Sunday, December 10, 2017

20171210 Bí Mật Chiến Tranh Việt Nam.

20171210 Bí Mật Chiến Tranh Việt Nam

*Tài liệu nầy đưọc một người thân hửu chuyển cho, tuy nhiên vì thấy đây là tài liệu sử Việt Miền Nam từ một vị sĩ quan khả kính có đầy đủ thẩm quyền từ Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cho nên tôi xin phép mạo muội chuyển lên mạng để cho giới trẻ của Việt Nam hiểu những nguyên nhân bí ẩn sâu xa tạo nên sự thất thủ của Miền Nam. Đây chỉ là một trong muôn ngàn nguyên nhân Miền Nam bị thất thủ. Xin mời các bạn trẻ cùng tham gia tìm hiểu tại sao Việt Nam lại thảm hại như thế nầy sau ngày 30-04-1975.

 Subject: Cố Đại Tá Hoàng Ngọc Lung: Bí mật chiến tranh VN

Tù binh bị bắt tại Quang Tín cấp Huyện Ủy với tài liệu học tập của Tuyên Huấn Trung Ương Đảng Cộng Sản phổ biến. 
Đại tá Đào Mộng Xuân, nguyên sĩ quan khóa 8 VBQG, tỉnh trưởng Quảng Tín, xác nhận  với người viết : mặc dù tù binh bị bắt giữ tại lảnh thổ trách nhiệm của tỉnh Trưởng Quảng Tín, nhưng có thể vì tầm quan trọng bảo mật, nên theo lệnh trung ương, tù binh đươc bốc  thẳng về Huế và sau đó đưa về Saigon, sau này tôi (ĐT Xuân) mới nghe tin nhưng cũng không am tường chi tiết.   

Paul Van

Kính thưa Quý vị,
Sàigòn Times vừa hân hạnh nhận được email của ông Huỳnh Bá Phụng, Chủ Tịch Hội CQN/QLVNCH/QLD, kèm bài viết của cố Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, tiết lộ SỰ THẬT QUAN TRỌNG:
 Mỹ và Cộng sản Hà Nội đã thỏa thuận ký Hiệp Định Paris vào ngày 26.9.1972. May mắn, nhờ có tài liệu tịch thu được của VC tại tỉnh Quảng Tín, TT Nguyễn Văn Thiệu đã phản đối quyết liệt, buộc Mỹ và CS phải rời ngày ký Hiệp Định tới 4 tháng sau, 27.1.1973.
Chúng tôi chân thành cảm ơn ông Huỳnh Bá Phụng, và sau đây xin trân trọng giới thiệu cùng Quý vị nguyên văn email của ông, với ước mong được sự quan tâm, chia sẻ và phổ biến.  
Trân trọng, Hữu Nguyên
EMAIL CỦA ÔNG HUỲNH BÁ PHỤNG
Chủ Tịch Hội CQN/QLVNCH/QLD - Úc Châu
Kính gởi chị Hoàng Ngọc Lung, cùng quý NT/HT/CH và đồng hương,
Chúng tôi nhận được tin buồn do anh Nguyễn Văn Dưỡng Hawai báo NT Hoàng Ngọc Lung Trưởng Phòng 2 / BTTM vừa mới qua đời ngày 24-11-2017. Thay mặt các Chiến Hữu / Hội CQN/QLVNCH/QLD Úc Châu xin thành kính chia buồn cùng chị, các cháu cùng tang quyến. Nguyện cầu hương linh NT Hoàng Ngọc Lung sớm tiêu diêu miền cực lạc.
Trong sự thương tiếc và tưởng nhớ tới NT, chúng tôi xin được trân trọng giới thiệu, bài viết của NT cách đây 5 năm, dành cho Đặc San Gươm Thiêng, cơ quan ngôn luận của TH/CQN/QLVNCH Úc châu.
Trân trọng,
Huỳnh Bá Phụng
Chủ Tịch
Hội CQN/QLVNCH/QLD Úc Châu
Bí mật chiến tranh VN 
Mỹ và CS Hà Nội thỏa thuận ký Hiệp Định Paris ngày 26.9.1972. Nhưng  nhờ tịch thu được tài liệu mật của VC tại tỉnh Quảng Tín,  TT Nguyễn Văn Thiệu đã buộc Mỹ và CS phải ký ngày 27.1.1973.

Hoàng Ngọc Lung























LGT (Gươm Thiêng): Đại Tá Hoàng Ngọc Lung sinh năm 1932 tại Bắc Việt. Sau khi đậu tú tài năm 1951, ông bước vào đời quân ngũ và tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định với cấp bậc Thiếu Úy. Năm 1954, ông được thăng Đại Úy, Tiểu đoàn trưởng và Tham mưu trưởng Trung Đoàn. Vô Nam, ông giữ chức Chỉ huy phó Trường Tình Báo Cây Mai, nơi đào tạo các sĩ quan, hạ sĩ quan của 3 ngành Quân Báo, An Ninh Quân Đội, và Chiến Tranh Tâm Lý. Năm 1961, ông tự học và tốt nghiệp cử nhân Luật Khoa. Năm 1963, ông là Sĩ quan liên lạc tại Fort Bragg, North Carolina, Hoa Kỳ. Năm 1969, ông là nhân viên quân sự đầu tiên của bộ TTM trong phái đoàn VNCH tham dự Hội Nghị Ba Lê. Từ năm 1972 đến cuối tháng 4 năm 1975, ông giữ chức Trưởng Phòng 2/TTM.

Tới Hoa Kỳ từ năm 1975, ông được mời viết sách cho phòng Quân Sử của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Ngoài ra, ông tiếp tục theo học và tốt nghiệp Computer Science năm 1976 và là chuyên viên Computer Analyst trong suốt thời gian 21 năm tại Hoa Kỳ. Ông được ân thưởng nhiều huy chương của chính phủ VNCH và Hoa Kỳ, bao gồm cả Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, Bronze Star, các huy chương đặc biệt của Hoàng Gia Thái Lan, chính phủ Nam Hàn, Trung Hoa Dân Quốc... Nhận được thư của ông Huỳnh Bá Phụng, cựu sĩ quan Phòng 2/TTM, báo tin Tổng Hội CQN/QL/VNCH Úc châu sắp xuất bản Đặc San Gươm Thiêng, Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, tuy đã 80 tuổi, sức yếu, nhưng ông cũng đã cố gắng viết bài trình bầy về một bí mật trọng đại của cuộc chiến tranh VN:
Mỹ và Cộng sản Hà Nội đã thỏa thuận ký Hiệp Định Paris vào ngày 26.9.1972. May mắn, nhờ có tài liệu tịch thu được của VC tại tỉnh Quảng Tín, TT Nguyễn Văn Thiệu đã phản đối quyết liệt, buộc Mỹ và CS phải rời ngày ký Hiệp Định tới 4 tháng sau, 27.1.1973. Thời gian 4 tháng tuy không dài, nhưng chắc chắn thời gian đó cũng đủ để có những ảnh hưởng nhất định đến cuộc chiến, làm chậm bước tiến của quân xâm lăng CS, cứu được nhiều sinh mạng, và thảm kịch CS chiếm trọn Miền Nam đã không thể xảy ra trước ngày 30-4-1975. Đặc San Gươm Thiêng chân thành cảm ơn sự đóng góp quý báu của ông Hoàng Ngọc Lung, và sau đây trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả nguyên văn bài viết của ông. 












Tại bàn tròn Hội Nghị Ba Lê: Phái đoàn VNCH (trái); Phái đoàn của VC (phải); Phái đoàn Mỹ (trước); và đối diện là CS Bắc Việt.
Diễn biến lịch sử về tình hình chiến cuộc ở VN trước đây đã là đề tài của biết bao sử gia viết phân tách hoặc bình luận. Cộng thêm việc giải mật của các tài liệu Hoa Kỳ, những sự tiết lộ qua các cuộc phỏng vấn hay tự thuật của nhiều giới chức thẩm quyền liên đới, đã phô bày khá rõ rệt và đầy đủ.
Kỷ niệm năm thứ 20 của Đặc San Gươm Thiêng, tiếng nói của Tổng Hội CQN/QLVNCH Úc Châu, Ban Chủ Biên đã yêu cầu tôi viết một bài về chiến tranh VN. Tôi rất phân vân không biết phải viết gì. Tôi không phải là nhà văn, một ký giả, cũng không phải là người viết trên bất kỳ diễn đàn nào, ngoại trừ đã viết mấy cuốn Quân Sử theo nhu cầu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ vào những ngày đầu tôi tới Hoa Kỳ năm 1975. Các tài liệu này hiện được lưu trữ tại Library of Congress của Mỹ. Vì vậy, trong khuôn khổ giới hạn của tờ Đặc San Gươm Thiêng, tôi xin đóng góp sơ sài về một vài sự việc tương đối đáng để ý trong sự bức tử làm sụp đổ chế độ VNCH chúng ta.

Trong 24 năm phục vụ trong quân ngũ, tình hình chiến sự đã ám ảnh tôi rất nhiều từ khi bắt đầu giã từ học đường, đi động viên vào khóa 1 Nam Định năm 1951. Lúc đó tôi mới 19 tuổi dù rằng lệnh động viên chỉ áp dụng cho lứa tuổi 20 tới 28 mà thôi. Tôi bị gọi nhầm nhưng vẫn tuân theo mệnh lệnh quân ngũ và ra trường với cấp bậc Thiếu Úy. Đầu tiên ở trong quân ngũ tôi đã phục vụ ở các đơn vị tác chiến tại các khu vực Bùi Chu, Hưng Yên, các đơn vị hoàn toàn do các sĩ quan VN tự trị đảm nhiệm, và chiến dịch cuối cùng mà trung đoàn của tôi tham gia là chiến dịch Đinh Tiên Hoàng vùng Thất Sơn Rạch Giá, sau đó tôi trở về Sài Gòn làm công việc tham mưu.

Trong địa hạt tham mưu, thời cuộc đã đưa tôi vào địa hạt Quân Báo. Tin tức chính xác, trung thực nhất là thâu lượm, tịch thu được các tài liệu của CS, cộng thêm các nguồn gốc tin tức khác để phối kiểm. Ngay như tin tức kỹ thuật điện đàm, kiểm thính cũng có thể tạo ra tin tức giả mạo đánh lừa. Tôi lấy thí dụ, trường hợp sư đoàn 320 của CS trú đóng ở nam Pleiku, nhưng khi di chuyển xuống Ban Mê Thuột chúng đã muốn đánh lừa quân ta nên vẫn để lại bộ phận điện đài tại chỗ, và không di chuyển theo sư đoàn. Điều này đã tạo ra sự ngộ nhận của giới chức QĐ 2 của ta đã lầm tưởng mục tiêu của địch là Pleiku chứ không phải BMT như phòng 2 quân đoàn đã ước tính.

Với các tin tức tài liệu tịch thu được của địch, đã khiến tôi phải suy nghĩ lại câu châm ngôn vẫn được truyền tụng từ trước của Tôn Tử: “Biết Mình Biết Địch, Trăm Trận Trăm Thắng.” Trong chiến tranh VN lời nói này không còn là bất hủ vì chúng ta không những phải biết địch, biết mình, mà còn phải biết được người bạn đồng minh Hoa Kỳ của mình. Sự thay đổi đường lối chiến lược của Hoa Kỳ chính yếu là đặt quyền lợi của Hoa Kỳ trên hết nên Hoa Kỳ đã tìm cách rút ra khỏi VN bằng cách ký kết giảng hòa với CS qua hiệp định Ba Lê.

Tài liệu học tập của chính uỷ CS ở tỉnh Quảng Tín bị quân ta tịch thu ngày 10 tháng 10 năm 1972 đã nêu lên nội dung mới là thông báo phải học tập văn kiện hiệp định Ba Lê để CS chuẩn bị hành động. 
Tài liệu này phù hợp với tình báo ở Tây Ninh cho biết CS đã mở khóa học đặc biệt để hướng dẫn thảo luận hiệp định này tại bộ chỉ huy Trung Ương Cục Miền Nam, ngày ngưng bắn sẽ là ngày 26-9-1972. Phương án của địch là chiếm đất giành dân, cắm cờ và xách động dân chúng xuống đường, cướp phá các cơ sở quân sự, nhằm cướp chính quyền VNCH.

Ngày 17.10.1972, Tổng thống Thiệu ra lệnh bộ Tổng Tham Mưu hỏa tốc mang tài liệu này về Sàigòn để làm bằng chứng xác thực và cụ thể nhứt để Tổng Thống nói chuyện với Kissinger về việc Việt Nam phải ký kết chung với Hoa Kỳ vào hiệp định Ba Lê. Vì vậy cũng đã trì hoãn được thời gian ký kết để chuẩn bị. 












Ngày 1.3.1973, đại diện 12 quốc gia và LHQ họp tại Paris ký kết Chương trình 9 điểm, đòi 4 bên (Mỹ, VNCH, CS Bắc Việt & VC Miền Nam) đã ký kết Hiệp Định Ba Lê ngày 27.1.1973 phải tôn trọng thực hiện. Nhưng khi VC vi phạm Hiệp Định, xua quân xâm lăng VNCH, tất cả các quốc gia và LHQ đều im lặng.

Hậu quả của việc ký kết Hiệp Định Paris cho phép CS vẫn được duy trì các đơn vị quân sự tại chỗ ở miền Nam không phải rút lui ra Bắc, mặt khác đã đưa đến sự rút lui của các đơn vị Hoa Kỳ và các đơn vị Đồng minh tham chiến ở miền Nam. Đáng kể hơn nữa là sự chi viện của Hoa Kỳ đã giảm thiểu tối đa sau khi Tổng Thống Nixon phải thoái vị về vụ Watergate.

Tổng thống Ford người kế nhiệm chỉ đề nghị một ngân sách chi viện là $522 triệu Mỹ Kim cho cả 2 nước VN và Kampuchia. Phần VN là $300 triệu. Quốc hội Hoa Kỳ còn cử một phái đoàn lưỡng viện sang VN vào cuối tháng 2-1973 để nhận xét và báo cáo sự thiết yếu của ngân khoản này. Phái đoàn này đã được VN cung cấp thật đầy đủ các dự kiện thiết yếu, được phép tiếp xúc với các đơn vị của VN tại chỗ ở các Quân khu, để thấy sự thiếu hụt chính xác về quân cơ, quân dụng và đạn dược của VNCH.     
                                                                                                                                               

Một cuộc triển lãm tại bộ Tổng Tham Mưu, về những vũ khí của VC do quân đội VNCH tịch thu được.

Bộ TTM của VNCH cũng đã tổ chức 1 cuộc triển lãm trình bày các vũ khí tối tân đủ loại của CS đã xử dụng và bị tịch thu như các đại pháo, chiến xa, vũ khí phòng không, các loại hỏa tiễn, súng ống đủ loại, không thiếu một thứ gì kể cả dụng cụ ống dòm Hải quân, mìn v.v.

Tất cả những nổ lực kể trên cũng không giúp ích gì cho sự gia tăng ngân khoản viện trợ. Trong khi CS miền Bắc được Nga Sô, Trung Cộng trợ giúp rất nhiều các loại vũ khí phòng không như hỏa tiển Sam E2 của Nga, các loại xe tăng thiết giáp... Sự gia tăng nhiều đến nỗi không còn kho chứa hàng để ẩn giấu mà để công khai lộ thiên mọi chổ mọi nơi. Sự vận chuyển xe cộ được xử dụng theo hệ thống dẫn dầu vào miền Nam trên đường xâm nhập đã thu ngắn thời gian từ ngoài Bắc vào Nam từ 4 tháng xuống còn 2 tuần.

Cuộc tổng tấn công của CS vào Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3, 1973 mở đầu cho cuộc xâm lược của CS sau khi ký hiệp định Ba Lê đã được phát giác từ khi chúng còn chuẩn bị trong mấy tháng đầu năm 1973 khiến cựu Đại Tướng Cao Văn Viên khi ra thuyết trình tại hội đồng An Ninh Quốc Gia đã trình bày là sự tấn công này đã được biết từ trước, nhưng vấn đề tương quan lực lượng, đã không cho phép chúng ta làm gì khác hơn.

Tóm lại tình hình biến chuyển của thời cuộc chiến tranh ở VN đã được thời gian hậu chiến phô bầy rất nhiều bí ẩn trong chiến tranh VN. Một chi tiết chưa được ai bộc lộ trước đây là Chính phủ Dương Văn Minh ngay khi lên cầm quyền đã âm mưu quyết định bắt giữ 5 sĩ quan cao cấp của Bộ TTM đứng đầu là cựu Đại Tướng Cao Văn Viên. Danh tánh của 4 người còn lại tôi không cần nêu ra vì tôi thiết nghĩ ai cũng có thể suy đoán đó là những người nào mà không sợ sai lầm.

Hoàng Ngọc Lung Ngày 21 tháng 11 năm 2012

*Tài liệu nầy được trích lại từ  Đặc San Gươm Thiêng tại Úc Châu.
BVN 20171210.

20171210 Diển Biến Biển Đông Cập Nhật.


20171210 Diển Biến Biển Đông Cập Nhật: Paracel, Spratly Islands Images
HUỲNH QUỐC HUY | MỚI NHẤT | 141217 | ĐIỂM TIN | THỜI SỰ | NỔI BẬT | TRONG và NGOÀI NƯỚC | TUẦN QUA |
Bên dưới đây là những không ảnh trong khu vực Hoàng Sa và Trường Sa được cập nhật trên đảo Fiery Cross Reef, tức đảo Chử Thập của Việt Nam từ năm 2016 và những đảo khác.










































































































  Đây là khu nhà chứa phi cơ của rợ hán trên đảo Fiery Cross Reeg-đảo Chử Thập.



























































Đây là không ảnh căn cứ cho phi co chiến đấu của rợ hán trên Mischief Reef tức đảo Vành Khăn của Việt Nam.






































Còn đây là những trang bị phòng thủ của rợ hán có thể là radar hay phi đạn, cho đến nay chưa ai khẳng định được nó là gì.



























































Còn đây là những nhà chứa phi cơ trên đảo Subi tức đảo Đá Subi của Việt Nam.







































Củng vẩn những dạng thức phòng thủ có thể là radar mà củng có thể là phi đạn phòng không.







































Dưới đây là hải đoàn của rợ hán trong khu vực Trường Sa gồm cả thảy là 12 chiếm hạm trong khu vực.









Add caption














































Add caption





































































Tất cả những không ảnh trên xuất xứ từ nguồn kết nối dưới đây:

ASIA MARITIME TRANSPARENCY INITIATIVE
https://amti.csis.org/build-it-and-they-will-come/           
Nguồn của những dàn khai thác dâu của rợ hán tại Biển Đông
https://amti.csis.org/busy-summer-beijings-rigs/
Nguồn lợi hải sản tại Biển Đông hiện nay đều do rọ hán tầu đỏ và Taiwan tầu trắng củng Nhật Bản khai thác trên Biển Đông.

UPDATE: CHINA’S CONTINUING RECLAMATION IN THE PARACELS 20170809

Đây là tất cả khả năng quân sự của rợ hán tại Hoàng Sa.

















https://amti.csis.org/paracels-beijings-other-buildup/


UPDATED: CHINA’S BIG THREE NEAR COMPLETION 20170629
https://amti.csis.org/chinas-big-three-near-completion/
Những căn quân sự khác trong khu vực Trường Sa gần như hoàn tất. Nghiả là những thành phố nổi của rợ hán trong biển Đông đã được bào vệ bới những căn cứ hải quân nầy. Thế giới có lên tiếng chưa? Hay vẩn lặng yên?













Chinese Power Projection Capabilities in the South China Sea
https://amti.csis.org/chinese-power-projection/

Mọi người có thể dùng những đường kết nối bên dưới để tìm không ảnh hay tài liệu.







Chinese Outposts In Paracel Islands: Triton, Money, Duncan, Tree, Woody, Lincoln.
Chinese Outposts in Spratly Islands: Cuarteron, Fiery Cross, Johnson, Hughes, Gaven, Subi, Mischief Reefs. 
Anti-Ship Cruise Missiles, Sam Sites, Fighter Aircraft, Radar, Chinese Maritime Claim.

Who’s claiming what? Use zoom-in to see the claims of China in 2009, Taiwan in 1947, Cambodia 1972, Malaysia 1979

LAND RECLAMATION BY COUNTRY
Taiwanese claims
Chinese claims
                                                                               
MAPS OF THE ASIA PACIFIC           

SMOOTH SAILING FOR EAST CHINA SEA FISHING China Japan Taiwan Fishing Boats

CONFIRMING THE CHINESE FLOTILLA NEAR THITU ISLAND 20170813
Hangars
Subi Island
Mischief Island
Fiery Cross Island
https://amti.csis.org/wp-content/uploads/2016/08/FieryCross_7_21_16_Hangar_3.jpg   

Bách Việt Nhân
20171210


***
Cuarteron Reef
   8°51'50.04"N 112°49'44.26"E
West Reef
  8°50'42.02"N 112°11'44.71"E
8°52'32.75"N 112°13'49.08"E
8°51'55.88"N 112°15'22.68"E
Central Reef
8°55'52.20"N 112°21'11.44"E
London Reef
8°49'40.05"N 112°33'0.69"E
Cornwallis south Reef
8°42'11.18"N 114°11'55.60"E
TP Kontum
14°18'6.80"N 107°58'33.54"E
Madagui
11°25'48.95"N 107°33'58.31"E

20171006 Ai chủ chốt trong việc chiếm Biển Đông ngoài rợ hán?

20171006 Ai chủ chốt trong việc chiếm Biển Đông ngoài rợ hán?
Xin mời xem video do Huỳnh Quốc Huy thực hiện.
Huỳnh Quốc Huy | Điểm Tin Thời Sự Nóng Nhất Tuần Qua

HUỲNH QUỐC HUY - CỰC HAY!!! "THẾ LỰC GIẤU MẶT" NÀO ĐANG MƯU TOAN KHỦNG KHIẾP Ở BIỂN ĐÔNG???!!!
https://www.youtube.com/watch?v=k--oWtNOJgM&feature=share
Đã từ lâu trên mặt nổi rợ hán là chủ chốt hung hăng nhất đã, đang tiến chiếm Hoàng, Trưòng Sa của Việt Nam. Thế nhưng khó có ai lưu tâm đến một kẻ địch nguy hiểm khác của Việt Nam trong tiến trình chiếm đóng các đảo của Việt Nam từ năm 1947. Dưới đây là bằng chứng dữ kiện cướp biển, cướp cá trong lảnh hải Việt Nam của quốc gia đó mà nhà văn Kim Dung đã gọi tên là Nhạc Bất Quần. Chúng tôi muốn nêu tên nước đó chính là Đài Loan, một Nhạc Bất Quần từ  thế kỷ thứ 20 cho mải đến hôm nay.
Trước hết chúng ta phải thấy bản hải đồ mà nước đó đã âm thầm tuyên bố chủ quyền từ năm 1947.
   Xem kỷ bản hải đồ nầy mọi người sẽ thấy Đài Loan đã tuyên bố chủ quyền lành hải của mình rất khiêm nhường. Nhưng khi xem những bản hải đồ kế tiếp sẽ thấy rõ âm mưu thầm lặng của Đài Loan tàn độc như thế nào.

Qua bản hải đồ nầy cho thấy Taiwan  tầu trắng đã lên kế hoạch tuyên bố chủ quyền cả biến Đông từ năm 1947 nhưng không ồn ào như rợ hán tầu đỏ. Xem bản Claimants bên góc dưói tay phải của hải đồ sẽ hiểu rỏ dã tâm của tầu trắng Đài Loan.
Từ bản hải đồ nầy chúng ta nhìn xuống tận vùng biển Malaysia- Philippines sẽ thấy những gạch màu hưòng của Taiwan đã tuyên bố chủ quyền từ 1947.
Bản hải đồ kế tiếp sẽ chi rỏ thời gian tuyên bố chủ quyền của rợ hán tầu đỏ và Đài Loan tầu trắng.
Đường hải biên mầu đỏ của rợ hán tầu đỏ đã dựa vào bản công hàm của Phạm Văn Đồng trong năm 1958 để tuyên bố chủ quyền trong vùng 12 hải lý nội hải của Việt Nam. Tầu đỏ rợ hán đã công khai chiếm vùng nội hải của Việt Nam từ năm 2009 cho đến cho đến hôm nay.
Trong bản hải đồ nầy cho thấy Taiwan đã không ngần ngại tuyên bố chủ quyền lên ngay cả lảnh hải của Malaysia và Philippines. Điều nầy nói lên một thực tế là cho dù là tầu trắng hay tầu đỏ đều là tầu cả. Chủ tâm xâm chiếm đất nước của người là một quan niệm con trời của người tầu, không phân biệt chính thể tự do hay cộng sản. Dưới đây là đường nối kết trên mạng lưới toàn cầu dẩn đến những bản hải đồ nầy, chỉ cần dùng phương thức zoom-in hay zoom-out của computer mọi người sẽ thấy rõ những dữ kiện sự thật về dã tâm của người tầu không phân biệt trắng hay đỏ.
Riêng bản hải đồ nầy được thực hiện để cho mọi người thấy Taiwan chiếm một đảo lón nhất là đảo Ba Bình của Việt Nam từ năm 1955-1956 cho mải đến hôm nay cho dù khoảng cách từ đảo Formosa Taiwan xuống tận đảo Ba bình xa gần gấp ba lần từ Việt Nam ra đảo, Nó trái ngược với luật chủ quyền lảnh hải của thế giới trong công pháp quốc tế.







Bản hải đồ kế tiếp là đường lảnh hải của Việt Nam trong vịnh Bắc Bộ theo hoà ước Pháp-Thanh nhưng hiện nay lũ chồn hôi giặc hồ đã chính thức dâng cho rợ hán từ năm 1999, 2000 và hiện nay đưòng lảnh hải trong vịnh Bắc Bộ đã hoàn toàn đổi khác.


Củng cùng một đưòng nối kết bên trên, khi tiến sâu về vùng vịnh Bắc Bọ của Việt Nam, chính rợ hán đã tiến hành việc phân chiếm lảnh hải của Việt Nam theo kế hoạch của Taiwan từ 1947.
Riêng bản hải đồ nầy đã cho chúng ta thấy là cả tầu trắng Đài Loan lẩn tầu đỏ rợ hán đã bắt tay nhau chia và xẻ hải phận Việt Nam tại vùng biển  Vủng Áng Hà tỉnh qua dạng thức Formosa kinh doanh cho đến ngày hôm nay, năm 2017 quan bàn tay lót đường của lũ chồn hôi giặc hồ.

Trong bản hải đồ nầy, qua những điểm trắng do lũ chồn hôi giặc hồ khai với Liên Hiệp Quốc về lảnh hải Việt Nam trong năm 2009, chúng đã bỏ trống hoàn toàn khu vực biển Trường Sa. Đây là việc chúng thông đồng với rợ hán để dâng hoàn toàn vùng biển nầy cho rợ hán và Taiwan mặc tình khai thác tài nguyên của biển cả trên lảnh hải Việt Nam.
Trong bản hải đồ nầy hiện nay rợ hán đã gần hoàn thành tất cả những xây dựng kiến tạo những căn cứ phòng thủ trên đảo có cà những dàn phi đạn phòng không lẩn những nhà chứa phi cơ cùng đủ loại radar do những đơn vị cấp sư đoàn của rợ hán hiện đang trấn đóng. Điều đau nhất là lũ chồn hôi giặc hồ đã cung cấp cát từ Việt Nam cho rợ hán xây dựng những căn cứ nầy.
Những dữ kiện nầy sẽ đưọc thực hiện trong một bài khác trong tuong lai gần. Dưới đây là đường kết nối cung cấp hình ảnh từ đảo Ba Bình do Taiwan chiếm đóng.
https://amti.csis.org/wp-content/uploads/2016/09/20160127_itu-aba_25862856225_o.jpg
Bách Việt Nhân.
20171210.
https://www.scribd.com/document/318075111/South-China-Sea-uling#download&from_embed
HUỲNH QUỐC HUY - CỰC HAY!!! "THẾ LỰC GIẤU MẶT" NÀO ĐANG MƯU TOAN KHỦNG KHIẾP Ở BIỂN ĐÔNG???!!!
Just Where Exactly Did China Get the South China Sea Nine-Dash Line From?
How The Eleven-Dash Line Became a Nine-Dash Line, And Other Stories
20171008 Chiang Kai shek Joining the dashes
20171008 Historical Fiction Chinas South China Sea Claims
20171008 CHIANG KAI SHEK
The Taipei exhibition for the first time put on display a small portion of the archives that accompanied Chiang Kai-shek and his Kuomintang (KMT), or Nationalist party, when they fled Mao Zedong’s victorious Communists to the island in 1949. At the exhibition’s opening, Taiwan’s president, Ma Ying-jeou, clarified what the KMT government was claiming in 1947 when it asserted sovereignty over islands held during the second world war by the Japanese. Unlike China, which has never spelled out whether it is claiming everything inside its U-shaped line—islands, rocks, shoals, reefs, fish, oil, gas and water—or just the islands, Mr Ma was clear that the claim was limited to islands and 3 to 12 nautical miles of their adjacent waters. There were, he said, “no other so-called claims to sea regions”.
It's Time to Ignore China's Nine-Dash Line
De nap hai gioi Bien Dong    

China claimed
Vietnam claimed
Malaysia
Philippines
Indonesia







Saturday, December 2, 2017

20171202 AM MUU TIEU DIET MOT DAN TOC CUA RO HAN

20171202 ÂM MƯU TIÊU DIỆT MỘT DÂN TỘC CỦA RỢ HÁN.
* Xin được phép dụng phương thức "Văn Dĩ Tải Đạo".

MUỐN TIÊU DIỆT MỘT DÂN TỘC TRƯỚC TIÊN PHẢI TIÊU DIỆT NGÔN NGỮ CỦA DÂN TỘC NƯỚC ĐÓ.
Chủ đề: QUYEN DI: Bảng Mẫu Tự Tiếng Việt vốn đã hay và đủ
Mời đọc bài viết của giáo sư Quyên Di, hiện đang giảng dạy Việt Ngữ (văn hóa và văn chương Việt Nam tại đại học UCLA và đại học Long Beach, California.
Bây giờ đã thấy xuất hiện một bộ “Cuyển dổi Tiếq Việt” rồi đó.
Để tránh sự nguy hại này, chúng tôi đề nghị chúng ta không tiếp tay phổ biến nó, cho dù chỉ là phổ biến để làm trò cười với nhau. Càng làm cho nhau cười, thứ chữ “cải tiến” này càng lan rộng. Các em trẻ tuổi vốn thích nghịch ngợm đã “chế tác” ra đủ các loại chữ viết “bí hiểm” để “chít chát” với nhau, nay gặp được thứ đồ chơi này sẽ đem ra dùng… cho biết. Dùng hoài hoá thiệt. Rốt cuộc, người ta không còn biết đâu là đúng đâu là sai nữa.
Bảng Mẫu Tự Tiếng Việt vốn đã hay và đủ
Quyên Di
Bài viết ngắn này không nhằm “tranh luận” với PGS TS Bùi Hiền về đề nghị “cải tiến chữ Việt” của ông cho bằng, nhân cơ hội này, chúng ta ôn lại với nhau những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ, là thứ chữ dùng mẫu tự La-tinh để ký âm tiếng Việt.
Bài viết rất ngắn này cũng không phải là một công trình nghiên cứu để đem ra thảo luận với các nhà ngữ học và ngôn ngữ học về tiếng Việt.
Gọi là căn bản, điều này có nghĩa là đụng chạm tới những điểm này, thay đổi hay xoá bỏ những điểm này thì chữ Quốc Ngữ không còn là chữ Quốc Ngữ nữa, mà là một thứ chữ gì khác rồi, nói rõ hơn là giết chết chữ Quốc Ngữ rồi. Cũng giống như một cái cây, người ta có thể hái hoa, hái quả, thậm chí cắt bớt cành, cái cây vẫn là cái cây; nhưng khi người ta đốn gốc, đào rễ thì cái cây không còn là cái cây nữa. Nó chết. Căn bản có nghĩa là rễ (căn), gốc (bản). Bởi vậy người ta mới nói kẻ mất gốc là “vong bản.”
Đây là những điểm căn bản của chữ Quốc Ngữ:
1. Chữ Quốc Ngữ là một hệ thống ký âm: âm phát ra như thế nào thì dùng những chữ cái (mẫu tự, ký tự) a, b, c, d, đ v.v… để ghi lại âm đó lên trên giấy. Cũng giống như người ta dùng những nốt nhạc do, re, mi, fa, sol, la, si để ghi lại trên giấy âm thanh của một khúc nhạc, một bản nhạc. Điểm này cho thấy chữ Quốc Ngữ và chữ Hoa (chữ Tàu) đặt trên hai nền tảng hoàn toàn khác nhau: chữ Hoa đặt trên nền tảng hình vẽ, hình tượng thế nào thì vẽ ra như thế, đơn giản nét đi rồi cho vào một ô vuông tưởng tượng mà thành ra chữ.
2.Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ ghi tiếng nói của cả nước chứ không phải ghi tiếng nói của một miền, một vùng, một thành phố, cho dù thành phố đó là Hà Nội. Khi các nhà truyền giáo sáng tạo chữ Quốc Ngữ, các ông này đã đi khắp tất cả mọi nơi trên đất nước ta: Đàng Trong, Đàng Ngoài, miền Bắc, miền Trung, miền Nam, thu thập các cách phát âm, tổng hợp lại mà ra các âm (thể hiện bằng những chữ cái) và các thanh độ (thể hiện bằng các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.) Khi chỉ dựa vào cách phát âm của một miền, một vùng, một thành phố để làm thành bộ chữ thì thứ chữ ấy không thể được gọi là chữ Quốc Ngữ nữa. Ấy là chưa kể người của một vùng có thể thay đổi cách phát âm, lý do là có sự thay đổi người sinh sống ở vùng ấy. Người Hà Nội trước đây và người Hà Nội bây giờ trong cách phát âm có nhiều điểm không giống nhau.
3.Chữ Quốc Ngữ là thứ chữ có thể nói là duy nhất tại Á châu nằm trong khối chữ viết dùng hệ thống mẫu tự La-tinh. Những thứ chữ khác tại Á châu cũng dùng bảng mẫu tự La-tinh đều chỉ có tính cách thử nghiệm hoặc sử dụng trong phạm vi hạn hẹp, hầu như chỉ có tính cách phiên âm mà thôi. Đã gọi là nằm trong một hệ thống thì cách phát âm qua ký hiệu là các chữ cái phải giống nhau hoặc tương tự. Thí dụ: âm [thờ] được ký âm bằng hai chữ cái T và H: TH. Nhìn ký tự TH, người ta phát âm được là [thờ]. Nếu đổi đi, dùng ký tự W để ghi âm [thờ] thì tự mình tách ra khỏi hệ thống chung, gây rắc rối, khó hiểu chứ không phải là “hội nhập” thế giới. Người dạy tiếng Việt ở nước ngoài, khi dạy thường phải dùng phương pháp đối chiếu các ngôn ngữ: tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây-ban-nha. Học viên cảm thấy chữ Việt cũng có cách viết tương tự như ngôn ngữ của họ khiến họ cảm thấy dễ học, dễ viết. Đổi TH thành W để ghi âm [thờ] thì học viên chỉ có nước… chết!
4. Bảng mẫu tự tiếng Việt vốn có (từ thời Alexandre de Rhodes) (1) dựa vào nguyên tắc “đơn giản tối đa” để dễ học, dễ nhớ. Thí dụ: đã có ký tự P và ký tự H, ghép lại thành PH để ký âm [phờ] thì không cần F phải có mặt trong bảng mẫu tự nữa. Vì thế mà trong bảng mẫu tự tiếng Việt không có những chữ cái F, J, W, Z.
5. Tuy đơn giản, bảng mẫu tự này lại rất tinh tế. Cùng là âm [cờ] mà bình thường được ghi bằng ký tự C, lại được ghi bằng ký tự K khi âm [cờ] này đứng trước những âm I, E, Ê vì đây là 3 âm đầu lưỡi, và được ghi bằng ký tự Q(u) khi đứng trước những âm/vần bắt đầu bằng UY (và OA.) (2) Bỏ mất điểm tinh tế này đi, chữ Quốc Ngữ mất đi phần nào nét đặc biệt của nó. Vả lại, nếu đồng hoá, chỉ dùng K cho tất cả các âm [cờ] thì sẽ ra tình trạng hai chữ CỦA và QUẢ được viết giống nhau: KỦA.
6. Chữ Quốc Ngữ có đặc điểm là âm nào phát ra được cũng ghi (viết) được và chỉ có một cách viết đúng mà thôi. Thí dụ: phát âm là [chuyện] với phụ âm [chờ] đứng đầu thì phải viết là CHUYỆN; mà phát âm là [truyện] với phụ âm [trờ] đứng đầu thì phải viết là TRUYỆN. Người Hà Nội có thể phát âm hai âm [chuyện] và [truyện] giống nhau, đều là [chuyện] mà thôi, nhưng tại rất nhiều vùng trên toàn đất nước, đồng bào mình phát âm rất rõ hai âm [chuyện] và [truyện]. Không nên làm nghèo cách phát âm phong phú của người mình.
Tóm lại,
Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng tiêu chuẩn, có 23 chữ cái:
A B C D Đ E G H I K L M N O P Q R S T U V X Y
Bảng mẫu tự tiếng Việt, nếu là bảng đầy đủ, có 29 chữ cái:
A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y
Chúng tôi thấy đây là hai bảng mẫu tự rất đơn giản và đầy đủ, không cần phải cải cách, thêm bớt gì cả.
Còn việc phiên âm những tiếng nước ngoài, trong đó có các ký tự F, J, W, Z lại là một vấn đề khác, chúng tôi không bàn tới ở đây.
Sự “cái tiến” như PGS TS Bùi Hiền đề nghị đã làm méo mó chữ Quốc Ngữ, nếu không muốn nói là ám sát nó, rất nguy hại. Nó khiến người ta hoang mang, tốn thì giờ, tốn công sức. Và nếu vô phúc nó được đem ra áp dụng thì tiết kiệm đâu không thấy, chỉ thấy nó tiêu phí rất nhiều năng lực, thì giờ và tiền bạc.
Để tránh sự nguy hại này, chúng tôi đề nghị chúng ta không tiếp tay phổ biến nó, cho dù chỉ là phổ biến để làm trò cười với nhau. Càng làm cho nhau cười, thứ chữ “cải tiến” này càng lan rộng. Các em trẻ tuổi vốn thích nghịch ngợm đã “chế tác” ra đủ các loại chữ viết “bí hiểm” để “chít chát” với nhau, nay gặp được thứ đồ chơi này sẽ đem ra dùng… cho biết. Dùng hoài hoá thiệt. Rốt cuộc, người ta không còn biết đâu là đúng đâu là sai nữa. Bây giờ đã thấy xuất hiện một bộ “Cuyển dổi Tiếq Việt” rồi đó. (3)
Quyên Di
(1) Alexandre de Rhodes không phải là ông tổ của chữ Quốc Ngữ. Khi đến đất Việt để truyền đạo, ông phải học tiếng Việt qua các sách (chép tay) của các giáo sĩ Bồ-đào-nha đã đến miền đất này trước ông. Nhưng Alexandre de Rhodes đã có công lớn nhất trong việc hình thành và phát triển chữ Quốc Ngữ. Ông là tác giả hai tác phẩm chữ Quốc Ngữ đầu tiên, ấn hành tại Rome năm 1651: “Tự Điển Việt-Bồ-La” và “Phép Giảng Tám Ngày.”
(2) Sự thật QUÝ là QU + UÝ, khi viết chúng ta giản lược một chữ U, thành ra QUÝ; QUẢ là QU + OẢ, khi viết chúng ta giản lược chữ O, thành ra QUẢ. Hiện tượng này cũng tương tự như GIÊNG là GI + IÊNG, khi viết chúng ta giản lược một chữ I thành ra GIÊNG. Có thể một số vị không đồng ý với cách giải thích này.
(3) Chúng tôi không mất thì giờ ghi lại tất cả những thay đổi, thêm bớt vào bảng mẫu tự tiếng Việt của PGS TS Bùi Hiền mà ông gọi là “cải tiến”. Tiếp tay phổ biến chúng làm gì! Chúng tôi cũng không tiếp tục thảo luận về vấn đề “cải tiến chữ Việt” trên trang Facebook này. Không ích gì! Ngoại giả, không ai cấm vấn đề “cải tiến chữ Việt” được trình bày và thảo luận trong các cuộc hội thảo ngôn ngữ.


Quyên Di.