Saturday, May 30, 2026

20260531 CDTL HST D578 24 October 1950 Điện tín từ Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao. Tiếp liệu từ Tầu cộng

20260531 CDTL HST D578 24 October 1950 Điện tín từ Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao. Tiếp liệu từ Tầu cộng.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d578

Google Translated

Tài liệu 578

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1950, Đông Á và Thái Bình Dương, Tập VI

751G.5/10–2450: Điện tín từ Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao.

[Trích lục]

Tối mật

Sài Gòn, ngày 24 tháng 10 năm 1950 — 6 giờ chiều

657.

Phần I. Sáng nay, các ông Letourneau, Juin, PignonCarpentier đã có một cuộc họp kéo dài hai giờ với tôi, cùng các ông Blum, Brink và Gullion. Ông Letourneau mở đầu cuộc họp bằng việc bày tỏ lòng biết ơn đối với Hoa Kỳ vì những sự hỗ trợ, cũng như sự quan tâm và những cam kết do Ngoại trưởng MarshallBộ Ngoại giao đưa ra trong tháng vừa qua. Tóm tắt những nhận định của ông về tình hình tại Đông Dương như sau:

1. Quân sự:

Vấn đề không còn đơn thuần là chiến tranh du kích nữa. Việt Minh đã trở thành một đội quân mới, sở hữu lợi thế về sự tiếp cận gần gũi với các căn cứ bất khả xâm phạm nằm sau biên giới Tầu cộng, cùng khả năng tiếp nhận nguồn vật tư được Tầu cộng cung cấp một cách tự do.

Trong bối cảnh đó, bản thân nước Pháp không thể đơn phương hoàn thành các nghĩa vụ của mình—cả tại Đông Dương lẫn tại Tây Âu—trong khuôn khổ Hiệp ước Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương.

Phía Pháp đã đề nghị Hoa Kỳ viện trợ cả về vật chất lẫn tinh thần nhằm đối phó với mối đe dọa quân sự mới. Họ cần được cung cấp trang thiết bị quân sự ngay lập tức, đặc biệt là máy bay và pháo binh. Hoa Kỳ cũng có thể hỗ trợ trong việc gia tăng quân số tại Đông Dương — điều này đặc biệt đồng nghĩa với việc thành lập một đội quân quốc gia Việt Nam. Bản thân ông, cùng với các ông Juin, PignonCarpentier, đều khẳng định chắc chắn rằng vào thời điểm này, không thể trông chờ thêm bất kỳ lực lượng tăng viện nào từ phía Pháp; mặc dù lực lượng quân sự Việt Nam có thể sẽ không kịp hình thành để đối phó với mối đe dọa trước mắt, nhưng việc xây dựng lực lượng này lại mang tính sống còn đối với kết quả lâu dài của chiến dịch.

Những khó khăn trong việc thành lập lực lượng Việt Nam bao gồm tuyển quân, tổ chức cán bộ và vấn đề tài chính. Letourneau cho rằng có thể tuyển đủ số lượng người nhưng việc cưỡng bức nhập ngũkhông khả thinhiều người Việt đang bỏ chạy khỏi lãnh thổ của Quân Giải phóng Nhân dân (Việt Minh) do Việt Minh “tổng động viên” của Việt Minh. Do đó, việc tuyên bố cưỡng bức nhập ngũ ở các vùng lãnh thổ không thuộc Việt Minhkhông khôn ngoan đối với cả Việt Nam và Pháp.

Về việc đào tạo cán bộ, Pháp sẵn sàng chấp nhận rủi ro để sớm có được lực lượng nòng cốt cho quân đội nhưng “giai cấp tư sản Việt Nam không sẵn sàng bỏ ra những nỗ lực cần thiết”. Ông dẫn chứng những khó khăn trong việc thuyết phục các bác sĩ Việt Nam gia nhập lực lượng quốc gia.

Vấn đề khó khăn nhất là vấn đề tài chính. Người Pháp không thấy khả năng giải quyết vấn đề này bằng các phương tiện hiện có của họ và của Việt Nam. Letourneau cho biết phái đoàn của ông sẽ đề nghị tăng đáng kể số lượng tiểu đoàn Việt Nam so với 18 tiểu đoàn bổ sung đã được đề nghị trước đó cho năm tiếp theo (Legtel 475 ngày 4 tháng 10). Chi phí sinh hoạt, lương bổng cho lực lượng Việt Nam năm 1951 được ước tính là 37 tỷ franc, trong đó Việt Nam không thể đóng góp một khoản đáng kể nào. Hơn nữa, Việt Nam thậm chí không sẵn sàng cung cấp những gì người ta có thể mong đợi từ họ. (Letourneau nói thêm rằng Việt Nam khó có thể nói về độc lập, cũng như về quân đội Việt Nam như một công cụ của nền độc lập đó, chừng nào họ còn phụ thuộc vào một quốc gia khác để tồn tại quân đội này.)

Trong các cuộc thảo luận tại Washington, Bộ Ngoại giaoBộ Quốc phòng đã cho biết rằng, mặc dù luật pháp Hoa Kỳ không có điều khoản cho phép cung cấp tài chính trực tiếp cho quân đội nước ngoài, song vẫn đang có những nỗ lực nhằm tìm ra một phương thức giải quyết phù hợp. Bất cứ bên nào tài trợ cho quân đội Việt Nam cũng cần nhận thức rõ rằng sự thiếu minh bạch và thiếu quy chế kiểm soát hiệu quả trong Chính phủ Việt Nam đã tạo ra những khó khăn đặc thù.

2. Về mặt chính trị.

Letourneau đã đề cập một cách đầy cay đắng tới cuộc phỏng vấn của Hữu (Điện tín số 626 ngày 22 tháng 10). Phái đoàn Letourneau–Juin vừa trở về từ Bắc Kỳ, nơi họ đã chứng kiến ​​những tiểu đoàn Pháp còn sót lại trong tình trạng tan rã. Trong bối cảnh đó, cuộc phỏng vấn của Hữu bị coi là "khiếm nhã" và được tính toán nhằm làm suy giảm tinh thần của quân đội Pháp.

Phía Pháp hoàn toàn không hề có ý định kìm hãm nền độc lập của Việt Nam. Họ chỉ lo ngại rằng tinh thần chiến đấu của lực lượng tại Đông Dương sẽ bị suy sụp và sinh mạng binh sĩ sẽ bị hy sinh vô ích. Thế giới có thể hoàn toàn tin chắc rằng, một khi cuộc chiến kết thúc, nền độc lập của Việt Nam sẽ là trọn vẹn. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, phía Pháp có hai mối quan tâm chính: (a) bảo đảm rằng lực lượng viễn chinh của họ không gặp nguy hiểm; và (b) giúp người Việt nhận thức rõ sự phụ thuộc về tài chính của họ vào nước Pháp—với tư cách là thành viên của khối đồng franc—để từ đó có những định hướng hành động phù hợp.

Ngoài hai điểm này, Pháp không đưa ra thêm bất kỳ điều kiện nào khác liên quan đến nền độc lập của Việt Nam. Ông Letourneau đã nhấn mạnh mạnh mẽ rằng sự hỗ trợ về mặt tinh thần từ phía Hoa Kỳ chính là việc ủng hộ các chính sách của Pháp đối với người Việt, giúp họ nhìn nhận vấn đề một cách thực tế—cụ thể là sự phụ thuộc của họ vào nguồn tài chính cũng như sức mạnh của Pháp để được bảo vệ trước chủ nghĩa đế quốc cộng sản.

Letourneau đã bày tỏ một cách mạnh mẽ ý định kiến ​​nghị Chính phủ Pháp rút lực lượng viễn chinh, nếu người Việt hoặc các bên khác tiếp tục hiểu sai động cơ của Pháp tại Đông Dương và gán cho Pháp những "ý đồ lệch lạc". Pháp không hề có bất kỳ lợi ích nào tại đây mà lại không được chia sẻ bởi thế giới phương Tây; và chắc chắn, họ cũng không hề có những lợi ích về tài chính hay bất cứ lợi ích nào khác đủ để giữ chân họ tại Đông Dương mãi mãi.

Nếu Pháp tiếp tục gánh vác gánh nặng này một mình mà không có sự hỗ trợ vật chất hoặc không có sự đánh giá cao từ phía Việt Nam đối với những gì Pháp đang làm, ông ấy sẽ không ngần ngại đề nghị Chính phủ Pháp rút quân Pháp về căn cứ và chuẩn bị lên tàu trở về Pháp.

Phần II. Sau đây là những nhận xét của Tướng Juin trong cuộc họp báo hôm qua: (tham khảo phần I). [Trang 908]

Thời điểm hiện tại đánh dấu một bước ngoặt trong chiến dịch tại Đông Dương. Việt Minh có khả năng tự bảo đảm toàn bộ nhu cầu quân sự—nếu không muốn nói là cả nhu cầu sinh hoạt—của lực lượng mình ngay trên đất Tầu cộng. Quân đội Pháp tại Bắc Kỳ rơi vào một “thế yếu”.

Theo quy luật kinh điển, trận chiến giành quyền kiểm soát Đông Dương nhất thiết phải được phân định tại Bắc Kỳ. Giờ đây, cuộc chiến giành quyền kiểm soát khu vực Đông Nam Á cũng buộc phải diễn ra tại chính Bắc Kỳ này. Do đó, chiến lược trọng tâm của ông sẽ là dồn mọi nỗ lực vào mặt trận Bắc Kỳ.

Sau những thất bại tại vùng núi, các lực lượng Pháp đã được rút về để bảo vệ vùng đồng bằng; tuy nhiên—như Juin đã khẳng định đầy nhiệt huyết—người Pháp không chỉ có ý định đơn thuần trấn giữ vùng đồng bằng, mà còn sẽ chuyển sang thế tấn công ngay khi có thể.

Các lực lượng thuộc Liên hiệp Pháp có nhiệm vụ bảo vệ vùng biên giới. Theo đó, các vị trí phòng thủ đã được thiết lập dọc theo Quốc lộ số 4. Tuy nhiên, tình hình hiện nay đã thay đổi một cách căn bản do yếu tố viện trợ từ phía Tầu cộng. Với trang thiết bị và quân số hiện có, chỉ khoảng một phần mười lực lượng Pháp-Việt tại Đông Dương là có thể được huy động một cách hiệu quả để đối đầu với quân đội Việt Minh tại Bắc Kỳ. Do đó, quân số chiến đấu cần phải được tăng cường một cách mạnh mẽ, đặc biệt là trong trường hợp tình hình hậu phương trở nên bất ổn.

Juin tin rằng cần phải đạt được một giải pháp tương tự như giải pháp mà Hoa Kỳ đã thực hiện tại Triều Tiên. Quân đội Quốc gia Việt Nam cần được thành lập càng sớm càng tốt, mặc dù lực lượng này sẽ phải được xây dựng một cách tuần tự, song hành với tiến trình bình định các khu vực và huấn luyện binh sĩ. Theo tỷ lệ các khu vực được bàn giao cho lực lượng Việt Nam tiếp quản, các lực lượng thuộc Liên hiệp Pháp sẽ được giải phóng để chuyển sang làm lực lượng dự bị tác chiến.

Điều mà lực lượng viễn chinh Pháp cần là “một cỗ máy đầy sức mạnh”—cụ thể là không quân (bao gồm hai phi đoàn máy bay ném bom hạng nhẹ do Hoa Kỳ cam kết cung cấp), tàu đổ bộ, và—trong một hạng mục tuy nhỏ hơn nhưng không kém phần quan trọng—chất napalm.

Phía Pháp cho rằng họ "chưa cần đến các sư đoàn của Hoa Kỳ vào thời điểm hiện tại". Xét về lực lượng và nhiệm vụ, đây là một chiến dịch mà người Pháp vốn đã thông thạo cách thức tiến hành. "Không một quốc gia nào trên thế giới có thể làm được những gì mà nước Pháp đã làm, đó là duy trì một lực lượng gồm 150.000 quân trong suốt năm năm tại một nơi xa xôi tận cùng thế giới". Chính nỗ lực này đã khiến Pháp không thể đảm nhận trọn vẹn mọi nhiệm vụ lẽ ra phải thuộc về trách nhiệm của mình trong khuôn khổ nền quốc phòng châu Âu.

Phần III. Dưới đây là báo cáo về phiên thảo luận diễn ra ngay sau phần phát biểu của ông Letourneauông Juin:

(1) Các đánh giá chính trị:

Để đáp lại câu hỏi của tôi về việc liệu Phái bộ Letourneau hay Chính phủ Pháp có đang cân nhắc bất kỳ sự sửa đổi nào đối với các hiệp định, hay đưa ra thêm các nhượng bộ chính trị, hoặc tuyên bố về ý định thực hiện những điều này hay không, ông Letourneau trả lời rằng ông sẽ rất sẵn lòng tận dụng một sự kiện như việc kết thúc Hội nghị Pau để đưa ra một tuyên bố chung về các ý định của phía Pháp. Khó khăn trong việc đưa ra tuyên bố này nằm ở chỗ người Việt thường coi những tuyên bố như vậy là biểu hiện của sự yếu thế và sẽ lợi dụng đó để mặc cả nhằm đòi hỏi thêm các nhượng bộ khác. Tuy nhiên, ông nhận thấy rất khó để có thể nhận được từ phía người Việt một tuyên bố rõ ràng về những nhượng bộ cụ thể nào mà họ thực sự mong muốn.

Dường như không có một đội ngũ nào tại Việt Nam đủ năng lực đảm nhận các trọng trách thực sự của chính quyền nếu bị tách rời hoàn toàn khỏi nước Pháp. Để minh chứng cho những thiện chí tự do của phía Pháp, ông đã chỉ ra rằng người Pháp thậm chí đã hành động vượt ra ngoài các điều khoản của Hiệp định ngày 8 tháng 3 nhằm mở rộng khuôn khổ [Trang 909] về quyền đại diện ngoại giao dành cho người Việt; tuy nhiên, cho đến nay, phía Việt Nam vẫn chưa cử được nhân sự để đảm nhiệm các vị trí vốn đã được dành sẵn cho họ.

[Tiếp theo là phần thảo luận về tình hình chính trị nội bộ Việt Nam, quân đội quốc gia, các cố vấn quân sự Pháp, triển vọng phòng thủ, lập trường của Tầu cộng, vai trò của Liên Hợp Quốc, các cuộc đàm phán chiến lược ba bên có thể xảy ra, và những thay đổi nhân sự có thể xảy ra ở Pháp.]

Đã gửi cho Phòng 657, thông tin lặp lại cho Paris 319.

Heath.

1.    Trong bức điện số 475 gửi từ Sài Gòn ngày 4 tháng 10 (không được in), ông Heath đã báo cáo về một buổi họp giao ban mà ông, ông Melby và Tướng Erskine đã tham dự vào ngày 30 tháng 9, do ông Pignon, Tướng Carpentier cùng các trợ lý của họ chủ trì. Ông MelbyTướng Erskine có mặt tại Sài Gòn trong một chuyến thăm ngắn ngày. Phái đoàn đã khởi hành đi Manila vào ngày 1 tháng 10, và sau đó dừng chân tại Paris trên đường trở về Hoa Kỳ.

2.    Bức điện số 626 gửi từ Sài Gòn ngày 22 tháng 10 không được in. Nội dung bức điện này đề cập đến cuộc phỏng vấn của Thủ tướng với phóng viên Tillman Durdin, được đăng tải trên tờ *New York Times* vào ngày 21 tháng 10. Theo đó, ông Tố Hữu được cho là đã đưa ra nhận định rằng các Hiệp định ngày 8 tháng 3 đã hạn chế chủ quyền của Việt Nam và cần được thay thế bằng một hiệp ước dựa trên nguyên tắc bình đẳng giữa Pháp và Việt Nam. (Điện số 407 gửi tới Sài Gòn, ngày 21 tháng 10; mã số hồ sơ: 751G.00/10–2150)

List of abbreviations and symbols

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/terms

Multilateral Relations:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp1

Indochina:

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp5

Policy of the United States with respect to Indochina; United States recognition of Vietnam, Laos, and Cambodia as Associated States within the French Union; the extension of United States military assistance to French Union forces; United States economic, military, and diplomatic support for the Associated States (Documents 439–607)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/ch6

1.    Document 578

Foreign Relations of the United States, 1950, East Asia and the Pacific, Volume VI

751G.5/10–2450: Telegram

The Minister at Saigon (Heath) to the Secretary of State

[Extract]

top secret

Saigon, October 24, 1950—6 p. m.

657. Section I. Letourneau, Juin, Pignon, Carpentier held two-hour conference this morning with me, Blum, Brink and Gullion. Letourneau opened meeting expressing gratitude to US for its help and for the interest and assurances given by Secretary Marshall and Department of State in past month. Resume of his impression of situation in Indochina as follows:

1. Military: No longer question of guerrilla war. Viet Minh was new army with advantage of proximity to unassailable bases behind Chinese frontier and access to materials freely supplied by China.

In circumstances French by themselves could not meet their obligations both in IC and in Western Europe within the framework of the North Atlantic defense pact.

French asked from US material and moral aid to meet the new military threat. They needed military equipment immediately particularly in airplanes and artillery. US could be of assistance also in increasing the number of men under arms in IC which meant particularly the establishment of Vietnamese national army. He, Juin, Pignon and Carpentier all stated positively that no reinforcements could be expected from French at this time, even though Viet force could not be created in time to meet immediate threat its creation was vital for long term result of campaign. Difficulties with respect to establishment Viet force were in recruitment, organization of cadres and in financing. Letourneau claimed adequate number of men could be recruited but conscription impracticable because many Viets now fleeing from VM territory as result VM “national mobilization”. Thus impolitic for Viets and French to declare conscription in non-VM territory.

With respect to formation cadres, French were willing to take risks to obtain soonest an armature for army but the “Viets bourgeoisie were not ready to furnish the necessary effort”. He cited difficulties in persuading Viet doctors to join national forces.

Most difficult problem was financing. French saw no possibility resolving it with means available to them and Viets. Letourneau indicated his mission would recommend considerably greater increase in [Page 907] number of Viets battalions than the extra 18 previously seen for the next year (Legtel 475 October 4).1 Cost of subsistence, pay of Viet forces for 1951 was estimated at 37 billion francs of which Viets could offer no substantial amount. Moreover, Viets not prepared to furnish even what one might expect of them. (Letourneau digressed to point out that Viets could hardly talk of independence, nor of Viet army as vessel of that independence, so long as they dependent on another country for existence this army.)

In Washington discussions, Departments State and Defense had indicated that despite absence provision of US laws permitting furnishing direct financing foreign troops, nevertheless effort was being made find some formula. Whoever financed Viet army should realize lack of probity and efficient controls in Viet Government created special difficulties.

2. Political. Letourneau made bitter references to Huu interview (Legtel 626 October 22).2 Letourneau–Juin mission returned from Tonkin where saw remnant shattered French battalions. In these circumstances Huu interview “indecent” and calculated undermine morale of French troops.

French had no intention whatsoever hold back Viet independence. Concerned only lest morale of their forces in IC be shattered and lives sacrificed. World could be sure that when war was over independence for Vietnam would be total. In interim stage French had two concerns: (a) that their expeditionary forces not be jeopardized; (b) that Viets realize their financial dependence on France as members of franc zone and be guided accordingly. Beyond these two points, France had no other conditions to pose with respect to Vietnam’s independence. US moral aid, Letourneau strongly indicated, consisted in backing French policies with Viets, bringing them down to brass tacks with reference their dependence French finances and French power to protect them from Communist imperialism.

Letourneau strongly expressed intention recommend to French Government withdrawal of expeditionary force if Viets or others continued misunderstand French motives in IC and to attribute “idées perverses” to French. French had no interests here which were not shared by western world and certainly no financial or other interests which would keep them in IC forever. If French were to continue bear this burden alone without material assistance or without Viet appreciation of what France was doing, he would have no hesitancy in recommending to French Government that French troops be withdrawn to bases and prepared to embark for France.

Section II. Following were remarks of General Juin briefing yesterday: (reference section I).

[Page 908]

Present moment turning point in campaign IC. VM could supply all its military if not its subsistence needs in China. French troops in Tonkin found themselves in “state of inferiority”.

As classically the case, battle for Indochina must be fought in Tonkin. Now battle for southeast Asia must be fought in Tonkin. His main strategy would therefore be effort in Tonkin.

Following reverses in the mountainous region, French dispositions had been brought back to cover delta but—Juin insisted with fervor—French did not plan merely to hold delta but go over to offensive soonest possible moment.

French Union forces had mission of defending frontier. Accordingly positions taken up along RC Number 4. Position now radically changed by factor Chinese aid. With present equipment and effectives only about one-tenth of Franco-Vietnamese forces in Indochina could be actively brought to bear against Viet Minh forces in Tonkin. Combat effectives must therefore be radically increased, especially if rear deteriorated.

Juin believed solution like that found by US in Korea must be reached. Vietnamese national army must be raised as soon as possible, although the force would have to be brought into being progressively as areas were pacified and troops were trained. To degree areas were taken over by Viet forces, French Union forces would be released for operational reserve.

What French expeditionary forces needed was “a powerful machine”, specifically, aviation (including two squadrons light bombers promised by US); landing craft, and, in lesser but important category, napalm.

French did not need “US divisions for the moment”. Given troops and task, this was campaign French knew how to fight. “No country in the world could have done what France has done in maintaining 150,000 men for five years at the end of the world”. This effort has made it impossible for France to assume all missions which ought to fall to it in framework of European defense.

Section III. Following is report on discussion period following remarks of Letourneau–Juin:

(1) Political evaluations: In response to my question as whether Letourneau mission or French Government had under consideration any modification accords or further political concessions or declaration of intent to do so, Letourneau replied he would have been glad to seize on something like conclusion of Pau conference to give general statement French intentions. Difficulty in making statement was that Viets looked on such statements as weakness and would bargain for further concessions. However, he found it very difficult to get statement from Viets about what further concessions they really desire.

There did not appear to be team in Vietnam capable of taking over real duties of government if cut loose completely from France: As instance liberal French intentions he pointed out that French had already gone beyond provisions of March 8 accords in widening framework [Page 909] of diplomatic representation allowed Viets but that Viets so far had failed to provide men for posts open to them.

[Here follows discussion of the Vietnamese internal political situation, the national army, French military advisers, defensive prospects, the position of China, the role of the United Nations, possible tripartite strategic conversations, and possible French personnel changes.]

Sent Department 657, repeated info Paris 319.

Heath

1.    In telegram 475 from Saigon, October 4, not printed, Heath reported a briefing which he, Melby, and General Erskine had received on September 30 from Pignon, General Carpentier, and their assistants. Melby and Erskine were in Saigon on a short return visit. The mission departed for Manila on October 1 and subsequently stopped in Paris en route to the United States.

2.    Telegram 626 from Saigon, October 22, is not printed. Reference is to the Premier’s interview with correspondent Tillman Durdin which appeared in the New York Times on October 21. To Huu was attributed the comment that the March 8 agreements limited Vietnamese sovereignty and should be replaced by a treaty based on French-Vietnamese equality. (Telegram 407 to Saigon, October 21, 751G.00/10–2150)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d578

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_907

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_908

Thân thế (các) nhân vật

Harry S. Truman

https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_presidents_of_the_United_States

https://www.whitehousehistory.org/the-presidents-timeline

https://en.wikipedia.org/wiki/Harry_S._Truman

https://millercenter.org/president/truman/life-in-brief

https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman

https://www.trumanlittlewhitehouse.org/key-west/president-truman-biography

https://www.trumanlibrary.gov/education/trivia/biographical-sketch-harry-truman

https://www.history.com/articles/harry-truman

No comments:

Post a Comment