20260909 CDTL DDE D708 9 Jun 1954 Điện văn về Phiên họp toàn thể lần thứ sáu bàn về Đông Dương, Geneva, ngày 9 tháng 6, lúc 15:05. Phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d708
Google Translated
Tài liệu số 708
Quan hệ Đối ngoại của
Hoa Kỳ, 1952–1954, Hội nghị Geneva, Tập XVI
396.1 GE/6–954: Điện tín
Phiên họp toàn thể lần thứ sáu về Đông Dương, Geneva, ngày 9 tháng 6, 3:05
chiều: Phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao.
Mật
Geneva, ngày
9 tháng 6 năm 1954 — nửa đêm.
Secto 413. Đồng
gửi: Paris 410, Sài Gòn 157, London 263, Tokyo 131, Moscow 113, Phnom Penh,
Vientiane. Bộ chuyển tiếp cho Bộ Quốc phòng. Tokyo chuyển tiếp cho
CINCFE. Phiên họp toàn thể lần thứ sáu về Đông Dương, thứ Tư ngày 9
tháng 6, do Molotov chủ trì: Ông Định (Việt Nam) mở đầu phiên họp bằng
một tuyên bố có giọng điệu chừng mực nhưng mang ý mỉa mai nhắm vào Molotov.
Ông nói rằng mình sẽ không đáp lại những lời lăng mạ của Việt Minh
đối với đồng bào mình, nhưng phản đối tuyên bố sai lệch của Molotov.
Ông cảm ơn Molotov vì đã quan tâm đến nền độc lập của đất nước
ông và viện dẫn việc Liên Xô từng "giải phóng" các quốc gia nhỏ khác
làm minh chứng cho hành động của họ đối với các nước Đông Âu kể từ hội
nghị Yalta. Ông nói với Molotov rằng mặc dù quân đội Việt Nam
chưa có thời gian phát triển toàn diện, nhưng những người lính chiến đấu vì đất
nước mình không đáng bị lăng mạ. Ông Đinh nhắc lại lập trường kiên định của
phái đoàn mình—lập trường đã dẫn đến sự đồng thuận của hội nghị rằng không
được chia cắt Việt Nam—và bác bỏ các đề nghị của Việt Minh
vì thực chất chúng là đề nghị chia cắt đất nước, tạo điều
kiện cho họ duy trì quyền lực lâu dài tại khu vực do họ kiểm soát.
Ông Định kiên quyết ủng
hộ việc quốc tế giám sát các cuộc bầu cử cũng như giám sát việc thực thi hiệp
định đình chiến, và cho rằng nhiệm vụ này nên do Liên Hợp Quốc
đảm nhiệm. Ông bác bỏ đề nghị của Liên Xô về việc
thành lập một ủy ban gồm Ấn Độ, Pakistan, Tiệp Khắc và Ba Lan,
với lý do không quốc gia nào trong số đó công nhận Việt Nam. Theo ông, Liên
Hợp Quốc sẽ hành động một cách khách quan, trung lập và là tổ chức phù
hợp nhất để giám sát đình chiến. Ông nhắc lại đề nghị của Liên Xô
vào ngày 24 tháng 12 năm 1948 về việc thành lập ủy ban đình chiến của Hội
đồng Bảo an tại Indonesia. Ông cũng bác bỏ quan điểm của Việt Minh
cho rằng ủy ban hỗn hợp mang lại hiệu quả, đồng thời viện dẫn kinh nghiệm
của Việt Nam năm 1946 để chứng minh rằng trên thực tế, mô hình ủy ban hỗn
hợp chưa bao giờ phát huy tác dụng. [Trang 1088]
Tiếp đó, ông Phoui
Sananikone (Lào) trình bày tóm tắt lập trường của chính phủ mình; ông nhấn
mạnh sự khác biệt giữa tình hình tại Lào và Campuchia so với tình hình
tại Việt Nam, đồng thời khẳng định rằng việc rút các lực lượng xâm
lược nước ngoài thực chất sẽ dẫn đến việc chấm dứt thù địch. Ông cho biết
lập trường của Chính phủ Lào dựa trên ba điểm:
(1) Lào là
quốc gia độc lập;
(2) Lào có
một chính phủ dân chủ và thống nhất dân tộc; và
(3) không
có nội chiến, mà chỉ có sự xâm lược của lực lượng Việt Minh. Ông cũng
đề cập đến sự bạo ngược và những hành động tàn bạo của quân
xâm lược – những kẻ luôn tự nhận là người bảo vệ tự do.
Khi chuyển sang các vấn
đề đang được thảo luận liên quan đến Việt Nam, ông khẳng định công tác
giám sát phải đảm bảo tính hiệu quả và khách quan, đòi hỏi phải có sự tham
gia của một cơ quan quốc tế trung lập. Lào mong muốn Liên Hợp Quốc đảm
nhận vai trò này vì đây là tổ chức phù hợp nhất. Nếu không đạt được thỏa
thuận về việc Liên Hợp Quốc giám sát, họ sẵn sàng xem xét các phương án
khác, chẳng hạn như các quốc gia châu Á như Pakistan, Thái Lan, Ấn Độ,
Ceylon và Philippines.
Sau giờ giải lao, Chu
Ân Lai phát biểu; ông mở đầu bằng nhận định rằng mặc dù đã đạt được một
số tiến bộ, kết quả thực tế vẫn còn thấp hơn nhiều so với kỳ vọng. Tiếp đó, ông
tóm tắt quan điểm của phái đoàn mình, bắt đầu bằng việc trích dẫn đề nghị 6
điểm mà ông đã đưa ra vào ngày 27 tháng 5 (tài liệu Secto 3262) và
giải thích chi tiết từng điểm. Ông nhấn mạnh các nội dung sau đây, đối chiếu
với các điểm được đánh số trong đề nghị:
(1) Việc
ngừng bắn phải diễn ra đồng thời tại Việt Nam, Campuchia và Lào, ngay cả
khi xét về mặt thủ tục tại hội nghị, các quốc gia này có thể được xem xét theo
trình tự lần lượt.
(2) Việc
bố trí lực lượng sau khi ngừng bắn cần được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ Đông
Dương; tuy nhiên, do tình hình tại mỗi nước không hoàn toàn giống nhau nên
các biện pháp giải quyết cũng có thể sẽ khác biệt. Ông bác bỏ ý kiến
cho rằng lực lượng cộng sản tại Campuchia và Lào cần
phải rút đi, đồng thời khẳng định đây là các lực
lượng tại chỗ nên không thể bị buộc rời khỏi đất nước. Chu Ân Lai
cũng kêu gọi thiết lập liên lạc giữa các chỉ huy quân sự tại Đông Dương
cũng như tại Geneva.
(3) Việc
chấm dứt hoàn toàn việc đưa nhân sự và khí tài quân sự vào là điều cốt yếu; quy
định này phải bao gồm cả vũ khí và nhân sự của Hoa Kỳ. Về vấn đề giám
sát, có thể tham khảo Hiệp định đình chiến Triều Tiên. Lệnh cấm
tăng cường lực lượng như vậy phải được áp dụng đối với cả ba quốc gia Đông
Dương. Tương tự như trong Hiệp định đình chiến Triều Tiên, công tác
giám sát cần được phân chia giữa ủy ban hỗn hợp và ủy ban giám sát của các nước
trung lập, với các quy định về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền (điều khoản
tham chiếu) giống như trường hợp tại Triều Tiên. Khi đề cập đến thành
phần của ủy ban, ông bác bỏ lập luận cho rằng các nước cộng sản như Ba
Lan và Tiệp Khắc không thể đóng vai trò trung lập; ông cho rằng nếu các
nước cộng sản không thể làm điều đó thì các nước tư bản cũng vậy, và
khi đó sẽ không thể tìm được bất kỳ quốc gia trung lập nào. Ông nêu quan điểm
rằng định nghĩa về "nước trung lập" cần tuân theo định nghĩa đã được
quy định trong Hiệp định đình chiến Triều Tiên. Nếu các
nước cộng sản bị loại khỏi cơ quan của các nước trung lập, sẽ không thể
đạt được thỏa thuận về thành phần của cơ quan này. [Trang 1089]
Về mối quan hệ giữa ủy
ban giám sát của các nước trung lập và ủy ban hỗn hợp, không bên nào được phép
lệ thuộc vào bên kia; thay vào đó, cả hai cần thực hiện các chức năng song song
và bổ trợ cho nhau, giống như mô hình trong Hiệp định đình chiến Triều Tiên.
Ủy ban phải hoạt động
theo nguyên tắc thống nhất chứ không phải theo nguyên tắc đa số. Ông
bác bỏ những chỉ trích của Smith nhắm vào NNSC, khẳng định ủy ban
này đã hoạt động rất hiệu quả trong việc giám sát sự ra vào của hơn 2 triệu
quân nhân và hơn 7.000 máy bay Mỹ. Ông cho rằng Ủy ban không được thiên vị
bên nào và phải phản ánh quan điểm của cả hai phía. Ông thừa nhận có những bất
đồng trong nội bộ NNSC, nhưng khẳng định chính điều đó đã giúp bảo vệ
hiệp định đình chiến tại Triều Tiên. Trong khi phía Ba Lan và Tiệp
Khắc ngăn cản việc điều tra các cáo buộc sai lệch của Mỹ về việc
phe Cộng sản giữ lại tù binh, thì phía Thụy Sĩ và Thụy Điển
lại ngăn chặn việc điều tra hành động của Mỹ nhằm cưỡng ép giữ lại và
chuyển hàng nghìn tù binh Tầu cộng sang Đài Loan. Thực
tế, ông chỉ ra rằng NNRC – cơ quan hoạt động theo nguyên tắc đa số – đã
phớt lờ quan điểm của Ba Lan và Tiệp Khắc, dẫn đến bế tắc trong
vấn đề Mỹ cưỡng ép giữ lại tù binh phe Cộng sản, một vấn
đề đến nay vẫn chưa được giải quyết. Ngược lại, NNSC không có hành động
nào đi ngược lại quan điểm của bất kỳ bên nào và nhờ đó đã đạt được thành công.
(4) Ủy ban
Giám sát của các nước trung lập cần chịu trách nhiệm trước các quốc gia cung
cấp sự bảo đảm quốc tế cho hòa bình tại Đông Dương.
(5) Việc
giám sát của Liên Hợp Quốc như đã được đề nghị là điều không thể chấp
nhận được. Hội nghị không liên quan gì đến Liên Hợp Quốc; hơn nữa, những
nỗ lực gần đây nhằm đưa vấn đề Đông Dương vào chương trình nghị sự của Liên
Hợp Quốc để đẩy mạnh sự can thiệp vào cuộc chiến tại đây càng khiến cho
việc giao phó trách nhiệm giám sát hiệp định đình chiến ở Đông Dương cho
Liên Hợp Quốc trở nên không phù hợp. Thay vào đó, các biện pháp bảo đảm
cần được thực hiện bởi chính các quốc gia tham gia hội nghị; các nước này cần
thỏa thuận tiếp tục tham vấn và áp dụng các biện pháp tập thể thay vì đơn
phương trong trường hợp xảy ra vi phạm.
(6) Dựa
trên kinh nghiệm từ vụ việc nhân sự tại Điện Biên Phủ, thỏa thuận về
việc trao đổi tù binh và thường dân bị giam giữ sẽ không gặp trở ngại nào. Sau
khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực trên toàn Đông Dương, vấn đề tù binh cần được
đưa ra thảo luận tại cả Geneva và Đông Dương.
Chu Ân Lai kết
thúc bài phát biểu bằng việc chỉ trích những nỗ lực của Mỹ nhằm mở rộng
chiến tranh tại Đông Dương và ngăn cản Hội nghị Geneva đạt được thỏa
thuận. Ông cũng lên án "phe hiếu chiến tại Pháp" – những kẻ
đang tìm kiếm sự can thiệp và gia tăng viện trợ từ Mỹ, đồng thời áp dụng
các chiến thuật trì hoãn tại hội nghị. Chu Ân Lai cũng cáo buộc
chúng ta đẩy mạnh các hoạt động thành lập khối Đông Nam Á, qua đó tiếp
tục duy trì căng thẳng ở Viễn Đông và đe dọa hòa bình, an ninh của châu
Á cũng như toàn thế giới. Các hiệp ước gần đây giữa Chính phủ Pháp và Bảo
Đại đi ngược lại nền độc lập thực sự của nhân dân Việt Nam, đồng
thời cũng không tạo điều kiện thuận lợi cho việc sớm khôi phục hòa bình.
Cuối cùng, Chu Ân
Lai phát biểu rằng các vấn đề quân sự và chính trị có mối liên hệ mật
thiết với nhau và không thể tách rời hoàn toàn. Về điểm này, ông cho rằng kinh
nghiệm từ vấn đề Triều Tiên đã chứng minh các vấn đề này cần được giải
quyết song hành; lý do là vì hội nghị chính trị theo quy định tại Điều 6 của
Hiệp định đình chiến Triều Tiên chưa từng diễn ra và Hội nghị Geneva
đến nay vẫn chưa đạt được kết quả nào. Do đó, các vấn đề chính trị và quân sự
này nên được xem xét tại hội nghị theo hướng song song và luân phiên như đề nghị
của Molotov.
Cuộc họp kết thúc với
tuyên bố của Smith được nêu trong điện văn Secto 412. Các bên đã
thống nhất sẽ họp lại phiên toàn thể vào thứ Năm, ngày 10 tháng 6.
Nhận định: Tuyên
bố của Chu Ân Lai không cho thấy bất kỳ dấu hiệu nhượng bộ nào và
khẳng định dứt khoát rằng không thể đạt được thỏa thuận nào nếu không tuân theo
các điều kiện của phe Cộng sản, đặc biệt là về thành phần của ủy
ban giám sát gồm các nước trung lập, mối quan hệ của ủy ban này với các ủy ban
hỗn hợp, cũng như quy định về sự thỏa thuận trong quá trình hoạt động. Thái
độ này được cho là sẽ khiến lập trường của Anh và Pháp trở nên cứng rắn
hơn.
Smith.
1.
Bản ghi chép nội dung cuộc họp này (US Verb Min/6) hiện có
trong hồ sơ Hội nghị, mã số lot 60 D 627, CF 277. Tài liệu này ghi nhận cuộc
họp bắt đầu lúc 15:05 và kết thúc lúc 19:15. Nội dung cuộc họp cũng được in
trong ấn phẩm *Conférence de Genève*, các trang 237–264. Các bài phát biểu của
Phoui Sananikone và Chu Ân Lai được in trong tài liệu Cmd. 9186, các trang
153–165. Các bài phát biểu của Phoui Sananikone, Nguyễn Quốc Định và Chu Ân Lai
— tương ứng với các tài liệu về Đông Dương mã số IC/23, IC/24 và IC/25 (ngày
9–10 tháng 6) — hiện có trong hồ sơ Hội nghị, mã số lot 60 D 627, CF 279A.↩
2.
Đề ngày 27 tháng 5, trang 947.↩
3.
Xem phần dưới đây.↩
List of
Abbreviations and Symbols
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/persons
The
Geneva Conference on Indochina May 8–July 21, 1954
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/comp2
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7
June 9, 1954 (Documents 705–714)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7subch33
1.
Document 708
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, The
Geneva Conference, Volume XVI
396.1 GE/6–954: Telegram
Sixth
Plenary Session on Indochina, Geneva, June 9, 3:05 p.m.: The United States
Delegation to the Department of State1
confidential
Geneva, June
9, 1954—midnight.
Secto 413. Repeated information Paris 410, Saigon 157,
London 263, Tokyo 131, Moscow 113, Phnom Penh, Vientiane. Department pass
Defense. Tokyo pass CINCFE. Sixth Indochina Plenary session, Wednesday,
June 9, with Molotov presiding: Dinh (Vietnam) opened
session with statement subdued in tone and ironic at Molotov’s expense. He
said he would not reply to Viet Minh’s insults of their brethren but took issue
with Molotov’s false statement. He thanked Molotov for interest
in independence of his country and referred well-known Soviet liberation of
other small nations as evidence their action toward Eastern European countries
since Yalta. He told Molotov that while Vietnam army has not yet had
time to develop fully, soldiers fighting for their country should not be
insulted. Dinh reminded conference of firm stand his delegation took
which led to unanimous agreement by conference there should not [be] partition
of Vietnam and rejected Viet Minh proposals as in fact proposing partition
which would give them power to perpetuate themselves in their area.
Dinh came out strongly for international supervision
of elections, as well as international supervision of implementation of
armistice, which he said should be by UN. He rejected Soviet concept of
Commission of India, Pakistan, Czechoslovakia, Poland pointing out that none of
them had recognized Vietnam. UN would be impartial and neutral and
most appropriate for armistice supervision. He recalled Soviet proposal
December 24, 1948 for SC armistice commission in Indonesia. He also
rejected Viet Minh concept that joint commission was effective, citing Vietnam
experience in 1946 to show joint commission never worked in practice.
Phoui Sananikone (Laos) followed with résumé his
government’s position, stressed difference between situation Laos, Cambodia on
one hand and Vietnam on other and repeated withdrawal of foreign invading
forces would in fact result in cessation of hostilities. He said his
Government’s position is based on three points: (1) Laos is independent; (2) it
has a democracy, united national government; and (3) there is no civil strife
but only invasion of Viet Minh forces. He referred to tyranny and atrocities by
invaders who pretend to champion liberty.
Turning to issues under discussion in relation to Vietnam,
he said supervision must be effective and impartial which requires
international neutral organ. Laos would prefer that it be UN which is
most appropriate. If agreement cannot be reached on UN supervision
they are prepared to examine other possibilities, e.g., Asian countries such as
Pakistan, Thailand, India, Ceylon and Philippines.
Following recess, Chou En-lai spoke, opening with
statement that while some progress made this had been considerably short of
expectations. He proceeded to summarize his delegation’s views, starting with
quotation of his May 27 6-point proposal (Secto 3262), and
elaborating on each point. He emphasized the following with reference numbered
paragraphs of proposal:
(1)
Cease-fire must be
simultaneous in Vietnam, Cambodia and Laos, even if procedurally at conference
countries might be considered successively.
(2)
Disposition of forces
following cease-fire should apply to entire territory of Indochina, although
since situation not entirely alike measures for settlement probably not same.
He rejected idea that Communist forces in Cambodia and Laos should be evacuated,
insisting they were local forces and therefore could not be removed from
country. Chou En-lai also called for contacts between commanders in
Indochina as well as in Geneva.
(3)
It was essential to stop
completely introduction of military personnel and material, which must include
arms and personnel of United States. So far as supervision is concerned, Korean
armistice agreement may be used for reference. Prohibition on such
reinforcement must apply to all three Indochina states. As in Korean armistice
agreement, supervision should be divided between joint commission and neutral
nations supervisory commission with terms of reference like case in Korean
armistice. Reference to composition of commission, he rejected argument that
Communist states like Poland and Czechoslovakia cannot be neutral and said if
Communist countries cannot, neither can capitalistic states, and it would be
impossible to find any neutrals. Definition of neutrals he said should be that
contained in Korean armistice agreement. If Communist states are barred from
neutral nations’ body, it will be impossible to reach agreement on composition.
As to relationship
between neutral nations supervisory commission and joint commission, neither
should be subordinate to other, but both should have parallel and supplementary
functions as in Korean armistice agreement.
Commission must operate
by unanimity rule and not by majority. He rejected Smith criticism
of NNSC into UN, saying it has been very effective, examining
entry of over 2 million military personnel and over 7,000 US aircraft. Commission
he said should not be prejudiced in favoring either side and must reflect views
of both sides. He admitted there were disagreements in NNSC, but
maintained this safeguarded Korean armistice agreement. If Poles and
Czechoslovaks barred investigation of false US charges that PWs retained
by Communists, Swiss and Swedish prevent investigation of US forcible retention
and transfer to Taiwan of thousands of Chinese PWs. Indeed he
said NNRC, which worked by majority, disregarded Poles and Czechoslovak
views and has resulted in deadlock on forcible US retention of
Communist PWs which still unresolved. NNSC on other hand has not
taken action contrary to views of either parties and has therefore succeeded.
(4)
Neutral nations
supervisory commission should be responsible to countries providing
international guarantees for peace in Indochina.
(5)
UN supervision
which has been proposed is unacceptable. Conference has nothing to do
with UN and recent efforts to place Indochina question
on UN agenda to step up intervention in Indochinese war makes it
still less appropriate for UN to assume responsibility for
supervising Indochinese armistice. Guarantees instead should be by
participating states of conference who should agree to carry on consultation
and adopt collective instead of individual measures in event of violation.
(6)
View of experience re
Dien Bien Phu personnel, agreement on exchange of PWs and interned
civilians should present no problem. After cease-fire throughout
Indochina, PW question should be submitted for discussion in Geneva
and in Indochina.
Chou
En-lai concluded with attack on US efforts to extend war in Indochina, and
prevent Geneva Conference from reaching agreement. He also attacked “war
faction in France” which was seeking American intervention and enlarged aid and
has adopted dilatory tactics at conference. Chou En-lai also charged
us with intensifying activities to organize SEA bloc, thereby
continuing to locate tensions in Far East and to threaten peace and security of
Asia throughout the world. Recent treaties between French Government
and Bao Dai running contrary to true independence for Vietnamese
people also not conducive to early restoration of peace.
Finally, Chou
En-lai said that military issues and political issues are interrelated and
cannot be completely separated. On this point, he said Korean experience has
shown that these issues must be treated together since political conference pursuant
to Article 6 proof Korean [Page 1090]armistice agreement
never took place and Geneva Conference has produced no results so far and these
political and military questions should be considered by conference along
parallel lines and in rotation as suggested by Molotov.
Meeting concluded
with Smith statement contained in Secto 412.3 It
was agreed to meet again in plenary Thursday, June 10.
Comment: Chou
En-lai statement revealed no hint of concession and contained flat
statements that it would be impossible to obtain agreement except on Communist
terms, particularly re composition of neutral nations supervisory commission,
its relation to mixed changes and unanimity provision in its operation.
Believed it will harden UK and French positions.
Smith
1.
A set of minutes of this meeting (US Verb Min/6) is in
Conference files, lot 60 D 627, CF 277. The minutes indicate that the
meeting convened at 3:05 p.m. and adjourned at 7:15 p.m. The minutes are also
printed in Conférence de Genève, pp. 237–264. The speeches
by Phoui Sananikone and Chou En-lai are printed in Cmd.
9186, pp. 153–165. The speeches of Phoui Sananikone, Nguyen Quoc
Dinh, and Chou En-lai, Indochina Documents IC/23. IC/24, and IC/25,
respectively, June 9–10, are in Conference files, lot 60 D
627, CF 279A.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d708
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1088
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1089
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1090
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_947
Thân
thế (các) nhân vật
Bao Dai,
Chief of State of Vietnam.
Premier
of the People’s Republic of China; member, Standing Committee of the Chinese
Communist Party’s Political Bureau
https://en.wikipedia.org/wiki/Zhou_Enlai
https://en.wikipedia.org/wiki/Premier_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Minister_of_Foreign_Affairs_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Chairman_of_the_Chinese_People%27s_Political_Consultative_Conference
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d139
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/zhou-enlai-talking-ho-chi-minh
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?f[0]=topics:86538&fo[0]=86538
Tài liệu
Chu Ân Lai yêu
cầu Hoa Kỳ loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và dùng Dương Văn Minh để lật
đổ hai nền Đệ I và Đệ II VNCH.
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/discussion-between-zhou-enlai-and-le-duc-tho
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/89367/download
Soviet
Minister of Foreign Affairs; Head of the Soviet Delegation at the Geneva
Conference; one of the three rotating chairmen of the Geneva Conference on
Korea.
https://en.wikipedia.org/wiki/Vyacheslav_Molotov
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d801
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d232
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch018.asp
https://www.britannica.com/biography/Vyacheslav-Molotov
Nguyễn Quốc Định,
Minister of Foreign Affairs of the State of Vietnam until June 16,
1954; State of Vietnam Delegate at the Geneva Conference.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Qu%E1%BB%91c_%C4%90%E1%BB%8Bnh
https://en.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Qu%E1%BB%91c_%C4%90%E1%BB%8Bnh
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d708
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch022.asp
Vice President of the Council of Ministers and
Minister of the Interior and of Foreign Affairs of Laos; Head of the Laotian
Delegation at the Geneva Conference.
Under
Secretary of State; Head of the United States Delegation at the Geneva
Conference, May 3–June 20, and July 17–21, 1954.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch5subch4
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch006.asp
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80B01676R002500010001-5.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d1027
https://search.library.wisc.edu/digital/ABHSHVCERGRA6I86/pages/ALUZ5OG5PRZCCH83?as=text&view=scroll
https://en.wikipedia.org/wiki/Walter_Bedell_Smith
No comments:
Post a Comment