20260127 CDTL HST D454 31 January 1950 Điện tín từ Tổng Lãnh sự Abbott tại Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d454
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_708
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_709
Google Translated
Tài liệu 454
Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1950, Đông Á và Thái Bình Dương, Tập VI
851G.00/1–3150: Điện tín Tổng Lãnh sự Abbott tại Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao
Mật
Sài Gòn, ngày 31 tháng 1 năm 1950 — 4 giờ chiều
69. Sau đây là bản tóm tắt bản thảo dài 108 trang đánh máy về nhu cầu hỗ trợ kinh tế và quân sự của Việt Nam từ Hoa Kỳ do Bảo Đại trình bày cho Jessup.
Lời nói đầu nêu bật sự nhận thức ngày càng tăng của tất cả các quốc gia về sự cần thiết và tính cấp bách của phát triển kinh tế các khu vực lạc hậu và các bước đi đã được Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ thực hiện, cho thấy sự hiểu biết rõ ràng về sự khác biệt giữa chương trình của Liên Hợp Quốc và chương trình Điểm 4 của Hoa Kỳ, cũng như giữa chương trình Điểm 4 và chương trình viện trợ quân sự. Ngoài ra, lời nói đầu cũng cho thấy sự nhấn mạnh vào việc các nhà tư bản tư nhân nhận thức được sự cần thiết để Việt Nam đóng góp đầy đủ vào sự phát triển và cần thiết phải thực hiện các cải cách để chống lại tuyên truyền và ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản. Lời nói đầu nêu rõ mục đích của bản thảo là trình bày nhu cầu và nguồn lực của Việt Nam trước Hoa Kỳ để nhận được sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho sự phục hồi kinh tế và bình định. [Trang 708]
Lời mở đầu nhấn mạnh hai điểm chính: thứ nhất, Việt Nam là tiền đồn chống lại làn sóng "Bolshevik" ở Đông Nam Á; thứ hai, cuộc đấu tranh của người Việt Nam chống lại Pháp là cuộc đấu tranh dân tộc giành độc lập. Lời mở đầu nhấn mạnh tính chất phi cộng sản, chỉ ra rằng phần lớn dân số là nông dân, những người phản đối chủ nghĩa tập thể; rằng giới trí thức chia rẽ giữa những người ủng hộ Bảo Đại và những người đang chờ đợi cơ hội để tuyên bố ủng hộ ông; rằng ngay cả trong số những người ủng hộ Hồ Chí Minh, chỉ có một phần nhỏ là những người cộng sản thực sự, và những người theo chủ nghĩa dân tộc lầm lạc tin rằng họ có thể hợp tác với những người cộng sản, nhưng khi Bảo Đại đạt được mục tiêu, họ sẽ trở thành những người ủng hộ thay vì kẻ thù của chính phủ. Viện trợ chính trị, tài chính, kinh tế và có thể cả quân sự được liệt kê là những đóng góp của các quốc gia khác, đặc biệt là Hoa Kỳ, trong việc đạt được độc lập, được công nhận, được gia nhập các tổ chức quốc tế và bảo vệ biên giới phía bắc, những mục tiêu của chính phủ.
Báo cáo nghiên cứu được chia thành hai phần. Phần một nêu rõ đất nước giàu có nhưng chưa phát triển, khẳng định người Pháp đã không công nghiệp hóa đất nước ngoại trừ vì lợi ích riêng của họ. Các nguồn tài nguyên được liệt kê bao gồm:
(1) dân số cần cù và đông đảo;
(2) tài nguyên nông nghiệp với 5,5 triệu ha đất canh tác sản xuất lúa gạo, ngô, cao su, tiêu, gỗ, v.v., sản lượng có thể được tăng lên đáng kể bằng cách chọn giống, bón phân, tưới tiêu, thoát nước, cơ giới hóa, v.v.;
(3) tài nguyên khoáng sản phần lớn chưa được khai thác;
(4) các ngành công nghiệp khác nhau phần lớn do người Pháp kiểm soát;
(5) lực lượng lao động thủ công và lành nghề trong các lĩnh vực chuyên biệt với số lượng 1,3 triệu người vào năm 1937;
(6) thương mại quốc tế có cán cân thương mại tích cực trước chiến tranh nhưng ngày càng trở nên tiêu cực kể từ sau chiến tranh, đe dọa gây ra hỗn loạn kinh tế.
Phần hai liệt kê các nhu cầu như sau:
(1) Bình định bao gồm: (a) thuyết phục chính trị, áp dụng trung thực các thỏa thuận ngày 8 tháng 3 của Pháp để trao độc lập hoàn toàn và giải thích mục tiêu thực sự của Cộng sản; (b) trấn áp quân sự đối với Cộng sản, điều này chỉ có thể được thực hiện bởi người Việt Nam, chứ không phải người Pháp, những người bị hạn chế bởi việc là người da trắng, không thể tham gia vào chiến thuật du kích, hình ảnh của họ là những kẻ chinh phục, v.v. Lực lượng của Hồ Chí Minh ước tính khoảng 100.000 người so với 40.000 người Việt Nam với trang thiết bị kém hơn. Do đó, các nhu cầu được liệt kê bao gồm trang thiết bị cho lực lượng bộ binh chính quy hiện tại và tăng cường, hỗ trợ lực lượng hải quân và không quân, dân quân và lực lượng tự vệ, cũng như phái đoàn quân sự Hoa Kỳ để huấn luyện. [Trang 709]
(2) Tái thiết bao gồm cuộc chiến chống Cộng sản bằng cách chống lại nghèo đói và nạn đói. Báo cáo liệt kê những thiệt hại kể từ chiến tranh như làng mạc bị phá hủy, ruộng đồng bỏ hoang, gia súc, công cụ, thông tin liên lạc bị phá hủy, v.v. và đưa ra danh sách ưu tiên cho các nhu cầu phục hồi khẩn cấp như:
(a) nhà ở;
(b) thông tin liên lạc;
(c) giáo dục và vệ sinh;
(d) nông nghiệp; tổng chi phí là 135 triệu piastre.
(3) Sự tham gia của người Việt Nam vào các ngành công nghiệp hiện có (mỏ, đồn điền cao su, bông, xi măng, xay xát gạo, v.v.); (a) thành lập hãng hàng không quốc gia và một đội vận tải đường biển bao gồm bốn đến sáu máy bay và hai đến bốn tàu Liberty.
Tóm tắt các yêu cầu:
(1) Trang thiết bị cho 120.000 quân chính quy với lực lượng không quân hỗ trợ, một sư đoàn thiết giáp, một sư đoàn dù và 1.000 xe tải.
(2) Trang thiết bị nhẹ cho 90.000 dân quân bao gồm súng trường, súng tự động, súng cối, pháo bộ binh, súng lục, lựu đạn.
(3) Trang thiết bị cho 75.000 quân tự vệ bao gồm súng trường, súng tự động, lựu đạn.
(4) Không quân – 10 máy bay trinh sát, 20 máy bay vận tải DC-3 và 3 máy bay vận tải DC-4.
(5) Hải quân – 10 tàu LCI, 20 tàu LCM, 10 tàu nhỏ và vật tư.
Kết luận nêu rõ sẵn sàng tiếp nhận các đề nghị, nhấn mạnh đây là giai đoạn đầu của chương trình và do nguồn thu của chính phủ chưa ổn định nên sự tham gia của Việt Nam chưa rõ ràng. Không có ước tính tổng chi phí viện trợ quân sự của Mỹ.
Bình luận của tôi như sau: phần mở đầu và lời nói đầu cho thấy sự hiểu biết rõ ràng về vai trò của Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ trong viện trợ kinh tế, sự hiểu biết về Chương trình viện trợ quân sự của Hoa Kỳ (US MAP), bản chất vấn đề của chủ nghĩa cộng sản và vị trí đặc biệt của Việt Nam ở giai đoạn này.
Phần nội dung báo cáo về các nguồn lực địa phương được xây dựng dựa trên số liệu thống kê trước chiến tranh và giữa chiến tranh, một số số liệu không còn phù hợp, một số dường như sai sót, và một số khác không thể kiểm chứng, nhưng bức tranh tổng thể là chính xác.
Phần đề cập đến các nhu cầu nhấn mạnh đúng tầm quan trọng của việc bình định và phục hồi ngay lập tức.
Những điểm gây bất ngờ bao gồm kế hoạch tham gia trực tiếp vào các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Pháp và việc Pháp hoàn toàn bị bỏ qua trong toàn bộ chương trình yêu cầu. Nhân tiện, cần phải nói thêm rằng Jessup tỏ ra rất không mấy lạc quan trong các cuộc đàm phán về phái bộ quân sự Hoa Kỳ và nhấn mạnh sự cần thiết phải chuyển các yêu cầu viện trợ quân sự thông qua phía Pháp.
Rõ ràng bản nghiên cứu này do người dân Bắc Kỳ soạn thảo, xét theo sự nhấn mạnh vào Bắc Kỳ; tuy nhiên, cần phải nhận ra rằng phần lớn tiềm năng công nghiệp của khu vực nằm ở Bắc Kỳ.
Chỉ có một bản sao của bản ghi nhớ được gửi qua đường bưu điện cho Jessup.
Abbott
List of abbreviations and symbols
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp1
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp5
1. Document 454
Foreign Relations of the United States, 1950, East Asia and the Pacific, Volume VI
851G.00/1–3150: Telegram
The Consul General at Saigon (Abbott) to the Secretary of State
secret
Saigon, January 31, 1950—4 p. m.
69. Following is summary of 108-page typed manuscript dealing with Vietnam’s needs for economic and military assistance from US presented by Bao Dai to Jessup.
Foreword reviews growing recognition by all nations of need and urgency of economic development backward areas and steps taken [Page 708] by UN and US revealing good understanding differences between UN program and US point 4 and between latter and military aid program. Also, reveals understanding emphasis private capitalists’ realization need for Vietnam to do full share in development and need for reforms to counteract Communist propaganda and spell. States purpose manuscript is to place needs and statement of resources Vietnam before US in order to obtain financial and technical assistance for economic revival and pacification.
Preface first emphasizes that Vietnam is advance bastion against “Bolshevist” tide in SEA; second, that struggle of Vietnamese against France has been nationalist struggle for freedom. Emphasizes non-Communist nature, pointing out bulk of population is agricultural which repudiates collectivism, that intellectuals split between supporters of Bao Dai and those awaiting opportunity to declare for him; that even among supporters of Ho only small fraction real Communists and that mistaken nationalists misguided in belief they can work with Communists, but who with attainment of objectives by Bao Dai will become supporters instead of apparent enemies of Government. Political, financial, economic and possibly military aid listed as contributions other nations, particularly US, in attainment independence recognition, admission to international organizations, and protection of northern frontier, the objectives of Government.
Balance of study divided in two parts. Part one states country rich but undeveloped, averring French failed to industrialize except for own benefit. Resources listed as: (1) industrious and abundant population; (2) agricultural resources 5.5 million hectares cultivated land producing rice, corn, rubber, pepper, woods, etc., production of which could be greatly increased by seed selection, fertilization, irrigation, drainage, mechanization, etc.; (3) mineral resources largely undeveloped; (4) various industries largely controlled by French; (5) artisan and skilled labor in specialized fields numbering 1.3 million in 1937; (6) Foreign commerce with active balance prior to war but an increasingly passive balance since the war which threatens economic chaos.
Part two lists needs as: (1) pacification involving: (a) political persuasion faithful application March 8 accords by French to give complete independence and explanation of true Communist aims; (b) military suppression of Communists, which can only be accomplished by Vietnamese, not by French who hampered by inability as whites to engage in guerrilla tactics, their aspect of conquerors, etc. Ho’s forces estimated at 100,000 as opposed to 40,000 Vietnamese with inferior equipment. Thus needs listed as equipment for present and increased regular ground forces supporting naval and air forces militia and self-defense corps as well as US military mission to give instruction.
(2) Reconstruction involving war against Communism by war against misery and hunger. Report lists losses since war as villages destroyed, fields uncultivated, destruction livestock, implements, communications, etc. and sets up priority list for immediate rehabilitation needs as: (a) housing; (b) communications; (c) education and sanitation; (d) agriculture; total cost in millions of piasters 135.
(3) Vietnamese participation in existing industry (mines, rubber plantations, cotton, cement, rice, milling, etc. industries); (a) creation of national airline and a maritime transport to include four to six planes and two to four Liberty ships.
Recapitulation requirements;
(1)
Equipment for 120,000 regular army with supporting air force, one armored division, one parachute division and 1,000 trucks.
(2)
Light equipment for 90,000 militia including rifles, automatic arms, mortars, infantry cannons, pistols, grenades.
(3)
Equipment for 75,000-man self-defense corps including rifles, automatic arms, grenades.
(4)
Aviation—10 reconnaissance plans, 20 DC–3 transports and 3 DC–4 transports.
(5)
Naval 10 LCI, 20 LCM, 10 small craft and matèriel.
Conclusion states willing accept suggestions, emphasizes this is first stage of program and that as Government receipts not fixed Vietnam participation not clear. No estimates total cost to US of military aid.
My comments follow: preface and foreword reveal clear understanding role of UN and US in economic aid, understanding US MAP, nature problem of Communism and unique position Vietnam at this stage.
Body of report dealing with local resources built around pre-war and mid-war statistics, some of which no longer applicable, some apparently in error, and others which cannot be checked, but general picture correct.
Section dealing with needs correctly emphasizes importance of pacification and immediate rehabilitation.
Bombshells include plans to obtain direct participation in French owned enterprises and fact French totally ignored in whole program of requirements. May incidentially add Jessup was most discouraging in talks re US military mission and emphasized need to channel requests for military aid through French.
Apparently study drafted by Tonkinese in view emphasis on Tonkin; however, should be realized that bulk of industrial potential of area is in Tonkin.
Only copy of memorandum available being pouched addressed Jessup.
Abbott
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/ch6
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d454
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_708
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_709
Thân thế (các) nhân vật
No comments:
Post a Comment