20260508 CDTL HST DDE D117 26 September 1952 Điện tín từ Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d117
Google Translated
Tài liệu 117
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
751G.00/9–2652: Điện tín từ Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.
Mật
Sài Gòn, ngày 26 tháng 9 năm 1952 — 7 giờ tối
673. Thông tin báo cáo từ Hà Nội (chưa rõ nguồn). Liên quan đến Điện tín số 569 của Bộ Ngoại giao ngày 15 tháng 9 (đã được báo cáo từ Hà Nội), Đại sứ quán đánh giá Điện tín số 163 từ Hà Nội gửi Bộ ngày 20 tháng 9 [19] là một bản tóm tắt xuất sắc về tình hình tại Bắc Việt Nam, đồng thời hoàn toàn đồng ý với nhận định được nêu trong đoạn cuối của điện tín đó. Các nhận định dưới đây trình bày quan điểm của chúng tôi về tình hình tại Nam và Trung Việt Nam.
Các báo cáo trong vài tháng qua cho thấy sự suy thoái rõ rệt về điều kiện kinh tế tại các vùng do Việt Minh kiểm soát, cũng như sự mệt mỏi của cả người dân lẫn cán bộ đối với cuộc đấu tranh cách mạng. Các dữ liệu thu thập được chỉ ra rằng Cơ quan An ninh Việt Minh tại miền Nam Việt Nam đang phải chật vật đối phó với tình trạng đào ngũ ngày càng gia tăng trong hàng ngũ cán bộ, cũng như việc cất giấu vũ khí tại những khu vực đang chịu sự đe dọa từ các chiến dịch quân sự của Pháp nhằm né tránh giao tranh; chỉ huy vùng phía Tây của Việt Minh đã than phiền rằng ông không thể tổ chức lực lượng kháng cự chống lại các chiến dịch quân sự phối hợp của Pháp do thiếu tinh thần chiến đấu trong quân chủ lực và thái độ hờ hững của lực lượng dân quân.
Các thông tin tương tự cũng được cung cấp bởi... Khi lật giở hồ sơ các báo cáo gần đây, ... đã trích dẫn nhiều đoạn văn cho thấy tinh thần sa sút do những khó khăn về kinh tế (đặc biệt là tình trạng thiếu lương thực, thuốc men và quần áo), nỗi sợ hãi trước các cuộc oanh tạc từ trên không, nỗi nhớ da diết dành cho người thân, bạn bè cùng quê hương bản quán, cũng như sự bất mãn đối với các khoản thuế nặng nề và sự kìm kẹp hà khắc của chế độ Cộng sản. Việc các cống đập và công trình thủy lợi khác bị phá hủy bởi các cuộc oanh tạc trên không đã khiến ruộng lúa khô cạn, gây ra những khó khăn to lớn... Báo cáo cũng cho biết tình hình an ninh tại các thành phố và thị trấn đã được cải thiện đáng kể; nguyên nhân được cho là do Việt Minh gặp khó khăn trong việc tuyển mộ người thực hiện [Trang 260] các hành vi khủng bố, cũng như thực tế là người dân hiện nay đã bớt sợ hãi Việt Minh hơn trước. ... cho biết thêm rằng, trong khi trước đây vào các ngày lễ của Việt Minh, giới chủ cửa hàng thường tỏ ra e dè khi mở cửa kinh doanh, thì nay họ hầu như không còn chút do dự nào nữa. Tình trạng giảm sút cả về nỗi sợ hãi lẫn sự cảm tình dành cho Việt Minh cũng đã được phía Việt Nam báo cáo lại với các viên chức của Đại sứ quán.
Những minh chứng về các khó khăn đang hiện hữu tại các vùng do Việt Minh kiểm soát xuất phát chính từ đài phát thanh của Việt Minh; ví dụ gần đây nhất là thông điệp của Hồ Chí Minh gửi tới miền Nam Việt Nam vào ngày 23 tháng 9 (1952), nhân dịp kỷ niệm bảy năm ngày khởi đầu cuộc "kháng chiến" tại miền Nam. Trong thông điệp này, bên cạnh lời hứa về thắng lợi, ông Hồ cũng đề cập rằng cuộc đấu tranh kháng chiến sẽ kéo dài; đồng thời, khi ám chỉ đến những gian khổ đang phải đối mặt, ông khẳng định rằng khó khăn càng lớn thì nỗ lực càng phải cao, và trích dẫn một câu tục ngữ với hàm ý rằng sức mạnh và ý chí của con người được tôi luyện qua nghịch cảnh.
Do phần lớn thông tin liên quan đến điều kiện sống tại các vùng do Việt Minh kiểm soát được thu thập từ những người đào ngũ—những cá nhân vốn có xu hướng tô vẽ một bức tranh ảm đạm nhằm làm hài lòng các quan chức Pháp và Việt Nam đang thẩm vấn họ, cũng như để giải thích cho việc họ rời bỏ hàng ngũ—nên các báo cáo này cần được tiếp nhận một cách thận trọng. Tuy nhiên, những gian khổ khốc liệt mà người dân tại các vùng do Việt Minh kiểm soát phải gánh chịu, cùng với số lượng người đào ngũ ngày càng gia tăng, dường như đã được xác thực đầy đủ để có thể được chấp nhận như những sự thật hiển nhiên.
Thật khó để xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của những khó khăn này đối với các cơ quan đầu não và các đơn vị quân sự của Việt Minh. Khi được một viên chức Đại sứ quán hỏi về vấn đề này gần đây, ông Janot—Chánh Văn phòng của ông Letourneau—đã nhún vai và tuyên bố rằng: mặc dù hiện có rất nhiều báo cáo về tình trạng khốn đốn của Việt Minh, nhưng ông không có ý định rút ra những kết luận quá lạc quan từ các báo cáo đó. Đại tá Harris—người vừa hoàn thành nhiệm kỳ công tác hai năm tại đây—lại kiên quyết giữ vững quan điểm cho rằng những gian khổ kể trên chưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực chiến đấu của quân đội Việt Minh. Cho đến nay, chưa hề có trường hợp nào là cán bộ cấp cao của Việt Minh đào ngũ; những người đào ngũ tính đến thời điểm hiện tại chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ nhỏ—những đối tượng vốn chỉ làm tăng thêm gánh nặng nuôi dưỡng mà Việt Minh hoàn toàn có thể loại bỏ để giảm tải.
Xét trên mọi phương diện, Đại sứ quán tin rằng, mặc dù Việt Minh đang trải qua những giai đoạn vô cùng khó khăn, chúng ta không nên vội vàng rút ra những kết luận quá lạc quan từ thực trạng này; bởi lẽ kinh nghiệm thực tiễn đã cho thấy "quá trình thắt lưng buộc bụng" có thể kéo dài gần như vô tận, và rằng chỉ một nhóm nhỏ những kẻ cuồng tín cũng đủ sức nắm giữ quyền kiểm soát to lớn. Tuy nhiên, những khó khăn hiện tại của Việt Minh lại mở ra cơ hội tiến hành chiến tranh tâm lý nhằm vực dậy tinh thần của các lực lượng chống Cộng, đồng thời thúc đẩy sự vỡ mộng ngày càng gia tăng trong lòng người dân Việt đối với phe Cộng sản.
Cần phải lưu ý rằng tại khu vực Nam và Trung Việt Nam, các tổ chức dân sự và quân sự của Việt Minh kém phát triển hơn nhiều so với ở miền Bắc. Dựa trên các thông tin hiện có, dường như vũ khí có nguồn gốc từ Tầu cộng vẫn chưa thâm nhập vào miền Nam Việt Nam, và các cố vấn Tầu cộng cũng chưa đóng vai trò đáng kể nào tại khu vực này.
Heath.
1. Về nội dung văn bản, xin xem chú thích 2, tr. 252.↩
2. Đại tá Lee V. Harris, cựu Tùy viên Quân sự cấp cao tại Sài Gòn.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1. Document 117
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
751G.00/9–2652: Telegram
The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State
secret
Saigon, September 26, 1952—7 p.m.
673. Rptd info Hanoi unn. Re Deptel 569, September 15, rptd Hanoi.1 Emb views Hanoi tel 163, Sept 20 [19] to Dept as excellent summary sitn North Viet and concurs in estimate contained last para that tel. Fol comments give our view sitn in South and Central Vietnam.
Reports … in past few months depict marked deterioration econ conditions VM zones and weariness both populace and cadres with revolutionary struggle. Data … indicate VM South Viet Security Service preoccupied with increasing desertions from cadres and hiding of arms in areas threatened by Fr operations in order avoid fighting; commander VM west zone complains he unable organize resistance to Fr union mil operations because lack of fighting spirit among reg troops and lackadaisical attitude militia.
Info in same vein provided by .… Leafing thru file recent reports, … quoted numerous passages indicating low morale due econ hardships (shortage food, medicine and clothing especially) fear aerial bombardment, nostalgia for relatives, friends and native towns and villages and dissatisfaction with heavy taxes and Commie regimentation. Destruction by aerial bombardment of sluices and other irrigation works drying up rice fields producing great hardships.… also said security conditions in cities and towns had improved notably attributing this to difficulty VM encounter in getting persons to perform [Page 260] terrorist acts and to fact populace are less fearful of VM.… said that whereas formerly on VM holidays shopkeepers were wary of opening estabs now there is practically no hesitation. Diminution of fear of and sympathy for VM also reported to Emb offs by Viets.
Testimony re difficulties prevailing in VM zones comes from VM radio itself, most recent instance being Ho Chi Minh message to South Viet Sept 23 on occasion seventh anniversary commencement “resistance” in South Viet. Ho message while promising victory mentions resistance struggle will be long drawn out and, alluding to hardships faced, asserts greater the difficulty greater must be effort, quoting proverb to effect strength and will of man tested by adversity.
As large part info re conditions VM zones derived from defectors who may be expected paint dark picture to please Fr and Viet Govt offs who question them and to justify their departure, these reports must be treated with some reserve. Nevertheless, severe hardships encountered by populations zones of VM and increasing number of defectors seem sufficiently well substantiated to warrant their acceptance as estab facts.
To what extent these difficulties have affected VM organ and mil units is difficult to ascertain. Janot, Letourneau‘s Directeur de Cabinet when queried recently on this point by Emb off shrugged his shoulders and stated, altho reports of VM distress numerous at present he not inclined to draw too sanguine conclusions therefrom. Col Harris,2 who recently completed two years tour strongly held opinion that hardships have not seriously affected fighting capabilities VM troops. There is no instance of defection of top-flight VM; defectors to date have been largely elderly people, women and very young children who constitute mouths to feed which VM can best do without.
On balance Embassy believes that altho VM are undergoing very difficult times we should not permit ourselves to draw too optimistic conclusions therefrom as experience has shown that “belt tightening process” can be carried on almost indefinitely and that small number of zealots can exert tremendous control. Present VM difficulties, however, afford psychological warfare opportunity to boost morale anti-Commie forces and foster increasing disillusionment Viets with Commies.
It remains to be pointed out that in South and Central Vietnam VM civil and mil formations are much less developed than in north. On basis of available info it does not appear that arms of Chi origin have yet come into South Viet or that Chi advisors have played significant role in this region.
Heath
1. For text, see footnote 2, p. 252.↩
2. Col. Lee V. Harris, former senior Military Attaché at Saigon.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d117
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_260
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d113fn2
Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath
https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/
Ho Chi Minh,
President of the Democratic Republic of Vietnam.
Letourneau, Jean,
French Minister in Charge of Relations with the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner in Indochina, April 1952–July 19, 1953.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53
https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html
No comments:
Post a Comment