏ đó.
Thủ tướng Chu: Nhật Bản nhập dầu từ Iran và Kuwait.
Đại sứ Ingersoll: Họ nhập khoảng 85% lượng dầu từ khu vực Trung Đông. Khoảng 40–45% từ Iran và phần còn lại từ Iraq cùng các nước khác. Năm phần trăm đến từ Indonesia, Borneo và Đông Âu.
Bộ trưởng Kissinger: Chúng tôi đã khởi động một chương trình quy mô lớn nhằm giảm bớt và tiến tới loại bỏ hoàn toàn sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu. Chúng tôi tin rằng mình có thể hoàn tất thành công mục tiêu này ngay trong thập kỷ này.
Thủ tướng Chu: Đó sẽ là một kế hoạch rất lớn lao, và quý vị sẽ phải thực hành tiết kiệm dầu mỏ ngay tại Hoa Kỳ.
Bộ trưởng Kissinger: Chúng tôi đang thực hiện điều đó. Có lẽ ông đã xem bài phát biểu của Tổng thống. Sẽ có một giai đoạn quá độ mà chúng tôi buộc phải tiết kiệm việc sử dụng dầu mỏ. Chúng tôi đang nỗ lực hóa lỏng than đá; chúng tôi đã nắm được phương pháp khoa học để thực hiện việc này, nhưng cần phải đảm bảo tính khả thi về mặt kinh tế. Chúng tôi sẽ khai thác đá phiến dầu và dựa vào nguồn dầu từ Alaska cũng như Canada. Với sự kết hợp này, chúng tôi tin rằng mình có thể đạt được sự tự chủ về dầu mỏ vào đầu thập niên 1980.
Thủ tướng Chu: Chi phí sản xuất than hóa lỏng rất cao.
Bộ trưởng Kissinger: Đúng vậy, nhưng chúng tôi dự kiến sẽ giảm đáng kể chi phí đó trong thập kỷ này. Chúng tôi đã nắm được nguyên lý khoa học. Vấn đề chủ yếu nằm ở khâu sản xuất. Còn về các vấn đề kỹ thuật thì chúng tôi rất mạnh.
Thủ tướng Chu: Có phải phần lớn dầu mỏ từ Venezuela đều được chuyển đến nước ông không?
Bộ trưởng Kissinger: Đúng vậy, một phần đáng kể.
Đại sứ Ingersoll: Tôi định nói rằng việc giá dầu ở Trung Đông tăng cao đang khiến cho việc sử dụng than hóa lỏng và dầu đá phiến trở nên khả thi về mặt kinh tế. Đó là động lực để chúng tôi nỗ lực hơn nữa trong lĩnh vực này.
Thủ tướng Chu: Nhật Bản sẽ làm gì?
Đại sứ Ingersoll: Họ cũng ước gì mình biết được điều đó. Họ đã cố gắng đa dạng hóa nguồn cung từ lâu, nhưng lại không có nhiều nguồn dầu mỏ khác ngoài Trung Đông.
Bộ trưởng Kissinger: Chúng tôi có thể sẵn sàng hợp tác với Nhật Bản trong một số hoạt động nghiên cứu và phát triển chung về các nguồn năng lượng thay thế, cũng như các dự án liên doanh về năng lượng hạt nhân.
Thủ tướng Chu: Nhưng ở giai đoạn đầu, có lẽ chi phí cũng rất cao.
Bộ trưởng Kissinger: Chi phí của cái gì? Năng lượng hạt nhân ư? Đúng là ở giai đoạn đầu thì cao, nhưng chúng tôi đang nghiên cứu vấn đề này. Tôi cho rằng chi phí xây dựng các cơ sở hạ tầng là rất lớn, nhưng nếu có thể giảm được chi phí nhiên liệu hạt nhân – điều hoàn toàn có khả năng xảy ra – thì nó sẽ trở nên hiệu quả hơn nhiều về mặt kinh tế.
Thủ tướng Chu: Sẽ tốt hơn nếu có các sản phẩm phụ.
Bộ trưởng Kissinger: Đáng tiếc là hầu hết các sản phẩm phụ này lại hữu dụng nhất cho vũ khí hạt nhân.
Thủ tướng Chu: Đó cũng là vấn đề gây tranh cãi giữa hai cường quốc. Ông có thực sự tin rằng Liên Xô sẽ cắt giảm số lượng vũ khí hạt nhân của họ không?
Bộ trưởng Kissinger: Vấn đề đầu tiên là phải ổn định số lượng vũ khí hạt nhân vì họ vẫn đang gia tăng số lượng này. Và tất nhiên, họ có quan điểm cho rằng mình cần vũ khí hạt nhân để đối phó với nhiều mối đe dọa khác nhau. Vì vậy, chúng tôi đặt niềm tin vào các cuộc đàm phán hạn chế vũ khí chiến lược. Trước hết, chúng ta cần đặt ra mức trần cho tổng số lượng vũ khí, rồi sau đó mới tiến hành cắt giảm dần dần.
Trong giai đoạn đầu của thỏa thuận, cách hành xử của Liên Xô – nói một cách nhẹ nhàng – là khá mơ hồ. Theo thỏa thuận, họ phải phá hủy một loại vũ khí cũ để thay thế bằng loại khác – cụ thể là loại tên lửa SS-7 (vốn được triển khai trên tàu ngầm). Họ đã phá hủy một số tên lửa loại này, nhưng dường như lại thay thế chúng bằng các loại tên lửa cơ động; về mặt kỹ thuật thì thỏa thuận không cấm loại tên lửa này, nhưng hành động đó chắc chắn đi ngược lại tinh thần của thỏa thuận. Nếu tình trạng này tiếp diễn, chúng tôi sẽ buộc phải thực hiện các biện pháp đối phó, và khi đó thỏa thuận sẽ trở nên vô nghĩa. Chúng tôi sẽ triển khai tên lửa lên máy bay – một hành động cũng không bị thỏa thuận cấm.
Thủ tướng Chu: Về vấn đề Triều Tiên. Ban đầu, tôi định thảo luận vấn đề này vào một dịp khác, nhưng giờ tôi nghĩ chúng ta nên bàn về nó ngay. Ông có ý tưởng gì về bước đi tiếp theo cần thực hiện? Tôi không nói đến bước đi trong năm nay, mà là bước đi trong tương lai. Hiện có một Ủy ban Đình chiến tại đường phân giới và ủy ban này thường xuyên họp bàn. Theo ông, đâu sẽ là lối thoát cho vấn đề này? [Trang 371]
Bộ trưởng Kissinger: Vấn đề của chúng tôi đối với Liên Hợp Quốc là nếu tổ chức này không còn nữa, thì cơ sở pháp lý cho hiệp định đình chiến cũng sẽ mất đi.
Thủ tướng Chu: Đó là lý do tại sao tôi đặt câu hỏi này. Cần có hình thức nào để giải quyết vấn đề Ủy ban Đình chiến? Nếu ông chưa có ý tưởng cụ thể nào, tốt hơn hết chúng ta không nên thảo luận về nó vào hôm nay.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi chưa có đề xuất cụ thể, nhưng chúng tôi sẵn sàng thảo luận vấn đề này trong năm tới theo lộ trình mà chúng ta đã bàn bạc.
Thủ tướng Chu: Tuy nhiên, có một lợi thế ở đây là Liên Xô không can dự vào vấn đề Triều Tiên.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi không thể đưa ra nhận định về phía Triều Tiên.
Thủ tướng Chu: Ông có thể hay không thể?
Bộ trưởng Kissinger: Chúng tôi chưa có nhận định nào.
Thủ tướng Chu: Có thể sẽ nảy sinh những rắc rối nhỏ, nhưng người ta không thể tìm thấy cơ sở pháp lý cho những rắc rối đó vì Liên Xô không phải là bên tham gia hiệp định đình chiến. Chỉ có bốn bên ký kết hiệp định đình chiến, và thật may là Liên Xô không tham gia vào đó. Vì vậy, trong suốt hai mươi năm qua, không có rắc rối nào xảy ra liên quan đến hiệp định đình chiến. Mặc dù Dulles từ chối giải quyết vấn đề này, hòa bình vẫn được duy trì trong hơn hai mươi năm. Điều này đã tạo cơ hội cho Triều Tiên tiến tới các cuộc tiếp xúc hòa bình. Tất nhiên, đây là vấn đề cần một thời gian dài mới có thể giải quyết được.
Dù sao đi nữa, cũng cần tìm ra cách giải quyết vấn đề này. Chúng ta nên chú trọng đến vấn đề này.
Bộ trưởng Kissinger: Chúng tôi sẽ cùng ông làm việc trong năm tới để tìm giải pháp cho vấn đề cơ sở pháp lý của hiệp định đình chiến, và chúng tôi sẽ thực hiện điều đó. Chúng tôi sẽ nỗ lực lớn trước kỳ họp Đại hội đồng tiếp theo để đạt được thỏa thuận với ông về vấn đề này. Liệu chúng ta có nên thảo luận việc này với Đại sứ Hoàng Trấn không? Tất nhiên, Đại sứ Bruce cũng sẽ được chỉ thị về vấn đề này.
Thủ tướng Chu: Nhưng chúng tôi cho rằng các thành viên thuộc bốn quốc gia trong Ủy ban Cố vấn cảm thấy rất thoải mái. Họ chỉ đóng quân ở đó mà không hề yêu cầu rút khỏi Triều Tiên, trong khi phía Canada đã rút khỏi Việt Nam dù họ từng ở đó một thời gian khá dài. Ủy ban Quốc tế đã ở đó từ lâu mà chẳng có việc gì để làm. Đó là lý do tại sao các thành viên thường xuyên đến Bắc Kinh. Ai là người chi trả các khoản phí đó? Thứ trưởng cũng đã tham gia vào các cuộc đàm phán khi ấy.
Tôi muốn hỏi ông một câu. Thực tế đã chứng minh rằng chủ nghĩa bành trướng trên thế giới chắc chắn sẽ thất bại. Nhưng Liên Xô [Trang 372] lại muốn đi theo vết xe đổ của những người tiền nhiệm, muốn vượt qua họ và đang vươn vòi bạch tuộc ra khắp nơi. Ông có nghĩ rằng điều này có thể bị ngăn chặn không?
Bộ trưởng Kissinger: Tôi cho rằng đó là một vấn đề nan giải của thời đại này.
Thủ tướng Chu: Đó cũng là một vấn đề then chốt.
Bộ trưởng Kissinger: Đó là vấn đề then chốt nhất. Hôm nay, khi ngồi trên xe, tôi đã nói với Thứ trưởng rằng tôi không hề ảo tưởng; chẳng hạn như ở Trung Đông, nếu không có Liên Xô thì quan điểm của hai bên chúng ta hẳn đã rất khác biệt. Tuy nhiên, mục tiêu hàng đầu của chúng ta là ngăn chặn sự thống trị của Liên Xô. Tôi tin rằng nếu các quốc gia có nguy cơ trở thành nạn nhân của chủ nghĩa bành trướng hợp tác một cách chính thức—và họ phải hiểu rõ những định hướng chính trong chính sách của nhau—thì ta có thể ngăn chặn được chủ nghĩa bành trướng quân sự quy mô lớn. Đó là chính sách của chúng tôi: sẽ chống lại nếu Liên Xô thực hiện các động thái quân sự quy mô lớn. Nhưng tôi nghĩ rằng điều đó hoàn toàn có thể ngăn chặn được.
Thủ tướng Chu: Ý ông là rất khó để ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng về mặt chính trị?
Bộ trưởng Kissinger: Chủ nghĩa bành trướng về mặt chính trị thì khó ngăn chặn hơn.
Thủ tướng Chu: Chẳng hạn như cái gọi là hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Ấn Độ.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi nghĩ chủ nghĩa bành trướng chính trị cũng có thể bị ngăn chặn nếu ta theo đuổi một chính sách khôn ngoan và nếu các quốc gia là mục tiêu của nó luôn ghi nhớ yêu cầu cốt lõi này. Tôi tin rằng nếu phía các ông, phía chúng tôi và Tây Âu hiểu nhau, đồng thời hành xử khôn ngoan tại các khu vực khác trên thế giới, chúng ta có thể kiềm chế chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô. Tôi không cho rằng chính sách của Liên Xô thực sự khôn ngoan. Nó rất tàn bạo, nhưng lại không hề khôn ngoan.
Thủ tướng Chu: Nhưng đôi khi họ cũng khoác lên mình nhiều lớp mặt nạ.
Bộ trưởng Kissinger: Đúng vậy, nhưng sớm muộn gì thì bản chất tàn bạo cũng sẽ lộ diện.
Thủ tướng Chu: Nhưng xét về bản thân Liên Xô, thì có lẽ đó chính là khía cạnh chủ đạo của họ.
Bộ trưởng Kissinger: Sự tàn bạo ư?
Thủ tướng Chu: Nhưng đối với các đối thủ của họ, tình hình sẽ phức tạp. Chẳng hạn, sẽ không dễ để các nước Tây Âu có được quan điểm chung.
Bộ trưởng Kissinger: Trong ba thành phần chính mà tôi đã đề cập, Tây Âu là mắt xích yếu nhất xét về mặt nhận thức. Tuy nhiên, mặt khác, đây cũng là khu vực khó tấn công nhất đối với Liên Xô. Vì vậy, họ đang cố gắng làm suy yếu khu vực này thông qua các biện pháp như Hội nghị An ninh Châu Âu và các cuộc đàm phán khác. Và điều mà [Trang 373] Thủ tướng cần hiểu là nếu trong những nỗ lực này, chúng ta giữ lập trường hơi nghiêng về phía cánh tả so với các nước Tây Âu, thì đó là cách để ngăn họ đi quá xa; bởi khi đó, họ sẽ lo sợ rằng chúng ta có thể đạt được một thỏa thuận riêng với Liên Xô, và nỗi lo đó đủ lớn để khiến họ bắt đầu suy nghĩ về việc tự lo liệu quốc phòng cho chính mình.
Thủ tướng Chu: Ông cũng đã đề cập đến điểm này vào hôm kia và cả hôm qua. Nhưng về điểm này, công chúng sẽ khó mà hiểu được.
Bộ trưởng Kissinger: Thưa Thủ tướng, tôi thừa nhận với ông rằng đây là mối nguy lớn trong đường lối hiện tại. Nếu chúng ta đồng thời thực hiện hai việc — thứ nhất là kiên quyết yêu cầu các cuộc thảo luận phải thật chi tiết để họ không thể đạt được nhiều thành quả mang tính biểu tượng, và thứ hai là phản ứng quyết liệt, cứng rắn trước bất kỳ mối đe dọa quân sự nào dù là nhỏ nhất — thì mối nguy đó có thể được giảm thiểu, nếu không muốn nói là loại bỏ hoàn toàn. Tất nhiên, tôi đã quên nhắc đến Nhật Bản, một nhân tố vô cùng quan trọng.
Thủ tướng Chu: Mặc dù quan trọng, nhưng phản ứng của họ sẽ không nhanh nhạy như các nước châu Âu.
Bộ trưởng Kissinger: Không. Nếu họ không bị đặt trước quá nhiều cám dỗ do phải chịu áp lực từ quá nhiều phía, tôi nghĩ họ có thể tiếp tục đi theo lộ trình hiện tại. Tôi cho rằng cả hai bên chúng ta đều đã hành động khôn ngoan theo hướng này.
Thủ tướng Chu: Bởi vì việc đó dễ dàng hơn so với việc đối phó với các nước Tây Âu.
Bộ trưởng Kissinger: Đúng vậy. Họ là những người cứng rắn hơn. Và tất nhiên, chúng ta còn phải xây dựng trục phía nam đi qua khu vực Cận Đông.
Thủ tướng Chu: Có vẻ như ông sẽ phải nỗ lực rất nhiều để đạt được mục tiêu này. Làm được điều đó không hề dễ dàng.
Bộ trưởng Kissinger: Đúng thế, nhưng chúng tôi đã sẵn sàng tăng cường hợp tác với Thổ Nhĩ Kỳ ngay khi cuộc khủng hoảng chính phủ tại đó được giải quyết.
Thủ tướng Chu: Vậy là cuộc khủng hoảng vẫn chưa kết thúc sao?
Bộ trưởng Kissinger: Họ vẫn chưa có một chính phủ vững chắc. Và họ đã không thể hiện thái độ cứng rắn trong cuộc khủng hoảng Trung Đông. Họ đã cho phép máy bay Liên Xô bay qua không phận của mình.
Thủ tướng Chu: Người ta nói vậy. Có phải cây cầu bắc qua eo biển đó do phía ông xây dựng không?
Bộ trưởng Kissinger: Cây cầu đó hiện đã khánh thành—bắc qua eo biển Bosphorus—nó được khánh thành vào ngày 3 tháng 10. Tôi không rõ liệu có phải do chúng tôi xây dựng hay không. Tôi không biết nữa.
Thủ tướng Chu: Tôi biết tin này qua truyền hình.
Bộ trưởng Kissinger: Truyền hình có nói như vậy sao?
Thủ tướng Chu: Văn bản không nói rõ như vậy, nhưng có lẽ là nhờ sự giúp đỡ của ngài. [Trang 374]
Bộ trưởng Kissinger: Tôi không rõ nữa. Tôi cũng sẽ không ngạc nhiên nếu đúng là vậy. Tôi không chú trọng đến chi tiết như ngài, thưa Thủ tướng. Nhưng tôi cũng đoán là như thế. Chúng ta sẽ biết kết quả ngay trong đêm nay.6
Thủ tướng Chu: Trong số bốn hạm đội của Liên Xô, có ba hạm đội đang ở Địa Trung Hải.
Bộ trưởng Kissinger: Đúng vậy, và một phần của Hạm đội Đại Tây Dương cũng đã tiến vào khu vực này trong thời gian xảy ra khủng hoảng. Họ đã có hơn một trăm tàu tại Địa Trung Hải vào thời điểm căng thẳng lên đến đỉnh điểm. Có lúc con số này lên tới hơn 103 chiếc. Hiện nay họ đang rút dần lực lượng này về.
Thủ tướng Chu: Họ gặp khó khăn trong việc cơ động vì các hạm đội bị chia cắt, không liên kết được với nhau.
Bộ trưởng Kissinger: Hạm đội Nga là hạm đội duy nhất trong lịch sử hiện đại từng đầu hàng. Họ đã đầu hàng quân Nhật vào năm 1903.
Thủ tướng Chu: Chiến tranh bắt đầu vào năm 1904.
Bộ trưởng Kissinger: Nhưng họ đã đầu hàng từ năm 1903 vì phải hành trình vòng từ St. Petersburg tới. Ban đầu, họ đánh chìm một số tàu chiến của Anh do lầm tưởng rằng quân Nhật đã tiến vào eo biển Manche để chặn đường họ. Họ đã đi một quãng đường vòng quanh thế giới.
Thủ tướng Chu: Đi qua Mũi Hảo Vọng.
Bộ trưởng Kissinger: Đi qua vùng biển mà ngày nay là Việt Nam, rồi lao thẳng vào cái bẫy của quân Nhật. Quân Nhật đã mai phục sẵn ở đó.
Thủ tướng Chu: Ông biết đấy, người Nhật đã làm một bộ phim về những chiến công của ông ta trong chiến tranh. Trong phim, họ đã bôi nhọ Lenin. Khi xem bộ phim đó, phía Liên Xô tỏ ra khá dửng dưng. Họ cũng ca ngợi vị đô đốc Nga đã đầu hàng, và phía Liên Xô dường như rất hài lòng.
Bộ trưởng Kissinger: Chính ông ta là người đã tấn công chúng tôi.
Thủ tướng Chu: Togo cũng xuất hiện trong bộ phim đó. Trong phim, họ bôi nhọ Lenin, nói rằng ông đã mua đạn dược ở châu Âu để tiến hành cuộc nổi dậy năm 1905 nhằm kìm chân Nga hoàng. Phim cũng nói rằng Lenin đã giúp người Nhật thu thập thông tin. Theo cách đó, Hải quân Nhật đã cấp tiền cho Lenin mua đạn dược. Từ đó, Lenin đã tổ chức các cuộc nổi dậy năm 1905 tại Moscow.
Bộ trưởng Kissinger: Ngay từ đầu, cuộc nổi dậy đó đâu phải do Lenin dàn dựng.
Thủ tướng Chu: Nhưng Lenin cũng có liên quan đến sự kiện này.
Bộ trưởng Kissinger: Đúng vậy. Ông ấy có tham gia, nhưng không phải là người chủ chốt. [Trang 375]
Thủ tướng Chu: Đó chỉ là sự vu khống của người Nhật, nhưng giới lãnh đạo Liên Xô hiện nay lẽ ra nên giữ thái độ dửng dưng và chấp nhận nó. Thực ra đó hoàn toàn là sự vu khống. Và phía Liên Xô lẽ ra nên coi đó là một chuyện rất kỳ quặc.
Bộ trưởng Kissinger: Ấn tượng của giới hải quân chúng tôi là Hải quân Liên Xô còn thiếu nhiều kinh nghiệm, dựa trên việc quan sát các hoạt động cơ động và phản ứng của họ trước hành động của chúng tôi.
Thủ tướng Chu: Các ông có kinh nghiệm từ vùng biển Caribe.
Bộ trưởng Kissinger: Và nhiều kinh nghiệm khác nữa.
Thủ tướng Chu: Họ đã cố tình thực hiện nhiều hành động phô trương lực lượng tại khu vực Viễn Đông này. Hạm đội Viễn Đông của họ cố ý tiến hành nhiều hoạt động tại đây nhằm kìm chân Hạm đội 7 của các ông. Họ cũng cố tình đi qua các eo biển phía Nam để tiến ra khu vực giữa Thái Bình Dương, tới đảo Midway và Guam nhằm thực hiện các hoạt động quân sự tại đó. Sau khi hạm đội của các ông tới nơi, họ lại rời đi.
Bộ trưởng Kissinger: Chúng tôi có cảm giác rằng họ không thể đối đầu với hạm đội của chúng tôi trên vùng biển khơi.
Thủ tướng Chu: Và đôi khi máy bay của họ cũng bay lượn quanh khu vực đó. Đại sứ của các ông hẳn đã nắm rõ điều này.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi biết thời điểm họ đi qua các eo biển này. Tuy nhiên, chúng tôi không bao giờ để việc điều động hạm đội của mình phụ thuộc vào hành động của họ.
Thủ tướng Chu: Nhưng đôi khi các ông cũng buộc phải có phản ứng và thực hiện một số động thái nhất định.
Bộ trưởng Kissinger: Chúng tôi đã làm vậy khi họ định xây dựng căn cứ tàu ngầm tại Cuba. Khi đó, chúng tôi đã có hành động cứng rắn vào năm 1970. Chúng tôi bố trí một tàu khu trục ngay cửa cảng đó và công khai tái khẳng định tuyên bố của Tổng thống Kennedy về cuộc khủng hoảng Cuba; kết quả là họ đã rút các phương tiện hỗ trợ tàu ngầm về.
Thủ tướng Chu: Đó là chuyện với các đối thủ của họ. Nghĩa là, họ đã gây ra mối đe dọa đối với các nước Tây Âu, và như ông vừa đề cập, cả Nhật Bản nữa. Hiện nay, trọng tâm tranh chấp của họ đang nằm ở Trung Đông. Đúng như ông vừa nói, giai đoạn tranh chấp này có thể sẽ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng vẫn sẽ kéo dài một khoảng thời gian nhất định. Tôi hy vọng rằng trong trường hợp này, các ông sẽ không mất nhiều thời gian như bốn năm rưỡi để giải quyết vấn đề Việt Nam.
Bộ trưởng Kissinger: Không đâu. Đó là một vấn đề khác. Ở Việt Nam, chúng tôi đã trực tiếp tham gia.
Thủ tướng Chu: Tất nhiên, sự can thiệp trực tiếp là một trong những nguyên nhân, nhưng đó là vấn đề tồn tại từ trước. Đó là vấn đề do người tiền nhiệm của ông để lại. Tuy nhiên, bản thân ông cũng đã mắc một số sai lầm. Có lẽ ông sẽ không đồng ý với điều tôi nói. Tôi sẽ không nói quá thẳng thừng vì chúng tôi hiểu khả năng này. Con người mắc sai lầm là điều khó tránh khỏi. [Trang 376]
Bộ trưởng Kissinger: Có thể chúng tôi đã mắc sai lầm. Tôi nghĩ rằng nếu phía Bắc Việt Nam đề xuất giải pháp mà cuối cùng chúng tôi đã đạt được ngay từ năm đầu tiên, thì chúng tôi đã chấp nhận nó vào bất kỳ thời điểm nào rồi. Khó khăn của chúng tôi là phía Bắc Việt Nam luôn yêu cầu chúng tôi lật đổ một chính phủ thân thiện, và đó là điều chúng tôi không thể làm. Đó là điều duy nhất tôi luôn nói với ông, thưa Thủ tướng, rằng đó là vấn đề danh dự đối với chúng tôi.
Thủ tướng Chu: Vấn đề này cũng lại là một di sản lịch sử. Trách nhiệm không nên hoàn toàn đổ lên vai chính quyền hiện tại của ông.
Bộ trưởng Kissinger: Vấn đề này dễ dàng hơn ở khía cạnh này nhưng lại khó khăn hơn ở khía cạnh khác. Nó dễ dàng hơn vì không ai yêu cầu chúng tôi tiêu diệt một chính phủ thân thiện. Nhưng hiện nay, tất cả các bên đều chấp nhận sự tồn tại của Israel, điều cũng rất quan trọng đối với chúng tôi.
Thủ tướng Chu: Tôi nghĩ rằng sẽ không nhanh chóng đến mức tất cả các bên đều công nhận sự tồn tại của Israel.
Bộ trưởng Kissinger: Tất cả các bên mà tôi đã trao đổi đều chấp nhận sự tồn tại của Israel.
Thủ tướng Chu: Nhưng số lượng các bên mà ông thảo luận cùng thì không nhiều lắm. Ông nghĩ vậy đấy. Mọi chuyện không hề đơn giản. Trong khi giao tranh đang diễn ra, đã xuất hiện một làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao với Israel từ phía các nước châu Phi. Đó là một phần trong tiếng nói chính nghĩa của người châu Phi, và ông không thể nói rằng họ sai được. Bởi vì ông không thể kỳ vọng mọi người đều giống như chúng tôi—những người biết kết hợp giữa nguyên tắc và thực tế. Ngay từ đầu, chúng tôi đã phản đối việc thành lập nhà nước Israel. Giờ đây, dân số Israel đã lên tới 2,5 triệu người và theo chúng tôi biết thì có lẽ đã đạt mức 3 triệu—liệu ông có thể đẩy họ xuống biển được không? Không thể. Vì vậy, khi giới báo chí hỏi tôi về vấn đề này, tôi trả lời họ rằng: "Tất nhiên là không." Tôi hỏi họ làm sao những điều như vậy có thể tồn tại và tạo ra sức mạnh trên thế giới này. Đó là lý do tại sao người ta buộc phải tìm cách giải quyết vấn đề này. Liệu đó có phải là lý do để trục xuất người Palestine hay không? Vấn đề này cũng cần phải được giải quyết.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi đồng ý rằng vấn đề này cần được giải quyết.
Thủ tướng Chu: Sẽ thật bất công nếu vấn đề này không được giải quyết đồng thời. Chỉ khi cả hai vấn đề này được giải quyết thì mới có thể nói đến sự chung sống và hòa bình. Nếu không, sẽ chẳng thể có sự chung sống nào cả. Đó là lý do tại sao chúng tôi tán thành việc ông tiến hành tiếp xúc trực tiếp với các nước Ả Rập. Đây mới chỉ là bước đi đầu tiên. Tuy nhiên, tôi cho rằng dù bước đầu tiên đã được thực hiện, nhưng chặng đường phía trước sẽ còn dài hơn nhiều so với hành trình ông đã đi khi lần đầu đến Trung Quốc để chuẩn bị cho chuyến thăm của Tổng thống Nixon. Bởi vì Tổng thống của ông chỉ mất nửa năm để thực hiện chuyến thăm Trung Quốc.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi nghĩ sẽ cần nhiều hơn nửa năm, nhưng không nhất thiết phải mất nửa năm mới thấy được tiến triển. Chúng tôi có thể đạt được tiến triển trong thời gian ngắn hơn nửa năm. [Trang 377]
Thủ tướng Chu: Có thể sẽ có một số tiến triển, nhưng việc giải quyết vấn đề này không hề dễ dàng vì nó rất phức tạp.
Bộ trưởng Kissinger: Vấn đề khó khăn nhất chính là Jerusalem. Chúng ta có thể giải quyết vấn đề Palestine. Chúng tôi đã có những cuộc thảo luận với Sadat và thậm chí cả với phía Palestine. Câu hỏi này không dễ, nhưng vấn đề liên quan đến Jerusalem lại vô cùng nan giải.
Thủ tướng Chu: Phải chăng có một niềm tin mù quáng nào đó vào thực tế này? Có vẻ như vấn đề Jerusalem còn nan giải hơn cả vấn đề Đài Loan.
Bộ trưởng Kissinger: Về vấn đề Đài Loan, tôi nghĩ bản chất của giải pháp đã rõ ràng. Vấn đề chỉ còn là thời điểm thực hiện.
Thủ tướng Chu: Jerusalem.
Bộ trưởng Kissinger: Jerusalem. Bản chất vấn đề không hề đơn giản, bởi cả hai bên đều coi đó là thành phố linh thiêng.
Thủ tướng Chu: Chẳng phải sẽ tốt hơn nếu thành phố này được cả hai bên cùng chia sẻ sao?
Bộ trưởng Kissinger: Đó cũng là giải pháp của tôi, nhưng tôi chẳng tìm được ai đồng tình cả. Tôi từng đề xuất điều này với phía Israel. Có lần tôi tưởng đã đạt được thỏa thuận với họ về việc nhượng lại ba ngôi đền Hồi giáo trên ngọn đồi hướng về phía Israel, nhưng rốt cuộc họ lại không chịu nhượng bộ dù chỉ một ngọn đồi hay một con phố, vì họ cho rằng đó là nơi linh thiêng.
Thủ tướng Chu: Đó là một dạng mê tín. Thôi thì chúng ta sẽ không đi sâu vào chi tiết chuyện này nữa, nhưng dù sao tôi cũng nghĩ rằng vấn đề Trung Đông không dễ giải quyết chút nào.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi hiểu. Nào là vấn đề biên giới, người Palestine, rồi Jerusalem. Tất cả đều cần được giải quyết đồng thời, ngoại trừ Jerusalem.
Thủ tướng Chu: Tôi hy vọng ông sẽ không phải mất thêm ba năm rưỡi nữa để giải quyết vấn đề này.
Bộ trưởng Kissinger: Chính vì vậy mà tôi cho rằng cần có bước rút quân ban đầu của Israel để mang lại chút hy vọng và lòng tin cho người Ả Rập.
Thủ tướng Chu: Ngoài ra, ông còn phải đối mặt với những khó khăn trong nước. Và chỉ có ông, trên cương vị Ngoại trưởng, mới có thể thể hiện trách nhiệm giải quyết các vấn đề này. Vừa rồi chúng ta đã thảo luận về chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô trên thế giới. Thực ra, có sự tương đồng giữa sự bành trướng hiện nay và chủ nghĩa bành trướng kiểu cũ. Một số người trong giới báo chí của ông từng hỏi tôi liệu có khả năng nước Mỹ quay lại chính sách biệt lập hay không. Tôi đã nói với họ rằng điều đó hoàn toàn không thể xảy ra, nhưng họ không tin tôi. Tôi nghĩ thời thế đã khác rồi. Dù người ta có thể bàn luận về nó như thời kỳ của Đại hội Vienna, nhưng thực tế chính trị sẽ không diễn ra như vậy.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi đồng ý rằng xét về mặt khách quan thì điều đó là bất khả thi, nhưng tôi không đồng ý rằng xét về mặt chủ quan thì không thể hình dung ra được. [Trang 378]
Thủ tướng Chu: Mặc dù một số người có thể nghĩ như vậy, nhưng thực tế họ sẽ không thể thực hiện được điều đó. Nếu chính họ trở thành tổng thống, họ cũng sẽ buộc phải theo đuổi các chính sách hiện tại của ông.
Bộ trưởng Kissinger: Nguy cơ nằm ở chỗ có người có thể cố gắng theo đuổi chính sách biệt lập, qua đó tạo điều kiện cho sự bành trướng của các quốc gia khác; và đến khi nhận ra những mối nguy hại đó thì có lẽ họ đã phải trả một cái giá rất đắt. Tôi cho rằng nhiều khả năng chính sách mà chúng ta đang theo đuổi hiện nay—xét về những nét chính, chứ không nhất thiết là các biện thuật vốn rất phức tạp—sẽ tiếp tục được duy trì trong tương lai.
Thủ tướng Chu: Ông không thể không thu hẹp phạm vi hoạt động. Ý tôi là chính sách ông đang theo đuổi hiện nay không phải là chính sách biệt lập, nhưng ông đã thu hẹp lại một chút, rút bớt lại một chút ở một số vấn đề để tập trung giải quyết các vấn đề trọng tâm. Chính phủ của ông đã dàn trải lực lượng quá mức.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi đồng ý.
Thủ tướng Chu: Ông đã tiêu tốn rất nhiều tiền của và công sức nhưng vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Nếu hỏi chúng tôi với tư cách là những nhà cách mạng, tất nhiên chúng tôi sẽ nói rằng mình ủng hộ việc ông dàn trải lực lượng. Dưới góc độ của một nhà cách mạng, chúng tôi sẽ ủng hộ việc ông dàn trải lực lượng để trở nên lỏng lẻo và dễ bị tổn thương. Nhưng vì giờ đây chúng ta đã gặp nhau và đang thảo luận về những vấn đề thực tế và thiết thực, nên chúng ta phải bàn về chính trị.
Bộ trưởng Kissinger: Một phần là do thiếu kinh nghiệm và một phần là do sự yếu kém của các quốc gia khác.
Thủ tướng Chu: Có quá nhiều quốc gia—liệu ông có thể lo liệu cho tất cả họ không? Ông có bao giờ lường trước được sẽ có phong trào sinh viên ở Bangkok không? Liệu CIA có nắm được thông tin đó từ trước không?
Bộ trưởng Kissinger: Nếu Dulles lịch sự hơn vào năm 1954, ông ấy đã có thể học hỏi được nhiều điều.
Thủ tướng Chu Ân Lai: Ông ấy không thể làm được điều đó vì sự phát triển của mọi việc đôi khi nằm ngoài ý chí của con người. Chúng ta hãy chuẩn bị một chút vì Chủ tịch Mao đã mời ông đến đó. Ngài Lãnh chúa cũng có thể đi cùng.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi có thể đưa Đại sứ Bruce đi cùng không?
Thủ tướng Chu Ân Lai: Tôi nghĩ ông sẽ đưa ngài Lãnh chúa đi cùng vì thói quen của ông. Tôi không hỏi.
Bộ trưởng Kissinger: Nếu khó khăn…
Thủ tướng Chu Ân Lai: Chúng tôi sẽ hỏi. (Cô Vương ra ngoài hỏi.) Có lẽ chúng ta nên lưu ý ông Jenkins rằng, theo tin tức từ các nguồn tin của Tưởng Giới Thạch, tàu tuần dương tên lửa dẫn đường Oklahoma City… Ông có loại tàu tuần dương tên lửa dẫn đường như vậy không? [Trang 379]
Bộ trưởng Kissinger: Tất cả các tàu tuần dương đều được đặt tên theo các quốc gia.
Đại sứ Ingersoll: Đó là soái hạm của Hạm đội 7.
Thủ tướng Chu Ân Lai: Lúc 1 giờ 37 phút chiều nay, tàu tuần dương đã tiếp cận một hòn đảo gần eo biển Đài Loan. Nó đã đi qua eo biển Đài Loan. Nó chỉ cách lãnh thổ của chúng ta khoảng 25 km.
Bộ trưởng Kissinger: Thưa Thủ tướng, không có cách nào chống lại sự ngu ngốc. Tôi không thể theo dõi mọi tàu tuần dương trong Hải quân Mỹ. Tôi nói thật với ngài, thưa Thủ tướng, tôi đã ra lệnh cho mọi máy bay ngừng bay gần lãnh thổ của ngài. Tôi nghĩ rằng khi người ta ra lệnh cho máy bay không bay thì họ cũng nên nghĩ rằng tàu tuần dương cũng không nên đi qua.
Thủ tướng Chu Ân Lai: Không có gì đặc biệt cả. Chỉ là chúng đang tiến gần vùng biển lãnh thổ của chúng ta. Tôi không để ý nhiều đến điều đó.
Bộ trưởng Kissinger: Điều đó không nên xảy ra ở khoảng cách gần như vậy, và không nên xảy ra khi tôi đang ở Trung Quốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
Thủ tướng Chu Ân Lai: Họ đã xâm phạm lãnh thổ của chúng ta do nhầm lẫn. Chỉ cần nói với họ và yêu cầu họ rời đi.
Bộ trưởng Kissinger: Tôi sẽ lo liệu việc đó tối nay. Bất kể họ ở đâu, tôi sẽ đưa họ đi nơi khác. Nếu họ có thể phân biệt được trái và phải, họ sẽ tránh xa.
(Phía Tầu cộng sau đó xác nhận rằng Đại sứ Bruce cũng được mời gặp Chủ tịch.)
1. Nguồn: Cơ quan Lưu trữ Quốc gia, Tài liệu Tổng thống Nixon, Hồ sơ NSC, Hồ sơ Văn phòng Kissinger, Hộp 100, Hồ sơ Quốc gia, Viễn Đông, Các cuộc hội đàm của Bộ trưởng Kissinger tại Bắc Kinh, tháng 11 năm 1973. Tuyệt mật; Nhạy cảm; Chỉ dành cho người có thẩm quyền xem trực tiếp (Exclusively Eyes Only). Cuộc họp diễn ra tại Nhà khách Biệt thự số 3.↩
2. Xem Tài liệu 56.↩
3. Vào ngày 11 tháng 10, Lord đã soạn thảo một bản ghi nhớ tóm tắt cho Kissinger để chuẩn bị cho chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 11 của ông. Mặc dù Lord tin rằng cần có một động thái quan trọng để cải thiện hơn nữa quan hệ với Trung Quốc, ông lại khuyến nghị không nên đưa ra cam kết an ninh chính thức về việc bảo vệ Trung Quốc trước Liên Xô. Thay vào đó, ông lập luận rằng Hoa Kỳ nên cam kết một mốc thời gian cụ thể để bình thường hóa quan hệ trong nhiệm kỳ thứ hai của Nixon. (Cơ quan Lưu trữ Quốc gia, Tài liệu Tổng thống Nixon, Hồ sơ NSC, Hồ sơ Văn phòng Kissinger, Hộp 100, Hồ sơ Quốc gia, Viễn Đông, Chuyến thăm Bắc Kinh của Kissinger—Tài liệu, tháng 11 năm 1973)↩
4. Rất có thể Kissinger đang đề cập đến cuộc thảo luận với Thứ trưởng Ngoại giao Kiều Quán Hoa (Qiao Guanhua) trong lúc ngồi trên xe hơi.↩
5. Vào ngày 7 tháng 11, Tổng thống Nixon đã có bài phát biểu trước toàn quốc về các chính sách ứng phó với tình trạng thiếu hụt năng lượng. (Public Papers: Nixon, 1973, tr. 916–926)↩
6. Hoa Kỳ "không tham gia vào việc cấp vốn, thiết kế kỹ thuật hay xây dựng cây cầu bắc qua eo biển Bosphorus." (Điện tín số 223192 gửi Bắc Kinh, ngày 12 tháng 11; Cơ quan Lưu trữ Quốc gia, Tài liệu Tổng thống Nixon, Hồ sơ NSC, Hồ sơ Văn phòng Kissinger, Hộp 100, Hồ sơ Quốc gia, Viễn Đông, Chuyến thăm Bắc Kinh của Kissinger—Tài liệu, tháng 11 năm 1973)↩
7. Vào ngày 12 tháng 11, tàu USS Oklahoma City đã đi qua eo biển Đài Loan trong một chuyến hải trình thường lệ từ Yokosuka đến Hồng Kông. (Điện tín số 223189 gửi Bắc Kinh, ngày 12 tháng 11; tài liệu đã dẫn)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/sources
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/comp1
Political Turmoil in the United States, June 1973–September 1974 (Documents 35–87)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch2
1. Document 57
Foreign Relations of the United States, 1969–1976, Volume XVIII, China, 1973–1976
57. Memorandum of Conversation1
Beijing, November 12, 1973, 3:00–5:30 p.m.
PARTICIPANTS
- Prime Minister Chou En-lai
- Foreign Minister Chi Peng-fei
- Vice Foreign Minister Chiao Kuan-hua
- Assistant Minister of Foreign Affairs Wang Hai-jung
- Two Chinese Foreign Ministry Officials
- Tang Wang-shen, Interpreter
- Shen Jo-yen, Interpreter
- One Chinese Notetaker
- Henry A. Kissinger, Secretary of State
- Ambassador David Bruce, Chief, U.S. Liaison Office
- Ambassador Robert Ingersoll, U.S. Embassy Tokyo
- Winston Lord, Director of Planning and Coordination, Department of State
- Alfred Jenkins, U.S. Liaison Office
Secretary Kissinger: I have the answer for you, Mr. Prime Minister, on the production of planes in Taiwan.2 It is not a production of airplanes but an assembly for which we supply the parts. And it is for short-range fighter aircraft which will not increase the total number of airplanes on Taiwan. When we stop supplying the parts, they will no longer be able to produce them. So in practice it is different than giving them the airplanes. They have no independent capability for producing the airplane being developed. And that is true of all other co-production arrangements. It is an F5E, and there are to be 100 for a period between 1973–1978.
Prime Minister Chou: In this way Chiang Ching-kuo will be reassured.
Secretary Kissinger: Our impression is that he (Chiang Kai-shek) is not active today.
Prime Minister Chou: It is impossible for him to be, and it is difficult for him to live for another five years. But I am not asking him to die. He can live as long as he wishes. If he wishes he can live to be 100. What I meant was in that way Chiang Ching-kuo will be reassured because he could rule the country until 1978.
Secretary Kissinger: We have no plans on this plane, on this project, beyond 1978.
Prime Minister Chou: You say it is a short distance one. Actually, the radius can stretch as far as 180 kilometers. That is the fighting radius.
Secretary Kissinger: And come back? One way, it is possible, but not to come back.
Prime Minister Chou: If he has a refueling tank, he will be able to come back.
Secretary Kissinger: F5E?
Prime Minister Chou: Yes. It does not matter even if the plane is bigger. I just wanted to make clear whether it is an assembly plant.
Secretary Kissinger: It is an assembly plant, not a production. We supply the parts. They do not produce the parts. So they have no independent capability.
Prime Minister Chou: Is Japan able to produce planes like this or greater?
Secretary Kissinger: Japan has not produced any planes like this, but it certainly has the capability. I have to check but—do you know, Ambassador Ingersoll, if we have some co-production?
Ambassador Ingersoll: Not on the F5s; on the F4s.
Secretary Kissinger: They are producing F4s. F4s have radius to reach effectively. The F5 is not a bombing plane. The F4 can be used effectively for bombing.
Prime Minister Chou: Actually, the F5E is also capable of bombing. The only difference is, it is lighter. The F4, which is the Phantom type, can carry greater weight.
Secretary Kissinger: Yes. The F4 can carry greater weight.
Prime Minister Chou: But the distance is the same for both.
Secretary Kissinger: I don’t believe this. I really don’t have the characteristics in mind. We have always considered it, strategically thinking, that the F5 is purely a fighter plane, with no bombing capability. We use it for tactical support.
The F4 is something we call deep interdiction which goes further behind the line and has a strategic impact, but I don’t know the exact characteristics. In our own strategic planning for Vietnam, for example, the F5 was always considered to be used for support of ground troops at the front line with bombs, and the F4 for the interdiction of communications because it has a heavy bomb load, and I thought it had a longer range. I will have to check on that. I will have the answer tomorrow.
Ambassador Ingersoll: The F4 is refuelable.
Prime Minister Chou: It does not matter. It would be pretty good if it could be delayed for another five years, because in that way they can envisage it for another five years. In that case, your recent word will be able to be realized in this way: It will not give rise to the ambitions of a third country. I see it in this way. It does not matter whether it is 100 planes or 200 planes.
And there is, of course, another point. It could be allowed to attack the Mainland, but if they insist on attacking the Mainland, we welcome them. Let them have a try.
Secretary Kissinger: You have our assurance they will not be allowed to attack the Mainland. If they do, they will lose American support completely.
Prime Minister Chou: If they ever try to do that, they will do it unilaterally.
Secretary Kissinger: There will be no attack nor an American-sponsored attack in the future or any attacks that our President can control.
Prime Minister Chou: What you told me yesterday has already been reported to the Chairman. There was one point that I did not explain very much because I did not entirely understand. Yesterday you mentioned that there was a possibility of finding, that you would like to find, a way with regard to our bilateral relations to find some wording similar to the Shanghai Communiqué or slightly altered that would [Page 362] be able to promote the development of our relations. I did not have the opportunity to issue a communiqué or some other form?
Secretary Kissinger: I wanted to ask the Prime Minister whether he thought it appropriate to issue a communiqué at the end of my visit and if so we will be prepared to do this. My comment was in reference to the establishment of formal diplomatic relations. We cannot go faster than the schedule which I gave you if it is on the Japan formula. However, if we could find a formula which is more flexible, as long as we understand that we will end up there, we are prepared to establish diplomatic relations sooner.3
Prime Minister Chou: Yesterday you mentioned that you also reaffirmed that you would not support the idea of two Chinas. Under this condition, what kind of flexible formula have you in mind? It is also a difficult problem to us. Perhaps you have worked out a good idea.
Secretary Kissinger: No, I have not actually yet worked out a good idea. If the Prime Minister would like, I might submit one to him late today after I have had an opportunity to meet with my colleagues. I have in mind something like the Shanghai Communiqué which would make clear that the establishment of diplomatic relations does not mean giving up the principle that there is only one China.
Prime Minister Chou: She (the interpreter) had made a good guess of what you meant. When we were with the Chairman I dared not explain the statement, but she dared to make an explanation of the statement.
Secretary Kissinger: As I understand it, Mr. Prime Minister, your problem in having diplomatic relations while we have relations with Taiwan is that it might give rise to a two-China policy which we have agreed not to support. What we should search for is a formula for consideration that makes clear that that principle is not being abandoned; that there is only one China by either side.
Prime Minister Chou: She (the interpreter) has guessed very correctly what you think.
Secretary Kissinger: Yes.
Prime Minister Chou: So the elder people are not as good as the younger people.
Secretary Kissinger: She had a long talk with Mr. Lord on the airplane.
Mr. Lord: We had our own counterpart talks.
Interpreter: Another matter was discussed on the plane.
Prime Minister Chou: There is another matter that is mentioned concerning the Consulate General. Perhaps you have not made an investigation concerning this point. As far as we know, there are twelve in all at the moment. Originally there were ten. Recently they have added two.
Secretary Kissinger: I know of one in New York.
Mr. Jenkins: There is one in Atlanta.
Secretary Kissinger: This one must be in honor of Mr. Jenkins.
I have not paid attention to the one in New York. And our interpretation, which we made to ourselves, is the one which I gave you yesterday: that the Taiwan authorities are preparing for the day that we will move toward the sole recognition of Peking; a day which we know is inevitable. At that time, they want to have a representation in America that permits them to continue exchanges with us, and I believe for that reason they have chosen the Consulate General in New York, since it would be inappropriate to have it in Washington. That was our own interpretation.
And our own internal interpretation of it also was that this was envisaged as a possible contact point with the People’s Republic of China whenever discussions would take place.
Interpreter: You mentioned yesterday a point of contact with Chiang Kai-shek.
Secretary Kissinger: A contact point to the United States after we have moved, say from no later than the middle of 1976, and secondly, a possible point at which the Taiwan authorities would negotiate with the People’s Republic of China. This is not based on knowledge but on our interpretation of their motives. This second interpretation may be wrong.
Prime Minister Chou: That is just an idea.
Secretary Kissinger: It is our own analysis of the problem.
Prime Minister Chou: Is there anything you would like to tell me first.
Secretary Kissinger: I have some information now on the rupee negotiations situation which you were interested in. Our difficulty was that we could not spend all the rupees we had accumulated. And, therefore, what we did was to settle for 35 percent of the total amount of rupees in these blocked accounts that could be spent only in India, but [Page 364] even that will take us twenty years to spend. The real difficulty was that we permitted such huge debts to accumulate without analyzing what we could ever do with them. There was also a speed-up in dollar debts that they owed us, but of a much smaller amount. That was the basic reasoning of that.
Prime Minister Chou: So the phenomenon in India … you do not have the similar phenomenon in other countries.
Secretary Kissinger: Not to quite the same extent. We had it in Japan, but it is being settled. We do have another phenomenon in other countries where aid loans that were given over a period of years become repayable and where, in effect, we give more aid so that they can repay the loans; and when we don’t give aid they don’t repay the loans so they get aid anyway. For example, we helped Pakistan, which holds a substantial amount of our money, by rescheduling its debt after the 1971 war which was a way really of giving it additional money.
Two other small items. I understand that Ambassador Huang Hua has already met a representative from our Mission, and as I understand from our telegram, they have had a satisfactory meeting. If that is not correct, we will change it. We will give appropriate instructions. I think they have achieved an adequate understanding.
Prime Minister Chou: Thank you, and we have heard about this point.
Secretary Kissinger: Your information is the same.
Prime Minister Chou: The same.
Secretary Kissinger: We will proceed. We have instructed our Mission that we follow Ambassador Huang’s recommendation so you have the initiative as to timing.
The only other item I have is that I understand that in these talks on the private blocked assets, there is only one item that is still unsettled which has to do with your proposal that blocked assets belonging to third country banks be excluded from the settlement. That is one item that is impossible for us to accept because we could never get Congressional approval for the agreement if that item were excluded.
Prime Minister Chou: It seems the third countries have already given us the money. What shall we do? Give them back the money?
Secretary Kissinger: Our people believe that they can sue those banks and get the money.
Prime Minister Chou: Take for instance, Belgium.
Secretary Kissinger: Yes, I know. That is the primary problem.
Prime Minister Chou: The figure is not very big but they were very … once they established diplomatic relations with us, they gave us the money.
Secretary Kissinger: But illegally from our point of view.
Prime Minister Chou: For us, it is legal.
Secretary Kissinger: The difficulty for us is it would reduce the pro rata payments from 40 percent to 25 percent which we do not believe Congress would accept.
Prime Minister Chou: Do you mean that by excluding the money given to us already by the third country banks there is only 25 percent left?
Secretary Kissinger: Then I think it would be about 22 percent in blocked assets as against private claims. While with that money it would be about 40 percent. And our experience has been that the Congress would not approve a settlement that was as low as 22 percent.
Prime Minister Chou: But to us the figure is very small. Up to now I still find it difficult to understand the proportion of the taxes levied between those countries which you have given most favored nation treatment and those which you have not. To me, that is if we are not given most favored nation treatment your taxes are different.
Secretary Kissinger: We are in principle prepared to grant you most favored nation treatment. However, we have not been able to do this in the past when there were outstanding claims. If this settlement were made, we would in principle be prepared to grant most favored nation status to the PRC. The difficulty that now arises with most favored nation has nothing to do with China, but people who are adding amendments which are aimed at the Soviet Union which may apply to the PRC even though the people may be favorable to the PRC. Like Senator Jackson. I will have to have a meeting with Senator Jackson as soon as I return to remove those obstacles. I know he has no intention of directing his measures against the PRC. His measures are against the Soviet Union. Insofar as the administration is concerned, we are prepared to grant most favored nation status to the PRC, and we are prepared to grant them the same economic status as the Soviet Union.
Prime Minister Chou: Whereas just now you talked politics with me, as to the point you mentioned, I fully understand it. Because what I want to know is financially speaking does the most favored nation treatment mean the reduction of taxes?
Secretary Kissinger: From the United States? There are not any export taxes. We don’t have any export taxes.
Prime Minister Chou: It is limited to import taxes?
Secretary Kissinger: Yes.
Prime Minister Chou: What is the difference between the taxes levied on those countries which enjoy the most favored nation treatment and those who do not enjoy that treatment?
Secretary Kissinger: I will have to check, but it is substantial and it varies; but in several categories it is very substantial. I will have the answer for you tomorrow.
Prime Minister Chou: You give most favored nation treatment to Japan.
Secretary Kissinger: Yes. We give it to about 100 nations.
Prime Minister Chou: They belong to different categories.
Secretary Kissinger: The socialist states were excluded after the Korean War. This is really the origin of the discrimination.
Prime Minister Chou: And Yugoslavia?
Secretary Kissinger: Yes. We have given it to Yugoslavia and to Poland.
Prime Minister Chou: And Romania?
Secretary Kissinger: No, but we will give it to Romania. Romania has had to wait because in the past in order to get most favored nation status we have had to submit a separate bill to the Congress for each country. We have now submitted a bill to the Congress which gives the Executive Branch the discretion to grant most favored nation status to any country and that bill is still before Congress. We would prefer to be able to do it on a general basis, but, if necessary, we still have the possibility of introducing action for individual countries.
Prime Minister Chou: But as far as the bill for giving most favored nation treatment to the Soviets, it has been postponed.
Secretary Kissinger: No, Prime Minister, this is not a bill to give most favored nation…
Prime Minister Chou: It is demanded by your government.
Secretary Kissinger: It is not a bill to give most favored nation status to the Soviet Union but a bill to give the Executive Branch the discretion to give it to almost anybody and therefore the Soviet Union. I can explain to the Prime Minister the complexity which led us to the postponement of that bill. The reason is that in the Senate we expect an amendment sponsored by Senator Jackson which would not only not enable us to give most favored nation status to the Soviet Union but would also limit the possibility of credits, and is so written that it would also apply to China. Jackson has not thought of this. It refers to emigration. Jackson is thinking of the Jewish problem. We have to find a refinement of this bill. In order to do this we have to get a maximum difference between the House and the Senate so when these two bills become reconciled there is an area of negotiation. Therefore, we first asked the House to eliminate most favored nation completely. When they did not do this, we asked them to postpone consideration of the bill for two reasons. One, to have some control of Soviet behavior on the Middle East, and secondly in order to enable us to discuss with the Senators and Congressmen the fact that we have written a bill which they are aiming at the Soviet Union but which applies to too many other countries and therefore defeats its own purpose. But it will definitely come to a vote no later than the first part of February.
Prime Minister Chou: We will make a study of this question. There is only one item left, and there is no other question as to the blocked assets.
Secretary Kissinger: Yes. One item. That is the only item. I think the other questions can be settled. You raised the third question. We can settle two of them.
Prime Minister Chou: I like to make several clarifications on some international questions. As we have discussed the situation in the Middle East, it is complex. Yesterday you mentioned the two steps to be taken and the first step is to carry out the disengagement of military forces, and the agreement has already been signed between Egypt and Israel.
Secretary Kissinger: No, Mr. Prime Minister. There are three steps in that sense. The first is stabilizing the ceasefire. Then peace negotiations begin. These peace negotiations will have two steps. A first step is what we call disengagement of forces, but whose real purpose is to move the Israeli forces back some distance, and a second step which settles the final border.
Prime Minister Chou: And there is also the question of carrying out the observed ceasefire on the part of Syria. They will also sign it?
Secretary Kissinger: Yes. Syria has already agreed to the ceasefire. But we believe that Syria should become an integral part of the negotiations and our impression is that it is prepared to be.
Prime Minister Chou: Then, when it comes to the discussion of disengagement of military forces will there be a conference held for discussing this question or will it be discussed separately?
Secretary Kissinger: No, it will be the first phase of the peace conference. But, as I explained to the Vice Minister this morning,4 and I believe to you yesterday, my judgment is that the formal peace conference will not be much more productive than the formal Vietnam Conference. And it is probable that the real negotiations will take place separately outside the formal framework. As I explained to the Vice Minister this morning, the problem is that at the formal conference, the Soviet Union will probably attempt to regain some of the territory it has lost by taking rather extreme positions. Therefore, it may be necessary for us on occasion to create a stalemate in order to demonstrate that this is not the road to a settlement.
Prime Minister Chou: Will Britain and France take part in the conference?
Secretary Kissinger: It is not finally settled yet. I would doubt it because Israel will not participate if Britain and France participate. But Britain and France may move to a position closer to the Soviet position. So it is not such an asset to have them there.
Prime Minister Chou: But in their public opinion they have expressed their desire to take part in the conference.
Secretary Kissinger: There is always, as I told you yesterday, a difference in what they say publicly and what they say privately. Not always, but very often.
Prime Minister Chou: In order to meet their demands at home?
Secretary Kissinger: Yes. We will not exclude them if they want to participate and if the others want them. We have no reason to exclude them. But frankly, I cannot imagine a settlement occurring in a public forum of this composition. With so many different groups represented as it is.
Prime Minister Chou: It seems that among the Arab states they have also quite a few extremist positions.
Secretary Kissinger: Yes. Iraq and, to some extent, Algeria.
Prime Minister Chou: Libya.
Secretary Kissinger: Libya, Southern Yemen. Libya was not exceptionally heroic during the war, but its courage has increased as the ceasefire has been prolonged.
Prime Minister Chou: Libya has not severed relations with you?
Secretary Kissinger: No. They have only made impossible the life of the people who are there. They are very anti-Soviet.
Prime Minister Chou: He is also a friend of Chaing Kai-shek.
Secretary Kissinger: Really? This I did not know.
Prime Minister Chou: A very peculiar phenomenon. But we don’t look into that matter. There are so many queer things in the world. Is that the companies in the United States which have investments in oil sources in Libya?
Secretary Kissinger: There are many European countries that also have investments there, and most of the Libyan oil goes to Europe, not to the United States. Only 12 percent of our oil comes from the Middle East. Most of that comes from Saudi Arabia.
Ambassador Ingersoll: And Iran.
Secretary Kissinger: Six percent. We get another 6 percent from Iran.
Prime Minister Chou: So the total proportion would be nearly 20 percent?
Secretary Kissinger: Yes. Eighteen percent.
Prime Minister Chou: What do you think of King Faisal?
Secretary Kissinger: A complex phenomenon.
Prime Minister Chou: He is also an old friend of mine and I came to know him very well at the Bandung Conference.
Secretary Kissinger: A very complex man. Of a previous period. Very principled, but in a very traditional framework. He is in a very complex situation because he is encircled on the one hand by Iraq on the north and South Yemen on the south. So he is very vulnerable to the radical states. On the other hand, emotionally, he is a good friend of the United States. My impression is that he is attempting to find a way to escape from the policy he adopted in the war. I think he will find a way in the next month or two. I am talking about the oil policy, escape from the oil policy.
Prime Minister Chou: The Japanese oil is from Iran and Kuwait.
Ambassador Ingersoll: They get about 85 percent of their oil from the Middle East as such. About 40–45 percent from Iran and the balance from Iraq and others. Five percent from Indonesia, Borneo and Eastern Europe.
Secretary Kissinger: We have started a major program to reduce, and to eventually eliminate, our dependency on oil from abroad. We believe that we can successfully conclude this within this decade.
Prime Minister Chou: That would be a very grand plan, and you will have to economize in the United States with oil.
Secretary Kissinger: We are doing this. You may have seen the President’s speech.5 There may be an interim period where we have to economize on the use of oil. We are trying to liquify coal, for which we have the scientific way to do this, but we must make it economically feasible. We will use oil shale and rely on Alaskan oil and oil from Canada. With this combination, we believe we can be self-sufficient by the early 1980s.
Prime Minister Chou: The production cost is very high for liquified coal.
Secretary Kissinger: Yes, but we expect to reduce that cost very substantially during this decade. We know the scientific principle. It is primarily a production problem. On engineering problems we are very good.
Prime Minister Chou: Is it true that most of the oil from Venezuela goes to your country?
Secretary Kissinger: Yes, a substantial part.
Ambassador Ingersoll: I was going to say that the increase in the price of oil in the Middle East is making it economical to use this liquified coal and the shale. It is an incentive for us to work harder at it.
Prime Minister Chou: What is Japan going to do?
Ambassador Ingersoll: They wish they knew. They have been trying to diversify for a long time, but they have not many other sources for oil than the Middle East.
Secretary Kissinger: We may be prepared to share with Japan in some common research and development on alternative resources, and also on some joint ventures on nuclear energy.
Prime Minister Chou: But at the beginning, perhaps the cost is also very high.
Secretary Kissinger: Of what? Of nuclear energy, yes. At the beginning, but we have that under study. I think the installations are very expensive, but if the cost of the nuclear fuel can be reduced, of which there is a good possibility, then it becomes much more economical.
Prime Minister Chou: It would be better if there are any by-products.
Secretary Kissinger: Unfortunately, most of the by-products are most useful for nuclear weapons.
Prime Minister Chou: That is also a subject for debate between the two big powers. Do you really believe that the Soviet Union will reduce her quantity of nuclear weapons?
Secretary Kissinger: The first problem is to stabilize the number of nuclear weapons because they are still increasing the number. And, of course, they have the theory that they need nuclear weapons for more than one threat. So we believe in the strategic arms limitation talks. We first have to place a ceiling on the total number of weapons, and then bring about a gradual reduction.
In the first phase of the agreement, the Soviet performance has been, to put it kindly, ambiguous. They are supposed to destroy one category of weapons as replacement for submarine-based weapons called SS7s. They are old. And they have destroyed a few of those, but they appear to have replaced them with mobile missiles which are technically not banned by the agreement but which are certainly not in the spirit of the agreement. If this continues, we will have to take countermeasures, and then the agreement will be meaningless. We will put missiles into airplanes which is also not banned by the agreement.
Prime Minister Chou: About the Korean question. At first, I intended to discuss it at some other occasion, but now I think we had better discuss it. What is your idea of the next step to be taken? I am not referring to the step taken this year. I am referring to the step that will be taken in the future. There is an Armistice Committee at the demarcation line, and this Committee meets often. What do you think will be a way out for that?
Secretary Kissinger: Our problem with respect to the United Nations is that its disappearance would also remove the legal basis for the armistice.
Prime Minister Chou: That is why I was asking. What form would it take in order to settle the question of the Armistice Committee? If you have not anything in your mind, we had better not discuss it today.
Secretary Kissinger: I do not have a concrete proposal, but we are prepared to discuss it over the next year on the schedule we have discussed.
Prime Minister Chou: But there is an advantage here that the Soviet Union has not had a hand in the Korean question.
Secretary Kissinger: I cannot judge on the North Korean side.
Prime Minister Chou: You can or cannot?
Secretary Kissinger: We do not have a judgment.
Prime Minister Chou: But it is possible that there would be minor troubles, but one cannot find a legal basis for that because the Soviet Union is not a participant to the armistice agreement. Because there were only four parties which signed the armistice agreement, but it was fortunate that the Soviet Union was not a participant in that. So over the last twenty years nothing—no troubles had occurred with regard to the armistice agreement. Although Dulles refused to settle this question, peace has been maintained over more than twenty years. This has given Korea an opportunity to move towards peaceful communication. Of course, this is something that will call for a long period of time before it can be settled.
Anyway, a way must be found out how to settle this. We should pay attention to this question.
Secretary Kissinger: We will work with you during the next year to find a solution to the question of the legal basis of the armistice, and we will do that. We will make a major effort before the next General Assembly to come to an agreement with you on that issue. Should we discuss this with Ambassador Huang Chen? Of course, Ambassador Bruce will also be instructed on this.
Prime Minister Chou: But we think that the members of the four nations with the Advisory Committee are very comfortable. They were just stationed there, without asking to withdraw from Korea, whereas the Canadians have been withdrawn from Vietnam and they stayed there for quite a long period of time. The International Committee has been there for a long time with nothing to do. That is why members often came to Peking. Who pays the expenses for those? The Vice Minister also took part in the negotiations then.
I would like to ask you a question. It has been proven that expansionism in the world is doomed to failure. But the Soviet Union [Page 372] wants to follow in the steps of their predecessors, and they want to overtake them and they are stretching their hands everywhere. Do you think this can be stopped?
Secretary Kissinger: I think it is a difficult problem of this period.
Prime Minister Chou: It is also a crucial issue.
Secretary Kissinger: It is the most crucial issue. I told the Vice Minister in the car today that I had no illusions, for example, that in the Middle East, if it were not for the Soviet Union, you and we would have quite different views. But we have a first objective to prevent the domination by the Soviet Union. I believe if the countries that are potential victims of expansionism cooperate in a formal way, but they have to understand the main lines of each other’s policy. I believe that major military expansionism can be stopped. That is our policy—to resist if the Soviet Union engages in a major military movement. But I think it can be stopped.
Prime Minister Chou: Do you mean that it is not easy to stop political expansionism?
Secretary Kissinger: The political expansionism is more difficult to stop.
Prime Minister Chou: For instance, the so-called friendship treaty between the Soviet Union and India.
Secretary Kissinger: I think the political expansionism can also be stopped if one pursues an intelligent policy and if the countries against which it is directed keep in mind the principal requirement. I think if you, we and Western Europe understand each other, and if we behave intelligently in other parts of the world, we can contain Soviet expansionism. I don’t believe that Soviet policy is very intelligent. It is very brutal, but not very intelligent.
Prime Minister Chou: But sometimes they have put on many masks.
Secretary Kissinger: Yes, but sooner or later the brutality comes forward.
Prime Minister Chou: But so far as the Soviet Union itself is concerned this is perhaps their main aspect.
Secretary Kissinger: Brutality?
Prime Minister Chou: But as for their opponents, things will be complicated. For instance, it will not be so easy for the Western European countries to share their common view.
Secretary Kissinger: Of the three major components that I mentioned, the West Europeans are the weakest link in terms of their understanding. But on the other hand, they are also the most difficult area for the Soviet Union to attack. So they are trying to undermine them by such measures as the European Security Conference and other negotiations. And what [Page 373] the Prime Minister has to understand is that if in these efforts we keep slightly to the left of the West Europeans, this is a means to prevent them from going further because then they will be afraid we will make a separate arrangement with the Soviet Union and that will worry them sufficiently so that they start thinking about their own defense.
Prime Minister Chou: You also mentioned this point the day before yesterday and also yesterday. But as for this point, the people would not be able to comprehend it.
Secretary Kissinger: I admit to you, Mr. Prime Minister, that this is the great danger in the present course. If at the same time we do two things, if we insist that the discussions are very detailed so that they cannot have many symbolic successes, and if secondly, we resist brutally whenever there is the slightest military threat, that danger can be reduced if not eliminated. I forgot, of course, to mention Japan which is a very crucial one.
Prime Minister Chou: Although it is crucial, the reaction would not be as quick as the European countries.
Secretary Kissinger: No. If they are not submitted to too many temptations by having too many pressures put on them from too many sides, I think they can be kept on their present course. I think you and we have acted wisely in this direction.
Prime Minister Chou: Because it is easier than dealing with the Western European countries.
Secretary Kissinger: Yes. They are a tougher people. And then, of course, we have to build this southern axis through the Near East.
Prime Minister Chou: It seems you will have to make a very great effort towards this end. It is not easy to do that.
Secretary Kissinger: No, but we are prepared to do more with Turkey as soon as its governmental crisis is overcome.
Prime Minister Chou: So the crisis is not yet over?
Secretary Kissinger: They still don’t have a firm government. And they did not behave very strongly during the Middle East crisis. They permitted Soviet airplanes to fly over their territory.
Prime Minister Chou: It is said so. Is that bridge across the strait built by you?
Secretary Kissinger: It is now open—over the Bosporous—it was opened on October 3. I don’t know whether it was built by us. I don’t know.
Prime Minister Chou: I learned of it from the television.
Secretary Kissinger: Did it say so?
Prime Minister Chou: It did not say so, but perhaps with your help.
Secretary Kissinger: I don’t know. I would not be surprised. I don’t have the same attention for detail as you, Mr. Prime Minister. But I would suspect so. We will find out overnight.6
Prime Minister Chou: Of the four fleets owned by the Soviet Union, three are in the Mediterranean.
Secretary Kissinger: Yes and a part of the Atlantic Fleet came in during the crisis. They had over one hundred ships in the Mediterranean at the height of the crisis. At one point they had over 103. They are now withdrawing them.
Prime Minister Chou: It is difficult for them to move about because they are separated from each other. Not linked together.
Secretary Kissinger: The Russian fleet is the only fleet in modern history that has ever surrendered. It surrendered to the Japanese in 1903.
Prime Minister Chou: The war started in 1904.
Secretary Kissinger: But they surrendered in 1903 because they had to come around from St. Petersburg. They first sank some British fighting vessels, thinking the Japanese had come into the English Channel to stop them. They came all the way around the world.
Prime Minister Chou: From the Cape of Good Hope.
Secretary Kissinger: What today is Vietnam, and steamed straight into a Japanese trap. The Japanese were waiting there.
Prime Minister Chou: You know that the Japanese made a film for the feats he performed in the war. In the film they slandered Lenin. Upon seeing the film, the Soviets were quite indifferent. They also praised the Russian admiral that surrendered. And the Soviets seemed very pleased.
Secretary Kissinger: He was the one who attacked us.
Prime Minister Chou: Togo also appeared in that film. In that film they slandered Lenin, saying he bought ammunition in Europe in order to carry out the uprising of 1905 to tie down the Russian Emperor. It was also said in the film that Lenin helped the Japanese to get information. In that way the Japanese Navy gave money to Lenin to buy ammunition. Out of that Lenin staged the uprisings of 1905 in Moscow.
Secretary Kissinger: It was not staged by Lenin to begin with.
Prime Minister Chou: But Lenin had something to do with it.
Secretary Kissinger: Yes. He took part, but he was not the principal.
Prime Minister Chou: It was just a slander by the Japanese, but the present Soviet authorities should stay apathetic about it and should have accepted it. Actually it was sheer slander. And the Soviets should have accepted it as something very queer.
Secretary Kissinger: The impression of our Navy people is that the Soviet Navy lacks a great deal of experience, from observing their maneuvering and their reaction to our action.
Prime Minister Chou: You have the experience of the Carribean Sea.
Secretary Kissinger: And many other experiences.
Prime Minister Chou: They deliberately carried out many demonstrated actions here in the Far East. Their Far Eastern fleet deliberately carried out many actions here in order to tie down your Seventh Fleet. And they also deliberately passed through the S. Straits to the middle section of the Pacific to Midway Island and Guam to make military operations there. After your fleet went there, they also left the place.
Secretary Kissinger: Our impression is that they could not stand up to our fleet on the open sea.
Prime Minister Chou: And sometimes their planes will circle around that area. But your Ambassador is familiar with this fact.
Secretary Kissinger: I know the time they went through these straits. But we never make our fleet movement depend on what they do.
Prime Minister Chou: But sometimes you will have to make some reactions and to make some movements.
Secretary Kissinger: We did it when they tried to build a submarine base in Cuba. Then we took strong action in 1970. We put a destroyer in the mouth of that harbor and we publicly reaffirmed what President Kennedy had said about the Cuban crisis, and then they pulled out their submarine support.
Prime Minister Chou: So much for their opponents. That is, they posed a threat to Western Europe countries and just now you added Japan. And now their focus of contention is in the Middle East. Just what you mentioned just now, the period for the contention will be very short but will last for a period of time. I hope that in this case you would not spend such a long time as four and a half years as you settled the Vietnam question.
Secretary Kissinger: No. It is a different problem. In Vietnam we were directly involved.
Prime Minister Chou: The direct involvement, of course, is one of the reasons, but that was left over. It was left over by your predecessor. But you yourself had made some mistakes. Perhaps you would not agree to what I say. I would not say it very straightforwardly because we understand this possibility. It is inevitable that human beings will make mistakes.
Secretary Kissinger: We may have. I think if the North Vietnamese had proposed the settlement that we achieved in the end in the first year we would have accepted it at any point. Our difficulty was that the North Vietnamese always asked us to overthrow a friendly government and that we could not do. That was the one thing I have always told you, Mr. Prime Minister, that it was a point of honor with us.
Prime Minister Chou: This question again is left over historically. The responsibility should not remain entirely on your present Administration.
Secretary Kissinger: This problem is easier from one point of view and more difficult from another. It is easier because no one is asking us to destroy a friendly government. But now all parties accept the existence of Israel which is essential for us too.
Prime Minister Chou: I think that it would not be so quick that all parties would recognize the existence of Israel.
Secretary Kissinger: All parties to which I have talked accept the existence of Israel.
Prime Minister Chou: But the party with which you have discussions, the number is not so big. You think so. It is not so easy. While the fighting was going on, there was an ill wind of break in diplomatic relations with Israel on the part of African countries. This was part of a just voice on the part of the Africans, and you cannot say they are not correct. Because you cannot expect everyone to be like us who have combined principles with realities. We objected to the establishment of Israel to start with. Now the population of Israel has reached 2.5 million and as far as we know perhaps reached 3 million—can you drive them to the sea? No. So when your press people ask me about it, I answer them, “of course not.” I ask them how can there be any strength in things like that in the world. That is why one is bound to find some way to settle this question. Would that be a reason to have the Palestinians driven out? This question should also be settled.
Secretary Kissinger: I agree this question should be handled.
Prime Minister Chou: It would not be fair if this question would not be settled at the same time. Only when these two questions are settled can there be any co-existence, and a peace to be spoken of. Otherwise, there would be no co-existence. This is why that we agree to your having direct dealings with the Arab States. This is just a first step. But I think, although the first step has been taken, the journey will be even longer than the journey you traveled when you first came to China to prepare for the visit of President Nixon. Because it only took half a year for your President to come for a visit to China.
Secretary Kissinger: I think it will take more than a half a year but not half a year to show progress. We can show progress in less than half a year.
Prime Minister Chou: There might be some progress, but it is not so easy to settle the question because it is very complex.
Secretary Kissinger: The most difficult is Jerusalem. We can settle the Palestinian question. We had some discussion with Sadat and even with the Palestinians. The question is not easy, but the issue regarding Jerusalem is very hard.
Prime Minister Chou: Is it that there is some blind faith in the fact? It seems that the problem of Jerusalem is even harder than the question of Taiwan.
Secretary Kissinger: The question of Taiwan, I think—the nature of its solution is obvious. It is only a question of timing.
Prime Minister Chou: Jerusalem.
Secretary Kissinger: Jerusalem. The nature is not obvious, because both sides consider it a holy city.
Prime Minister Chou: Would it not be better if this city would be shared by both sides?
Secretary Kissinger: That is my solution, but I can find no one to agree with me. I once proposed this to the Israelis. And once I thought I had agreement from the Israelis to give up the three mosques on the hill looking toward Israel, but it turned out the Israelis would not agree to give up one hill and one street because they said it was a holy place.
Prime Minister Chou: That is a kind of superstition. Well, we will not dwell upon this in detail, but anyway, I think the Middle East is not an easy thing to settle.
Secretary Kissinger: I know. It has frontiers, Palestinians, Jerusalem. They all have to be settled simultaneously, except Jerusalem.
Prime Minister Chou: I hope you won’t spend another three years and a half in order to settle this question.
Secretary Kissinger: That is why I think there should be an initial withdrawal of Israeli forces in order to give the Arabs some hope and courage.
Prime Minister Chou: Besides you have also to meet with your domestic difficulties. And only you as the Secretary of State will show the responsibility to settle these questions. Just now we discussed the question of the Soviet expansionism in the world. Actually, there is consensus between the expansion and the old expansionism. Some of your press people asked me if it is possible for you to go back to isolationism. I told them it was absolutely impossible, but they did not believe me. I think the times are different. Although people might talk about it as a congress, the real politics would not be like that.
Secretary Kissinger: I agree that it is objectively impossible, but I do not agree that it is subjectively inconceivable.
Prime Minister Chou: Although some people might think of it that way, actually they would not be able to realize it. If they should become a president themselves they would have to pursue your present policies.
Secretary Kissinger: The danger is that someone may attempt to pursue an isolationism policy and thereby permit expansion of other countries and by the time he realizes what the dangers are he may have paid a very heavy price. I think the probability is that the policy we are now pursuing—in these main outlines, not necessarily in its tactics which are complex—will be pursued in the future.
Prime Minister Chou: It would not do for you not to contract it. What I say is the policy you are pursuing now is not an isolation policy, but you have contracted yourself a bit, retracted yourself a bit on certain questions in order to concentrate on settling the main questions. Your government had overstretched itself.
Secretary Kissinger: I agree.
Prime Minister Chou: You spent a lot of money and a lot of energy but the question had not been solved. If you would ask us as revolutionaries, of course, we would say we agree with your spreading yourself out. From a point of view of a revolutionary, we would be in favor of your spreading yourself out to be loose and vulnerable. But since now we have come together yourself and we are discussing some realistic and practical questions, we must talk about politics.
Secretary Kissinger: It was partly inexperience and partly the weakness of every other country.
Prime Minister Chou: There are so many countries—would you take care of them all? Did you ever expect that there would be a student movement in Bangkok? Does the CIA learn about it beforehand?
Secretary Kissinger: If Dulles had been more polite in 1954 he could have learned a lot.
Prime Minister Chou: It was impossible for him to do so because the developments of things are sometimes independent of human will.
Let’s do some preparation because Chairman Mao has invited you to go there. Mr. Lord can come too.
Secretary Kissinger: Can I take Ambassador Bruce, as well?
Prime Minister Chou: I thought you would bring Mr. Lord along because of your habits. I did not ask.
Secretary Kissinger: If it is difficult …
Prime Minister Chou: We will ask. (Miss Wang goes out to inquire.) Perhaps we should call the attention to Mr. Jenkins that, according to news from sources of Chaing Kai-shek the guided missile ship Oklahoma City … Do you have such a guided missile cruiser?
Secretary Kissinger: All cruisers are named after states.
Ambassador Ingersoll: It is the flagship of the Seventh Fleet.
Prime Minister Chou: At 1:37 this afternoon, the cruiser had approached an island near the Taiwan Straits. It passed through the Taiwan Straits. It was only about 25 kilometers from our territory.
Secretary Kissinger: Mr. Prime Minister, there is no defense against stupidity. I cannot watch every cruiser in the American Navy. I tell you the truth, Mr. Prime Minister, I ordered every airplane to stop flying near your territory. I would have thought that when one ordered airplanes not to fly that they would have thought the cruisers should not go either.
Prime Minister Chou: It is nothing very particular. Only they are nearing our territorial waters. I did not pay much attention to that.
Secretary Kissinger: It should not happen at anytime this close, and it should not happen while I am in China under any circumstances.
Prime Minister Chou: They have intruded into our territory by mistake. Just tell them and ask them to leave.
Secretary Kissinger: I will take care of it tonight. Wherever they are I will move them away. If they can tell the difference between left and right, they will move away.7
(The Chinese side then confirmed that Ambassador Bruce was also invited to see the Chairman.)
1. Source: National Archives, Nixon Presidential Materials, NSC Files, Kissinger Office Files, Box 100, Country Files, Far East, Secretary Kissinger’s Conversations in Peking, November 1973. Top Secret; Sensitive; Exclusively Eyes Only. The meeting took place in Guest House Villa #3.↩
2. See Document 56.↩
3. On October 11, Lord prepared a briefing memorandum for Kissinger in anticipation of his November visit to Beijing. Although Lord believed a significant gesture was necessary in order to further improve relations with China, he recommended against a formal security commitment to defend China against the Soviet Union. Instead, he argued that the United States should commit itself to a specific target date for normalization during Nixon’s second term. (National Archives, Nixon Presidential Materials, NSC Files, Kissinger Office Files, Box 100, Country Files, Far East, Kissinger Trip to Peking—Papers, November 1973)↩
4. Kissinger is most likely referring to a discussion he had with Vice Foreign Minister Qiao Guanhua during a car ride.↩
5. On November 7, President Nixon addressed the Nation concerning policies to deal with energy shortages. (Public Papers: Nixon, 1973, pp. 916–926)↩
6. The United States was “not involved in financing, engineering or constructing the bridge across the Bosporus.” (Telegram 223192 to Beijing, November 12; National Archives, Nixon Presidential Materials, NSC Files, Kissinger Office Files, Box 100, Country Files, Far East, Kissinger Trip to Peking—Papers, November 1973)↩
7. On November 12, the USS Oklahoma City passed through the Taiwan Straits on a routine cruise from Yokosuka to Hong Kong. (Telegram 223189 to Beijing, November 12; ibid.)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d57
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_360
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_361
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_362
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_363
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_364
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_365
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_366
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_367
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_368
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_369
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_370
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_371
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_372
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_373
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_374
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_375
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_376
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_377
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_378
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_379
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d56
Thân thế (các) nhân vật
Head of the U.S. Delegation to the (plenary) Paris Peace Talks from July 1970 until July 1971
https://en.wikipedia.org/wiki/David_K._E._Bruce
https://www.trumanlibrary.gov/library/oral-histories/bruce
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/d41
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v42/persons
https://www.britishpathe.com/asset/235113/
https://digitalcommons.chapman.edu/upi_vietnam/95/
Ji Pengfei (Chi P’eng-fei),
Vice Minister of Foreign Affairs, People’s Republic of China, until April 1971; Acting Foreign Minister until February 1972; Foreign Minister from February 1972
PRC Vice Minister of Foreign Affairs until April 1971; Acting Foreign Minister until February 1972; Foreign Minister from February 1972 to November 1974
https://www.fmprc.gov.cn/eng/zy/wjrw/3606_665551/202405/t20240531_11367614.html
https://repository.lib.cuhk.edu.hk/en/item/cuhk-3011805
https://en.wikipedia.org/wiki/Ji_Pengfei
Chiang Ching-kuo, Tưởng Kinh Quốc! Jiang Jingguo (Chiang Ching-kuo), son of Jiang Jieshi; ROC Premier
General, Defense Minister of the Republic of China from January 1965
https://en.wikipedia.org/wiki/Chiang_Ching-kuo
https://en.wikipedia.org/wiki/President_of_the_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Premier_of_the_Republic_of_China
https://english.president.gov.tw/Page/85
https://www.britannica.com/biography/Chiang-Ching-kuo
https://military-history.fandom.com/wiki/Chiang_Ching-kuo
https://www.oxfordreference.com/display/10.1093/oi/authority.20110810104605724
https://www.jstor.org/stable/30172507
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c8bv7nz9/entire_text/
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c8bv7nz9/
Chiao Kuan-hua,
Vice Foreign Minister, People’s Republic of China
https://en.wikipedia.org/wiki/Qiao_Guanhua
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/d124
https://www.marxists.org/subject/china/china-reconstructs/1974/CR1974-12-Sup.pdf
SYND 25-11-71 CHINESE DELEGATE CHIAO KUAN HUA SPEAKS ABOUT DISARMAMENT AT THE UN
https://www.youtube.com/watch?v=bjnyWtitbrg
Premier of the People’s Republic of China; member, Standing Committee of the Chinese Communist Party’s Political Bureau
https://en.wikipedia.org/wiki/Zhou_Enlai
https://en.wikipedia.org/wiki/Premier_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Minister_of_Foreign_Affairs_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Chairman_of_the_Chinese_People%27s_Political_Consultative_Conference
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d139
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/zhou-enlai-talking-ho-chi-minh
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?f[0]=topics:86538&fo[0]=86538
Tài liệu Chu Ân Lai yêu cầu Hoa Kỳ loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và dùng Dương Văn Minh để lật đổ hai nền Đệ I và Đệ II VNCH.
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/discussion-between-zhou-enlai-and-le-duc-tho
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/89367/download
https://en.wikipedia.org/wiki/John_Foster_Dulles
https://history.state.gov/departmenthistory/people/dulles-john-foster
https://www.britannica.com/biography/John-Foster-Dulles
https://diplomacy.state.gov/encyclopedia/john-foster-dulles-secretary-of-state/
https://www.acton.org/publications/transatlantic/2020/03/10/john-foster-dulles-cold-war-architect
https://www.youtube.com/watch?v=BtyFClyli9c
Huang Zhen (Huang Chen),
PRC Ambassador to France until March 1973; Chief of the PRC Liaison Office in the United States from March 1973
https://en.wikipedia.org/wiki/Huang_Zhen
https://en.wikisource.org/wiki/Author:Huang_Zhen
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/72591.pdf
https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB79/BEBB23.pdf
https://www.fordlibrarymuseum.gov/sites/default/files/2024-06/1552743.pdf
https://www.britishpathe.com/asset/236303/
https://mediaclip.ina.fr/en/caf97507056-credentials-huang-chen-at-the-elysee.html
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/d12
Huang Hua,
Chief Delegate to the Security Council and PRC Ambassador to the United Nations until October 1976
https://www.latimes.com/local/obituaries/la-me-huang-hua-20101125-story.html
https://www.fmprc.gov.cn/eng/zy/wjrw/3606_665551/202405/t20240531_11367612.html
https://en.wikipedia.org/wiki/Huang_Hua
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d82
https://www.nixonfoundation.org/2010/11/huang-hua-1913-2010/
https://en.wikipedia.org/wiki/Huang_Hua_(activist)
Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs from January 8 until July 9, 1974; Deputy Secretary of State from July 10, 1974, until March 31, 1976
https://history.state.gov/departmenthistory/people/ingersoll-robert-stephen
https://www.state.gov/biographies-list/
https://www.state.gov/resources-bureau-of-global-talent-management/#ambassadors
https://history.state.gov/departmenthistory/people/chiefsofmission/japan
https://history.state.gov/departmenthistory/people/principalofficers/deputy-secretary
https://en.wikipedia.org/wiki/Robert_S._Ingersoll
https://www.nytimes.com/2010/08/29/world/asia/29ingersoll.html
https://www.latimes.com/local/obituaries/la-me-robert-ingersoll-20100828-story.html
Democratic Senator from Washington
https://en.wikipedia.org/wiki/Henry_M._Jackson
https://www.senate.gov/artandhistory/history/minute/Henry_Scoop_Jackson.htm
https://henryjacksonsociety.org/who-was-henry-jackson/
https://www.congress.gov/member/henry-jackson/J000013
https://hmjackson.org/about-us/biography/
https://content.lib.washington.edu/jacksonweb/index.html
https://www.k-state.edu/landon/speakers/henry-jackson/
https://guides.lib.uw.edu/research/henry_jackson/campaigns
https://history.house.gov/People/Detail?id=15709
Jenkins, Alfred le Sesne,
staff member, National Security Council, from July 1966
Director, Office of Asian Communist Affairs, Bureau of East Asian and Pacific Affairs, Department of State, until February 1973, co-Deputy Chief of Mission in Beijing from early 1973 until May 1974
https://www.discoverlbj.org/exhibits/show/loh/pres/nsf
https://en.wikipedia.org/wiki/Alfred_L._Jenkins
https://georgewbush-whitehouse.archives.gov/nsc/history.html
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v29p1/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v29p1/d123
Colonel, USA, member, National Security Council staff; Deputy Assistant to the President for National Security Council planning from 1973 until 1975
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_T._Kennedy
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/tf4000034s/
https://en.wikipedia.org/wiki/Under_Secretary_of_State_for_Management
https://history.state.gov/departmenthistory/people/kennedy-richard-thomas
https://history.state.gov/departmenthistory/people/kennedy-richard-thomas
https://history.state.gov/departmenthistory/people/principalofficers/under-secretary-for-mgmt
https://history.state.gov/departmenthistory/people/chiefsofmission/representative-to-iaea
https://history.state.gov/departmenthistory/people/principalofficers/ambassador-at-large
Henry A Kissinger
Assistant to the President for National Security Affairs until November 3, 1975; also Secretary of State from September 21, 1973
https://www.theguardian.com/world/2023/may/20/bilderberg-meeting-group-lisbon-kissinger
https://www.theguardian.com/world/bilderberg
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/summary
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip
https://china.usc.edu/catalog/documents/us-china
http://www.archives.gov/press/press-releases/2001/nr01-47.html
https://china.usc.edu/talking-points-july-22-august-3-2011
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#meetings
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#nixon-announcement
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#chinese-accept
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#signals
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#the_aim
http://www.foreignaffairs.com/articles/23927/richard-m-nixon/asia-after-viet-nam
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d4
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d12
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d13
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d141
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf
https://en.wikipedia.org/wiki/Henry_Kissinger_and_the_Vietnam_War
Lesson in Vietnam from Kissinger to Nixon: “when we made it “our war” we would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war”, we would not help them fight it.”
(We also had trouble with excesses here: when we made it “our war” we would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war,” we would not help them fight it. Ironically, we prepared the South Vietnamese for main force warfare after 1954 (anticipating another Korean-type attack), and they faced a political war; they had prepared themselves for political warfare after 1973 only to be faced with a main force invasion 20 years after it had been expected.)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/d280
Lesson of Vietnam May 12 1975 by Henry A. Kissinger
https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/exhibits/vietnam/032400091-002.pdf
https://thebattleofkontum.com/extras/kissinger.html
“Richard M. Nixon and Kissinger on 3 August 1972,” Conversation 760-006, Presidential Recordings Digital Edition [Fatal Politics, ed. Ken Huges] (Charlottesville: University of Virginia Press, 2014-). URL:https://prde.upress.virginia.edu/conversations/4006748
https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0
https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0
Discover the Truth at:
https://www.theblackvault.com/documentarchive/the-cias-vietnam-document-cd-rom/
The secret life of Henry Kissinger minutes of a 1975 meeting with Lawrence Eagleburger
https://etan.org/news/kissinger/secret.htm
Henry Kissinger and the Truth About Negotiations In Vietnam
https://www.youtube.com/watch?v=Z5fxxKVfX5g
Henry Kissinger - Secrets of a superpower | DW Documentary
https://www.youtube.com/watch?v=bWVMTKeAwlA
The Untold Truth of Henry Kissinger
https://www.youtube.com/watch?v=0iheZdvWdbI&t=1s
Was Henry Kissinger a War Criminal?
https://www.youtube.com/watch?v=COqq7862wcU&t=25s
Lord, Winston,
member, National Security Council staff until 1973; Director of the Policy Planning Staff, Department of State from October 1973 until January 1977
https://en.wikipedia.org/wiki/Winston_Lord
https://en.wikipedia.org/wiki/Assistant_Secretary_of_State_for_East_Asian_and_Pacific_Affairs
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_ambassadors_of_the_United_States_to_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Council_on_Foreign_Relations
https://en.wikipedia.org/wiki/Director_of_Policy_Planning
https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/07/19981208.pdf
https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/07/19991104.pdf
https://nsarchive.gwu.edu/document/22669-document-04-winston-lord-director-policy
https://www.ncafp.org/about-us/faps-board-of-advisors/ambassador-winston-lord/
Nixon Richard M.,
Vice President of the United States
https://www.history.com/topics/us-presidents/richard-m-nixon
https://www.britannica.com/event/Watergate-Scandal
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/14-nov-68-lbj-and-nixon
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
http://www.pbs.org/wgbh/amex/honor/peopleevents/e_paris.html
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
http://www.nytimes.com/2016/12/31/opinion/sunday/nixons-vietnam-treachery.html
http://www.nytimes.com/interactive/2016/12/31/opinion/sunday/haldeman-notes.html
http://www.bbc.com/news/magazine-21768668
https://www.nixonlibrary.gov/index.php
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v07/ch5
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/bundy.htm
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/toc.htm
Nixon, Richard M.,
President of the United States
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf
https://www.history.com/topics/us-presidents/richard-m-nixon
https://www.britannica.com/event/Watergate-Scandal
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/14-nov-68-lbj-and-nixon
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
http://www.pbs.org/wgbh/amex/honor/peopleevents/e_paris.html
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
http://www.nytimes.com/2016/12/31/opinion/sunday/nixons-vietnam-treachery.html
http://www.nytimes.com/interactive/2016/12/31/opinion/sunday/haldeman-notes.html
http://www.bbc.com/news/magazine-21768668
https://www.nixonlibrary.gov/index.php
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v07/ch5
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/bundy.htm
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/toc.htm
Nixon had a Trip to China from February 21 to 28 1972,
https://www.nixonlibrary.gov/nixons-trip-china
http://www.presidentialtimeline.org/
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10a.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10b.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1a.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1b.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-21-56.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10a.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10b.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1a.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1b.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-21-56.mp3
https://nsarchive.gwu.edu/briefing-book/nuclear-vault-vietnam/2023-03-24/movement-and-madman
The Vietnam War Johnson and Nixon Administrations Videos
March 2, 2016 Last Aired May 5, 2016
https://www.c-span.org/program/the-presidency/reflections-on-richard-nixon/431130
July 16, 1973 Last Aired July 22, 2013
Senate Watergate Committee Testimony
https://www.c-span.org/program/vignette/senate-watergate-committee-testimony/316346
April 26, 2016 Last Aired June 5, 2016
Vietnam War Commander in Chief
https://www.c-span.org/program/american-history-tv/vietnam-war-commanders-in-chief/439971
June 12, 2008 Last Aired July 22, 2013
Alexander Butterfield Oral History Interview, Part 2
June 12, 2008 Last Aired July 15, 2013
Alexander Butterfield Oral History Interview, Part 1
January 27, 2012 Last Aired June 11, 2012
President Nixon's Secret White House Tapes
https://www.c-span.org/program/american-history-tv/president-nixons-secret-white-house-tapes/277123
July 25, 1994 Last Aired June 20, 2008
Watergate: Corruption of American Politics
https://www.c-span.org/program/public-affairs-event/watergate-corruption-of-american-politics/119480
February 16, 2003 Last Aired December 25, 2003
Presidential Tapes: Taping Systems History
https://www.c-span.org/program/public-affairs-event/presidential-tapes-taping-systems-history/122572
Alexander Butterfield: The 60 Minutes Watergate Interview (1975)
https://www.youtube.com/watch?v=ss9AkLUmM4g
Watergate Hearing: Alexander Butterfield Testimony
Alexander Butterfield Was ‘Worried To Death’ Testifying Against Nixon
https://www.youtube.com/watch?v=c52oIe3Gj6w
How Nixon’s Invasion of Cambodia Triggered a Check on Presidential Power
Vietnam War Cambodia and Laos
https://www.history.com/articles/nixon-war-powers-act-vietnam-war-cambodia
Nixon's Vietnam Visit 1965, Rare Film Unearthed
https://www.youtube.com/watch?v=RaTi8OEpINI
Nixon on LBJ and Vietnam: Where Did It All Go Wrong?
https://www.youtube.com/watch?v=-n-4o3vOYD4
1969 July 30_Tổng Thống Hoa Kỳ 🇺🇸 Richard M. Nixon Thăm Việt Nam Cộng Hoà.
https://www.youtube.com/watch?v=ZRp4v6M6YJw&t=19s
Sadat, Anwar,
President of Egypt
https://en.wikipedia.org/wiki/Anwar_Sadat
https://www.britannica.com/biography/Anwar-Sadat
https://www.ebsco.com/research-starters/history/sadat-becomes-president-egypt
https://sadat.umd.edu/about-us/anwar-sadat
https://www.nobelprize.org/prizes/peace/1978/al-sadat/facts/
https://en.wikipedia.org/wiki/Assassination_of_Anwar_Sadat
https://www.biography.com/political-figures/anwar-el-sadat