Tuesday, June 9, 2026

20260610 CDTL Hệ thống Radar Tầu cộng xây trên đảo Drummond Duy Mộng.

20260610 CDTL Hệ thống Radar Tầu cộng xây trên đảo Drummond Duy Mộng.


20190910 Petition of the citizens of the Republic of Vietnam

https://bachvietnhan.blogspot.com/2019/09/20190910-petition-of-citizens-of.html

20241110 CDTL Tuyen Cao Lanh Tho Lanh Hai VN

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/11/20241110-cdtl-tuyen-cao-lanh-tho-lanh.html

20241214 CDTL South Vietnam Not Bound by Geneva Accords 1954

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241214-cdtl-south-vietnam-not-bound.html

Điều chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 (Tài liệu nầy ở phần cuối bài)

https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg

20260608 Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands (Tài liệu phần Anh Ngữ nầy ở phần cuối bài)

https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y

16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?

https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc

Đảo Drummond Duy Mộng

16°27'45.46"N 111°44'29.10"E

Radar

16°27'42.45"N 111°44'29.24"E

16°27'36.26"N 111°44'23.57"E

16°27'51.90"N 111°44'26.53"E

16°27'55.53"N 111°44'34.01"E

Xin bạn giúp cho tài liệu về hệ thống radar trên đảo Drummond Duy Mộng đi bạn. Cám ơn nhiều.

Chào bạn, đảo Duy Mộng (Drummond Island) là một thực thể địa lý quan trọng nằm trong nhóm đảo Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa (lãnh thổ thuộc chủ quyền của Việt Nam, hiện bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép) Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 1981 của Việt Nam.

Nằm ngay sát đảo Quang Hòa (Duncan Island) và chỉ cách đảo Hoàng Sa (Pattle) một khoảng ngắn, đảo Duy Mộng đóng vai trò như một mắt xích bảo vệ sườn phía Đông Nam của nhóm Lưỡi Liềm. Dưới đây là các tài liệu thông tin chi tiết về hệ thống radar và hạ tầng quân sự tại hòn đảo này:

1. Phân loại hệ thống Radar trên đảo Duy Mộng

Khác với đảo Phú Lâm (trung tâm chỉ huy hạng nặng) hay đảo Tri Tôn (trung tâm radar chống tàng hình), đảo Duy Mộng được trang bị hệ thống radar chuyên dụng cho nhiệm vụ Cảnh giới mặt biển và Giám sát không phận tầm ngắn/trung:

  • Hệ thống Radar Quét Bề Mặt (Surface-Search Radar): Được lắp đặt trên các tháp lưới thép vững chắc gần trung tâm đảo. Hệ thống này quét liên tục bằng sóng ngắn (băng tần X-band hoặc S-band) để giám sát hành trình của tàu thuyền qua lại các eo biển lân cận, ngăn chặn việc xâm nhập từ hướng Nam và Đông Nam.
  • Trạm Vòm Radar (Radome): Các không ảnh vệ tinh ghi nhận một số vòm che radar hình cầu màu trắng đặc trưng đặt trên các kết cấu tháp kiên cố. Đây là các cụm radar trinh sát đường không tầm ngắn, dùng để định vị máy bay trực thăng, máy bay tuần thám và thiết bị bay không người lái (UAV).
  • Trạm Tác Chiến Điện Tử & Thu Thập Tín Hiệu (SIGINT): Đi kèm với hệ thống radar là các cột ăng-ten dạng mạng lưới (masts) thu phát sóng vô tuyến. Trạm này có nhiệm vụ chặn thu các tín hiệu vô tuyến, liên lạc hàng hải hoặc tín hiệu radar phát ra từ tàu chiến của các quốc gia khác di chuyển trong khu vực, sau đó mã hóa và chuyển tiếp về trung tâm chỉ huy đảo Phú Lâm.

2. Hạ tầng phòng thủ đi kèm hệ thống Radar

Để bảo vệ trạm thông tin và radar này khỏi các đòn tập kích, Trung Quốc đã bố trí một mạng lưới phòng thủ điểm bán kiên cố quanh đảo:

  • Ụ Súng Phòng Không và Pháo Bờ Biển: Tương tự như đảo Quang Ảnh, mép ngoài bờ biển đảo Duy Mộng có các ụ bê tông tròn hoặc lục giác hở. Đây là nơi triển khai pháo phòng không bắn nhanh và súng máy hạng nặng nhằm chế áp các mục tiêu bay thấp hoặc xuồng đổ bộ tốc độ cao.
  • Cầu Cảng và Âu Tàu Mở Rộng: Đảo Duy Mộng đã được cải tạo, nạo vét lòng biển để xây dựng một âu tàu có đê chắn sóng. Hạ tầng này cho phép các tàu tuần tra bọc thép tầm trung, tàu Hải cảnh hoặc tàu vận tải quân sự hạng nhẹ cập cảng trực tiếp để tiếp tế nhu yếu phẩm, nhiên liệu cho trạm radar.
  • Bãi Đáp Trực Thăng (Helipad): Nằm sát khu nhà chỉ huy, bãi đáp trực thăng sơn chữ "H" lớn được duy trì để bảo đảm khả năng cơ động, tiếp viện quân sự hoặc sơ tán kỹ thuật viên radar trong tình huống khẩn cấp.

Tóm lại:

Đảo Duy Mộng không phải là căn cứ tấn công bằng tên lửa, nhưng nó sở hữu một trạm radar giám sát bề mặt và không phận cực kỳ nhạy bén. Nó kết hợp với đảo Quang Hòa kề bên tạo thành một cụm cứ điểm đôi vững chắc, giúp Trung Quốc bịt kín lối vào nhóm Lưỡi Liềm từ phía Đông Nam.

Nếu bạn muốn tiếp tục tìm hiểu về hệ thống radar khổng lồ tại đảo Phú Lâm hay cách thức kết nối liên lạc giữa đảo Duy Mộng và các đảo nhân tạo khác, hãy phản hồi để tôi tiếp tục hỗ trợ bạn nhé.

Thưa bạn, bạn có biết chính xác loại radar nào được trang bị cho đảo Drummond-Duy Mộng nầy không bạn? Tên của loại radar, tầm hoạt động và phối hợp cùng với đảo Money Quang Ảnh.

Để cung cấp thông tin chính xác nhất về các loại radar quân sự của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, các cơ quan tình báo phương Tây và các tổ chức nghiên cứu như AMTI (Dự án Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á thuộc CSIS) thường phân loại dựa trên đặc điểm hình học của ăng-ten hoặc vòm che (radome) thu được từ không ảnh vệ tinh.

Dưới đây là chi tiết về tên gọi kỹ thuật, tầm hoạt động của các loại radar trên đảo Duy Mộng (Drummond) và cách thức phối hợp chiến thuật của nó với đảo Quang Ảnh (Money):

1. Tên gọi chính xác và Phân loại Radar trên đảo Duy Mộng (Drummond)

Tại tiền đồn Duy Mộng, Trung Quốc không lắp đặt radar cố định cỡ lớn mà trang bị các dòng radar cảnh giới lưỡng dụng di động hoặc bán kiên cố, tiêu biểu là hai dòng radar sau:

  • Radar cảnh giới mặt biển Type 362 (hoặc biến thể xuất khẩu MR36A):
    • Đặc điểm: Đây là loại radar quét bề mặt sử dụng băng tần X/S-band. Trên không ảnh, hệ thống này nằm trên các tháp thép dạng lưới, sử dụng Ăng-ten thanh ngang xoay liên tục.
    • Tầm hoạt động: Khoảng 40 - 50 km đối với các mục tiêu di chuyển trên mặt biển (như tàu chiến, tàu cá) và lên tới 100 km đối với các mục tiêu bay thấp có diện tích phản xạ radar lớn.
  • Radar cảnh giới đường không tầm ngắn/trung Type 360 (hoặc các biến thể nâng cấp thuộc dòng JH-series):
    • Đặc điểm: Hệ thống này thường được đặt bên trong các vòm che radar (radome) hình cầu màu trắng trên đảo Duy Mộng để chống chịu thời tiết biển khắc nghiệt. Radar hoạt động ở băng tần E/F-band, chuyên trách săn tìm các mục tiêu bay.
    • Tầm hoạt động: Có bán kính quét từ 150 km đến tối đa 250 km đối với máy bay chiến đấu hoặc máy bay trinh sát tầm cao. Đối với các mục tiêu nhỏ như tên lửa hành trình bay bám mặt biển hoặc thiết bị bay không người lái (UAV), tầm phát hiện hiệu quả là khoảng 30 - 50 km.

2. Sự phối hợp chiến thuật giữa đảo Duy Mộng (Drummond) và đảo Quang Ảnh (Money)

Nếu bạn nhìn trên bản đồ nhóm đảo Lưỡi Liềm (Hoàng Sa), đảo Quang Ảnh nằm ở cực Tây, còn đảo Duy Mộng nằm ở cực Đông Nam. Trung Quốc đã biến hai hòn đảo này thành "hai gọng kìm radar" phối hợp chặt chẽ với nhau theo mô hình phòng thủ khu vực:

  • Tạo vành đai quét giao thoa (Overlapping Radar Coverage): Khoảng cách giữa đảo Quang Ảnh và đảo Duy Mộng là khoảng 40 - 45 km. Với tầm quét mặt biển của radar Type 362 (bán kính 40-50 km), búp sóng của hai trạm radar trên hai đảo này giao nhau hoàn toàn. Điều này tạo ra một hàng rào điện tử khép kín bao bọc toàn bộ rìa phía nam của nhóm đảo Lưỡi Liềm. Bất kỳ một con tàu nào muốn đi vào vùng lõi (gần đảo Hoàng Sa hay đảo Quang Hòa) từ phía nam đều bị cả hai đảo cùng lúc phát hiện.
  • Bù đắp góc khuất (Line-of-Sight & Terrain Masking): Do độ cong của Trái Đất và các rạn san hô lớn (như rạn Đá Hải Sâm, bãi Xà Cừ) có thể che khuất một phần tầm nhìn của radar ở tầm thấp. Việc đặt trạm ở cả hai đầu Đông - Tây giúp các hệ thống này bù đắp góc chết cho nhau. Nếu một tàu chiến đối phương cố tình nấp sau một rạn san hô để né radar của đảo Quang Ảnh, góc quét của đảo Duy Mộng từ phía ngược lại sẽ lập tức bắt được mục tiêu.
  • Hệ thống chia sẻ dữ liệu (Data-link): Các dữ liệu thô (raw data) về mục tiêu (tốc độ, tọa độ, hướng đi) thu được từ radar của đảo Duy Mộng và Quang Ảnh không xử lý độc lập. Chúng được mã hóa qua các cột ăng-ten vi ba và gửi theo thời gian thực về trung tâm chỉ huy đầu não tại đảo Phú Lâm (Woody Island). Tại Phú Lâm, máy tính sẽ đồng bộ dữ liệu này với các tổ hợp tên lửa phòng không tầm xa HQ-9 và tên lửa diệt hạm YJ-62 để sẵn sàng khóa mục tiêu nếu có xung đột xảy ra.

Tóm lại, đảo Duy Mộng (Đông Nam) và đảo Quang Ảnh (Tây) chính là hai "mắt thần vòng ngoài", đóng vai trò cảnh báo sớm và chỉ thị mục tiêu cho các hệ thống hỏa lực hạng nặng ở vòng trong.

Nếu bạn muốn biết thêm về việc liệu các hệ thống radar này có khả năng bị khắc chế bằng công nghệ tác chiến điện tử (gây nhiễu) hay không, hãy cho tôi biết để chúng ta cùng thảo luận sâu hơn nhé.

Xin bạn cho biết liệu có khả năng nào hệ thống radar nẩy có thể bị khắc chế bằng công nghệ tác chiến điện tử (gây nhiễu)

Hệ thống radar của Trung Quốc trên đảo Duy Mộng (Drummond) và đảo Quang Ảnh (Money) hoàn toàn có thể bị khắc chế và vô hiệu hóa bằng các công nghệ tác chiến điện tử (Electronic Warfare - EW) hiện đại. Trên thực tế, các trạm radar trên đảo san hô có những điểm yếu chí mạng về mặt địa lý và vật lý mà các cường quốc quân sự (như Mỹ) luôn có sẵn phương án để chế áp.

Dưới đây là các phương thức chế áp điện tử cụ thể áp dụng cho các hệ thống radar này:

1. Gây nhiễu tiếng ồn và Chế áp năng lượng (Barrage & Spot Jamming)

  • Nguyên lý: Các máy bay tác chiến điện tử chuyên dụng (như EA-18G Growler của Mỹ) hoặc các chiến hạm từ khoảng cách xa sẽ phát ra sóng vô tuyến có công suất cực mạnh trên cùng băng tần (X-band, S-band, E/F-band) mà radar Type 360/362 trên đảo đang sử dụng.
  • Hậu quả cho radar: Màn hình radar của Trung Quốc trên đảo Duy Mộng sẽ bị "bão hòa" bởi các vệt trắng xóa (nhiễu trắng). Xung tín hiệu phản hồi từ các mục tiêu thật (như tàu chiến, máy bay) sẽ bị chìm nghỉm trong biển nhiễu, khiến kỹ thuật viên trên đảo hoàn toàn bị mù thông tin.

2. Gây nhiễu đánh lừa kỹ thuật số (DRFM - Digital Radio Frequency Memory)

  • Nguyên lý: Đây là công nghệ tinh vi hơn. Thiết bị EW của đối phương sẽ hứng lấy búp sóng phát ra từ radar đảo Quang Ảnh/Duy Mộng, số hóa nó, chỉnh sửa thông tin (thay đổi thời gian trễ, tần số) rồi phát ngược trở lại đảo.
  • Hậu quả cho radar: Thay vì làm mờ màn hình, DRFM sẽ tạo ra hàng trăm mục tiêu giả (máy bay ma, tàu chiến ma) di chuyển với vận tốc và hướng đi khác nhau. Hệ thống chỉ huy của Trung Quốc sẽ bị quá tải, không thể phân biệt đâu là tàu thật để khai hỏa tên lửa, dẫn đến việc lãng phí tài nguyên quốc phòng.

3. Tấn công mạng qua không gian mạng/vô tuyến (Cyber-EW Convergence)

  • Nguyên lý: Điểm yếu của hệ thống radar trên các đảo nhỏ là chúng phải truyền dữ liệu thô (Data-link) về đảo Phú Lâm thông qua sóng vi ba hoặc vệ tinh. Các lực lượng tác chiến điện tử hiện đại có thể chèn các mã độc hoặc thuật toán tấn công mạng trực tiếp vào dòng dữ liệu không dây này.
  • Hậu quả cho radar: Radar trên đảo Duy Mộng vẫn quay, vẫn hoạt động bình thường, nhưng dữ liệu truyền về trung tâm chỉ huy ở đảo Phú Lâm đã bị can thiệp, sửa đổi tọa độ hoặc bị ngắt kết nối hoàn toàn mà phía Trung Quốc không hề hay biết.

4. Điểm yếu chí mạng của radar trên đảo: "Tự sát vì phát sóng"

Trong tác chiến điện tử, radar muốn tìm mục tiêu thì bắt buộc phải phát sóng. Khi phát sóng, các trạm radar trên đảo Duy Mộng và Quang Ảnh vô tình trở thành những ngọn hải đăng vô tuyến rực sáng giữa Biển Đông.

  • Các hệ thống trinh sát điện tử (ESM) của đối phương sẽ ngay lập tức định vị được tọa độ chính xác của tháp radar dựa vào tín hiệu phát ra.
  • Trong tình huống xung đột vũ trang, đối phương không chỉ gây nhiễu mà sẽ phóng các Tên lửa diệt bức xạ (Anti-Radiation Missile - như AGM-88 HARM). Loại tên lửa này sẽ tự động dò theo nguồn sóng radar đang phát ra từ đảo để lao xuống tiêu diệt tận gốc máy phát, biến toàn bộ vòm che radar thành đống đổ nát.

Khả năng tự vệ của Trung Quốc:

Tất nhiên, Trung Quốc nhận thức rõ điều này nên họ đã trang bị các tính năng kháng nhiễu (ECCM) như nhảy tần số liên tục (Frequency Hopping) hoặc sử dụng các trạm phát sóng mồi bẫy (Decoys) xung quanh đảo Duy Mộng để đánh lừa tên lửa diệt bức xạ. Dẫu vậy, trong một cuộc đối đầu điện tử cường độ cao với các khí tài EW thế hệ mới, ưu thế công nghệ vẫn nghiêng về phía các lực lượng có năng lực áp đảo về chế áp điện tử tầm xa.

Nếu bạn muốn tìm hiểu về các loại máy bay hoặc tàu chiến cụ thể thường thực hiện nhiệm vụ gây nhiễu này trên Biển Đông, hãy cho tôi biết nhé.

Như thế thì loại radar phát sóng trên phi cơ hay tàu hiến nào có thể gây nhiễu phá rối hệ thống nầy.

Để chế áp và phá rối các hệ thống radar quân sự của Trung Quốc trên đảo Duy Mộng hay Quang Ảnh, các cường quốc quân sự thường sử dụng các loại thiết bị gây nhiễu, radar chế áp điện tử chuyên dụng được gắn trên các dòng phi cơ (máy bay) và tàu chiến hiện đại.

Dưới đây là các khí tài và phương tiện tác chiến điện tử (EW) cụ thể và mạnh mẽ nhất hiện nay:

1. Trên Phi Cơ (Máy Bay Tác Chiến Điện Tử Chuyên Dụng)

Đây là phương thức chế áp từ trên cao, cơ động nhanh và có công suất phát sóng cực kỳ mạnh mẽ:

  • Máy bay EA-18G Growler (Hải quân Mỹ): Đây là "vua tác chiến điện tử" trên biển hiện nay. Nó mang theo các cụm ống gây nhiễu chiến thuật AN/ALQ-99 và thế hệ mới hơn là Next Generation Jammer (NGJ) (gồm các biến thể AN/ALQ-249). Hệ thống này sử dụng công nghệ radar mạng pha chủ động (AESA) phát các chùm tia năng lượng cao tập trung, có thể quét và vô hiệu hóa cùng lúc nhiều băng tần của radar Type 360/362 trên các đảo từ khoảng cách hàng trăm km.
  • Máy bay RC-135V/W Rivet Joint / EP-3B (Không quân/Hải quân Mỹ): Các dòng máy bay trinh sát điện tử cỡ lớn này thường xuyên bay trên Biển Đông. Chúng không trực tiếp "phá rối" bằng bạo lực mạng, mà dùng các hệ thống thu tín hiệu siêu nhạy để thu thập tần số hoạt động, chu kỳ quét của radar trên đảo Duy Mộng. Khi có xung đột, dữ liệu này được chuyển cho EA-18G để thực hiện gây nhiễu chính xác tuyệt đối (Spot Jamming).
  • Hệ thống gây nhiễu AN/ALQ-250 EPAWSS trên tiêm kích F-15EX: Đây là hệ thống tác chiến điện tử kỹ thuật số thế hệ mới, cho phép các máy bay chiến đấu thông thường tự tạo ra màn chắn nhiễu DRFM (đánh lừa kỹ thuật số) để qua mặt radar phòng không trên đảo mà không cần máy bay hộ tống.

2. Trên Tàu Chiến (Hệ thống EW tích hợp trên hạm đội)

Các tàu chiến hiện đại áp dụng phương thức chế áp bề mặt, tạo vùng bảo vệ an toàn cho cả hạm đội khi tiến vào vùng quét của radar đối phương:

  • Hệ thống AN/SLQ-32(V)7 SEWIP Block 3 (Trên các tàu khu trục lớp Arleigh Burke của Mỹ): Đây là nâng cấp mang tính cách mạng cho các tàu chiến Mỹ. Thay vì chỉ gây nhiễu thụ động, SEWIP Block 3 sử dụng các anten mạng pha di động phát ra các búp sóng vô tuyến cực mạnh để phản công điện tử (Electronic Attack). Khi tàu chiến di chuyển gần quần đảo Hoàng Sa, hệ thống này có thể "đốt cháy" (bão hòa sóng) các máy thu của radar cảnh giới mặt biển của Trung Quốc, khiến họ không thể định vị được vị trí chính xác của tàu.
  • Tổ hợp nhiễu bẫy mồi chủ động (Nulka): Được phóng ra từ tàu chiến, các quả tên lửa mồi bẫy này sẽ bay lơ lửng trên không trung và phát ra tín hiệu giả lập y hệt như một chiếc tàu sân bay hoặc tàu khu trục lớn. Radar trên đảo Duy Mộng sẽ bị đánh lừa và hướng toàn bộ các hệ thống tính toán hỏa lực vào quả mồi bẫy này.

Cách thức một trận chiến điện tử diễn ra:

Khi một biên đội tàu chiến hoặc máy bay tiếp cận nhóm đảo Lưỡi Liềm:

1.    Radar trên đảo phát sóng: Radar Type 362 phát xung tìm kiếm.

2.    Hệ thống trên máy bay/tàu chiến phát hiện: Thiết bị cảnh báo radar (RWR) trên máy bay EA-18G lập tức báo động và khóa vị trí đài phát trên đảo.

3.    Chế áp: Máy bay kích hoạt hệ thống NGJ, phát sóng nhiễu bão hòa trực diện vào đảo Duy Mộng. Màn hình của quân đội Trung Quốc trên đảo biến thành một dải trắng xóa hoàn toàn.

4.    Tiêu diệt (nếu có xung đột): Một tiêm kích khác sẽ phóng tên lửa AGM-88 HARM bám theo búp sóng nhiễu của chính radar đảo để lao xuống phá hủy toàn bộ công trình.

Nếu bạn muốn biết thêm về việc Trung Quốc có những biện pháp nào để đối phó lại các hệ thống gây nhiễu này của Mỹ trên các đảo, hãy cho tôi biết để chúng ta tiếp tục nhé.

Liệu những Helipad là một hệ thống radar phát và nhận tín hiệu từ vệ tinh không bạn?

Chào bạn, câu trả lời ngắn gọn là Không. Bản thân một Helipad (bãi đáp trực thăng) hoàn toàn không phải là một hệ thống radar phát và nhận tín hiệu từ vệ tinh.

Chúng là hai loại cấu trúc có chức năng, bản chất kỹ thuật và hình dáng hoàn toàn khác biệt nhau trên không ảnh vệ tinh. Để giúp bạn phân biệt rõ ràng và không bị nhầm lẫn, chúng ta có thể bóc tách cụ thể như sau:

1. Bản chất thật sự của một Helipad (Bãi đáp trực thăng)

  • Chức năng: Đây thuần túy là một công trình kết cấu hạ tầng giao thông và hậu cần. Đó là một khoảng sân bằng phẳng được làm bằng bê tông cốt thép dày, chịu lực tốt để máy bay trực thăng có thể cất cánh, hạ cánh và đậu an toàn.
  • Đặc điểm trên không ảnh: Nó có dạng hình vuông hoặc hình tròn, được sơn chữ "H" rất lớn ở giữa để phi công nhìn thấy từ trên cao.
  • Thiết bị đi kèm (nếu có): Xung quanh helipad chỉ có các đèn tín hiệu chớp tắt tầm thấp để dẫn đường cho phi công đáp vào ban đêm, hoàn toàn không có ăng-ten hay thiết bị phát sóng năng lượng cao.

2. Hệ thống phát và nhận tín hiệu từ vệ tinh (Trạm mặt đất - SATCOM)

Để liên lạc, phát và nhận dữ liệu từ các vệ tinh (như hệ thống định vị Bắc Đẩu hay vệ tinh quân sự của Trung Quốc), người ta phải sử dụng một hệ thống hoàn toàn khác gọi là Trạm mặt đất Vệ tinh (Satellite Communications - SATCOM).

  • Hình dáng trên không ảnh: Hệ thống này sử dụng các Ăng-ten chảo parabol (giống như chảo thu truyền hình K+ nhưng kích thước lớn hơn nhiều) hướng thẳng lên trời. Để bảo vệ các chảo này khỏi gió bão biển Đông, người ta luôn bọc chúng bên trong các Vòm che radar hình cầu (Radome) màu trắng, trông giống như quả bóng golf.
  • Vị trí lắp đặt: Các trạm vòm vệ tinh này thường được đặt trên nóc các tòa nhà chỉ huy hoặc trên các ngọn tháp thép cao kiên cố bên cạnh trung tâm thông tin, chứ không bao giờ đặt trên bề mặt bãi đáp trực thăng.

3. Mối liên hệ duy nhất giữa chúng trên một hòn đảo

Mặc dù là hai hệ thống khác nhau, nhưng trên các tiền đồn như đảo Duy Mộng hay Quang Ảnh, chúng thường được xây dựng gần nhau (trong cùng một khu căn cứ) vì lý do phối hợp tác chiến:

  • Trạm vệ tinh/radar thu nhận thông tin mục tiêu từ xa.
  • Nếu hệ thống phát hiện có động tĩnh quân sự khẩn cấp hoặc cần sơ tán, sửa chữa, trực thăng sẽ lập tức đáp xuống helipad ngay cạnh đó để đón các kỹ thuật viên hoặc lực lượng tăng viện.

Tóm lại, Helipad chỉ là cái sân để máy bay đậu, còn vòm tròn (Radome) hay tháp ăng-ten mới là hệ thống phát/nhận tín hiệu vệ tinh và radar.

Nếu bạn nhìn thấy một cấu trúc cụ thể nào trên ảnh vệ tinh mà vẫn còn phân vân giữa bãi đáp trực thăng hay trạm vệ tinh, bạn có thể mô tả vị trí hoặc hình dáng của nó (ví dụ: nằm sát biển hay nằm trên nóc nhà) để tôi giúp bạn làm rõ nhé.

 Điều chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974

SGN tổng hợp – 21 tháng 1, 2025

https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/01/141077565_10161036562590620_499246679089710973_n.jpg

16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?

https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc

Đây là một phần tư liệu bị khuất, sau 1975 góp phần làm rõ bộ mặt của Hà Nội, được chính Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng CSVN Lê Quang Hòa, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại. Bài viết được tổng hợp bởi Facebook Xuan Hao Tran tổng hợp, dựa theo lời kể lại trên blog Bọ Lập, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Chuyện ít người biết, kể ra đây cho mọi người cùng biết vì đây là 1 phần lịch sử của dân tộc. Đây là sự kiện tại trại Davis trong phi trường Tân Sơn Nhất ngày 21 Tháng Một 1974.

Ngày 19 Tháng Một 1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Tầu cộng đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.

Nghị trình của phía Công sản Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vi phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.

Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An Lộc…v.v.. Phái đoàn cs không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai hôm trước.

Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình. Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:

1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của Việt Nam.

2) Yêu cầu phía quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) không tấn công phá rối các phi trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.

Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn cộng sản Bắc Việt và các quan chức MTGPMN vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì. Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.

Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH được Uỷ ban giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) của VNCH.

Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn Cộng sản Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.

Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực bộ chính trị đã trả lời “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Tầu cộng, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’

Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH, người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:

“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Tầu cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH gửi công hàm lên án Tầu cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Tầu cộng)”

Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái đoàn cộng sản. Họ lại tảng lờ…

Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông chỉ thẳng mặt tên tướng cộng sản Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng lờ, là tiếp tay cho Tầu cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.

Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát.

Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.

https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/

20260608 Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands

https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y

Pinned by @Kabutoes

@Kabutoes

3 years ago

The New York Times: PEKING REPORTS HOLDING U.S. AIDE - The New York Times (nytimes.com)

WASHINGTON, Jan. 25 China has informed the United States that she is holding an American Embassy observer who was reported missing last weekend during a battle between Chinese and South Vietnamese forces in the Paracel Islands, the State Department said today.

John F. King, department spokesman, said the Chinese authorities had told Washington that Gerald Emil Kosh, 27‐year‐old civilian employe of the Defense Department attached to the Embassy in Saigon, was taken into custody with more than 100 South Vietnamese captured on Pattie Island, one of the Paracels.

“We regret that this had to happen and that he was on the disputed territory,” Mr. King said. “We think he ought to be released soon.” He said he did not know where Mr. Kosh was being held or what his condition was.

Privately some officials said they expected that both Mr. Kosh, a former Army captain, and the South Vietnamese would be set free by the Chinese, but because of the sensitivity of the subject, Mr. King was not permitted to go further than his statement.

He confirmed that the information had been conveyed to the State Department by the Chinese liaison office here.

Mr. Kosh was on a South Vietnamese naval patrol off the Paracels when fighting broke out between South Vietnamese and Chinese forces. The Vietnamese commander put Mr. Kosh ashore on Pattie, where he was apparently taken into custody by Chinese occupying the island.

Dig deeper into the moment.

The battle flared last weekend on the Paracels, an archipelago 200 miles east of Da Nang and about 150 miles south of the Chinese island of Hainan.

China and South Vietnam have claimed sovereignty over the islands, and there has been speculation here that the Chinese were interested in them because of reports of oil deposits nearby.

The United States has avoided taking sides in the dispute, with Secretary of State Kissinger limiting his comments to regret that force had been invoked.

Discussions with the Chinese began here early in the week, soon after Mr. Kissinger returned from his Middle East trip. ‐The United States asked for information on Mr. Kosh's whereabouts and for cooperation in releasing him and the South Vietnamese.

Because discussions with China are treated with more sensitivity than those with most other countries, the department refused to announce the approach until today, after The New York Times quoted Administration officials to the effect that‐inquiries had been made, and after information had been received that Mr. Kosh was alive.

The American, who is from Lafayette Hill, Pa., served in the Army in Vietnam and was assigned to the Defense Attaché's Office to observe South Vietnamese units in action.

The United States, which has sought to avoid creating a major issue, showed no enthusiasm for Saigon's efforts to bring the matter before the United Nations Security Council, a move now apparently dropped.

Hoa Kỳ – vốn tìm cách tránh gây ra vấn đề lớn – đã không tỏ ra mặn mà với những nỗ lực của Sài Gòn nhằm đưa vụ việc ra trước Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc; một động thái mà nay dường như đã bị từ bỏ.

Some officials noted that North Vietnam had said nothing about the dispute, indicating that it was in the difficult position of not wanting to endorse Chinese seizure of an island traditionally claimed by the Vietnamese but of being unable to criticize China.

“Một số quan chức lưu ý rằng Bắc Việt Nam không hề lên tiếng về vụ tranh chấp, cho thấy họ đang ở vào thế khó: vừa không muốn tán thành việc Trung Quốc chiếm giữ hòn đảo vốn được phía Việt Nam tuyên bố chủ quyền từ lâu, lại vừa không thể công khai chỉ trích Trung Quốc.”

Matter Termed Closed at U.N.

Special to The New York Vines

Why did China attack South Vietnam? Paracel Islands

https://www.youtube.com/watch?v=KhwWs3N6J3Y

20260610 CDTL DDE D617 27 May 1954 Điện tín của Bộ trưởng Ngoại giao gửi Phái đoàn Hoa Kỳ. Mâu thuẩn truyền thông.

20260610 CDTL DDE D617 27 May 1954 Điện tín của Bộ trưởng Ngoại giao gửi Phái đoàn Hoa Kỳ. Mâu thuẩn truyền thông.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d617

Google Translated

Tài liệu 617

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Hội nghị Geneva, Tập XVI

110.11 DU/5–2754: Điện tín của Bộ trưởng Ngoại giao gửi Phái đoàn Hoa Kỳ.

Mật

Khẩn (NIACT)

Washington, ngày 27 tháng 5 năm 1954 — 10:22 sáng

Tedul 131. Về điện Dulte 124

1. Hôm nay, các nhà chức trách quân sự của chúng ta đang gửi lời mời tới đại diện của bốn cường quốc khác để tham dự một cuộc họp tại Washington vào ngày 3 tháng 6.

2. Lời mời này hiện vẫn được giữ bí mật, bởi lẽ tối qua phía Úc đã đưa ra một kiến ​​nghị mạnh mẽ, thúc giục rằng cần phải có một thông báo công khai về cuộc họp này. Xét đến tình trạng tiết lộ thông tin và những đồn đoán đang diễn ra, Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng đều đông ý rằng việc đưa ra thông báo công khai sẽ là điều hữu ích.

3. Do đó, chúng tôi đã đồng ý với văn bản sau đây do phía Úc đề nghị (mà chúng tôi đã sửa đổi ở hai điểm nhỏ):

Bắt đầu văn bản. Chính phủ các nước Úc, Pháp, New Zealand, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ đã đồng ý rằng các cuộc đàm phán sẽ bắt đầu tại Washington vào ngày 3 tháng 6, giữa các đại diện quân sự của Tổng Tham mưu trưởng các nước này.

Các cuộc thảo luận sẽ xem xét tình hình quân sự tại Viễn Đông, xuất phát từ những diễn biến tại Đông Dương. Các cuộc đàm phán này sẽ không mang tính ràng buộc đối với bất kỳ chính phủ nào có đại diện quân sự tham gia. Những cuộc thảo luận này được kỳ vọng sẽ mang lại giá trị không chỉ cho năm chính phủ nói trên, mà còn cho các chính phủ khác trong khu vực trong bất kỳ cuộc đối thoại nào tiếp theo—dù là về quân sự hay chính trị—có thể diễn ra sau này trên một phạm vi rộng lớn hơn. Hết văn bản.

4. Việc phối hợp và định thời điểm công bố thông cáo báo chí sẽ gặp khó khăn, trừ khi việc này được thực hiện tại Geneva—nơi ông, ông Bidault, ông Eden cùng các đại diện của Úc và New Zealand có thể cùng nhau thống nhất các chi tiết cụ thể. Thông cáo sẽ được công bố đồng thời tại năm thủ đô.

5. Theo đó, Quý vị được ủy quyền:

(a) chấp thuận bất kỳ thay đổi nhỏ nào đối với nội dung văn bản nêu trên; và

(b) thống nhất về thời điểm công bố. (Chúng tôi đề nghị là 16 giờ 00, giờ Washington, ngày Thứ Sáu, 28 tháng 5.)

6. Xin vui lòng thông báo khẩn cho chúng tôi về nội dung văn bản cũng như ngày công bố đã được thống nhất để tiến hành phát hành tại đây.

7. Trong quá khứ, phía Anh và Pháp đã liên tục làm tiết lộ hầu như mọi thông tin cho báo chí, đồng thời hành động vội vàng — đi trước thời điểm đã định — đối với các thỏa thuận bất di bất dịch về thời điểm công bố các tuyên bố chung; điều này gây bất lợi cho giới báo chí Hoa Kỳ và khiến chúng ta lâm vào tình thế bẽ mặt. Tôi tin rằng Ngài sẽ nhấn mạnh với họ về việc tuyệt đối không được phép hành động vội vàng như vậy.

Dulles.

1.    Do MacArthur soạn thảo. Được chuyển tiếp tới London dưới dạng điện tín số 6374, tới Paris dưới dạng điện tín số 4276, tới Canberra dưới dạng điện tín số 224, và từ Canberra tới Wellington dưới dạng điện tín số 174.

2.    Trong điện tín Tedul 124 ngày 27 tháng 5, Smith cho biết ông tức khắc xác nhận rằng “theo quan điểm riêng của tôi, con đường để bắt đầu các cuộc đàm phán Năm cường quốc đã được dọn sẵn từ vài ngày nay. Eden cũng có cùng quan điểm này và xác nhận việc đã gửi các chỉ thị tới giới quân sự Vương quốc Anh tại Washington, như đã đề cập trong đoạn đầu của điện tín tham chiếu.” (110.11 DU/5–2754)

List of Abbreviations and Symbols

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/persons

The Geneva Conference on Indochina May 8–July 21, 1954

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/comp2

III. Proceedings of the Conference: Continued Discussions of Conference Arrangements, Procedures, and Participants; United States Positions and Tactics at the Conference; Arrangements and Discussions on Collective Defense in Southeast Asia; Consideration of United States Military Intervention in Indochina; Proposals on Indochina by the Various Delegations; Efforts To End Hostilities in Indochina and To Preserve Peace in Southeast Asia; United States Participation in the Final Stage of the Indochina Phase of the Conference; Conclusion of the Geneva Conference (May 8–July 21)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7

May 27, 1954 (Documents 615–628)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7subch20

1.    Document 617

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, The Geneva Conference, Volume XVI

110.11 DU/5–2754: Telegram

The Secretary of State to the United States Delegation1

secret
niact

Washington, May 27, 1954—10:22 a.m.

Tedul 131. Re Dulte 124.2

1.

Our military authorities are today inviting representatives of other four powers to meet Washington June 3.

2.

This invitation is for moment secret because Australians last [Page 941] night made strong démarche urging that there be public announcement re meeting. In view leaks and speculation, State and Defense agree public announcement would be useful.

3.

We therefore have agreed to following text proposed to us by Australians (which we modified in two minor respects):

Begin text. The Govts of Australia, France, New Zealand, the UK, and the US have agreed that talks will begin in Washington on June 3, between military representatives of their Chiefs of Staff.

Discussions will survey the military situation in the Far East arising out of developments in Indochina. Talks will be without commitment to any of the govts whose military representatives are participating. These discussions should be of value not only to these five govts, but to other govts in the region in any further conversations, military or political, which may take place later on a wider basis. End text.

4.

Coordination and timing of press release will be difficult unless it is done at Geneva where you, Bidault, Eden, and Australian and New Zealand representatives can work out details. Simultaneous release would be made in five capitals.

5.

Accordingly you are authorized (a) to agree to any minor changes in above text; and (b) to agree on release time. (We would suggest 4 pm Washington time Friday May 28.)

6.

Please keep us informed niact re text and release date agreed for issuance here.

7.

In past UK and French have consistently leaked virtually everything to press and jumped gun on ironclad agreements on release time of joint announcements, to disadvantage of US press and our embarrassment. Know you will impress on them there should be no gun-jumping.

Dulles

1.    Drafted by MacArthur. Repeated to London as telegram 6374, to Paris as telegram 4276, to Canberra as telegram 224, and to Wellington from Canberra as telegram 174.

2.    In telegram Tedul 124, May 27, Smith said he urgently confirmed “my own view way has been cleared for several days for beginning Five-Power talks. Eden has same view and confirms despatch instructions to UK military Washington mentioned first paragraph reference telegram.” (110.11 DU/5–2754)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d617

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_941

Thân thế (các) nhân vật

Bidault, Georges,

French Minister for Foreign Affairs until June 18, 1954; Head of the French Delegation at the Geneva Conference until June 18, 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Georges_Bidault

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d338

https://www.britannica.com/biography/Georges-Bidault

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d398

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/CWIHPBulletin16_p1.pdf

https://spartacus-educational.com/2WWbidault.htm

https://apps.dtic.mil/sti/tr/pdf/ADA007286.pdf

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch020.asp

Dulles, John Foster,

Secretary of State

https://en.wikipedia.org/wiki/John_Foster_Dulles

https://history.state.gov/departmenthistory/people/dulles-john-foster

https://www.britannica.com/biography/John-Foster-Dulles

https://diplomacy.state.gov/encyclopedia/john-foster-dulles-secretary-of-state/

https://www.acton.org/publications/transatlantic/2020/03/10/john-foster-dulles-cold-war-architect

https://www.youtube.com/watch?v=BtyFClyli9c

Eden, Anthony,

British Secretary of State for Foreign Affairs; Head of the British Delegation at the Geneva Conference; one of the three rotating chairmen of the Geneva Conference on Korea.

https://en.wikipedia.org/wiki/Anthony_Eden

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d91

https://adst.org/2015/06/sound-and-the-fury-the-1954-geneva-conference-on-vietnam-and-korea/

https://theasanforum.org/9324-2/

https://www.nytimes.com/1954/05/10/archives/parley-on-korea-off-indefinitely-geneva-session-set-for-today.html

https://api.parliament.uk/historic-hansard/people/mr-anthony-eden/1954

https://media.un.org/photo/en/asset/oun7/oun7758434

https://www.cvce.eu/en/obj/the_geneva_conference_20_and_21_july_1954-en-81ae1ba1-75f0-432c-ae35-e2aec6f0562e.html

https://www.cvce.eu/en/collections/unit-content/-/unit/02bb76df-d066-4c08-a58a-d4686a3e68ff/4295a026-2784-4b1c-b58e-ee8549490164/Resources#81ae1ba1-75f0-432c-ae35-e2aec6f0562e

Koo, V. K. Wellington,

Ambassador of the Republic of China in the United States.

https://en.wikipedia.org/wiki/Wellington_Koo

https://www.nyhistory.org/blogs/wellington-koo-international-attache

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v07/d204

https://findingaids.library.columbia.edu/archives/cul-4078997

https://content.time.com/time/subscriber/article/0,33009,937361,00.html

https://www.chinadaily.com.cn/a/202005/16/WS5ebf5424a310a8b241156233.html

https://ww2db.com/person_bio.php?person_id=971

MacArthur, Douglas, II,

Deputy Assistant Secretary of State for Congressional Relations, March 1965–March 1967

https://en.wikipedia.org/wiki/Douglas_MacArthur_II

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_Iran

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_Austria

https://en.wikipedia.org/wiki/Assistant_Secretary_of_State_for_Legislative_Affairs

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_Belgium

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_Japan

https://en.wikipedia.org/wiki/Counselor_of_the_United_States_Department_of_State

https://history.state.gov/departmenthistory/people/macarthur-douglas

https://en.wikipedia.org/wiki/Assistant_Secretary_of_State_for_Legislative_Affairs

Smith, Walter Bedell,

Under Secretary of State; Head of the United States Delegation at the Geneva Conference, May 3–June 20, and July 17–21, 1954.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch5subch4

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch006.asp

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/ReconsideringGenevaConf_1.pdf

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80B01676R002500010001-5.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d1027

https://search.library.wisc.edu/digital/ABHSHVCERGRA6I86/pages/ALUZ5OG5PRZCCH83?as=text&view=scroll

https://nara-media-001.s3.amazonaws.com/arcmedia/dc-metro/rg-263/6922330/Box-2-17-3/263-a1-27-box-2-17-3.pdf

https://en.wikipedia.org/wiki/Walter_Bedell_Smith