20260527 CDTL DDE D136 18 November 1952 Bản ghi nhớ của Giám đốc Bonsal gửi ông Allison. Cộng sản khủng bố.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d136
Google Translated
Tài liệu 136
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
751G.5/11–1852
Bản ghi nhớ của Giám đốc Bonsal Văn phòng Các vấn đề Philippines và Đông Nam Á gửi Phụ tá Ngoại trưởng Allison phụ trách Các vấn đề Viễn Đông.
Mật
[Washington,] ngày 18 tháng 11 năm 1952.
Chủ đề:
Báo cáo về chuyến thăm Đông Dương của tôi.
Lịch trình
Tôi đã có mặt tại Đông Dương từ ngày 5 tháng 10 đến ngày 17 tháng 10 (tính cả hai ngày này). Tôi đã dành hai ngày tại Campuchia, ba ngày tại Hà Nội, dùng bữa trưa tại Viêng Chăn (Lào), và lưu lại Sài Gòn trong khoảng thời gian còn lại.
Danh sách những người đã gặp.
Tôi đã gặp gỡ hầu hết các nhân sự của chúng ta, đặc biệt là Ngài Đại sứ và ông Fred Bartlett—những người thường xuyên tháp tùng tôi trong hầu hết các chuyến đi. Tôi đang lưu lại tư dinh của Ngài Đại sứ và Phu nhân Heath đúng vào thời điểm âm mưu ám sát Ngài Đại sứ diễn ra gần đây nhất. Tôi xin dành những lời tán dương cao nhất cho thái độ bình tĩnh và điềm nhiên mà hai ông bà đã thể hiện khi đối mặt với trải nghiệm đầy khó chịu này. Ngài Đại sứ đã đưa tôi đến thăm Phnom Penh và Hà Nội. Tôi cũng đã dành trọn một ngày cùng ông Fred Bartlett đi thăm các dự án của MSA tại hai tỉnh phía Nam Sài Gòn. Ông Pickering đã cung cấp cho tôi một bản báo cáo tóm tắt về các hoạt động của USIS. Ngoài ra, tôi cũng được Đại tá Whisner báo cáo về tình hình hoạt động của MAAG trong lúc Tướng Trapnell vắng mặt; bản báo cáo này bao gồm các phần trình bày từ đại diện của Lục quân, Hải quân và Không quân thuộc phái bộ MAAG.
Các Quan chức Việt Nam—Tôi đã gặp Thủ tướng (Nguyễn Văn Tâm) và Bộ trưởng Quốc phòng (Nghiêm Văn Trí) trong nhiều dịp khác nhau. Tôi cũng đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao (Trương Vĩnh Tống) cùng một số thành viên nội các khác. Tôi đã gặp hai Tỉnh trưởng tại Nam Kỳ.
Tại miền Bắc, tôi đã dành trọn một ngày bên cạnh vị Thống đốc đương thời là ông Phạm Văn Bình. Ông đã đưa chúng tôi đi thị sát các hoạt động cứu trợ khẩn cấp (với sự hỗ trợ của Mỹ) tại một số ngôi làng. Chúng tôi cũng đã ghé thăm một ngôi làng nơi tổ chức Gamo đang hoàn tất nhiệm vụ của mình, đồng thời chứng kiến lễ bàn giao một pháo đài từ [Trang 288] Quân đoàn Viễn chinh Pháp sang cho các cơ quan quân sự và dân sự của Việt Nam. Tôi đã gặp gỡ nhiều quan chức địa phương và các nhân sĩ, trong đó có hai vị Tỉnh trưởng.
Các quan chức dân sự Pháp — Ông Letourneau đã trở về vài ngày trước khi tôi khởi hành. Tôi đã dùng bữa trưa cùng ông, và sau đó vào buổi chiều cùng ngày, ông đã tham gia vào một cuộc thảo luận giữa tôi với trợ lý của ông là Janot, cùng cố vấn ngoại giao Offroy — người mà tôi đã gặp gỡ nhiều lần. Tôi cũng có dịp gặp gỡ Thống đốc toàn quyền Gautier, cũng như ông Cheysson — người hiện đang giữ chức cố vấn đặc biệt cho Thủ tướng Tâm. Ngoài ra, tôi cũng đã gặp gỡ Cao ủy Pháp tại Campuchia (ông Risterucci) và tại Lào (ông Pereyra). Tại Hà Nội, tôi đã dùng bữa tối cùng ông Lamarque, cố vấn dân sự của Tướng Linares.
Các giới chức quân sự Pháp — Tôi đã có một cuộc gặp gỡ kéo dài và vô cùng thú vị với Tướng Salan, người mà tôi đã từng gặp gỡ trong nhiều dịp khác. Tham mưu trưởng của ông, Tướng Allard, đã hỗ trợ chúng tôi rất tận tình. Đại tá Boussary, Trưởng phòng Tình báo (G-2) dưới quyền Tướng Allard, đã cung cấp cho Ngài Đại sứ và bản thân tôi một bản báo cáo quân sự hết sức chi tiết và toàn diện. Cũng nhờ có Tướng Allard, tôi đã có dịp gặp gỡ một số sĩ quan cấp dưới trong bầu không khí thân mật, không mang tính nghi thức.
Tại khu vực phía Bắc, Tướng Linares cùng Tham mưu trưởng của ông là Tướng Berchoux đã hỗ trợ chúng tôi rất tận tình. Tướng Berchoux đã dùng máy bay đưa phái đoàn của chúng tôi bay một vòng quanh vành đai phòng thủ Hà Nội. Chiều hôm đó, Tướng Linares đã tháp tùng chúng tôi đến thị sát một chiến dịch quân sự đang diễn ra giữa Nam Định và Phát Diệm. Chúng tôi di chuyển bằng xe jeep và cũng đã đi bộ một quãng đường kha khá. Chúng tôi bay đủ gần khu vực tác chiến để cảm nhận rõ những rung lắc mạnh do một vài quả đạn pháo gây ra; thoạt đầu tôi cứ ngỡ đó là hỏa lực của đối phương, nhưng sau đó được cho biết rằng rất có thể chúng là đạn pháo của quân Pháp. Chúng tôi cũng có dịp tiếp xúc khá nhiều với Tướng Cogny—người từng là sĩ quan tùy tùng của Tướng Delattre; hiện nay ông đang nắm quyền chỉ huy tại Hải Dương.
Những nhân vật khác mà tôi đã gặp—Nhờ có Al Wellborn, tôi đã gặp gỡ khoảng nửa tá những nhân vật thuộc nhóm “attentistes” (những người theo chủ trương chờ đợi) hàng đầu tại Sài Gòn. Tôi đã có một bữa ăn tối kéo dài để gặp gỡ và trao đổi với họ. Cũng nhờ Paul Sturm tại Hà Nội, tôi đã dùng bữa cùng ông Nguyễn Hữu Trí—người sau đó đã trở thành Thống đốc Bắc Kỳ.
Những ấn tượng của tôi
Những ấn tượng của tôi được tóm tắt dưới đây; chúng phản ánh những quan điểm cá nhân của riêng tôi.
1. Kẻ thù vô cùng hùng mạnh.
Lòng dũng cảm, tài lãnh đạo và tinh thần chủ động mà Việt Minh đã huy động được trong suốt tám năm qua—dưới những điều kiện thường xuyên bất lợi—thực sự đáng kinh ngạc. Đây là một cuộc chiến tranh quy tụ đúng nghĩa hàng trăm nghìn binh sĩ chính quy ở cả hai phía. Việt Minh được cho là có gần 400.000 người trong biên chế vũ trang, trong đó có lẽ 160.000 người là quân "chính quy". Số còn lại được chia thành quân địa phương và lực lượng được gọi là "dân quân" (populaires). Lực lượng sau này ban ngày là những người nông dân, còn ban đêm lại trở thành lính bắn tỉa, [Trang 289] chiến sĩ du kích và đội viên phá hoại. Thật khó để ước tính số lượng những người cảm tình tích cực đứng về phía kẻ thù, nhưng con số đó chắc chắn là rất đáng kể. Kẻ thù cũng dùng biện pháp khủng bố để ép buộc một lượng lớn người dân phải cộng tác với chúng.
Chỉ cần lướt qua bản đồ tình báo mới nhất, vốn thể hiện các vùng ảnh hưởng của hai bên, ta có thể thấy rằng phía Pháp chỉ tuyên bố nắm quyền kiểm soát hoàn toàn tại một vài khu vực nhỏ nằm bên ngoài hai thành phố chính là Sài Gòn và Hà Nội. Khu vực lớn nhất trong số đó là tỉnh Bến Tre, nằm ở phía nam Sài Gòn. Tất nhiên, quân Pháp vẫn có khả năng di chuyển trên phạm vi rộng và theo đội hình đoàn xe, cũng như sử dụng hầu hết các tuyến đường bộ hay đường sắt huyết mạch tại những khu vực trọng yếu nhất của đất nước. Tuy nhiên, ngay cả tại những vùng mà quân Pháp đang kiểm soát các hoạt động chính, chiến tranh du kích, các hành động phá hoại và khủng bố vẫn diễn ra tràn lan. Ngược lại, có những khu vực rộng lớn trên khắp cả nước đang nằm dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Việt Minh. Một số khu vực trong đó—chẳng hạn như Thanh Hóa—vốn giàu lúa gạo và đóng vai trò là những hậu phương quan trọng, phục vụ cho việc duy trì cuộc chiến. Trong suốt vài năm trở lại đây, phe địch đã nắm quyền kiểm soát các khu vực này một cách tương đối vững chắc và gần như không gặp phải sự tranh chấp nào.
Tại những khu vực kể trên, địch chắc chắn phải duy trì một bộ máy đầu não về quân sự, kinh tế và hành chính – chính trị hết sức quy mô. Quả thực, mọi hoạt động của địch đều cho thấy những bằng chứng rõ nét về sự phối hợp ở trình độ cao; tuy nhiên, "thủ phủ" của chúng lại không hề lộ diện như một mục tiêu dễ bị tổn thương. Theo nhận định, hệ thống này trải dài trên phạm vi ba mươi ki-lô-mét, bao gồm các hang động, hầm hào và công trình ngụy trang nằm ở phía tây bắc Hà Nội (có lẽ là gần khu vực Thái Nguyên).
Tóm lại, địch vẫn đang duy trì sự vận hành vững mạnh và là một thế lực đáng gờm.
2. Cuộc kháng cự của liên quân Pháp - Việt chống lại Việt Minh là một kỳ tích đáng nể.
Có cơ sở để giả định rằng, khi Bắc Kinh—và nhiều khả năng cả Moscow—quyết định trang bị vũ khí cũng như huấn luyện cho Việt Minh ở quy mô hiện tại, họ đã hy vọng và tin tưởng rằng Việt Minh sẽ đánh đuổi Lực lượng Viễn chinh Pháp ra biển. Quả thực, đã có một thời điểm cách đây hai năm, khi dường như điều này hoàn toàn có thể trở thành hiện thực. Phản ứng kháng cự tuyệt vời của liên quân Pháp - Việt dưới sự lãnh đạo đầy cảm hứng của Tướng Delattre là điều đã quá nổi tiếng, không cần phải nhắc lại. Việc tái thiết hệ thống công sự của Pháp tại khu vực vành đai Hà Nội—nơi các tiền đồn cũ đã trở nên lỗi thời do đối phương được trang bị súng bazooka, súng cối và pháo hạng nhẹ—thực sự là một kỳ công phi thường.
Tôi đã vô cùng ấn tượng trước những gì mình chứng kiến về Quân đội Pháp—từ các vị chỉ huy cấp cao như các Tướng Salan, Linares, Boussary, Allard và Cogny, cho đến các sĩ quan và hạ sĩ quan mà tôi đã gặp gỡ ngay tại chiến trường. Tinh thần cũng như diện mạo của họ đều vô cùng xuất sắc. Như ngài đã biết, họ phải lưu lại Đông Dương suốt hai mươi bảy tháng liền trong mỗi đợt công tác. Thậm chí, một số người trong số họ hiện đang ở lần phục vụ thứ ba tại xứ sở này.
Tôi tin chắc rằng trải nghiệm tại Đông Dương—dẫu đã khiến quân đội Pháp tổn thất hàng trăm sĩ quan vô cùng cần thiết—cũng đồng thời giúp lực lượng này trở nên vững mạnh hơn bội phần, nhờ việc phải tôi luyện trong những điều kiện chiến đấu khắc nghiệt nhất; và rằng quân đội ấy đã vượt qua thử thách cam go này một cách vô cùng xuất sắc.
Trong suốt quá trình đó, tôi luôn nhận thấy sự ghi nhận và đánh giá cao đầy trân trọng đối với chất lượng, quy mô cũng như tầm quan trọng của sự hỗ trợ mà chúng tôi đã dành cho họ.
3. Hiện tại, cuộc chiến đang diễn biến thuận lợi theo quan điểm của chúng ta.
Không cần đi sâu vào phân tích chi tiết các hoạt động quân sự hiện hành, có thể nói rằng, nhìn chung, cục diện cuộc chiến đang nghiêng về phía chúng ta. Tổn thất của địch—đặc biệt là về đội ngũ sĩ quan được huấn luyện bài bản—đã vô cùng nặng nề trong chiến dịch năm vừa qua. Nỗ lực của địch nhằm đe dọa vị thế của quân Pháp tại vùng châu thổ Hà Nội thông qua các chiến dịch tấn công đã thất bại một cách nặng nề. Việc tái thiết các công sự phòng thủ của Pháp—như đã đề cập ở trên—được cho là đã loại trừ mọi khả năng địch có thể tấn công thành công vào Hà Nội, trừ khi có sự thay đổi căn bản về trang bị vũ khí của địch hoặc xảy ra một cuộc xâm lược từ phía Tầu cộng.
Phía Pháp tuyên bố đã đạt được những thành công đáng kể trong việc phá hủy các tuyến đường tiếp tế sang Tầu cộng thông qua các đợt oanh tạc trên không. Những bức ảnh mà tôi đã xem về các đợt oanh tạc này quả thực cho thấy những kết quả hết sức ấn tượng. Một số sĩ quan Pháp khẳng định rằng các chuyến hàng từ Tầu cộng đã bị gián đoạn trong vài tháng vào mùa hè năm ngoái, và có thể vẫn đang bị đình trệ do những hư hại đối với hệ thống đường sá, cũng như do sự bất lực của Việt Minh trong việc tiếp nhận, bảo vệ và phân phối nguồn tiếp tế. Tôi không rõ liệu những nhận định này có phần quá lạc quan hay không.
Quân Pháp cũng đã nã pháo và phá hủy một số công trình thủy lợi ở huyện Thanh Hóa phía nam khu vực đồng bằng, do đó làm giảm đáng kể nguồn cung cấp gạo cho địch.
Những trận oanh tạc đường sá và đập nước này buộc Việt Minh phải huy động nông dân để sửa chữa. Công việc này dĩ nhiên vô cùng nguy hiểm và khó khăn do cả việc quân Pháp tiếp tục oanh tạc và việc thả bom hẹn giờ, được hẹn giờ để phát nổ vào ban đêm khi công việc sửa chữa đang diễn ra. Được biết, địch đang gặp khó khăn đáng kể trong việc tuyển quân và uy tín chính trị của chúng đã giảm sút đáng kể trong mắt người dân địa phương. (Thống đốc Bình nói với tôi rằng lần cuối cùng tướng Giáp của Việt Minh đến Thanh Hóa, đã có âm mưu ám sát ông ta và thực tế bảy sĩ quan tham mưu của ông ta đã bị giết.)
Tương tự, phía địch đang gặp khó khăn trong việc tuyển mộ binh lính; theo các báo cáo của Pháp, số tù binh bị bắt giữ gần đây thậm chí bao gồm cả những cậu bé mới mười sáu tuổi. Số lượng tù binh đã gia tăng trong thời gian gần đây, cho thấy tinh thần chiến đấu của địch đang sụt giảm. Hơn nữa, số binh lính đào ngũ khỏi lực lượng vũ trang của địch gần đây đã đạt mức khoảng năm mươi người mỗi tháng—một diễn biến hoàn toàn mới. [Trang 291]
Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, những diễn biến thuận lợi này không tạo nên bất kỳ sự thay đổi thực chất nào về tương quan lực lượng giữa các bên đối địch, cũng như không báo hiệu sự suy giảm đáng kể nào về tiềm lực của phía đối phương. Thế nhưng, giới chức quân sự Pháp lại tỏ ra khá lạc quan—dù vẫn đầy vẻ bí hiểm—khi đề cập đến những triển vọng thuận lợi trong mùa giao tranh hiện tại. Một số người đã chia sẻ với tôi về khả năng xuất hiện một "bước ngoặt thuận lợi" vào tháng Tư. Họ đang kỳ vọng sẽ tận dụng một cách hiệu quả số lượng máy bay vận tải được tăng cường đáng kể và mới được điều động gần đây vào các chiến dịch nhảy dù; tuy nhiên, tôi lại không có cảm giác rằng thực sự có ai đó đang mong đợi một bước ngoặt mang tính quyết định.
4. Việc tổ chức Quân đội Quốc gia Việt Nam đang tiến triển theo đúng kế hoạch, nhưng đang gặp phải các vấn đề về tinh thần của sĩ quan.
Theo các kế hoạch hiện hành, một Quân đội Quốc gia Việt Nam bao gồm tám sư đoàn dự kiến sẽ được thành lập hoàn chỉnh vào ngày 1 tháng 1 năm 1955. Cho đến nay, các kế hoạch này vẫn đang được triển khai đúng theo tiến độ đề ra. Hiện có hơn 5.000 sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp đang phục vụ trong các lực lượng Việt Nam nhằm mục đích huấn luyện và chỉ huy. Theo những thông tin tôi nhận được, các lực lượng này đã thể hiện rất tốt trong chiến đấu, đặc biệt là khi được các sĩ quan Pháp trực tiếp chỉ huy. Hơn nữa, họ cũng đang đảm nhiệm những trọng trách quan trọng liên quan đến công tác an ninh nội bộ.
Song song với đó, số lượng quân thuộc lực lượng dân vệ đang được tăng cường đáng kể. Người dân trong các làng xã đang được trang bị súng trường và được giao trọng trách canh giữ làng mạc của mình nhằm chống lại các cuộc tấn công của Việt Minh.
Việc cắt giảm dần số lượng binh sĩ Pháp hoặc thuộc Liên hiệp Pháp tại Đông Dương đã bắt đầu được triển khai. Trong năm nay, số lượng binh sĩ được rút có thể lên tới 3.000 người trên tổng số 120.000 quân. Các binh sĩ Việt Nam từng phục vụ trong quân đội Pháp đang được chuyển giao khá nhanh chóng sang Quân đội Quốc gia Việt Nam, bất chấp sự ngần ngại nhất định từ phía một số binh sĩ Việt Nam có liên quan. Vào thời điểm hiện tại, về phía liên quân Pháp - Việt, cứ mỗi binh sĩ Pháp hoặc thuộc Liên hiệp Pháp thì có gần hai binh sĩ rưỡi người Việt Nam.
Tướng Salan đã bày tỏ với tôi sự hài lòng chung về những tiến triển đạt được trong quá trình xây dựng Quân đội Quốc gia Việt Nam. Ông cho biết, xét từ góc độ kỹ thuật, hầu như không gặp trở ngại nào đáng kể. Về mặt nhân lực—bao gồm cả sĩ quan lẫn binh sĩ—đều sẵn có và đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn phù hợp về thể chất cũng như tinh thần. Tuy nhiên, theo nhận định của ông, vấn đề cốt yếu nằm ở việc thấm nhuần tư tưởng cho các sĩ quan Việt Nam—những người vốn rất nhạy bén và thông minh—về tinh thần yêu nước và sự hy sinh quên mình; chính những phẩm chất này là nét đặc trưng làm nên người lính chuyên nghiệp của Pháp. Tướng Salan cho tôi hay rằng, trong sáu tháng đầu năm nay, số lượng sĩ quan Pháp tử trận duy trì ở mức trung bình khoảng một người mỗi ngày. Tỷ lệ tổn thất này có giảm bớt trong mùa mưa, nhưng khi các hoạt động giao tranh ác liệt được nối lại, con số đó lại bắt đầu tăng lên. Những [Trang 292] tổn thất này đã làm nổi bật vai trò đầy cam go mà một sĩ quan buộc phải đảm nhận trong loại hình chiến tranh này, nếu muốn thực sự lãnh đạo binh sĩ của mình một cách hiệu quả. Ngược lại, trong chín tháng đầu năm nay, chỉ có vỏn vẹn chín sĩ quan Việt Nam hy sinh. Tướng Salan nhấn mạnh rằng đây không phải là một sự so sánh thống kê hoàn toàn công bằng; tuy nhiên, ông vẫn coi đó là một chỉ dấu phản ánh tương quan về tinh thần chiến đấu của hai bên vào thời điểm hiện tại.
Tôi tin chắc rằng, với sự hỗ trợ của chúng ta cùng với việc duy trì chương trình huấn luyện và tác chiến hiện hành của phía Pháp, Quân đội Quốc gia Việt Nam sẽ được thành lập đúng theo kế hoạch. Đây sẽ là một lực lượng chính trị-quân sự có tầm quan trọng nhất định trong bối cảnh tình hình chung. Tuy nhiên, tôi tin rằng lực lượng này sẽ không thể đương đầu với Việt Minh, trừ khi sức mạnh của Việt Minh bị suy giảm đáng kể trước thời điểm đã định. Trên thực tế, nếu Việt Minh vẫn duy trì sức mạnh như hiện tại, sức hút chính trị sẽ hướng tới việc thâu tóm quân đội quốc gia mới này thông qua một công thức chính trị nào đó—một công thức mà thực chất sẽ phản ánh thắng lợi của phe Cộng sản. Do đó, tồn tại một nguy cơ nghiêm trọng là những vũ khí mà chúng ta đã cung cấp sẽ bị chĩa ngược lại chống đối chúng ta, đồng thời góp phần gia tăng sức mạnh cho một nhà nước thù địch mới.
5. Sức sống chính trị tại Việt Nam đang được cải thiện nhưng vẫn còn yếu kém.
Không còn nghi ngờ gì nữa, Thủ tướng Tâm là một bước tiến so với người tiền nhiệm Hữu. Ông Tâm là một nhà lãnh đạo thực thụ. Vị Bộ trưởng Quốc phòng đương nhiệm cũng là người có năng lực và đầy nhiệt huyết. Bộ trưởng Thông tin, ông Giao, cũng được đánh giá là người tài năng; tuy nhiên, mối quan hệ giữa ông với Thủ tướng Tâm được cho là đang hạn chế đáng kể khả năng phát huy hiệu quả công tác của ông.
Các thành viên khác trong nội các đã không tạo được ấn tượng xuất sắc. Họ dường như thiếu hụt năng lượng, hoặc thiếu đi những phẩm chất lãnh đạo chính trị vốn vô cùng cần thiết trong tình hình hiện nay. Một số người được cho là có năng lực chuyên môn.
Nhìn chung, Chính phủ Việt Nam có xu hướng thiên về phía Pháp rất rõ rệt. Bốn thành viên trong nội các có vợ là người châu Âu. Hầu hết trong số họ đều từng có mối liên hệ mật thiết với chính quyền Pháp trước khi cuộc chiến hiện tại nổ ra. Những người thực sự mang nền tảng dân tộc chủ nghĩa—tức là những người được kỳ vọng sẽ đóng một vai trò nhất định trong nhà nước Việt Nam mới sau cuộc chiến này—chỉ chiếm một thiểu số rất nhỏ. Một ví dụ điển hình cho thực trạng này chính là Tỉnh trưởng tỉnh Mỹ Tho, người mà tôi đã có dịp gặp gỡ. Ông đã có hai mươi tám năm phục vụ trong bộ máy hành chính dân sự; ông được Chính phủ Việt Nam tiếp nhận từ biên chế công vụ của Pháp và hiện đang mong chờ được sớm nghỉ hưu. Tôi tin chắc rằng ông là một nhà quản lý có năng lực và thạo việc, nhưng lại không phải là một nhân tố chính trị đầy năng động.
Các quan chức Việt Nam mà tôi đã tiếp xúc đều đồng ý bày tỏ mong muốn về nền độc lập hoàn toàn cho đất nước mình, đồng thời bày tỏ niềm tin rằng ngay khi chiến tranh kết thúc, quân Pháp sẽ rút đi, để lại vấn đề quan hệ Pháp-Việt [Trang 293] cho người dân Việt Nam tự giải quyết theo đúng ý chí của họ. Tất cả các vị này đều thừa nhận rằng, nếu không có quân đội Pháp, thì nền độc lập của đất nước trước chủ nghĩa cộng sản sẽ là điều không thể đạt được. Tuy nhiên, tất cả các quan chức này cũng khẳng định rằng họ sẽ không tham gia vào Chính phủ Việt Nam nếu họ không tin chắc rằng quân Pháp sẽ rút đi sau khi chiến tranh kết thúc.
(Cuộc trò chuyện mà tôi đã có với cựu Thủ tướng Hữu vô cùng đáng thất vọng. Ông ấy bày tỏ sự cay đắng tột cùng về hình thức cách chức mình và đang làm mọi cách để tách mình khỏi tình hình hiện tại và khỏi người Pháp, những người mà ông ấy lên án gay gắt nhất. Ông ấy cũng cực kỳ chống đối Bảo Đại. Việc cựu Thủ tướng này cảm thấy có thể hoàn toàn tách rời mình khỏi sự nghiệp mà ông ấy từng gắn bó là điều đáng chú ý.)
Chính phủ Việt Nam đang thực hiện được một khối lượng công việc đáng kể và hiệu quả. Tôi đã rất ấn tượng với các quan chức trong lĩnh vực y tế và nông nghiệp mà tôi có dịp gặp gỡ. Tôi được cho biết rằng các nhóm GAMO đang làm việc một cách đầy quyết liệt và thông minh, tuy nhiên số lượng nhân sự của họ lại chưa đủ. GAMO là những nhóm bao gồm chủ yếu là các nam nữ thanh niên Việt Nam; họ đi vào các ngôi làng vừa được giải phóng nhằm giải quyết các nhu cầu khẩn cấp về chính trị, quân sự và hành chính. Họ cung cấp lương thực cho dân làng, truy quét những phần tử cộng sản, xác định vị trí các kho vũ khí, thiết lập bộ máy hành chính địa phương đáng tin cậy cùng lực lượng dân quân tự vệ, và sau đó bàn giao lại ngôi làng cho các cơ quan chính quyền chính thức.
Thế nhưng, ở phía chúng ta lại thiếu vắng niềm tin và nghị lực. Người ta không khỏi có cảm giác rằng, vào lúc này, phần lớn nghị lực và khả năng lãnh đạo của Việt Nam hoặc đang nằm trong hàng ngũ kẻ thù, hoặc đang đứng ngoài lề chờ xem phe nào sẽ giành chiến thắng.
Theo tôi, Chính phủ Việt Nam đã thất bại trong việc thu hút một lượng lớn người dân đang đứng ngoài cuộc. Cuộc gặp gỡ của tôi với nhóm "những người chờ đợi" (attentistes) đã mang lại cảm giác vô cùng nản lòng về phương diện này. Những người này—hầu hết là những thành viên thông minh và tài năng thuộc tầng lớp tư sản, tầng lớp mà lẽ ra sẽ bị Việt Minh tiêu diệt—đã bày tỏ một cách đầy dứt khoát sự thiếu tin tưởng đối với nước Pháp, cũng như cảm nhận của họ rằng Pháp không hề có ý định từ bỏ quyền kiểm soát chính trị đối với đất nước này sau khi cuộc khủng hoảng hiện tại kết thúc. Tuy nhiên, xét đến việc Pháp chắc chắn đang đẩy nhanh tốc độ trang bị vũ khí cho người Việt, đang cân nhắc việc sớm thành lập một lực lượng quân sự do hoàn toàn người Việt chỉ huy, và xét đến việc lẽ ra phải thấy rõ rằng Pháp không thể duy trì nỗ lực quân sự cần thiết để giữ vững Đông Dương thêm một thời gian dài nữa; thì theo nhận định của tôi, những cáo buộc về sự thiếu tin tưởng đối với nước Pháp này thực chất lại là sự phản ánh cho nỗi hoài nghi về việc rốt cuộc ai sẽ là người chiến thắng trong cuộc chiến.
Tóm lại, hiện nay cuộc đấu tranh chính trị tại Việt Nam chưa hội đủ sức sống cần thiết để thúc đẩy, hay mang lại hy vọng về một giải pháp chính trị khả chấp—tức là một giải pháp phi cộng sản—cho tình hình hiện tại. Những phẩm chất về [Trang 294] năng lượng và khả năng lãnh đạo mà cuộc đấu tranh này thể hiện thường có nguồn gốc từ phía Pháp. Tình trạng tham nhũng tràn lan—được cho là đang tồn tại ở hầu hết các cấp bậc trong bộ máy chính quyền—tạo nên sự tương phản rõ rệt với danh tiếng về sự thanh liêm, giản dị mà Việt Minh đã gây dựng được.
Thật đáng ngạc nhiên khi việc thảo luận về tình hình chính trị tại Việt Nam lại dễ dàng đến thế mà không cần phải nhắc đến Bảo Đại. Việc Bảo Đại đã không đảm nhận được một vai trò thực sự chủ động trong tình hình hiện tại là điều đáng thất vọng. Có lẽ ông sẽ thay đổi chiến thuật sau khi trở về Việt Nam sau vài tháng lưu lại Pháp, nhưng chẳng ai tỏ ra mấy lạc quan về điều đó. Điểm sáng duy nhất trên phương diện chính trị là việc cách chức người bạn thân của Bảo Đại—ông Bình—khỏi vị trí Thống đốc Bắc Việt, và việc bổ nhiệm ông Trí lên thay thế; ông Trí là lãnh đạo của một chính đảng từng nắm giữ vị thế quan trọng đáng kể dưới góc độ chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, ngay cả trong sự kiện này, người ta cho rằng chính ông Tâm mới là kiến trúc sư chính đứng sau sự thay đổi đó, chứ không phải Bảo Đại.
Tôi tin rằng Bảo Đại vẫn tiềm tàng là một nhân tố quan trọng nhưng đang mất dần vị thế do sự thiếu hành động và lười biếng của chính mình. Có thể nào, như ai đó đã nhận xét với tôi, rằng Hoàng đế mới là người “quan tâm” hàng đầu trong cả nước?
Tóm lại, chính phủ Việt Nam hiện tại phụ thuộc vào sức mạnh quân sự của Pháp để tồn tại. Chính phủ sẽ không còn sức mạnh hiệu quả nếu Pháp rút lui, để lại lực lượng Việt Minh vẫn mạnh về quân sự như hiện nay.
6. Sự nghi ngờ về kết quả quân sự cuối cùng là yếu tố chính trong tình hình hiện nay.
Trong suốt quá trình xem xét tình hình Đông Dương, tôi luôn cảm thấy sửng sốt trước mức độ mà sự hoài nghi về kết cục quân sự cuối cùng đã gây ra một tác động tê liệt đối với những diễn biến trên mặt trận chính trị—vốn có thể trở nên thuận lợi cho chúng ta. Số lượng đông đảo những kẻ "chờ đợi thời cơ"—những người luôn miệng nói về sự thiếu tin tưởng vào những ý định sau cùng của Pháp—thực chất lại là những kẻ thiếu tin tưởng vào khả năng đánh bại Việt Minh của lực lượng liên quân Pháp-Việt. Chẳng một người tỉnh táo nào lại có thể ảo tưởng về khả năng của người Pháp trong việc tiếp tục duy trì mối quan hệ thuộc địa với Đông Dương; vai trò của họ đã chấm dứt, và chính họ cũng thừa biết điều đó. Tất cả những lời bàn tán về sự thiếu tin tưởng vào các ý định chính trị của Pháp thực chất chỉ phản ánh sự thiếu tin tưởng vào năng lực quân sự của liên quân Pháp-Việt.
Tôi không dám khẳng định liệu về lâu dài, các chính phủ phi cộng sản ổn định có thể tồn tại ở vùng ngoại vi của một Tầu cộng đầy năng động hay không, trong bối cảnh thiếu vắng những sự bảo đảm rõ ràng từ phương Tây rằng bất kỳ cuộc xâm lược từ bên ngoài, hay sự gây hấn từ bên trong được nước ngoài hậu thuẫn nhằm vào các quốc gia phi cộng sản này, sẽ bị đáp trả bằng vũ lực. Tuy nhiên, tôi tin chắc rằng việc đánh bại các lực lượng cộng sản hiện diện tại Đông Dương chính là triển vọng duy nhất để thiết lập một chính phủ phi cộng sản thực sự vững mạnh và đáng tin cậy tại Việt Nam. Một chính phủ như vậy chỉ có thể được thành lập khi và chỉ khi lực lượng Việt Minh bị suy yếu về mặt quân sự [Trang 295] đến mức mà Quân đội Quốc gia Việt Nam có thể đương đầu ngang sức với họ trên chiến trường.
Một chính phủ như vậy sẽ buộc phải tận dụng những nhân tài hiện có trong hàng ngũ của nhóm "những người chờ đợi thời cơ" (attentistes) đương thời; đồng thời, có lẽ họ sẽ phải loại bỏ một số chính trị gia và quan chức vốn đã gắn bó quá mật thiết với nước Pháp. Về lâu dài—nếu thể hiện được sự sáng suốt về chính trị—chính phủ này sẽ thu hút được một bộ phận các thành phần phi Cộng sản, những người có thể đã bị lầm lạc hoặc bị ép buộc phải ủng hộ Việt Minh. Sau cùng, chính phủ này sẽ hướng tới mục tiêu trở thành một chính phủ đoàn kết dân tộc; tuy nhiên, trừ khi Việt Minh bị đánh bại trên chiến trường, viễn cảnh trước mắt vẫn sẽ là sự thống trị của phe Cộng sản tại Đông Dương ngay khi quân Pháp rút đi.
7. Cách tiếp cận của phía Pháp đối với tình hình quân sự đang tạo cơ sở cho những mối lo ngại.
Tôi xin nhấn mạnh một cách mạnh mẽ nhất sự ngưỡng mộ của mình đối với cuộc chiến đấu mà quân đội Pháp cùng các đồng minh Việt Nam của họ đang tiến hành, bất chấp những điều kiện vô cùng khó khăn và gian khổ. Tôi có một ấn tượng rất rõ ràng rằng các nhà lãnh đạo quân sự ở phía chúng ta đang sử dụng những nguồn lực sẵn có theo một phương thức quyết liệt và đầy tính chiến đấu nhất, hoàn toàn phù hợp với các chiến lược và chiến thuật đúng đắn. Chắc chắn rằng họ không hề ngủ quên trên chiến thắng hay lơ là nhiệm vụ.
Tuy nhiên, xét từ góc độ chính trị, có một số yếu tố trong tư duy của giới dân sự Pháp—cả tại Sài Gòn lẫn Paris—mà theo tôi là thực sự đáng quan ngại. Những yếu tố này có thể được liệt kê tóm tắt như sau:
a) Sự phản đối việc tiếp tục tiêu tốn nhân lực và nguồn lực của Pháp tại Đông Dương đang ngày càng gia tăng ngay trên đất Pháp. Có lẽ không quá lời khi nhận định rằng Quốc hội Pháp có thể sẽ từ chối bỏ phiếu cấp thêm ngân sách để tiếp tục cuộc chiến tại Đông Dương sau năm 1954, hoặc muộn nhất là sau năm 1955. (Theo các báo cáo, ông Chevigne—một thành viên trong Nội các Pháp—đã nói với Bảo Đại rằng sau năm 1953, Pháp sẽ không tiếp tục hỗ trợ công cuộc phòng thủ Việt Nam ở mức độ hiện tại nữa.) Quốc hội có thể sẽ yêu cầu chấm dứt cuộc xung đột dựa trên một cơ sở cho phép Pháp rút toàn bộ lực lượng quân sự lẫn dân sự ra khỏi quốc gia này. Nếu viễn cảnh này thực sự xảy ra—và tôi e rằng điều đó là khó tránh khỏi—thì nhiều người Pháp sẽ lên tiếng phản đối việc tiến hành bất kỳ chiến dịch quân sự nào khác, ngoại trừ các chiến dịch mang tính chất phòng ngự cầm cự. Lập luận của họ sẽ là: "Tại sao lại phải tiếp tục gia tăng cái giá phải trả bằng xương máu và tiền bạc?"
b) Tâm trạng nảy sinh trong giới chính khách và quan chức Pháp, xuất phát từ các cuộc trao đổi Pháp-Mỹ về vấn đề viện trợ của Hoa Kỳ, không hề tạo tiền đề cho một cách tiếp cận năng động đối với các chiến dịch quân sự tại Đông Dương. Khi ông Letourneau đặt chân đến Sài Gòn vào khoảng ngày 15 tháng 10, tôi nhận thấy ông đang ở trong tâm trạng bực dọc và chán nản về vấn đề này.
c) Đôi khi, đặc biệt là trong giới dân sự Pháp, người ta lập luận rằng nếu quân Pháp giành được thắng lợi quá vang dội trước Việt Minh, hệ quả sẽ là một cuộc xâm lược Đông Dương của lực lượng Tầu cộng. Theo tôi, nhận định này có lẽ là sai lầm trong bối cảnh hiện tại; tuy nhiên, tôi tin rằng nó thực sự có tác động đến tư duy, và có lẽ cả hành động, của một số người.
d) Bên cạnh đó, còn tồn tại một cảm giác mơ hồ, đầy tính ảo vọng—tựa như tâm thế của nhân vật Micawber—về khả năng sẽ có sự cải thiện trong “tình hình thế giới”. Người ta tin rằng sự cải thiện này sẽ thay đổi một cách kỳ diệu diện mạo của mọi sự việc tại Đông Dương; chính vì thế, tại sao lại phải tiếp tục dấn thân vào một cuộc đấu tranh tốn kém đến thế ở nơi đây? Quả thực, lập luận này là sai lầm và đầy rẫy hiểm họa. Một điều hiển nhiên cần phải được nhận thấy là “tình hình thế giới”—nếu thực sự tồn tại một khái niệm như vậy—sẽ chỉ chịu sự tác động từ những bước tiến (hay sự thiếu vắng những bước tiến đó) về mặt chính trị và quân sự tại chính những chiến trường xung đột thực tế đang hợp thành nên “tình hình thế giới” ấy.
e) Cũng thỉnh thoảng có ý kiến cho rằng việc quân đội Pháp mở rộng lãnh thổ kiểm soát tại Đông Dương là vô ích, chừng nào người Việt Nam còn chưa thể cung cấp đủ đội ngũ cán bộ hành chính và lực lượng an ninh cần thiết để trấn giữ vùng lãnh thổ này, ngăn chặn sự tái thâm nhập và hoạt động lật đổ của Việt Minh. Theo tôi, lập luận này đã nhầm lẫn giữa nguyên nhân và kết quả. Đội ngũ cán bộ hành chính và lực lượng an ninh Việt Nam sẽ chỉ có thể thực thi nhiệm vụ một cách hiệu quả, cũng như tranh thủ được sự hợp tác của người dân địa phương, trong chừng mực mà niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của phe mình thực sự hiện hữu. Chính sự hoài nghi về vấn đề này là nguyên nhân gây ra những khó khăn to lớn mà cả phía Pháp lẫn phía Việt Nam đang phải đối mặt. Tất nhiên, trong bối cảnh hiện nay, sự thành công của bất kỳ chiến dịch quân sự nào không nên được đánh giá dựa trên diện tích lãnh thổ được giải phóng và chiếm đóng, mà phải dựa trên mức độ khả thi trong việc buộc đối phương phải giao chiến và gây tổn thất cho họ.
8. Khuyến nghị về việc tái xem xét song phương, hoặc có thể là tam phương, tình hình quân sự tại Đông Dương.
Dựa trên những cơ sở nêu trên, tôi tin rằng việc cải thiện tình hình quân sự là chìa khóa duy nhất dẫn đến sự cải thiện thực chất đối với vị thế của chúng ta tại Đông Dương. Mặc dù Lực lượng Liên hiệp Pháp đã thực hiện những công tác vô cùng xuất sắc, tôi vẫn không tin rằng sự cải thiện đó đang diễn ra đủ nhanh để đảm bảo cho chúng ta một vị thế chấp nhận được vào thời điểm Lực lượng Liên hiệp Pháp rút quân. Tôi tin rằng, trừ khi tiến độ quân sự được đẩy nhanh, chúng ta sẽ phải đối mặt với nguy cơ nghiêm trọng là một phần lớn trong khoản viện trợ của chúng ta dành cho Chính phủ Việt Nam sẽ rơi vào tay kẻ thù Cộng sản.
Do đó, tôi kiến nghị rằng ngay khi phía Pháp nêu vấn đề Đông Dương với chúng ta—dự kiến là trong bối cảnh đề nghị viện trợ thêm—chúng ta hãy đề xuất tiến hành một cuộc rà soát cấp cao và tức thời về tình hình quân sự, nhằm giải đáp các câu hỏi sau đây:
a) Liệu các nguồn lực và năng lực quân sự hiện có hoặc đã được lên kế hoạch dành cho phía chúng ta có đủ để mang lại một niềm hy vọng hợp lý về việc đạt được một thắng lợi quân sự mang tính quyết định, hoặc ít nhất là tạo ra một tình thế mà quân đội Việt Nam có thể kiểm soát được trong vòng hai năm tới—với giả định rằng sự hỗ trợ của Tầu cộng dành cho Việt Minh vẫn duy trì ở quy mô hiện tại?
b) Nếu câu trả lời cho mục (a) là phủ định, thì cần phải bổ sung những nguồn lực và năng lực quân sự nào để đảm bảo một kỳ vọng hợp lý về việc đạt được một kết quả mang tính quyết định, hoặc về sự suy giảm đáng kể sức mạnh của Việt Minh, trong vòng hai năm tới theo các điều kiện đã nêu.
c) Làm thế nào để cung cấp thêm các năng lực và nguồn lực được nêu trong câu trả lời cho câu hỏi (b)? [Trang 297]
Tôi chắc chắn rằng rất nhiều công việc đã được thực hiện ở Sài Gòn và Paris—và có lẽ cả ở Ngũ Giác Đài—về các câu hỏi trên. Nhưng tôi không biết rằng đã có bất kỳ sự phối hợp song phương cấp cao nào về quan điểm.
Rất có thể nghiên cứu nói trên sẽ cho ra một kết quả tiêu cực. Nếu điều đó xảy ra, ít nhất chúng ta cũng sẽ xác định được rõ vị thế hiện tại của mình và có thể lập kế hoạch hành động cho phù hợp; tuy nhiên, theo tôi, nhiều khả năng chúng ta sẽ nhận được một câu trả lời mang tính thực tiễn nào đó từ phía quân đội. Có vẻ như một điều hiển nhiên là nếu cần bổ sung một lượng lớn lực lượng bộ binh, thì xét cả về phương diện chính trị lẫn quân sự, Hoa Kỳ sẽ không thể đáp ứng được yêu cầu đó. Lực lượng này buộc phải đến từ Pháp. Điều này sẽ tạo ra một vấn đề chính trị vô cùng nghiêm trọng đối với Chính phủ Pháp. Khi đó, chúng ta sẽ phải tăng cường mạnh mẽ sự hỗ trợ về mọi chủng loại trang thiết bị, và thậm chí có thể phải hỗ trợ việc vận chuyển quân lính sang Đông Dương. Chắc chắn Bộ Chỉ huy Tối cao (SHAPE) sẽ phản đối kịch liệt.
Tuy nhiên, tôi khó có thể tin rằng lực lượng cần thiết để đạt được một thắng lợi quân sự dứt điểm tại Đông Dương—trong khoảng thời gian hữu hạn mà họ buộc phải vắng mặt khỏi châu Âu—lại có thể trở thành nhân tố mang tính quyết định đối với công cuộc phòng thủ Tây Âu trước một cuộc xâm lược của Liên Xô; hay rằng trong khoảng thời gian dự kiến đó, một quân đội Đức với bất kỳ quy mô hay mức độ hiệu quả nào lại có thể được thành lập. Hơn nữa, việc đạt được một thắng lợi quân sự dứt điểm tại Đông Dương sẽ ngay lập tức giúp quân đội Pháp trút bỏ được một gánh nặng to lớn, qua đó cho phép lực lượng này phát huy vai trò của mình tại Tây Âu. Tuy nhiên, tôi thừa nhận rằng yêu cầu bổ sung thêm bộ binh—với số lượng, chẳng hạn, vượt quá hai sư đoàn—sẽ gây ra những vấn đề vô cùng nghiêm trọng.
Tuy nhiên, rất có thể cuộc đánh giá quân sự đã được đề nghị sẽ cho thấy rằng sức mạnh tấn công và tính cơ động của các lực lượng hiện diện tại Đông Dương có thể được gia tăng đáng kể thông qua việc tăng cường sức mạnh không quân, và có lẽ là cả việc cung cấp các loại vũ khí đặc biệt hiện chưa được sử dụng tại khu vực này. Tôi được biết rằng một số thành viên trong Phái bộ Cố vấn Quân sự (MAAG) của chúng ta tại Sài Gòn có chung nhận định rằng phía Pháp đã không bố trí đầy đủ nhân sự phục vụ không quân (bao gồm cả phi hành đoàn lẫn đội ngũ bảo trì) để có thể tận dụng tối đa hiệu suất của các máy bay hiện đã có mặt tại quốc gia này. Việc bổ sung thêm các máy bay vận tải—vốn đã được thu xếp thực hiện vào mùa thu vừa qua—đã giúp gia tăng một cách hết sức to lớn tính cơ động của các lực lượng Pháp, cũng như nâng cao năng lực tiến hành các chiến dịch nhảy dù của họ mà không đòi hỏi phải tăng cường thêm quá nhiều nhân lực. Rất có thể giới quân sự sẽ đưa ra được thêm một số ý tưởng mới mang tính xây dựng theo hướng tương tự như vậy.
Vấn đề đặt ra là liệu có nên mời phía Anh tham dự các cuộc thảo luận quân sự dự kiến diễn ra giữa chúng ta và phía Pháp hay không. Theo quan điểm của tôi, họ nên được mời tham dự, bởi lẽ họ có những lợi ích liên quan đến khu vực chung này, và cũng bởi khả năng họ có thể đóng góp những ý tưởng mang tính xây dựng, thậm chí có thể cung cấp một số loại vũ khí và trang thiết bị nhất định cho phía Pháp. [Trang 298]
Tương tự, phía Úc và New Zealand cũng nên được mời tham dự vì những lý do tương tự. Tôi cho rằng chúng ta không nên cân nhắc bất kỳ sự thay đổi nào về mặt bản chất đối với lực lượng hiện đang tham chiến tại Đông Dương—cụ thể là việc đưa quân đội Anh, Mỹ hoặc Trung Hoa Dân quốc vào tham chiến.
Ngoài ra, tôi đề nghị nên xem xét việc để Tổng thống sắp nhậm chức đưa ra tuyên bố càng sớm càng tốt về tầm quan trọng của cuộc đấu tranh ở Đông Dương. (Tôi đã gửi một bản ghi nhớ cho ông Allison về vấn đề này) Chúng ta cũng nên xem xét thêm đề xuất của Pháp về một tuyên bố ba bên liên quan đến ý định và mục tiêu của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Pháp ở Đông Nam Á. Một tuyên bố như vậy có thể có những khả năng hữu ích riêng biệt.
Tuy nhiên, yêu cầu trọng yếu của tình hình hiện tại là một cuộc xem xét lại nghiêm túc về tình hình và triển vọng quân sự. Rất có thể kết quả của cuộc xem xét lại này sẽ không kịp hoàn tất và được khai thác để ảnh hưởng đến việc chỉ đạo tác chiến trong mùa giao tranh hiện tại—vốn sẽ kết thúc vào tháng 5 năm 1953—nhưng chúng chắc chắn sẽ mang lại giá trị thiết thực cho mùa giao tranh tiếp theo, bắt đầu từ tháng 10 năm 1983.
Việc không thể xác lập một cái nhìn quân sự rõ ràng về những triển vọng cũng như khả năng dành cho phe ta, và qua đó đưa ra các quyết định tương ứng, sẽ là điều vô cùng đáng tiếc — nhất là khi xét đến thực tế rằng thời gian chắc chắn không đứng về phía chúng ta.
1. Frederic P. Bartlett, Tham tán thứ nhất tại Đại sứ quán ở Sài Gòn; Trưởng Phái đoàn Cơ quan An ninh Tương trợ.↩
2. John E. Pickering, Tùy viên Thông tin tại Sài Gòn.↩
3. Đại tá Emons B. Whisner, Phó Trưởng Phái đoàn Cố vấn Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn.↩
4. Chưa xác định danh tính.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1. Document 136
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
751G.5/11–1852
Memorandum by the Director of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs (Bonsal) to the Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs (Allison)
secret
[Washington,] November 18, 1952.
Subject:
- Report on my visit to Indochina.
Itinerary
I was in Indochina from October 5 to October 17, both dates inclusive. I spent two days in Cambodia, three in Hanoi, had lunch Vientiane (Laos) and was in Saigon the rest of the time.
List of People Seen
I saw most of our own people including especially the Ambassador and Fred Bartlett1 who were with me on most of my trips. I was staying with Ambassador and Mrs. Heath on the occasion of the most recent plot to assassinate the Ambassador. I have only the highest praise for the calm and unruffled manner in which they went through this disagreeable experience. The Ambassador took me to Phnom Penh and Hanoi. I spent a day with Fred Bartlett visiting MSA projects in two provinces south of Saigon. Mr. Pickering2 gave me a briefing on USIS activities. I also had a MAAG briefing by Col. Whisner3 in the absence of General Trapnell. This briefing included presentations from the Army, Navy and Air Corps representatives in MAAG.
Vietnamese Officials—I saw the Prime Minister (Nguyen Van Tam) and the Defense Minister (Nghiem Van Tri) on several occasions. I also saw the Foreign Minister (Truong Vinh Tong) and a number of other cabinet members. I saw two Chefs de Province in Cochinchina.
In the north I spent a day with the then Governor Pham Van Binh. He took us to see emergency relief work (with American aid) in a number of villages. We also visited a village in which the Gamo was completing its task and witnessed the transfer of a fort from the French [Page 288] Expeditionary Force to the Vietnamese military and civil authorities. I saw many local officials and notables, including two Chefs de Province.
French Civil Authorities—M. Letourneau returned a couple of days before my departure. I had lunch with him and he joined a discussion which I had later that afternoon with his assistant, Janot, and his diplomatic adviser, Offroy, whom I saw several times. I also saw something of Gautier, the Governor General, as well as Cheysson who is currently a special adviser to Prime Minister Tam. I also saw the French Commissioner in Cambodia (M. Risterucci) and in Laos (M. Pereyra). In Hanoi I had dinner with Lamarque who is civil adviser to General Linares.
French Military Authorities—I had a long and most interesting visit with Gen. Salan whom I saw on a number of other occasions. His chief of staff, Gen. Allard, was most helpful. Allard’s G–2, Col. Boussary, gave the Ambassador and myself a thorough military briefing. Thanks to Allard I met a number of subordinate officers under informal circumstances.
In the north Gen. Linares and his chief of staff, Gen. Berchoux, were most helpful. Gen. Berchoux flew our party around the Hanoi defense perimeter. That afternoon Gen. Linares took us with him on a visit to a current military operation between Nam Dinh and Phat Diem. We drove around by jeep and walked a certain amount. We flew close enough to the operation to get a good bouncing from a couple of projectiles which I thought at first were hostile but which I was later told were probably from French artillery. We also saw a good deal of Gen. Cogny who was Gen. Delattre’s aide; he is now in command at Haiduong.
Other persons I saw—Thanks to Al Wellborn I met a half dozen of the leading “attentistes” of Saigon. I had a lengthy dinner meeting with them. Thanks to Paul Sturm in Hanoi, I dined with Nguyen Huu Tri who has since become governor of North Vietnam.
My Impressions
My impressions are summarized below; they represent my personal views.
1.
The enemy is extremely powerful.
The courage, leadership and initiative which the Viet Minh has been able to mobilize over the past eight years under often adverse conditions is truly amazing. This is a war involving literally hundreds of thousands of regular soldiers on both sides. The Viet Minh is said to have nearly 400,000 men under arms of whom perhaps 160,000 are “regulars”. The remainder are divided between regional troops and so-called “populaires”. The latter are peasants by day and snipers, [Page 289] guerrilla fighters and saboteurs by night. It is hard to estimate the number of militant sympathizers on the enemy side but it is very considerable. The enemy also terrorizes large numbers into collaboration.
A glance at the latest intelligence map showing the zones of influence of the two sides indicates that the French claim complete control over only a few small areas outside of the principal cities of Saigon and Hanoi. The largest of those areas is the Province of Bentre south of Saigon. The French are, of course, able to move over large areas and in convoy, to utilize most of the principal roads or railroads in the most important parts of the country. Yet even in areas where the French do control major activities, guerrilla warfare, sabotage and terrorism are prevalent. There are large areas of the country completely controlled by the Viet Minh. Some of these areas such as Than Hoa are rich in rice and constitute important support areas for the carrying on of the war. The enemy has been in relatively undisputed control of these for some years now.
In these latter areas, the enemy must possess a very considerable military, economic and political administrative headquarters. Certainly his activities show every evidence of coordination of a high order yet his “capital” presents no vulnerable target; it is believed to be spread out over thirty kilometers of caves, dug-outs and camouflaged structures northwest of Hanoi (perhaps near Thai Nguyen).
In summary, the enemy remains a formidable going concern.
2.
Franco-Vietnamese resistance to the Viet Minh constitutes a remarkable performance.
It is reasonable to suppose that, when Peking and presumably Moscow decided to arm and train the Viet Minh on the present scale, they hoped and believed that the Viet Minh would drive the French Expeditionary force into the sea. Indeed, there was a moment two years ago when it appeared that this might be possible. The magnificent Franco-Vietnamese reaction under Gen. Delattre’s inspiring leadership is too well known to require retelling. The rebuilding of the French fortifications in the Hanoi perimeter, where the former posts were rendered obsolete as a result of the enemy’s acquisition of bazookas, mortars and light artillery, was a truly remarkable feat.
I was tremendously impressed at what I saw of the French Army from such leaders as Generals Salan, Linares, Boussary, Allard and Cogny down to the commissioned and noncommissioned officers whom I saw in the field. Their morale and their physical appearance are excellent. As you know, they spend twenty-seven months at a time in Indochina. Some of them are on their third stay in that country.
I am convinced that the Indochina experience, although it has cost the French army the loss of hundreds of badly needed officers, has also greatly strengthened their army by subjecting it to the most trying [Page 290] combat conditions and that the army has come out of this severe test with flying colors.
I found throughout the most grateful appreciation of the quality, quantity and significance of our assistance.
3.
The war is currently progressing favorably from our point of view.
Without going into a detailed analysis of current military operations, it can be said that generally speaking the tide of war is running in our direction. The enemy losses, particularly in trained officers, were extremely heavy during last year’s campaign. The enemy’s attempt through offensive operations to jeopardize the position of the French in the Hanoi delta failed significantly. The rebuilding of the French fortifications, referred to above, has presumably precluded any possibility of a successful enemy assault on Hanoi—in the absence of a radical change in the enemy’s armament or of a Chinese Communist invasion.
The French claim considerable success in destroying the supply roads to China through aerial bombardment. Photographs which I have seen of these bombardments do indicate remarkable results. Some French officers claim that shipments from China were suspended for several months last summer and may be still suspended owing to the damage done to roads and to the inability of the Viet Minh to receive, protect and distribute supplies. I don’t know to what extent these views may be over optimistic.
The French have also bombarded and destroyed certain irrigation works in the Thanh Hoa district south of the delta and have thereby considerably reduced the rice supply available to the enemy.
These bombardments of roads and dams make it necessary for the Viet Minh to mobilize the peasants to make repairs. This work of course is extremely hazardous and difficult owing both to the continuance of French bombardments and also owing to the dropping of delayed-action missiles, timed so as to explode at night when repair work is in progress. It is understood that the enemy is encountering considerable difficulty in recruiting labor and that his political prestige has sunk considerably in the eyes of the local population. (Governor Binh told me that the last time the Viet Minh‘s General Giap was in Thanh Hoa an attempt was made to assassinate him and in fact seven of his staff officers were killed.)
Similarly the enemy is having trouble in recruiting soldiers; prisoners taken recently have, according to French accounts, included boys of sixteen. The number of prisoners has increased of late, indicating lowered enemy morale. Furthermore, deserters from the enemy’s armed forces have recently been running at the rate of about fifty per month, a novel development.
Nevertheless, these favorable developments do not in my opinion add up to any real change in the relative strength of the adversaries or indicate any significant decrease in the enemy’s potential. The French military authorities, however, speak with some optimism and considerable mystery, of favorable prospects during the current fighting season. Several mentioned to me the possibility of “un tournant favorable” in April. They are counting upon making effective use in parachute operations of the important increment of transport planes recently arranged, but I do not get the impression that anyone really expects a decisive development.
4.
The organization of the Vietnamese National Army is proceeding according to schedule but there are officer morale problems.
According to present plans a Vietnamese National Army of eight divisions should be in being by the first of January 1955. These plans are to date being executed according to schedule. There are over 5,000 French officers and noncommissioned officers serving with the Vietnamese forces for purposes of training and leadership. These forces have, I was told, given a good account of themselves in battle especially when led by French officers. They are furthermore performing important duties in connection with internal security.
Concurrently an important increase is being made in the number of home guard troops. Villagers are being supplied with rifles and are being given the responsibility of guarding their villages against Viet Minh attack.
A slow decrease in the number of French or French Union troops in Indochina has been initiated. This may involve as many as 3,000 this year out of a total of 120,000. Vietnamese troops formerly serving with the French army are being transferred quite rapidly to the Vietnamese National Army in spite of a certain reluctance on the part of some of the Vietnamese involved. At the present time on the Franco-Vietnamese side, for every French or French Union soldier there are nearly two and one-half Vietnamese soldiers.
General Salan expressed to me general satisfaction with the progress being made in the creation of the Vietnamese National Army. He said that from the technical point of view there was little difficulty. Manpower both for officers and enlisted personnel is available with suitable physical and mental attainments. The problem, however, in his judgment is one of indoctrinating the Vietnamese officers, who are quick and intelligent, with the spirit of patriotism and self-sacrifice which distinguishes the French professional soldier. General Salan told me that the losses of French officers killed were running at the rate of about one per day during the first six months of this year. There was a decrease in this rate of loss during the rainy season but with the resumption of active fighting, it is going up again. These [Page 292] losses make apparent the difficult role which an officer must play in this type of warfare if he is to give his men effective leadership. On the other hand, during the first nine months of this year only nine Vietnamese officers were killed. Salan stressed that this was not a fair statistical comparison but he did consider it to be an indication of relative morale at the present time.
I am sure that, with our help and with the continuance of the present French training and operations program, the Vietnamese National Army will come into being as scheduled. It will be a political-military force of some importance in the general situation. I am convinced, however, that it will not be able to cope with the Viet Minh unless the force of the Viet Minh is considerably diminished before the date indicated. In fact, if the Viet Minh remains at its present strength, the pull of political magnetism will be in the direction of an absorption of the new national army through some sort of political formula which will in fact reflect a communist victory. There is thus a serious risk that the arms which we have furnished will be turned against us and will contribute to the strength of a new enemy state.
5.
Vietnamese political vitality is improving but remains weak.
There is no question that Prime Minister Tam is an improvement over his predecessor Huu. Tam is a real leader. The present Minister of Defense is also able and energetic. The Minister of Information, Giao, is also said to be a man of ability but his relationships with Tam are said to be such as to greatly curtail his usefulness.
Other members of the cabinet did not make a first-rate impression. They seemed deficient in energy or in the qualities of political leadership so necessary in the present situation. Some are said to be professionally competent.
Generally speaking the Vietnamese Government is very strongly oriented toward France. Four of the cabinet members have European wives. Most of them have had close connections with the French Administration prior to the present war. People with a true nationalist background, i.e., people who may be expected to take a definite role in the new Vietnamese state after the present war are a distinct minority. Symptomatic in this respect is the Chief of the Province of Mytho whom I saw. He has had twenty-eight years of service in the civil administration, was taken over by the Vietnamese Government from the French civil service and looks forward to an early retirement. He is I am sure an able and competent administrator but not a dynamic political force.
The Vietnamese officials with whom I spoke were unanimous in their desire for the complete independence of their country and they expressed-confidence that as soon as the war was over the French would depart leaving the question of Franco-Vietnamese relations [Page 293] to be settled in accordance with the will of the Vietnamese people. They all recognized that without the French army the independence of the country from communism would be unattainable. Yet all these officials stated that they would not have participated in the Vietnamese Government unless they had been sure that the French would leave after the war. (The conversation which I had with former Prime Minister Huu was most disillusioning. He expressed great bitterness over the form of his dismissal and is doing everything he can to draw himself away from the present situation and from the French whom he denounces in the harshest terms. He is also extremely anti-Bao Dai. The fact that this former Prime Minister feels it possible to divorce himself so entirely from the cause with which he was identified is revealing.)
There is a considerable amount of good work being done by the Vietnamese Government. I was impressed with the health and agriculture officials whom I met. I was told that the Gamos are doing an aggressive and intelligent job, but there are not enough of them. The Gamos are groups of generally young Vietnamese men and women who go into liberated villages in order to attend to emergency political, military and administrative requirements. They feed the villagers, root out communists, locate arms caches, set up reliable local administration and home guards and then turn the village over to the regular authorities.
But there is not enough faith and energy on our side. One cannot help feeling that at present the major part of the energy and leadership of Vietnam is either in the enemy camp or waiting on the sidelines to see who is going to win.
The Vietnamese Government has failed, I believe, to draw in a very large number of people from the sidelines. My meeting with the “attentistes” was most discouraging in this respect. These people, mostly intelligent and able members of that bourgeoisie which would be presumably destroyed by the Viet Minh, spoke most emphatically of their distrust of France and of their feeling that France does not intend to relinquish political control of the country after the present emergency. Since France is certainly arming the Vietnamese at an increasing pace and contemplates the early constitution of a wholly Vietnamese officered force and since it should be evident that France is incapable for a much longer period of maintaining the military effort required to hold Indochina, these allegations of lack of confidence in France are really an expression, in my judgment, of doubt as to who is going to win the war.
In summary, at present the Vietnamese political struggle does not have sufficient vitality to promote or to give hope of an acceptable, i.e., a non-communist political solution of the present situation. Such [Page 294] leadership and energy as it displays can often be traced to French sources. The widespread corruption believed to exist at most echelons in the regime contrasts markedly with the reputation for austerity which the Viet Minh has achieved.
It is surprising how easy it is to discuss the political situation in Vietnam without mentioning Bao Dai. Bao Dai‘s failure to take a truly active role in the situation is distressing. Perhaps he may change his tactics on his return to Vietnam after several months in France but no one is very optimistic. The only bright spot politically is the removal of Bao Dai‘s close friend Binh as governor of North Vietnam and his replacement by Tri who is a leader of a party which was formerly of considerable importance from a nationalistic point of view. But even there Tam is said to have been the main architect of the change rather than Bao Dai. I believe that Bao Dai continues to be potentially an important factor but that he is losing ground as a result of his own inactivity and indolence. Is it possible, as someone remarked to me, that the Emperor is the leading “attentiste” in the country?
In summary, the present Vietnamese Government depends for its existence on French armed strength. It will have no effective strength if the French depart leaving the Viet Minh militarily as strong as it is at present.
6.
Doubt as to the ultimate military outcome is the principal factor in the current situation.
At every turn in my examination of the situation in Indochina, I was struck by the degree to which doubt as to the ultimate military outcome exercises a paralyzing effect on developments in the political field which might be favorable to us. The large number of “attentistes” who spoke of lack of confidence in France’s ultimate intentions really lack confidence in the ability of the Franco-Vietnamese forces to defeat the Viet Minh. No reasonable man can have any illusions as to the ability of the French to continue to maintain a colonial relationship with Indochina; they are through and they know it. All this talk about lack of confidence in France’s political intentions really shows lack of confidence in Franco-Vietnamese military capabilities.
I do not claim to know whether in the long run stable non-communist governments can exist on the perimeter of a dynamic Communist China in the absence of clear-cut Western guarantees that external invasion of or internal aggression supported from abroad against these non-communist countries will be met with force. I am confident, however, that a defeat of the present communist forces in Indochina affords the only prospect for the constitution of a really viable and dependable non-communist government in Vietnam. Such a government could be constituted if and when the Viet Minh is militarily [Page 295] diminished to a point where the Vietnamese National Army could match it in the field. Such a government would have to draw upon the talents available in the ranks of the present “attentistes”; it would probably have to throw overboard a number of politicians and officials too closely identified with France. It would in the long run, if it showed political sagacity, draw to itself a number of the non-communist elements which may have been misled or coerced into support of the Viet Minh. It would eventually aspire to become a government of national union; but unless the Viet Minh is defeated in the field the prospect is one of Communist domination of Indochina as soon as the French pull out.
7.
The French approach to the military situation gives ground for apprehension.
I cannot state too emphatically my admiration for the fight which is being waged by the French army and by their Vietnamese allies under most difficult and arduous conditions. I have a very clear impression that the military leaders on our side are using the resources available to them in the most aggressive and combative manner consistent with sound strategy and tactics. They are definitely not resting on their oars.
Nevertheless, from a political point of view there are a number of factors in the thinking of the French civilian element both in Saigon and Paris which seem to me definitely disquieting. These factors may be briefly enumerated as follows:
a)
Opposition to continued expenditure of French manpower and resources in Indochina is growing in France. It is probably not an exaggeration to say that the French Assembly may refuse to vote any more funds to carry on the struggle in Indochina after 1954 or at most 1955. (Chevigne, a member of the French cabinet, is reported to have told Bao Dai that after 1953, France would not continue to support the defense of Vietnam at the present level.) The Assembly may demand the termination of the conflict on a basis which will permit the withdrawal of France’s military and civilian elements from the country. If this is the prospect, and I am afraid that it is, many Frenchmen will argue against conducting military operations other than as holding operations. Why increase the cost in blood and treasure? would be their argument.
b)
The feeling generated among French politicians and officials due to Franco-American exchanges on American aid are not calculated to produce a dynamic approach to military operations in Indochina. When Letourneau arrived in Saigon about October 15, I found him in a petulant and discouraged mood on this score.
c)
It is sometimes argued particularly in French civilian circles that if the French are too successful against the Viet Minh the result will be a Chinese Communist invasion of Indochina. I think this is probably fallacious under present circumstances but I do think that it influences some thinking and perhaps some action.
d)
Then there is a vague Micawberish feeling about a possible improvement in “la situation mondiale”. This improvement would magically change the face of things in Indochina; therefore, why struggle in such a costly fashion there? This argument is indeed a false and dangerous one. It should be obvious that “la situation mondiale”, if there is such a thing, will be influenced only by the political and military progress or lack of it in the various theaters of actual conflict which make up “la situation mondiale”.
e)
It is also alleged from time to time that it is useless for the French army to expand the territory it controls in Indochina as long as the Vietnamese are unable to supply the necessary administrative cadres and security forces to hold this territory against reinfiltration and subversion by the Viet Minh. This argument I think confuses cause and effect. The Vietnamese administrative cadres and security forces will be effective in carrying out their tasks and in securing the cooperation of the local population only to the degree that a confidence in ultimate victory on their side exists. It is doubt on this score which causes the major difficulties with which both the French and Vietnamese are confronted. Under present circumstances, of course, the success of any military operation should be judged not in terms of territory liberated and occupied but in terms of the extent to which it is possible to bring the enemy to combat and to inflict losses upon him.
8.
Recommendation for a bilateral or possibly trilateral re-examination of the military situation in Indochina.
On the basis of the above I believe that improvement in the military situation is the only key to a real improvement of our position in Indochina. In spite of the magnificent work of the French Union Forces I do not believe that that improvement is taking place sufficiently rapidly enough to guarantee us an acceptable position when the French Union Forces withdraw. I believe that unless military progress is accelerated we run the serious risk of finding that a large part of our aid to the Vietnamese Government will fall into the hands of our Communist enemies.
I therefore recommend that as soon as the French raise with us the question of Indochina, presumably in the context of a request for further aid, we propose an immediate high level examination of the military situation with a view to answering the following questions:
a)
Are the military resources and capabilities available or scheduled for our side sufficient to warrant a reasonable hope of a military decision or at least of a situation which the Vietnamese army can handle within the next two years assuming Chinese Communist assistance to the Viet Minh remains on the present scale?
b)
If the answer to (a) is negative, what additional military resources and capabilities would have to be supplied in order to assure a reasonable expectation of a decision or of a marked decrease in Viet Minh strength within the next two years under the conditions stated.
c)
How could the additional capabilities and resources set forth in answer to question (b) be supplied?
I am sure that a great deal of work has been done in Saigon and Paris—and presumably also in the Pentagon—on the above questions. ButI am not aware that there has been any high level bilateral coordination of views.
It is possible that the above study might produce a negative result. If it did, we would at least know where we were and would be able to make plans accordingly; but I should think there would be a strong probability that we might get some sort of a practical answer from the military. It seems clear that if large numbers of additional ground forces are required, the US would not be in a position politically or perhaps militarily to furnish them. They would have to come from France. This would present a grave political problem for the French Government. We would have to step up our assistance heavily in all types of equipment and perhaps help transport troops to Indochina. SHAPE would probably yell its head off. But I can hardly believe that the forces needed to secure a military decision in Indochina would, for the limited time they would have to be absent from Europe, be a decisive factor in the defense of Western Europe against a Soviet invasion or that during the time contemplated a German army of any size or effectiveness would be created. Furthermore, the reaching of a military decision in Indochina would immediately relieve the French army of a great burden and permit it to play its part in Western Europe. I recognize, however, that a requirement for further ground troops in an amount of, say, more than two divisions, would raise very serious problems.
It is possible, however, that the military examination which has been suggested would reveal that the striking power and mobility of the forces presently in Indochina could be greatly stepped up through increased air power and perhaps the provision of special weapons not currently used there. I know that it is the feeling of some elements of our MAAG in Saigon that the French have not provided adequate aircraft personnel (both crews and maintenance people) to get the best possible use of the aircraft already in the country. The provision of additional transport planes which was arranged for this fall has very greatly increased the mobility of the French forces and their ability to conduct parachute operations without any very important increment of manpower. It may well be that the military will come up with some new constructive ideas of this kind.
The question arises whether the British should be invited to the proposed military discussions between ourselves and the French. I am of the opinion that they should be invited because of their interest in the general area and because of the possibility that they could contribute constructive ideas and perhaps even make certain arms and equipment available to the French. The Australians and the New [Page 298] Zealanders should presumably also be invited for the same reasons. I do not think that we should contemplate any qualitative change in the forces currently engaged in Indochina, i.e., the introduction of British, American or Chinese Nationalist troops.
In addition, I recommend that consideration be given to having the incoming President make a statement as soon as possible regarding the importance of the Indochina struggle. (I have already addressed a memorandum to Mr. Allison on this subject)4 We should also give further consideration to the French proposal of a tripartite statement regarding the intentions and objectives of the United States, the United Kingdom and France in Southeast Asia. Such a statement might have distinct possibilities of usefulness.
But the major requirement of the present situation is a serious reexamination of the military situation and prospects. It is probable that the results of such a re-examination could not be available and implemented in time to influence the conduct of operations during the current fighting season which will end in May of 1953, but they should be of definite value in the next season beginning in October, 1983.
A failure to secure a clear military view of prospects and possibilities for our side and to reach decisions in consequence would be most unfortunate in view of the fact that time is definitely not on our side.
1. Frederic P. Bartlett, First Secretary of the Embassy at Saigon; Chief of the Mutual Security Agency Mission.↩
2. John E. Pickering, Information Attaché at Saigon.↩
3. Col. Emons B. Whisner, Deputy Chief of the U.S. Military Assistance Advisory Group at Saigon.↩
4. Not identified.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d136
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_288
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_289
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_290
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_291
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_292
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_293
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_294
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_295
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_297
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_298
Allison, John M.,
Acting Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs, to January 31, 1952; Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs, February 1, 1952–April 7, 1953; Ambassador in Japan from May 28, 1953.
https://en.wikipedia.org/wiki/John_M._Allison
https://grokipedia.com/page/John_M._Allison
https://search.library.wisc.edu/digital/A2LWVT7DTTEDZP8W/pages/ACDCHMPAAPPKTS8N?as=text&view=scroll
https://www.trumanlibrary.gov/library/truman-papers/harry-s-truman-paperspresidents-secretarys-files
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v14p2/d747
https://apjjf.org/2022/10/inoue
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v12p1/d281
Chief of State of Vietnam.
Bonsal, Philip W.,
Counselor of Embassy in France to March 1952; Director of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs, Department of State, from August 1952.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/persons
https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1954-03-march_0.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d223
https://www.jaas.gr.jp/jjas/pdf/1981/No.01-119.pdf
Commander of French Union Land Forces in Northern Vietnam, 1953–1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Ren%C3%A9_Cogny
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d455
https://vvaveteran.org/32-4/dienbienphu-french.html
https://time.com/archive/6609187/foreign-news-delta-general/
https://todayinhistory.blog/2018/11/30/november-30-1953-dien-bien-phu-3/
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d751
https://davidwinch.website/dien-bien-phu-losing-viet-nam-1954/
https://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Dien_Bien_Phu
De Lattre De Tassigny, Général d’Armée Jean,
French High Commissioner and Commander of French Forces in Indochina, December 1950–November 1951; died January 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_de_Lattre_de_Tassigny
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d8
https://www.britannica.com/biography/Jean-de-Lattre-de-Tassigny
https://ww2db.com/person_bio.php?person_id=738
Heath, Donald R.,
Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath
https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/
Letourneau, Jean,
French Minister in Charge of Relations with the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner in Indochina, April 1952–July 19, 1953.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53
https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html
Ngo Dinh Diem,
President of the Council of Ministers of the State of Vietnam to October 1955; thereafter President and Chief of State of the Republic of Vietnam
https://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Dinh_Diem
https://millercenter.org/the-presidency/educational-resources/diem-coup
https://www.jfklibrary.org/search?f[0]=subject:Vietnam%20War,%201961-1975
The Diem Coup audio
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/sets/the-diem-coup
February 1, 1966: President Johnson remembers Diem coup (admitted) to Eugene McCarthy
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/february-1-1966-president
November 4, 1963: President Kennedy on the Diem coup
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/november-4-1963-president-kennedy-on-the-diem-coup
NHỚ LẠI NHỮNG NGÀY Ở CẠNH TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM (Full) - Tài Nguyễn Diễn Đọc
https://www.youtube.com/watch?v=sWTTgB7oE6U&t=6927
Một phụ nữ miền Bắc viết về cố TT Ngô Đình Diệm.
https://www.youtube.com/watch?v=UMEkUQRp01o
"The Death of Diem and Nhu"
https://www.youtube.com/watch?v=U8O1HOTXS8A
"The Coup in Saigon"
https://www.youtube.com/watch?v=k4IaJYiNanc
"Everybody'll Say We Did It"
https://www.youtube.com/watch?v=Jaai1NdZ70k
"We Have Plans for Withdrawal"
https://www.youtube.com/watch?v=0BABdRu7FY0
"The Road to Disaster"
https://www.youtube.com/watch?v=dr5dRFVV-ok
https://www.youtube.com/channel/UChty22qJfdeAd8dAee9Mo7g/featured
“The President Is Dead”
https://www.youtube.com/watch?v=lD-akTUBFWs
“That Wasn't What Killed Kennedy”
https://www.youtube.com/watch?v=LAF0JGttS3E
Kennedy and Vietnam: The great what-if
https://www.youtube.com/watch?v=6XLhqXt2pww
JFK, LBJ and the Paradox of Vietnam
https://www.youtube.com/watch?v=TYRsahM-GqQ&t=2054
BÀI 305: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA
http://www.bacaytruc.com/index.php/16996-bai-305-nhin-l-i-l-ch-s-d-nh-t-c-ng-hoa-tac-gi-vu-linh-ddtc
BÀI 306: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA
https://diendantraichieu.blogspot.com/2023/11/bai-306-nhin-lai-lich-su-e-nhi-cong-hoa.html
BÀI 307: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: VAI TRÒ CỦA MỸ
http://www.bacaytruc.com/index.php/17092-bai-307-nhin-l-i-l-ch-s-vai-tro-c-a-m-tac-gi-vu-linh-ddtc
JFK and the Diem Coup
https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB101/
Evidence on the Diem Coup in South Vietnam 1963
https://www.tokyoprogressive.org/evidence-on-the-diem-coup-in-south-vietnam-1963/
Tập 1 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=2CJ1CXSWwpI
Tập 2. Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=Po5Hlbfk6Zc
Tập 3 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=vdluTn-L8sc
Tập 4 : Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=p58HIMAy_Hg
Tập 5 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=ti24AXG12YE
Tập 6 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=LB0xpBPX9UI
Tập 7 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=Rvv0ze1mG_8
Tập 8 - Đời một Phóng Viên và Những ngày chung sống với Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=Ht1u6A62KXk
Tập 9 - Đời một Phóng Viên và những ngày chung sống với Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=bcZZ9O5cwgA&t=18s
Tập 10 - Đời một Phóng Viên & Những ngày chung sống với Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=bgJnv7kALSA
Interview with Madame Ngo Dinh Nhu, 1982
https://video.alexanderstreet.com/watch/interview-with-madame-ngo-dinh-nhu-1982
Tài liệu cộng sản giặc Hồ xuyên tạc Tổng thống Diệm và quân đội Mỹ
https://sachhiem.net/LICHSU/N/NgoDacTriet.php
https://sachhiem.net/LICHSU/IMG/NGODD/1961XinQuanMy.jpg
Nguyen Huu Tri,
Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet (Vietnamese political party).
Nguyen Van Tam,
Minister of the Interior of the State of Vietnam and Acting Governor of Northern Vietnam to June 3, 1952; Prime Minister of the State of Vietnam, June 3, 1952–December 17, 1953.
Diplomatic Counselor to the French High Commissioner in Indochina, 1952–1953; Deputy Commissioner-General, 1953–1954; French Ambassador in Thailand from May 1954.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48
https://search.library.wisc.edu/digital/ABHSHVCERGRA6I86/pages/AVDVZOKLBD6EGZ82?as=text&view=scroll
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/persons
https://search.library.wisc.edu/digital/AO2WVLY2YVFBWI8B/pages/AP6OH63ZF3MU2E84?as=text&view=scroll
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d292
https://legal.un.org/legislativeseries/pdfs/volumes/book14.pdf
https://eprints.soton.ac.uk/424345/1/LIBRARY_COPY_FERGUSON_PhD_Thesis.pdf
https://anyflip.com/mhnd/wfad/basic/351-400
Deputy Prime Minister of the State of Vietnam, 1952; Governor of Central Vietnam, 1953–1954.
Salan, Général Raoul,
Commander of French Forces in Indochina, April 1, 1952–May 1953.
https://en.wikipedia.org/wiki/Raoul_Salan
https://www.britannica.com/biography/Raoul-Albin-Louis-Salan
https://www.britishpathe.com/asset/219896/
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d21
http://saigon-vietnam.fr/raoul-salan_en.php
https://foreignlegion.info/1952-battle-of-na-san/
https://grokipedia.com/page/Raoul_Salan
https://historfiction.fandom.com/wiki/Raoul_Salan
Sturm, Paul J.,
Member of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs, Department of State.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48
https://adst.org/OH%20TOCs/Kattenburg,%20Paul.toc.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/comp2
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d161
https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1952-05-may_0.pdf
https://www.jstor.org/stable/24911759
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d136
Thống đốc Nam Kỳ. Governor of Cochin China. Prime Minister of Vietnam to June 3, 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%E1%BB%AFu
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d279
https://vietnamproject.archives.msu.edu/objects/159-547-2488/
Trapnell, Thomas J. H.,
Major General, Chief of the United States Military Assistance Advisory Group in Indochina, August 1952–February 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Thomas_J._H._Trapnell
https://valor.militarytimes.com/recipient/recipient-22747/
https://alumni.westpointaog.org/memorial-article?id=43659d74-1c8e-4252-a8d4-f2b73b491be0
https://apps.dtic.mil/sti/pdfs/ADA324510.pdf
Vo Nguyen Giap,
General, People’s Army of Vietnam, Defense Minister, Democratic Republic of (North) Vietnam, Vice Premier for Defense, Democratic Republic of Vietnam
No comments:
Post a Comment