20260506 CDTL HST D553 23 August 1950 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d553
Google Translated
Tài liệu 553
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1950, Đông Á và Thái Bình Dương, Tập VI
751G.5/8–2350: Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao.
Tối mật
Sài Gòn, ngày 23 tháng 8 năm 1950 — 9 giờ tối
265. Dành riêng cho Ngoại trưởng Rusk và Lacy. Không phổ biến. Điện số 846 từ Paris, ngày 17 tháng 8 gửi Bộ Ngoại giao. Quyết định quan trọng của ông Pleven về việc thúc đẩy thành lập quân đội quốc gia Việt Nam đã trùng hợp với [Trang 865] cuộc khảo sát sơ bộ của Phái bộ về các điều kiện dành cho viện trợ của Mỹ cho Đông Dương sau Chiến tranh Triều Tiên. Những kết luận của chúng tôi về các nét đại cương như sau:
1. Kể từ khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, ngày càng trở nên rõ ràng rằng viện trợ kinh tế và quân sự dành cho Đông Dương sẽ — và cần phải — được thực hiện trên quy mô lớn hơn so với kế hoạch ban đầu. Mối đe dọa đối với Việt Nam đang hiện rõ nét hơn bao giờ hết trước sự tập trung quân đội Việt Minh trên đất Tầu. Phái đoàn khảo sát chung thuộc Chương trình Viện trợ Quốc phòng (MDAP) tuy chưa đưa ra các khuyến nghị cuối cùng, nhưng rõ ràng đã dự kiến việc mở rộng quy mô viện trợ quân sự. Các kế hoạch tái vũ trang cho quân đội Pháp tại châu Âu nhất thiết phải bao hàm việc gia tăng tương ứng số lượng binh sĩ người Việt được vũ trang tại Đông Dương, song hành với quá trình tái bố trí các đơn vị quân Pháp. Viện trợ của Hoa Kỳ sẽ được huy động để tài trợ và trang bị cho các đơn vị mới này.
2. Quy mô viện trợ của Hoa Kỳ như hiện đang được dự kiến sẽ làm thay đổi quan niệm cho rằng viện trợ của chúng ta chỉ mang tính "hổ trợ" chứ không "thay thế" vai trò của Pháp—đặc biệt là trong trường hợp viện trợ này đi kèm với việc điều chuyển quân đội Pháp về châu Âu. Những kinh nghiệm mà chúng ta đã rút ra được tại Trung Hoa Dân Quốc và Philippines cho thấy chúng ta không nên cam kết bất kỳ khoản chi tiêu đáng kể nào khi chưa thực sự tin tưởng rằng các hoạt động quân sự, công tác hành chính và chính sách của phía Pháp cũng như phía Việt (cùng Campuchia và Lào) sẽ phục vụ một cách hiệu quả cho các mục tiêu chung: nhanh chóng dập tắt cuộc nội chiến do phe Cộng sản phát động tại Đông Dương, đồng thời kiến tạo nên những chính quyền Đông Dương thịnh vượng, tiến bộ và ổn định. Chúng ta không nên đưa ra bất kỳ cam kết mới đáng kể nào cho đến khi có sự đồng thuận giữa họ và chúng ta, và trừ khi chúng ta được bảo đảm về các phương tiện để làm cho lời khuyên của chúng ta liên tục có hiệu quả. Pháp phải tiếp tục gánh vác phần lớn gánh nặng tài chính cho các quốc gia Đông Dương và các hoạt động quân sự, và tất nhiên sẽ có tiếng nói lớn nhất trong bất kỳ biện pháp kiểm soát nào, nhưng ảnh hưởng của chúng ta cũng phải được cảm nhận không chỉ thông qua sức hút của chương trình viện trợ mà còn thông qua sự tham gia thực tế vào một số biện pháp kiểm soát và đẩy nhanh một số nhượng bộ của Pháp. Sự tham gia như vậy sẽ được Việt Nam và các quốc gia khác trong cộng đồng Đông Dương hoan nghênh.
3. Chẳng hạn, liên quan đến việc thành lập một quân đội quốc gia Việt Nam—vấn đề vốn đã được ông Pleven gắn liền với viện trợ của Hoa Kỳ—Phái bộ tin rằng chúng ta cần phải xác minh rõ ý định của phía Pháp, cũng như bày tỏ quan điểm của mình trước khi viện trợ được gia tăng hay bất kỳ cam kết nào được đưa ra. Ý kiến tư vấn của chúng ta về các kế hoạch tác chiến cần được tham khảo và thực tập. Chúng ta cần đóng góp ý kiến về công tác tổ chức, huấn luyện quân đội, cũng như việc thăng quân hàm cho các sĩ quan cấp cao người Việt. Viện trợ của Hoa Kỳ gây ra những tác động sâu rộng đối với tình hình tài chính của Chính phủ Đông Dương; do đó, chúng ta cần tham gia—dù là một cách chính thức hay không chính thức—vào công tác hoạch định tài chính. Cần phải tiến hành ngay lập tức việc chia sẻ và phối hợp đồng thời các cơ chế thu thập, xử lý tình báo. Chúng ta cần đưa ra các khuyến nghị về công tác tuyên truyền và chiến tranh chính trị, đồng thời cần cải thiện hình ảnh và công tác quan hệ công chúng cho Quốc trưởng Bảo Đại.
4. Về các nhượng bộ từ phía Pháp, chúng tôi đồng ý rằng bước đi hiệu quả và mang lại kết quả tức thì nhất chính là việc thành lập một quân đội quốc gia Việt Nam. Quyết định đẩy nhanh tiến độ thành lập lực lượng này của ông Pleven là một động thái vô cùng đáng hoan nghênh, mặc dù song song với đó, ông cũng đang cân nhắc việc rút bớt một phần quân đội Pháp khỏi khu vực này. Nếu được tận dụng và tuyên truyền một cách nhanh chóng, quyết định này có thể tạo ra một sự cải thiện thực chất đối với tình hình chính trị - quân sự nội bộ tại Đông Dương. Nếu được triển khai đúng hướng, nó sẽ mở ra lối thoát khỏi tình thế nguy hiểm hiện nay—vốn đang rơi vào bế tắc chính trị và sự trì trệ về mặt quân sự. Hơn nữa, động thái này cũng có thể giúp thuyết phục những người còn hoài nghi về sự chân thành trong ý định của Pháp đối với việc trao trả nền độc lập hoàn toàn cho các nước này.
Việc gia tăng quân số phía Việt Nam cần phải diễn ra với quy mô lớn hơn nhiều và tốc độ nhanh hơn hẳn so với việc cắt giảm lực lượng Pháp [Trang 866] và nếu được huấn luyện cũng như kiểm soát đúng mức, lực lượng này có thể sớm trở thành một chướng ngại kiên cố hơn nhiều so với hiện tại, nhằm ngăn chặn cuộc xâm lược của phe Cộng sản vào Đông Dương. Đối với phái đoàn Melby—cũng như đối với chính chúng tôi, điều này ngày càng trở nên hiển nhiên—rằng cuộc nổi dậy của Việt Minh không thể bị dập tắt nếu thiếu đi sự gia tăng đáng kể về cả lực lượng cảnh sát lẫn quân đội. Hiện tại, phía Pháp không thể tăng cường thêm quân số của họ tại đây; do đó, sự gia tăng này buộc phải đến từ các lực lượng địa phương.
5. Cần lưu ý tại đây rằng báo cáo cùng các khuyến nghị của Melby-Erskine cần phải được nghiên cứu lại, sửa đổi và mở rộng một cách căn bản. Mặc dù thừa nhận sự cần thiết phải đưa thêm người Việt vào hàng ngũ quân đội, nhưng khoản viện trợ quân sự được báo cáo này đề nghị lại hầu như không có bất kỳ sự bố trí nào nhằm mở rộng lực lượng Việt vượt quá mức đã được dự kiến từ trước Chiến tranh Triều Tiên; đồng thời, cũng không có bất kỳ khuyến nghị cụ thể nào được đưa ra đối với quân đội Việt Nam.
6. Pháp phải làm rõ rằng họ đang thành lập một đội quân Việt Nam thực sự, sau một thời gian huấn luyện nhất định, khoảng ba đến bốn năm, sẽ nằm dưới sự chỉ huy độc lập của Việt Nam. Trong thời gian huấn luyện, dĩ nhiên bộ chỉ huy cấp cao và cấp trung phải là người Pháp. (Về vấn đề này, sẽ rất hữu ích nếu Paris có thể nêu rõ đề nghị của Pleven và nếu có thể, cả ý định hiện tại của Bảo Đại.)
7. Việc đẩy nhanh công tác tuyển mộ lực lượng địa phương sẽ đòi hỏi một khoản đóng góp tài chính gia tăng—điều mà Pháp (theo suy đoán) và chắc chắn là các quốc gia thuộc Liên bang Đông Dương (IC) hiện không đủ khả năng chi trả; hơn nữa, chương trình viện trợ quân sự của chúng ta dành cho Liên bang Đông Dương cũng chưa từng dự trù khoản hỗ trợ tiền mặt trực tiếp như vậy. Chúng ta nên cấp khoản hỗ trợ trực tiếp này trong thời hạn hai năm, hoặc lâu hơn nếu cần, nếu chúng ta thực sự mong muốn đạt được những kết quả thiết thực tại Liên bang Đông Dương. Nếu trong khoảng thời gian đó, lực lượng Pháp cùng các lực lượng địa phương đã được mở rộng quy mô thực sự có thể dập tắt cuộc nổi dậy tại vùng hạ lưu sông Mekong, thì sau đó, phía Việt Nam và Campuchia có thể sẽ đủ khả năng tự chi trả lương cho các lực lượng tăng cường này bằng chính nguồn thu nhập gia tăng của họ. Phần lớn thặng dư xuất khẩu—vốn thường rất lớn—của Liên bang Đông Dương đều bắt nguồn từ chính khu vực này.
8. Mặc dù việc thành lập một quân đội quốc gia dường như là sự nhượng bộ quan trọng nhất và khả thi nhất mà phía Pháp có thể thực hiện ngay lúc này, chúng tôi tin rằng vẫn còn nhiều biện pháp chính trị thứ yếu khác có thể và cần được triển khai—những biện pháp này không nhằm đi chệch khỏi, mà chính là nhằm thực thi các Hiệp định ngày 8 tháng 3. Theo quan điểm của chúng tôi, để đạt được hiệu quả chính trị tại đây, việc công bố kế hoạch tăng cường lực lượng quốc gia Việt Nam cùng các hành động đi kèm cần phải được song hành với một loạt các biện pháp thực thi nói trên; những biện pháp này cần được tuyên truyền một cách thuyết phục như là một "thỏa thuận mới dành cho Việt Nam". Một sự nhượng bộ khác từ phía Pháp—vốn đã đến lúc phải thực hiện—chính là việc bàn giao Dinh Cao ủy cho Bảo Đại. Giờ đây cũng có thể là thời điểm thích hợp để Pháp xúc tiến việc đề cử Việt Nam, Campuchia và Lào gia nhập Liên Hợp Quốc.
9. Những nhượng bộ này có thể đòi hỏi phải có những thay đổi về nhân sự. Chúng tôi còn hoài nghi liệu Tướng Carpentier có phải là người thích hợp để triển khai chính sách đẩy nhanh việc xây dựng một Quân đội Việt hay không. Sự thiếu tin tưởng của ông đối với người Việt—cả với tư cách là binh sĩ lẫn quan chức—hoàn toàn trái ngược với thái độ của Tướng Alessandri, vị chỉ huy tại miền Bắc; ông Alessandri lại khá được người Việt yêu mến và kính trọng, đồng thời cũng là người đã chủ trương tăng cường lực lượng dân quân người Việt tại khu vực do mình phụ trách.
10. Về phía những nhượng bộ từ phía Việt Nam, các bước này cần được khởi đầu bằng việc Bảo Đại bước ra khỏi sự ẩn mình theo lối phương Đông, để công khai bày tỏ sự quan tâm đến phúc lợi của thần dân cũng như công tác quản lý quốc gia của mình. Cũng đã đến lúc—hoặc sẽ sớm đến lúc—cần bắt đầu thực hiện những bước sơ khởi nhằm thiết lập các cơ quan lập pháp của Việt Nam. Tuy nhiên, một điều hiển nhiên là vào thời điểm hiện tại, các cơ quan này chưa thể mang tính đại diện cho toàn quốc, và việc [Trang 867] lựa chọn nhân sự ban đầu cũng chưa thể dựa trên cơ sở quyền bầu cử phổ thông không giới hạn. Ngoài ra, Bảo Đại cũng không nên phản đối việc để cho Pháp và Hoa Kỳ cùng tham gia kiểm soát công tác thu thuế vốn đang diễn ra chậm trễ tại Việt Nam.
11. Các chính sách và chương trình của những quốc gia quan tâm chủ yếu đến Đông Dương đã được hoạch định từ trước cuộc xâm lược Triều Tiên. Tất cả các chính sách và chương trình này dường như đang trải qua một quá trình đánh giá lại, mà cách tiếp cận mới của Pleven là một minh chứng quan trọng. Các cuộc thảo luận tại Pau, cùng những cuộc đàm phán mà phía Pháp đang tiến hành với Bảo Đại và các nhà lãnh đạo Việt Nam, cũng sẽ tác động đến tương lai của Đông Dương.
12. Chúng tôi tin rằng thời điểm để tiến hành rà soát các vấn đề tại Đông Dương đã thực sự đến, và việc này sẽ là thích hợp nhất nếu được thực hiện tại Hội nghị Ngoại trưởng sắp tới—trong trường hợp hội nghị này được tổ chức sớm. Chúng ta cần đi sâu phân tích toàn diện các chính sách của Pháp-Việt, đồng thời đưa ra những ý tưởng của mình cho một chương trình hành động cụ thể. Riêng nguồn viện trợ bằng đồng đô la Mỹ có lẽ sẽ không mang lại cho Hoa Kỳ đầy đủ mức độ ảnh hưởng đối với các vấn đề Pháp-Việt như tình hình hiện tại đòi hỏi. Theo nhận định của chúng tôi lúc này—hơn bao giờ hết—việc sớm tổ chức các cuộc tham vấn chiến lược cấp cao nhất giữa Hoa Kỳ, Anh và Pháp về khu vực Đông Nam Á là điều hoàn toàn thiết yếu, và các cuộc tham vấn này cần được bổ trợ bằng những hội nghị thường xuyên giữa các bên tại ngay chính khu vực này.
Đã gửi về Bộ số 265; gửi bản sao tới Paris số 224.
Heath.
List of abbreviations and symbols
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp1
1. Document 553
Foreign Relations of the United States, 1950, East Asia and the Pacific, Volume VI
751G.5/8–2350: Telegram
The Minister at Saigon (Heath) to the Secretary of State
top secret
Saigon, August 23, 1950—9 p. m.
265. Personal for Secretary Rusk and Lacy. No distribution. Paris 846, August 17 to Department. Pleven’s important decision press for formation of Vietnam national army has coincided with Legation’s [Page 865] preliminary survey of conditions for American aid to IC following the Korean war. Our conclusions on broad lines are as follows:
1.
Since the Korean war began it has become increasingly evident that economic and military aid to IC will and should be on a larger scale than originally programmed. The threat to Vietnam is assuming sharper outline with the concentration of Viet Minh troops in China. The MDAP joint survey mission has not made its final recommendations but it clearly envisions expanded military aid. Plans for French rearmament in Europe must involve at least a compensation increase in the number of Viets under arms in IC as French units are redeployed. US aid will be invoked to finance and equip the new units.
2.
American assistance on the scale now in sight will modify the concept that our aid merely “supplements” but does not “supplant” the French especially if it is accompanied by redistribution of French troops to Europe. Our experiences in Nationalist China and the Philippines suggest that we should not commit ourseleves to any substantial expenditures without being satisfied that French and Viets (and Cambodian and Laotian) operations, administration and policies will effectively serve the common aims of rapid extinction of Communist civil war within IC and building up of prosperous progressive and stable Indochinese governments. We should make no substantial new commitment until there is agreement between them and ourselves and unless we are assured of the means of making our advice continuously effective. The French must continue to bear the greater burden in financing the Indochinese states and military operations and will of course have here the greatest voice in any control measures but our influence must also be felt not only through the gravitational pull of our aid program but in actual participation in certain controls and in accelerating certain French concessions. Such participation will be welcomed by the Vietnamese and other IC states.
3.
For example with reference to the creation of a Vietnam national army, which has already been linked with US aid by Pleven, Legation believes we must ascertain French intentions and express our views before aid is increased or any commitments given. Our advice on war plans should be sought and heeded. We should give our views on organization and training of army and advancement of senior Viet officers. US aid has such repercussions on Indochinese Government financing that we should participate officially or unofficially in fiscal planning. There should be an immediate sharing and synchronization of intelligence arrangements. We should advise on propaganda and political warfare and should improve Bao Dai’s public relations.
4.
As to concessions by the French we agree that the most fruitful and immediate should be creation of the Viet national army. Pleven’s decision to accelerate its formation is a most welcome one even though he contemplates at the same time some withdrawal of French forces here. This decision, quickly exploited and publicized, could effect a very real improvement in the internal political-military situation in IC. Properly developed it would point way out of dangerous situation of political impasse and inconclusive military progress. It might also help convince the doubters of the honesty of French intentions to grant them full independence. The increase in Viet troops should be very much larger and more rapid than the reduction in French forces [Page 866] and with proper training and control of the former the obstacle to Communist invasion of IC might shortly be a more imposing one than now exists. It was evident to Melby mission as it has been increasingly to us that the Viet Minh revolt cannot be extinguished without a very considerable increase in police and troops. The French cannot now increase their forces here. The increase must come from native forces.
5.
It may be remarked here that the Melby-Erskine report and recommendations must be substantially restudied, revised and extended. Although recognizing need for getting more Viets under arms, the military aid recommended by the report make practically no provision of an expansion in Viet forces beyond level envisaged pre-Korea nor is any concrete recommendation made with respect to Viet army.
6.
The French must make very clear that it is a true Viet army they are forming which after a specified training period, say three to four years, will be under independent Viet command. During the training period the high and intermediate command of course must be French. (In this connection it would be appreciated if Paris could specify just what Pleven has proposed and if possible what Bao Dai now has in mind.)
7.
An accelerated recruiting of Viet forces will require an increased financial contribution which presumably France and certainly the IC states are not at present able to make nor has our military aid program contemplated for IC such direct cash assistance. We should grant such direct assistance for a period of two years or longer if we want real results in IC. If within that period French and enlarged native forces could really stamp out the rebellion in the lower Mekong region, the Viets and Cambodians might thereafter be able to meet the pay of the augmented forces from their own increased revenues. The bulk of the normally great IC export surplus comes from this region.
8.
Although the creation of a national army appears to be most important immediately feasible French concession, we believe that there are many secondary political measures which can and should be taken and which should constitute not departure from but implementation of the March 8 accords. As we see it in order to be politically effective here, announcement of an increase in Viet national forces and related action should be accompanied by a number of those implementing measures which should be convincingly publicized as “new deal for Vietnam”. Another French concession now fully due would be to turn over the High Commissioner’s palace to Bao Dai. Now may also be time for French to bring forward candidacy of Vietnam, Cambodia, and Laos for UN.
9.
These concessions may require changes in personnel. We have reservations whether General Carpentier would be the man to put through a policy of rapid formation of a Viet Army. His distrust of the Viets as soldiers and officials is in contrast with the attitude of General Alessandri, commander in the north who is rather liked and respected by Viets and who has advocated increasing Viet militia forces in his region.
10.
As regards Viet concessions, these should begin with Bao Dai emerging from Oriental seclusion and publicly interesting himself in the welfare of his subjects and the administration of his state. It is also high time or shortly will be, to make some kind of start towards setting up Viet legislative bodies. It is however apparent that such bodies could not at this time be nationally representative nor could [Page 867] initial selection be on basis of unrestricted suffrages. Bao Dai should also not object to some Franco-American control over the dilatory fiscal collections of Vietnam.
11.
The policies and programs of the nations chiefly interested in IC were framed prior to the Korean invasion. All of them seem to be undergoing some reassessment of which Pleven’s new approach is an important illustration. The discussions at Pau and the conversations which the French are holding with Bao Dai and Viet leaders will also affect the IC future.
12.
We believe the time has now come for a review of IC affairs, appropriately at next Foreign Ministers conference if one to be held at an early date. We should go fully into Franco-Viet policies and give our ideas for a program. US dollar aid alone may not give US all that leverage on Franco-Viet affairs which the situation requires. It now seems to us more than ever indispensable that there should be early strategic US-UK-French conversation on SEA at the highest levels supplemented by frequent theater conferences.
Sent Department 265, repeated Paris 224.
Heath.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d553
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_865
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_866
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_867
Thân thế (các) nhân vật
Harry S. Truman
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_presidents_of_the_United_States
https://www.whitehousehistory.org/the-presidents-timeline
https://en.wikipedia.org/wiki/Harry_S._Truman
https://millercenter.org/president/truman/life-in-brief
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://www.trumanlittlewhitehouse.org/key-west/president-truman-biography
https://www.trumanlibrary.gov/education/trivia/biographical-sketch-harry-truman
No comments:
Post a Comment