Sunday, May 3, 2026

20260504 CDTL HST DDE D113 19 September 1952 Điện tín của Lãnh sự Sturm tại Hà Nội gửi Bộ Ngoại giao. Việt Minh khủng bố.

20260504 CDTL HST DDE D113 19 September 1952 Điện tín của Lãnh sự Sturm tại Hà Nội gửi Bộ Ngoại giao. Việt Minh khủng bố.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d113

Google Translated

Tài liệu 113

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

751G.00/9–1952: Điện tín của Lãnh sự Sturm tại Hà Nội gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Hà Nội, ngày 19 tháng 9 năm 1952 — trưa.

163. Bộ chuyển tiếp tới Sài Gòn; thông tin được báo cáo tại điện Sài Gòn số 121. Tham chiếu điện mật số 205 của Bộ, ngày 1 [15] tháng 9. Việc khái quát hóa về các vùng do Việt Minh kiểm soát—coi chúng như một khối thống nhất duy nhất—không chỉ khó khăn mà có lẽ còn dễ gây hiểu lầm. Sẽ càng mạo hiểm hơn nếu vội vàng suy diễn từ những kết luận về tình trạng tinh thần và điều kiện vật chất của Việt Minh để đưa ra các giả thuyết về tác động của những yếu tố này đối với hoạt động quân sự. Các quy tắc thông thường rất có thể sẽ bị coi là thiếu xác đáng trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về cuộc nổi dậy này—một cuộc nổi dậy dường như chẳng hề suy giảm chút nào về sức mạnh tinh thần, bất chấp sáu năm thăng trầm đầy biến động trên mặt trận quân sự.

… tình hình tinh thần tại Bắc biên và Bắc Kỳ—khi khảo sát theo chiều từ Nam ra Bắc—nhìn chung diễn biến như sau: Tại Liên khu 4, sự bất mãn lan rộng trong nhiều nhóm dân thường, chủ yếu do việc thu thuế nông nghiệp quá nặng nề; một số nhóm Công giáo, Phật giáo và người Mường đã tiến hành các hoạt động kháng cự—cả công khai lẫn bí mật—nhằm chống lại cầm quyền Việt Minh. Tại vùng đồng bằng, … giới nông dân vẫn tiếp tục gắn bó vận mệnh với Việt Minh, thể hiện qua việc giữ kín thông tin về các cuộc hành quân của quân đội và che giấu vũ khí; … điều này chủ yếu là do thái độ và cách hành xử của binh lính Việt Minh đối với người dân tốt hơn so với binh lính thuộc Liên hiệp Pháp. Chúng tôi tin rằng lời giải thích cho hiện tượng này cần phải bao gồm yếu tố: quân đội Liên hiệp Pháp không thể bảo đảm an toàn cho người dân trước các hành động trả đũa của Việt Minh sau khi họ đã rút quân khỏi địa bàn; thực tế này đặc biệt đúng tại những khu vực thường xuyên diễn ra các hoạt động quân sự. Tại các giáo phận phía nam vùng đồng bằngPhát Diệm và Bùi Chu—nơi ngọn lửa tinh thần dân tộc từ lâu vẫn cháy rực rỡ hơn cả tinh thần chống Việt Minh—đã xuất hiện những bằng chứng cho thấy sự chuyển biến tâm lý mạnh mẽ theo chiều hướng ác cảm, sau khi Việt Minh công khai tiến hành các cuộc tấn công nhằm vào Giáo hội Công giáo và các vị Giám mục. Về chủ đề này, xin tham khảo các điện tín số 811 (ngày 5 tháng 6) và số 159 (ngày 17 tháng 9). [Trang 253]

Tài liệu ngày 20 tháng 8 gần đây được Lãnh sự quán thu thập và hiện đang được tham khảo để chuyển giao, được cho là tài liệu huấn luyện cho các đặc vụ chính trị do cầm quyền khu vực liên khu 3 (delta) biên soạn nhằm giúp quân đội chuẩn bị cho các hoạt động mùa thu và mùa đông, cho thấy mối quan ngại của Việt Minh về vũ khí và vật liệu mới mà lực lượng Liên hiệp Pháp đã nhận được “từ các nước khác”, tình trạng thiếu lương thực và quần áo, “chủ nghĩa khủng bố”, “tuyên truyền sai lệch” có thể dẫn đến “xu hướng thân Mỹ, sợ Mỹ hoặc chủ nghĩa bi quan”. Về mặt tích cực, tài liệu chỉ ra lực lượng Liên hiệp Pháp tương đối mỏng, việc tập trung lực lượng này vào bất kỳ kế hoạch nào cũng tạo ra những điểm yếu ở những nơi khác, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tấn công của Việt Minh; tinh thần sa sút của phía Liên hiệp Pháp, điều này sẽ giúp dễ dàng “đánh tan quân đội và chính phủ bù nhìn”; kỹ thuật, huấn luyện, vũ khí và kinh nghiệm được cải thiện ở phía Việt Minh sau “mùa xuân và mùa hè thắng lợi vừa qua”; “quân đội giải phóng Tầu cộng tiến đến biên giới” sẽ mang lại “sự giúp đỡ thực sự” cho Việt Minh và “nhân dân và quân đội của chúng ta do đó sẽ được khuyến khích chiến đấu đến cùng”.

Tài liệu tiếp tục mô tả giai đoạn mùa thu và mùa đông vừa qua là thời kỳ phòng ngự; đồng thời chỉ ra rằng mùa tới cũng sẽ mang tính phòng ngự, nhưng tập trung vào việc chuẩn bị cho một "cuộc phản công tổng lực". Đối với toàn quốc, mùa thu và mùa đông sắp tới sẽ được dành để đánh vào các điểm yếu "nhằm giảm bớt áp lực lên Bắc Việt", đánh bại mọi chiến dịch càn quét, cũng như huấn luyện lực lượng vũ trang và các điệp viên "cho chiến tranh cơ động". Tại Liên khu 3, kế hoạch là "mở các mặt trận liên tục để tấn công địch", liên tục đánh vào các khu vực RC 56, gây trở ngại cho các chiến dịch càn quét, và phá vỡ "âm mưu chiếm đóng Ninh Bình của địch — nơi chúng định sử dụng làm căn cứ tuyển quân cho quân đội bù nhìn". Công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh "nhằm lôi kéo binh lính từ quân đội bù nhìn, cũng như các binh lính người châu Phichâu Âu". Quần chúng nhân dân cần phải giữ vững sự tỉnh táo, "không bi quan cũng không quá tự mãn, và luôn sẵn sàng tấn công kẻ thù".

Tóm lại, “chúng ta không bao giờ được đánh mất lòng can đảm, bất kể những gian khổ mà ta phải gánh chịu có to lớn đến đâu. Sự nản lòng không phải là thái độ đúng đắn; tuy nhiên, ta cũng không được quá tự mãn khi đạt được một vài thành công nhất định. Sự tự mãn chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại.”

Nhìn chung, tài liệu này phản ánh sự lo ngại, nhưng không phải là sự tuyệt vọng.

Tại Hà Nội, tổ chức Việt Minh hoạt động bí mật được cho là đang nỗ lực khôi phục lực lượng sau những đòn giáng mạnh mẽ từ các cơ quan an ninh Pháp-Việt. Có bằng chứng cho thấy các thành viên thuộc mặt trận tại Hà Nội đang tìm kiếm sự cho phép để tiến hành các hoạt động khủng bố, nhằm khôi phục tinh thần và sự đoàn kết, cũng như chứng minh rằng Việt Minh vẫn còn giữ vững sức mạnh tại đây. Tinh thần tại vùng Việt Bắc được cho là cao hơn so với các nơi khác, nhờ vào sự gần gũi với nguồn viện trợ từ Tầu cộng, sự thuận lợi trong công tác tuyên truyền, và vị trí nằm xa các vùng do quân Pháp kiểm soát.

Phía Pháp đã dành sự chú ý nhất định cho các báo cáo về tình trạng tinh thần sa sút trong các sư đoàn chủ lực của Việt Minh... Việt Minh đã bỏ rất nhiều công sức huấn luyện binh lính cách đánh lừa các nhân viên thẩm vấn nếu bị bắt giữ; do đó, những báo cáo kiểu này cần được tiếp nhận [Trang 254] một cách thận trọng. Mặc dù tinh thần chiến đấu của các đơn vị du kích địa phương hoạt động tại vùng Đồng bằng có thể đang xuống thấp do thiếu thốn trang thiết bị và các yếu tố cục bộ khác, nhưng việc áp dụng những kết luận rút ra từ các lực lượng này cho các sư đoàn chủ lực có lẽ là một điều nguy hiểm. Hiện chưa có bằng chứng nào cho thấy sự bất mãn nghiêm trọng trong các vùng kiểm soát của Việt Minh đối với các cố vấn, cán bộ Tầu cộng hay các biểu tượng khác của sự kiểm soát từ phía Tầu cộng, bất chấp những tiền lệ lịch sử vốn đủ cơ sở để biện minh cho sự bất mãn đó và khiến nó trở nên hoàn toàn có thể xảy ra. Nhìn chung, quân đội Việt Minh dường như được cung cấp lương thực đầy đủ. Tình trạng thiếu lương thực chủ yếu xảy ra trong giới thường dân; và mặc dù tình trạng suy dinh dưỡng diễn ra khá phổ biến, nhưng chưa có bằng chứng nào cho thấy nạn đói đang hoành hành. Viện trợ quân sự của Trung cộng dành cho Việt Minh dường như vẫn đang được duy trì ở mức cao, thậm chí có thể đang gia tăng. Các chuyên gia kỹ thuật của Tầu cộng đang hỗ trợ Việt Minh phát triển các nhà máy vũ khí, hệ thống đường sá và các công trình khai thác khoáng sản. Quân đội Việt Minh được cho là có quy mô lớn hơn, được trang bị vũ khí, huấn luyện và hậu cần tốt hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây; do đó, lực lượng này hoàn toàn có khả năng tạo ra những tác động to lớn nếu và khi họ phát động một cuộc tấn công quy mô lớn khác.

Mặt khác, nền kinh tế của Quân Giải phóng Nhân dân Việt Nam (Việt Minh) dường như đang trong tình trạng thảm hại. Đồng piastre của Hồ Chí Minh mất giá nhanh chóng do nguồn cung ngày càng khan hiếm và các cuộc tấn công trên không và trên bộ của Liên hiệp Pháp làm gián đoạn sản xuất và thương mại. Thuế được thu ở các cánh đồng lúa. Chính phủ trung ương hầu như không nắm được thu chi ở các thôn quê. Việt Minh đang phải chịu cảnh thiếu hụt nghiêm trọng nhân viên y tế do nhiều bác sĩ đã gia nhập phe mình, nhưng dường như nguồn dự trữ vật tư y tế của Việt Minh đang tăng lên; không có dịch bệnh nào được báo cáo. Cũng có bằng chứng cho thấy một số quan chức cấp cao của Việt Minh, bao gồm cả những người Cộng sản, tin rằng viện trợ của Tầu-Xô sẽ không bao giờ tăng đến mức cho phép Việt Minh giành chiến thắng quyết định trước Pháp cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ III nổ ra để giải quyết vấn đề.

Tóm lại, nếu không có sự can thiệp quy mô lớn từ bên ngoài Đông Dương, dường như chẳng có lý do gì để kỳ vọng vào một sự thay đổi lớn và sớm sủa trong cán cân lực lượng hiện tại ở miền Bắc. Những điểm yếu về vật chất của Việt Minh, ít nhất là trong thời điểm hiện tại, có lẽ đã được bù đắp nhờ hiệu quả chính trị vượt trội trong các lĩnh vực tuyên truyền, bài trừ tham nhũng, năng lực và tinh thần của đội ngũ cán bộ, cũng như sức lôi cuốn nói chung đối với quần chúng nhân dân. Nếu chính quyền quốc gia chứng minh được khả năng đạt những bước tiến thực chất trên các phương diện này—và qua đó làm cho những thành phần theo chủ nghĩa dân tộc không cộng sản (vốn quan trọng đối với Việt Minh) dần xa rời lực lượng này—thì họ sẽ giáng cho Việt Minh một đòn nặng nề hơn bất kỳ đòn nào mà các lực lượng quân sự hiện tại có thể thực hiện. Ông Linares chưa hề tỏ ra lạc quan một cách dễ dãi; và mặc dù ông thường đề cập đến những trường hợp cụ thể cho thấy điểm yếu của Việt Minh, ông chưa bao giờ ám chỉ với tôi rằng đối thủ mà ông đang đương đầu lại là một kẻ nào khác ngoài một kẻ thù vô cùng ngoan cường—một kẻ thù mà giới hạn về năng lực chiến đấu vẫn chưa hề lộ diện.

Sturm.

1.    Bức điện tín này được truyền đi thành hai phần.

2.    Bức điện số 569 gửi Sài Gòn (được chuyển tiếp tới Hà Nội dưới dạng điện số 205), ngày 15 tháng 9, có nội dung như sau: “Bộ đang nỗ lực đánh giá vô số báo cáo nhận được gần đây về tình hình ngày càng xấu đi tại các vùng do Việt Minh kiểm soát. Các báo cáo này cho rằng tiền tệ đang mất giá nhanh chóng, lương thực và trang thiết bị khan hiếm, tinh thần của cả thường dân lẫn quân đội đều sa sút, và gặp nhiều khó khăn trong việc bổ sung tổn thất chiến đấu—đặc biệt là các cán bộ được đào tạo bài bản. Chúng tôi nhận thức rõ rằng các chiến dịch quân sự sau mùa mưa sẽ là thước đo chính xác nhất để kiểm chứng những nhận định này; tuy nhiên, chúng tôi khẩn thiết đề nghị cung cấp ngay lập tức mọi dữ liệu bổ sung hiện có liên quan đến các vấn đề nêu trên cũng như các chủ đề liên đới. Bộ rất mong nhận được quan điểm của quý vị về xu hướng chung diễn ra tại các vùng do Việt Minh kiểm soát trong những tháng gần đây.” (751G.00/9–1652)

3.    Cả hai bức điện đều không được in ấn.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1

1.    Document 113

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

751G.00/9–1952: Telegram

The Consul at Hanoi (Sturm) to the Department of State1

secret

Hanoi, September 19, 1952—noon.

163. Dept pass Saigon; rptd info Saigon 121. Ref Deptel 205, Sept. 1 [15].2 It is not only difficult to generalize about VM zones, treating them as single bloc, but probably misleading also. It is even more hazardous to make the leap from conclusions re state of VM morale and physical conditions to hypothesis covering effect of these on military action. Ordinary rules may well be considered suspect in any discussion of this rebellion which appears have lost substantially none of its moral force through six years of varied military fortunes.

… morale in upper Annam and Tonkin, working from south to north, in general about as follows: In interzone 4, widespread discontent among various civilian groups, owing principally heavy agricultural tax collections; some covert and overt resistance to VM authorities on part of Catholics, Buddhists and Muongs. In delta, … peasants continue cast lot with VM to extent of keeping troop movements quiet and hiding arms; … that attributable to better troop behavior among VM than among French Union. Believe explanation must include inability French Union troops guarantee peasants against VM reprisals once they have moved on; this is so at least in areas subject frequent military action. In south delta bishoprics of Phatdiem and Buichu, where nationalist fire long burnt more brightly than anti-VM spirit, there is evidence of significant revulsion of feeling following overt VM attacks on Catholic Church and bishops. On this subject see Contels 811, June 5 and 159, Sept 17.3

[Page 253]

Document dated Aug 20 recently obtained by Consulate now being processed for transmittal purporting be training materials for political agents compiled by authorities interzone 3 (delta) to enable former prepare troops for fall and winter operations indicates VM concern with new weapons and materials French Union forces have reed “from other countries,” food and clothing shortages, “terrorism” “fallacious propaganda” which may have effect of developing “pro-American trends or fear of America or defeatism. On credit side, document points to relative thinness French Union forces, concentration of which any one plan creates weak spots elsewhere favoring VM attack; tenuous morale on French Union side which shld make it easy “shatter puppet army and govt”; improved techniques, training, weapons and experience on VM side following “last victorious spring and summer”; the “Chinese liberation army coming to the border” will bring VM “real help” and “our people and army will thus be encouraged to fight until victory.” Document goes on to characterize last fall and winter as defensive period; indicates forthcoming season will also be defensive, but directed to preparation of “general counter-offensive.” For nation as whole coming fall and winter will be devoted to striking at weak points “to relieve pressure on Bac Vietu,” to defeating all clean-up operations and to training armed forces and agents “for mobile war.” In interzone 3 plan is “open continuous fronts to attack enemy” continuously attack RC 5 and 6, hamper clean-up operations and frustrate “enemy plan for occupation of Ninhbinh which is to be used as recruiting base for puppet army.” Propaganda must be stepped up “to attract soldiers from puppet army as well as African and European soldiers.” Population must be clear-sighted, neither “pessimistic nor over-confident and be prepared to attack the enemy.”

In conclusion, “we must never lose courage, no matter how great hardships we suffer. Discouragement is not right attitude, although we must not be over-confident when some successes obtained. Overconfidence certainly leads to failure.”

In summary, this document reflects concern but not desperation.

In Hanoi clandestine VM organization said be trying recuperate from heavy blows dealt it by Franco-Viet security services. There is evidence Hanoi front members seeking authorization undertake terrorist activities in order restore morale and unity and demonstrate VM still powerful here. Morale in Viet Bac believed higher than elsewhere, owing proximity Chinese Commie aid supplies, ease in propagandizing and remoteness from French-controlled zones.

French have given some emphasis to reports of low morale in reg VM divisions.… VM takes great pains train troops to deceive interrogators if captured, and … such reports shld be treated [Page 254] with reserve. While morale of regional guerrilla units fighting in delta may be low owing shortage equipment and other local factors, it is probably dangerous apply conclusion reached concerning these forces to reg divisions. No evidence at hand to indicate serious resentment in VM zones against Chinese Commie advisers, cadres or other symbols of Chinese Commie control, despite historical precedent to justify such resentment and render it probable. In general VM army appears adequately fed. Food shortages suffered mainly by civilians, and although undernourishment widespread, there is no evidence of famine. Chinese Commie military assistance to VM appears be continuing at high level and may be increasing. Chinese Commie technicians are aiding VM develop arms plants, roads and mineral exploitation works. VM army believed be larger, better armed, trained and equipped than at any previous time, hence capable of considerable impact when and if it launches another large-scale offensive.

On other side of coin, VM economy appears in sorry plight. Ho Chi Minh piastre depreciating rapidly as supplies become tighter and French Union aerial and land attacks interrupt production and trade. Taxes are collected in paddy. Central govt has little idea of receipts or expenditures in remote areas. VM suffering serious shortage of medical personnel as many doctors have rallied to this side, but there appears be increase in VM stocks medical supplies; no epidemics reported. There is evidence also certain high VM officials, including Commies believe Sino-Soviet aid will never increase to point of permitting decisive VM victory over French until and unless World War III comes to resolve the problem.

In summary, failing massive intervention from outside IC there seems be little reason anticipate early major shift in present balance in the north. VM material weaknesses for time being are probably offset by greater political effectiveness in fields propaganda, elimination of corruption, competence and morale of officials and in general appeal to masses. If national govt proved able make real advances these respects and thus tend estrange from VM its important nationalist but non-Commie elements, it wld have dealt VM graver blow than any of which present military forces are capable. Linares has shown no sign whatever of easy optimism, and although he has often mentioned individual instances of VM weaknesses, he has never hinted to me that he was up against other than a tenacious foe the end of whose capacity for battle was nowhere in sight.

Sturm

1.    This telegram was transmitted in two parts.

2.    Telegram 569 to Saigon (repeated to Hanoi as telegram 205), Sept. 15, read as follows:

“Dept attempting evaluate numerous recent reports of deteriorating conditions within VM zones. Statements allege rapid currency depreciation, food and equipment shortages, declining civilian and mil morale, and difficulties replacing battle losses particularly trained cadres. Realize combat operations after rainy season will provide best test these assertions but request urgently any additional data now available these and related subjs. Dept wld welcome your views re general trend within VM zones recent months.” (751G.00/9–1652)

3.    Neither printed.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d113

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_253

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_254

Thân thế (các) nhân vật

Ho Chi Minh,

President of the Democratic Republic of Vietnam.

Sturm, Paul J.,

Member of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs, Department of State.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48

https://adst.org/OH%20TOCs/Kattenburg,%20Paul.toc.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/comp2

https://digitalcommons.providence.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1028&context=history_undergrad_theses

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d161

https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1952-05-may_0.pdf

https://www.jstor.org/stable/24911759

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d136

No comments:

Post a Comment