20260526 CDTL DDE D135 18 November 1952 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Bảo Đại cứu trợ nạn nhân bảo.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d135
Google Translated
Tài liệu 135
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
751G.00/11–1852: Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.
MẬT
Sài Gòn, ngày 18 tháng 11 năm 1952 — 6 giờ chiều
1028. Thông tin được gửi báo cáo tới Paris (số chưa xác định), Hà Nội (số chưa xác định). Theo yêu cầu của Bảo Đại, hôm qua tôi đã bay tới Ban Mê Thuột.
1. Nguyễn Đệ — đại diện của Bảo Đại — là người đầu tiên gặp tôi; rõ ràng là đang hành động theo chỉ thị, ông bày tỏ sự bất bình trước những nhận xét mà ông Letourneau đã đưa ra với Bảo Đại về vai trò lãnh đạo năng động cũng như các chuyến thị sát quân sự của Quốc vương Campuchia. Theo suy đoán của tôi, ít nhất thì ông Letourneau cũng đã ngầm ám chỉ rằng Bảo Đại nên noi gương những hoạt động của vị quân vương láng giềng này. Nguyễn Đệ sau đó đã đi vào giải thích rất dài dòng về thái độ của người Việt Nam đối với những kiểu thể hiện vương quyền như vậy.
Người Việt Nam ấy vốn sở hữu trí tuệ sắc sảo; họ có thể nhìn thấu bất kỳ màn xuất hiện mang tính dàn dựng kịch nghệ nào trong các chiến dịch quân sự—chẳng hạn như những gì vị Quốc vương Campuchia kia đang thực hiện. Những hành động như vậy hoàn toàn không đáp ứng được những chuẩn mực truyền thống của họ về phong thái vương giả. Vì lẽ đó, Bảo Đại sẽ đánh mất thể diện. Giá trị của Bảo Đại nằm ở vai trò là một "biểu tượng", và ông tuyệt đối không được làm tổn hại đến vai trò ấy bằng những chuyến công du trước công chúng thiếu sức thuyết phục, hay bằng những lần thỉnh thoảng cố nắm quyền điều hành chính sự. Dẫu sao thì ông—tức Nguyễn Đệ—cũng đã nghe nói rằng giới "trí thức" Campuchia đang tỏ ra rất chỉ trích đối với các hoạt động của vị Quốc vương nước họ.
Tôi đáp rằng tôi sẵn lòng thừa nhận rằng tình hình tại Việt Nam có thể khác biệt, nhưng tôi tin chắc rằng Quốc vương Campuchia đang hành động đúng đắn khi chủ động đảm nhận vai trò lãnh đạo tích cực, xét đến những diễn biến đầy bất ổn đang nảy sinh trong nước; rằng Ngài đang gặt hái thành công, và những lần xuất hiện trước công chúng của Ngài đều được thần dân đón nhận nồng nhiệt. Tôi không mấy bận tâm đến bất kỳ lời chỉ trích nào từ những "trí thức" Campuchia vô danh.
[Trang 285] Nếu những trí thức đó từng là thành viên của chính phủ tiền nhiệm—vốn đã bị Quốc vương buộc phải giải tán—thì những lời chỉ trích của họ chẳng có mấy trọng lượng, bởi lẽ chính chính phủ đó đã đẩy tình hình Campuchia vào một hoàn cảnh vô cùng bi đát.
Tôi nhận xét rằng một kết quả từ chiến dịch hiện tại của Quốc vương Norodom là sự gia tăng về lòng tự tin cũng như sự quan tâm đối với các vấn đề của đất nước ông. Tôi cũng lưu ý rằng theo những gì tôi được biết, chuyến thăm của Bảo Đại tới vùng bị bão tại Phan Thiết đã được người dân đón nhận hết sức nồng nhiệt. Nguyễn Đệ đồng tình và cho biết người dân đặc biệt yêu thích việc Bảo Đại đi thị sát một cách thân mật trên chiếc xe jeep, cũng như việc ông đích thân trao tặng huân chương và hàng cứu trợ cho những người dân chịu ảnh hưởng của cơn bão.
Khi gặp Bảo Đại, ông cũng đã đề cập đến vấn đề so sánh hiệu quả làm việc của mình với vị Quốc vương Campuchia — một sự so sánh mà dường như đã được Letourneau đưa ra một cách khá lộ liễu, và rõ ràng là đã khiến ông cảm thấy chạnh lòng. Tôi đã trao đổi với Bảo Đại bằng chính ngôn ngữ mà tôi từng dùng khi nói chuyện với Nguyễn Đệ. Dường như để chứng minh cho tôi thấy rằng ông luôn ý thức rõ về những trọng trách của mình, Bảo Đại cho biết trong vài ngày tới ông sẽ đến thăm vùng bị bão tàn phá tại Biên Hòa (gần Sài Gòn), và ngay sau đó sẽ tới thị sát khu vực do quân đội Việt Nam trấn giữ tại mặt trận Bắc Kỳ.
Ông ấy nói thêm rằng ông hoàn toàn sẵn sàng ở lại Bắc Kỳ trong thời gian dài và trực tiếp chỉ đạo, khuyến khích nỗ lực ở đó nếu quân đội Việt Nam được giao toàn bộ trách nhiệm bảo vệ đồng bằng.
Bình luận:
Tôi nghĩ rằng ông Letourneau đã đúng khi dẫn chứng hoạt động của Camb King’s cho Bảo Đại, nhưng tôi không quá lạc quan rằng điều đó sẽ có tác dụng ngay lập tức trong việc thúc đẩy Bảo Đại hoạt động mạnh mẽ hơn.
2. Bảo Đại cho biết ông đã tiếp ông De Chevigne – Quốc vụ khanh thuộc Bộ Quốc phòng Pháp – người đã thông báo với ông rằng Việt Nam sẽ không thể trông cậy vào quy mô hỗ trợ quân sự hiện tại của Pháp sau năm 1953. Tôi bày tỏ hy vọng rằng ông De Chevigne đã sai, và rằng theo tôi, việc Pháp rút đi một phần đáng kể sự hỗ trợ cũng như quân đội sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích lâu dài và vị thế của nước Pháp, chừng nào cuộc chiến chống lại Việt Minh vẫn chưa ngã ngũ và mối đe dọa từ phía Tầu cộng vẫn còn hiện hữu. Chúng tôi sẽ không thể nào thay thế được lực lượng quân đội Pháp; và bất kể Quân đội Quốc gia Việt Nam có đạt được những bước tiến nào trong quá trình xây dựng và phát triển, thì trong tương lai gần, lực lượng này cũng khó có thể đủ sức đương đầu với một cuộc xâm lược toàn diện từ phía Tầu cộng.
Sau đó, Bảo Đại cho biết ông sẽ sớm thảo luận với Salan và phía Pháp về sự cần thiết phải vừa gia tăng quy mô của Quân đội Việt Nam, vừa thực hiện tiết kiệm ngân sách thông qua việc cắt giảm các mức lương hiện đang quá cao. Để đạt được bất kỳ tiến bộ thực chất nào trong công cuộc bình định, lịch trình hiện tại cần được điều chỉnh lại nhằm cho phép bổ sung thêm từ 25 đến 30 tiểu đoàn quân Việt Nam nữa. Khoản chi phí phát sinh cho việc này sẽ phải do Pháp gánh chịu; tuy nhiên, đây lại là một biện pháp tiết kiệm xét về lâu dài, bởi lẽ nó sẽ giúp rút ngắn thời gian chiến tranh cũng như thời hạn cần thiết phải có sự hỗ trợ từ phía Pháp. Tôi bày tỏ sự hoàn toàn tán thành với quan điểm cho rằng cần phải tăng cường lực lượng thực tế đang tác chiến trên chiến trường chống lại Việt Minh. Tuy nhiên, tôi lại không đồng tình với ý kiến cho rằng Pháp hay bất kỳ bên nào khác phải gánh chịu toàn bộ khoản chi phí phát sinh đó. Tôi tin chắc rằng [Trang 286] nếu thực hiện tốt công tác quản lý hành chính và áp dụng các biện pháp tiết kiệm trong toàn bộ bộ máy chính quyền, Việt Nam hoàn toàn có thể đóng góp thêm một phần ngân sách cho mục đích này.
Bảo Đại bày tỏ sự hoài nghi về khả năng gia tăng mức đóng góp từ phía Việt Nam. Tôi nhắc lại quan điểm của mình và nhận định rằng, đặc biệt là trong cuộc chiến chống lại phe Cộng sản, Chính phủ Việt Nam cần phải kiên quyết đề cao sự minh bạch và tính tiết kiệm trong công vụ. Tôi cho rằng ông Tâm đã bắt đầu có những nỗ lực bước đầu nhằm thực hiện công tác quản trị hành chính một cách tiết kiệm. Tôi cũng đưa ra gợi ý—dù chưa sẵn sàng đưa ra một khuyến nghị chính thức về vấn đề này—rằng việc điều chỉnh giảm mức định giá quá cao của đồng piastre có thể giúp cắt giảm chi phí cho các hoạt động quân sự của Pháp, và nhờ đó tạo điều kiện để gia tăng nguồn hỗ trợ ngân sách dành cho Chính phủ Việt Nam.
3. Tôi nhận thấy rằng chính phủ hiện tại hoạt động hiệu quả hơn chính phủ tiền nhiệm, và rằng ông Tâm dường như rất trung thành với Bảo Đại. Tôi hy vọng rằng ông sẽ giữ vững sự liêm chính. Tôi được biết người tiền nhiệm của ông từng nhận một khoản "lại quả" từ giấy phép kinh doanh cờ bạc tại Chợ Lớn—khoản tiền mà theo lời đồn, ông ta đã bỏ túi riêng. Tôi đoán rằng hiện tại ông Tâm cũng đang nhận khoản tiền tương tự, nhưng tôi tin tưởng rằng ông đang đưa số tiền đó vào ngân sách quốc gia chứ không bỏ vào túi riêng.
Không có ý kiến phản đối nào đối với việc ông tự trả cho mình một mức lương đủ để sống một cách xứng tầm với cương vị Thủ tướng, đồng thời cho phép ông tích lũy được chút ít; tuy nhiên, hành vi tham nhũng sẽ hoàn toàn không được dung thứ, nhất là trong bối cảnh quốc gia đang lâm nguy như hiện nay. Tôi nhận thấy Bảo Đại khẽ chớp mắt đôi chút khi tôi đề cập đến khoản "ăn chia" từ giấy phép kinh doanh cờ bạc—bởi lẽ chính ông cũng đang hưởng một khoản tương tự. Ông không đưa ra lời đáp nào trước nhận định này, mà chỉ nói tiếp rằng: mặc dù ông dành trọn niềm tin cho ông Tâm và tin rằng cho đến nay ông ấy vẫn một lòng trung thành, song ông lại cho rằng ông Tâm có phần dễ bị chi phối bởi những lời khuyên sai lầm cũng như những tác động tiêu cực từ bên ngoài.
4. Do đó, đã có một đám đông vây quanh ông Tam, bao gồm cả một số phần tử Pháp, những người chủ trương bãi bỏ chế độ quân chủ để thay thế bằng một nền cộng hòa. Ông lo ngại rằng chính Letourneau cũng có thiên hướng ủng hộ chế độ cộng hòa. Bảo Đại tuyên bố rằng đối với ông, hình thức chính quyền là gì cũng đều như nhau cả. Ông sẵn sàng thoái vị, giống như ông đã từng làm vào năm 1945. Tất cả những gì ông mưu cầu chỉ là lợi ích và ý chí của đất nước. Tôi nhận định rằng tôi tin chắc rằng Letourneau không hề có ý định xóa bỏ chế độ quân chủ. Trong lần trò chuyện gần đây nhất với tôi, ông ấy đã bày tỏ với sự chân thành rõ nét niềm xác tín của mình rằng chế độ quân chủ là yếu tố cần thiết để duy trì sự thống nhất của Việt Nam—một đất nước vốn còn nhiều chia rẽ về mặt vùng miền.
5. Khi bữa ăn trưa được thông báo, tôi đã không thể tiếp tục thảo luận về vấn đề bầu cử Quốc hội; tuy nhiên, sau đó tôi đã trao đổi việc này với ông Nguyễn Đệ – người đã bày tỏ thái độ phản đối thẳng thắn đối với bất kỳ cuộc bầu cử sớm nào, trái ngược hoàn toàn với các kế hoạch của ông Tâm. Ông Nguyễn Đệ khẳng định rằng, mặc dù [Trang 287] việc thiết lập một diễn đàn công luận cũng như một cơ quan lập pháp có chức năng giám sát hành pháp là điều cần thiết, nhưng việc tổ chức bầu cử lại quá mạo hiểm trong bối cảnh hiện tại. Ông kiên quyết cho rằng điều ông Tâm cần làm là mở rộng quy mô của Hội đồng Lâm thời bằng cách bổ sung thêm những đại diện thực sự thuộc tầng lớp nông dân, công nhân và các tiểu thương. Ông nhận định rằng Quốc hội hiện tại có quy mô quá nhỏ và thành phần chủ yếu bao gồm các địa chủ lớn hoặc các cựu quan lại.
Heath.
1. Bức điện tín này được chuyển đi thành hai phần. Bức điện số 1046 gửi Sài Gòn, ngày 21 tháng 11, có nội dung như sau: “Từ Allison và Bonsal.
2. Về điện tín số 1028 của quý vị. Bộ hoàn toàn đồng ý với những quan điểm mà quý vị đã trình bày một cách đầy thuyết phục trước Bảo Đại, đặc biệt là những quan điểm nêu tại các đoạn số 2 và 3. “Chúng tôi rất hài lòng vì quý vị đã tận dụng cơ hội để trình bày các quan điểm đó một cách hết sức rõ ràng và mạnh mẽ.” (751G.00/11–1852) ↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1. Document 135
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
751G.00/11–1852: Telegram
The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State1
secret
Saigon, November 18, 1952—6 p.m.
1028. Rptd info Paris unn, Hanoi unn. At Bao Dai‘s request I flew to Ban Me Thuot yesterday.
1.
Nguyen De, Bao Dai‘s delegate, saw me first and, obviously acting under instructions, expressed resentment at Letourneau‘s observations to Bao Dai concerning the active leadership and mil tours of the King of Cambodia. I take it there was at least an insinuation on Letourneau‘s part that Bao Dai shld imitate his royal neighbor’s activity. Nguyen De went into a long explanation of Vietnamese attitudes towards such royal performances. Said Vietnamese had a keen intelligence and wld see through any theatrically-arranged mil campaign appearances such as the Camb King was making. Such acts did not meet their traditional canons of royal deportment. Bao Dai wld lose face thereby. Bao Dai‘s value was that of being a “symbol” and he must not impair that role by unconvincing public tours and occasional graspings of the reins of govt. Anyway, he, Nguyen De, had heard that Camb “intellectuals” were very critical of their King’s activities.
I replied I was willing to concede that conditions might be different in Vietnam, but that I felt certain that the King of Camb was doing the right thing in assuming active leadership in view of the troubled conditions that had developed in his country, that he was being successful, and his public appearances were appreciated by his subjects. I took little stock in any criticisms of unnamed Camb “intellectuals”. [Page 285] If those intellectuals were members of the preceding govt which the King had been obliged to dissolve, their criticisms had little standing for that govt had brought conditions in Camb to a very sorry pass. I remarked that one result of King Norodom‘s present campaign was an increase in self-confidence and interest in his country’s problems. I also remarked that I had understood Bao Dai‘s visit to the Phanthiet typhoon area had been very well received by the people. Nguyen De agreed and said that the people particularly liked Bao Dai‘s touring around informally in a jeep and his personally passing out decorations and relief to the typhoon sufferers.
When I saw Bao Dai, he also brought up the question of comparison of his performance with that of the King of Cambodia, which had apparently been not too subtly drawn by Letourneau and which evidently rankled. I talked to Bao Dai in exactly the same language I had used with Nguyen De. Evidently to show me that he was mindful of his responsibilities, Bao Dai told me that he wld visit in the next few days the typhoon area of Bienhoa near Saigon and that he wld shortly visit the Vietnamese sector of the Tonkin front. He added that he wld be quite prepared to make a prolonged stay in Tonkin and actually direct and encourage the effort there if the Vietnamese army were given full responsibility for the protection of the delta.
Comment: I think that Letourneau was well advised to cite the Camb King’s activity to Bao Dai, but I am not too sanguine that it will have immediate effect in stirring Bao Dai to greater activity.
2.
Bao Dai said he had received De Chevigne, Secy of State for Fr Def Min, who had told him that Vietnam cld not count on present scale of Fr mil support beyond 1953. I said I hoped De Chevigne was wrong, that I thought it wld be very bad for the long-term interest and standing of France if there were any substantial withdrawal of Fr support and troops, as long as the battle against the Viet Minh was not won and the Chinese Communist menace remained. It wld not be possible for us to replace Fr troops and no matter what progress was made in developing Vietnamese National Army, it cld not, in the early future, hope to cope with a full-scale Chinese invasion.
Bao Dai then said that he would shortly discuss with Salan and the Fr the necessity of both increasing the size of the Viet Army and effecting economies by reducing present excessive pay scales. To make any real progress in pacification, the present schedule shld be revised to permit the addition of from 25 to 30 more Vietnamese battalions. The extra cost of this wld have to be borne by France, but it wld be an economy since it wld shorten the war and the term of necessary Fr support. I said that I agreed heartily that there shld be an increased force actually in the field against the Viet Minh. I disagreed, however, that France or others must bear all the additional cost. I was certain [Page 286] that by good administration and by economies throughout the govt, Vietnam cld contribute something additional. Bao Dai expressed doubt as to the possibility of an increased Viet contribution. I repeated my statement and observed that particularly in a war against the Commies, it was necessary for the Vietnamese Govt to insist on official honesty and economy. I thought that Tam had already made a beginning effort at economical administration. I also suggested, although I was not prepared to make a recommendation to that effect, that reduction of the over-valuation of the piaster might reduce cost of the Fr mil operations and thereby allow an increase in budgetary help to the Viet Govt.
3.
I observed that the present govt was more efficient than the preceding one and that Tam seemed loyal to Bao Dai. I hoped that he wld remain honest. I understood his predecessor had received a rake-off from the gambling concession of Cholon which he was rumored to have put in his own pocket. I supposed that Tam was now receiving the same rake-off and I trusted that he was putting it into the budget and not in his pocket. There were no objections to his paying himself a salary sufficient to live in a manner befitting the Prime Min and to allow him to save something, but graft wld not be tolerated particularly in this national emergency. I thought Bao Dai blinked a little at my reference to the gambling concession rake-off since he receives one himself. He made no reply to this observation but went on to say that, while Tam had his confidence and he believed him loyal to date, he thought that he was a little subject to bad advice and bad influences.2
4.
Thus there was a crowd around Tam, including certain Fr elements, who believed in the abolition of the monarchy and its replacement by a republic. He feared that Letourneau himself had republican preferences. Bao Dai said that it was all one to him what the form of govt was. He was willing to get out as he had in 1945. All he sought was the good and the will of the country. I remarked that I felt certain that Letourneau was not trying to do away with the monarchy. When I last talked to him, he had stated with evident sincerity his conviction that the monarchy was necessary to hold Vietnam, with its sectional divisions, together.
5.
As luncheJon was announced, I was unable to take up the question of the election of a National Assembly, but discussed the matter later with Nguyen De who revealed himself as frankly opposed to any early election in contrast with Tam‘s plans. Nguyen De stated that, while [Page 287] it was necessary to have a public forum and a legislative check on the administration, elections were too dangerous under present circumstances. What Tam shld do, he insisted, was to broaden the Provisional Assembly by including bona-fide peasants and workers and small shopkeepers. The present National Assembly was too small and composed of big landowners or former mandarins.
Heath
1. This telegram was transmitted in two parts.↩
2. Telegram 1046 to Saigon, Nov. 21, read as follows: “From Allison and Bonsal. Urtel 1028. Dept agrees completely with views you so ably expounded to Bao Dai especially those in numbered paras 2 and 3.
“We are pleased that you took opportunity of making views known in so clear and forceful a manner.” (751G.00/11–1852)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d135
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_285
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_286
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_287
Allison, John M.,
Acting Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs, to January 31, 1952; Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs, February 1, 1952–April 7, 1953; Ambassador in Japan from May 28, 1953.
https://en.wikipedia.org/wiki/John_M._Allison
https://grokipedia.com/page/John_M._Allison
https://search.library.wisc.edu/digital/A2LWVT7DTTEDZP8W/pages/ACDCHMPAAPPKTS8N?as=text&view=scroll
https://www.trumanlibrary.gov/library/truman-papers/harry-s-truman-paperspresidents-secretarys-files
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v14p2/d747
https://apjjf.org/2022/10/inoue
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v12p1/d281
Chief of State of Vietnam.
Bonsal, Philip W.,
Counselor of Embassy in France to March 1952; Director of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs, Department of State, from August 1952.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/persons
https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1954-03-march_0.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d223
https://www.jaas.gr.jp/jjas/pdf/1981/No.01-119.pdf
Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath
https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/
Letourneau, Jean,
French Minister in Charge of Relations with the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner in Indochina, April 1952–July 19, 1953.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53
https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html
Nguyen De,
Adviser to Bao Dai, Chief of State of Vietnam; Chief of the Imperial Cabinet.
Nguyen Van Tam,
Minister of the Interior of the State of Vietnam and Acting Governor of Northern Vietnam to June 3, 1952; Prime Minister of the State of Vietnam, June 3, 1952–December 17, 1953.
Norodom Sihanouk,
King of Cambodia to March 1955, thereafter Prince of Cambodia; Prime Minister and Foreign Minister, October 1955–January 1956; Prime Minister, Foreign Minister, and Minister of the Interior, March–April 1956; Prime Minister, September–October 1956; Prime Minister, Foreign Minister, Minister of Plans, and Minister of the Interior, April–July 1957
Cambodian Head of State until March 1970; thereafter, leader of Cambodian Government in exile in Beijing
Prince, Head of State of Cambodia until March 18, 1970; thereafter, leader of the Cambodian government-in-exile in Beijing (GRUNK)
4/11/75 - Phnom Penh Evacuation
Commander of French Forces in Indochina, April 1, 1952–May 1953.
https://en.wikipedia.org/wiki/Raoul_Salan
https://www.britannica.com/biography/Raoul-Albin-Louis-Salan
https://www.britishpathe.com/asset/219896/
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d21
http://saigon-vietnam.fr/raoul-salan_en.php
https://foreignlegion.info/1952-battle-of-na-san/
https://grokipedia.com/page/Raoul_Salan
No comments:
Post a Comment