Thursday, March 12, 2026

20260313 CDTL HST DDE D61 12 May 1952 Điện tín của Bộ trưởng Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

20260313 CDTL HST DDE D61 12 May 1952 Điện tín của Bộ trưởng Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Cao Bằng, Hòa Bình


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d61

Google Translated

Tài liệu 61

Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

751G.5 MSP/5–1252: Điện tín của Bộ trưởng Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Sài Gòn, ngày 12 tháng 5 năm 1952—3 giờ chiều

[Nhận được lúc 7:31 sáng]

2224. Đã gửi Paris unn, Phnom Penh unn, Vientiane unn, Hanoi unn. Về Musto 429.

1. Việc ông Letourneau đến Sài Gòn với tư cách là Bộ trưởng Ngoại giao thường trú đầu tiên của Pháp đã tạo cơ hội cho một cách tiếp cận mới đối với vấn đề Việt Nam. Tình trạng thiếu năng động chính trị kéo dài ở Việt Nam, sự tiến bộ chậm chạp của chính phủ về mức độ phổ biến, quyền lực và cải cách kinh tế - tài chính hay xã hội gây ra mối lo ngại nghiêm trọng, đặc biệt khi so sánh với ý chí và động lực kiên định của Hồ Chí Minh. Nếu tình hình này không được cải thiện nhanh chóng, nó có thể làm hỏng mọi nỗ lực quân sự hoặc thành tựu chống lại Quân Giải phóng Nhân dân. Đây là mối lo ngại của Pháp và Leg. [Trang 135]

Phe Bảo Đại có lợi thế vượt trội hơn rất nhiều nhưng cho đến nay vẫn chưa thể giành chiến thắng cũng như chứng minh rằng họ sẽ giành chiến thắng quyết định. Bảo ĐạiHồ Chí Minh mỗi bên có khoảng 11.000.000 người Việt trong khu vực của mình. Bảo Đại hầu như sở hữu tất cả đất trồng lúa tốt, đồn điền cao su, mỏ than, cảng biển, nhà máy xi măng và các cơ sở hạ tầng chính. Hồ Chí Minh sống ở vùng đồi núi có dịch sốt rét với mức sống tối thiểu. Bảo Đại có nhiều binh lính hơn Hồ Chí Minh, được hỗ trợ bởi lực lượng tinh nhuệ của quân đội chính quy Pháp; Pháp chi hàng tỷ đô la mỗi năm ở đây và Mỹ sẽ chi hơn một tỷ đô la vào cuối năm tài chính 1953. Lực lượng Liên hiệp Pháp có máy bay, tàu chiến, xe tăng, pháo hạng nặng, bom napalm; còn phe Cộng sản chỉ nhận được một lượng nhỏ viện trợ vũ khí hạng nhẹ từ Trung cộng.

Tổn thất của Việt Minh, ngay cả khi chỉ bằng một nửa ước tính của Pháp, cũng gấp khoảng năm lần so với Liên Xô và lớn hơn nhiều lần so với chính nước Pháp. Tuy nhiên, bất chấp ưu thế về số lượng, vật chất và tài chính của lực lượng Pháp-Bao Dai, phần lớn quân đội Liên Xô vẫn bị bao vây ở vành đai Bắc Kỳ và đang tập trung (với một số thành công) vào các hoạt động chống lại kẻ thù đã xuyên thủng phòng tuyến của họ.

Có một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Một trong số đó là thực tế rằng một lực lượng du kích được huấn luyện cuồng tín, sở hữu tính cơ động, nơi trú ẩn an toàn (Trung cộng) và sự hỗ trợ ngày càng tăng từ nước ngoài (Trung cộng) luôn có thể kéo dài sự kháng cự ngay cả khi chống lại lực lượng chính quy vượt trội hơn nhiều.

Nhưng ngoài ra còn có những sự thật sau:

(a) Chỉ huy của Hồ Chí Minh rõ ràng hiệu quả hơn, tận tâm hơn, kỷ luật hơn và làm việc chăm chỉ hơn chính phủ hợp pháp.

(b) Hồ Chí Minh, nhờ quyền lực cảnh sát mạnh hơn, tuyên truyền tốt hơn và “ý thức cộng đồng” của Đảng Cộng sản, có thể ép buộc và ở một mức độ nào đó thậm chí thuyết phục người dân đóng thuế nặng – thường là dành khoảng ½ GDP cho nỗ lực chiến tranh (không có dữ liệu thực tế và đánh giá cá nhân khác nhau) và tiếp tục chiến đấu bất chấp những khó khăn to lớn.

(c) Có sự ngờ vực và thậm chí thù hận đối với Pháp tích lũy qua thời kỳ thuộc địa và dựa trên sự khác biệt về chủng tộc, và điều này chưa được xoa dịu bởi các hành động hoặc tuyên truyền hiệu quả hay kịp thời của Pháp.

Trong tình hình gần như bế tắc này, có ba vấn đề cơ bản và nguy hiểm cần phải giải quyết. Thứ nhất là sự tiếp diễn của căng thẳng Pháp-Việt, làm tê liệt các kế hoạch tiến bộ; thứ hai là sự yếu kém và không được lòng dân của chính phủ Hữu. Ông ta có công trong việc đặt nền móng cho bộ máy chính phủ Việt Nam. Ông ta đã không thể thành lập một chính phủ liên minh quốc gia hiệu quả, bao gồm các thành phần quốc gia được tôn trọng trên cơ sở chính trị hiện tại. Tôi tin vào sự chân thành của ông ta, nhưng quá nhiều người Việt không tin. Một phần, việc ông ta không thể thu hút những thành phần tốt hơn vào chính phủ của mình là do Pháp không thuyết phục được giới trí thức Việt Nam - và nông dân - rằng Pháp thực sự có ý định rút khỏi Việt Nam một khi chiến sự chấm dứt và trong khi đó họ đang chiến đấu cho cuộc chiến giành độc lập của Việt Nam chống lại cuộc xâm lược bí mật của người Chinese. [Trang 136] Một nguyên nhân khác nằm ở việc Hữu không thể chia sẻ quyền lực. Ông ta khăng khăng giữ lại các quyền lực thiết yếu và các quyết định quan trọng trong tay mình. Các bộ trưởng của ông ta chỉ là cấp dưới. Ông ta là một người độc đoán, hay nghi ngờ, và với tình hình như vậy, ông ta không thể thu hút được những người tài giỏi nhất vào chính phủ.

Vấn đề thứ ba là việc Bảo Đại từ chối chấp nhận trách nhiệm tích cực và nhất quán trong việc điều hành chính phủ. Người ta gần như nghi ngờ rằng Bảo Đại, bất chấp những lời khẳng định, thực sự muốn một chính phủ dân chủ hiệu quả. Rõ ràng ông không muốn một chính phủ như vậy bị chi phối bởi một chính trị gia có khuynh hướng cộng hòa mà ông sẽ coi là đối thủ.

Về vấn đề thứ nhất, Letourneau và các cố vấn thân cận nhất của ông hiện thấy sự cần thiết cấp bách phải làm điều gì đó quyết liệt để xua tan lòng thù hận và sự ngờ vực đối với Pháp. Họ sẵn sàng để các phần tử dân tộc chủ nghĩa có lập trường chống Pháp xuất hiện trong chính phủ Việt Nam mới. Họ sẵn sàng tổ chức lại Bộ Cao ủy theo một hình thức dễ chấp nhận hơn, khởi xướng một số hành động viện trợ kinh tế và cải thiện công tác tuyên truyền của Pháp trong cộng đồng quốc tế. Vai trò của chúng ta là khuyến khích Pháp theo đuổi cách tiếp cận mới này và để cơ quan thông tin của chúng ta hỗ trợ họ.

Về vấn đề thứ hai và thứ ba, người Pháp đã nỗ lực, và chúng tôi đã ủng hộ nỗ lực của họ, thuyết phục Bảo Đại ra lệnh thành lập một chính phủ đại diện hiệu quả để nhanh chóng tiến hành các cải cách và hành động cần thiết. Quan điểm của Letourneau, và đúng đắn, là ông không nên bị đặt vào vị trí phải yêu cầu cách chức Hửu hoặc thay đổi chính phủ một cách cơ bản. Điều này phải được thực hiện theo sáng kiến ​​của Bảo Đại. Tuy nhiên, ý kiến ​​hiện tại của Letourneau là hiện tại thực sự không thể tìm được người kế nhiệm thích hợp cho Hửu làm Thủ tướng Chính phủ Liên bang; giải pháp hiệu quả duy nhất là Bảo Đại, như một biện pháp tạm thời, đảm nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng với những người như Trí, có thể là Ngô Đình Diệm, có lẽ một hoặc hai người khác làm Phó Chủ tịch. Tôi tin rằng giải pháp này nên được thử. Tuy nhiên, tôi không lạc quan rằng ngay cả khi thêm lời kêu gọi của chúng tôi vào lời kêu gọi của người Pháp cũng sẽ thuyết phục được Bảo Đại chấp nhận sự gia tăng hoạt động (dù nhỏ), các quyết định và trách nhiệm như vậy. Nếu không có một chương trình hành động thuyết phục, được công bố rộng rãi của Pháp nhằm tạo thêm niềm tin cho người Việt Nam trong tương lai, thì không chắc Bảo Đại có thể bị thuyết phục rời khỏi nơi ẩn náu của mình, hoặc các phần tử dân tộc chủ nghĩa có thể tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của ông ta hay không.

chính phủ Hữu hiện tại có thay đổi hay không và Bảo Đại có thể được thuyết phục để thực hiện trách nhiệm của mình hay không, theo ý kiến ​​của chúng tôi, có một số biện pháp cần được thực hiện ngay lập tức—(1) bởi Pháp, và (2) bởi Chính phủ Việt Nam. Chúng được nêu rõ trong bức điện tín này và bức điện tín ngay sau đó. Nếu Bộ đồng ý, chúng tôi sẽ thúc giục họ [Trang 137] với Letourneau và các cố vấn của ông, cũng như với Chính phủ Việt Nam và Bảo Đại. Nếu, như hiện nay có vẻ khả thi, Letourneau chọn đi Washington vào tháng Sáu, chúng ta có thể thảo luận với ông ấy ở đó.

I. Chương trình hành động của Pháp.

A. Uy tín của Pháp:

Letourneau đã đảm bảo với AS về lòng trung thành của Pháp đối với sứ mệnh của mình. Tuy nhiên, những tin đồn về kế hoạch đàm phán của Pháp với Hồ Chí Minh và phe Trung Cộng đang lan rộng. Bản thân Hửu cũng tin vào điều đó. Pháp nên làm những gì có thể để chính thức và công khai xóa bỏ những nghi ngờ này. Cả Việt Nam lẫn chúng ta đều không thể kỳ vọng sẽ dốc toàn lực cho một giải pháp có thể bị bỏ rơi mà không báo trước. Trong khi đó, cho đến khi phương Tây quyết định sẽ làm gì trong trường hợp Trung cộng xâm lược, Pháp có thể xem xét các kênh thoát hiểm hoặc đàm phán.

B. Một tuyên bố mang tính tiến hóa:

Một tuyên bố về kế hoạch của Pháp đối với nền độc lập của Liên minh các quốc gia thành viên trong một cuộc chiến có thời gian không chắc chắn khó có thể nêu ra một ngày cụ thể hoặc thiết lập một lịch trình; ít nhất, nó có thể nói rằng khi và khi hòa bình được lập lại, vị trí của các quốc gia thành viên trong Liên hiệp Pháp có thể được xem xét lại. (Đây sẽ là một tuyên bố thận trọng hơn nhiều so với tuyên bố của Tướng Templer Malaya trong hoàn cảnh không hoàn toàn khác biệt.) Nó nên được thực hiện bằng một loạt các hành động và tuyên bố của Pháp, chứng minh mong muốn của Pháp về sự phát triển trong Liên hiệp Pháp. Pháp đang xem xét một tuyên bố như vậy; Letourneau tỏ ra nghi ngờ và Offroy thì ủng hộ. Nhiều lập luận chống lại một tuyên bố mang tính tiến hóa hiện đã được loại bỏ. Kể từ các thỏa thuận Pau- Pau agreements, đã tồn tại một bộ máy của Chính phủ Việt Nam, dù chưa hoàn hảo: hiện nay có 37 tiểu đoàn Việt Nam so với 5 tiểu đoàn hai năm trước; cán cân thanh toán của Việt Nam hiện nay thuận lợi hơn (đúng là do chi tiêu quân sự của Pháp); người dân Việt Nam ít bị lừa dối hơn về bản chất của Việt Minh; lực lượng Liên hiệp Pháp sẽ không còn bị sốc bởi tuyên bố như vậy nữa; Và (tùy thuộc vào quan điểm của Paris) dường như công chúng và Quốc hội Pháp có thể chấp nhận điều đó. Lập trường của Pháp dường như đã thay đổi đủ xa để tuyên bố như vậy có thể bắt kịp với thực tế.

C. Tái tổ chức cơ quan đại diện của Pháp tại Cộng đồng Quốc tế:

Ông Letourneau đã cho tôi những lời đảm bảo đáng mừng về các kế hoạch tiến bộ trong vấn đề này. Hiện nay, Cao ủy Pháp vẫn quá giống với công cụ mà Pháp đã sử dụng để cai trị các thuộc địa của mình. Cần phải cải tổ nó theo hướng hình thức cuối cùng là một phái đoàn đến các chính phủ của các nước liên kết, với một nhóm các phái đoàn hỗ trợ trực thuộc. Các ủy ban khu vực của Pháp nên được “loại bỏ dần”. Số lượng quan chức Pháp nên được giảm nhanh hơn. Các tuyên bố về số lượng người còn lại và lý do của họ nên thẳng thắn hơn và bớt mang tính phòng thủ hơn; các quan chức “kiểu thực dân cũ” nên được cử đến các thuộc địa.

D. Viện trợ của Pháp cho các nước liên kết:

Hiện nay, ngoại trừ một số khoản hỗ trợ rất nhỏ cho Lào, viện trợ của Pháp chủ yếu dưới hình thức chi tiêu quân sự lớn, bao gồm chi phí lớn cho quân đội các nước bản địa, và trợ cấp cho các tổ chức và doanh nghiệp Pháp. Nên khuyến khích Pháp thiết lập riêng trong ngân sách Pháp một khoản phân bổ viện trợ kinh tế trực tiếp cho các nước liên kết, cùng với viện trợ quân sự của Pháp cho quân đội các nước bản địa. Khoản này sẽ được xác định là viện trợ của Pháp. Khuyến nghị mà ông Letourneau đã đưa ra cho Paris về vấn đề này nên được khuyến khích để việc gia nhập Liên hiệp Pháp mang lại giá trị tích cực trong mắt người Việt Nam, thay vì mang tính chất bảo hộ tiêu cực.

E. Đại diện của Liên hiệp Pháp và các nước ngoại giao AS-Associated States:

Quan hệ nội bộ giữa các nước thuộc Liên hiệp Pháp nên hướng tới mô hình Khối Thịnh vượng chung, với việc trao đổi thông tin giữa các nước AS-Associated States và với Pháp. Ông Letourneau nói với tôi rằng điều này đã được quyết định nhưng chưa được công bố. Nên khuyến khích các nước AS- Associated States mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia hơn. Bất chấp các thỏa thuận ngày 8 tháng 3 (bao gồm cả Nhật Bản).

F. Thỏa thuận ngày 8 tháng 3 và Thỏa thuận Pau:

Nhiều điều khoản trong Thỏa thuận ngày 8 tháng 3, chẳng hạn như một số điều khoản liên quan đến quan hệ FON, đã lỗi thời; những điều khoản loại trừ các kỹ thuật viên FON cần thiết để thực hiện chương trình được mô tả trong báo cáo của chúng tôi chắc chắn phải được nới lỏng trên thực tế; điều khoản quy định rằng không có sắc lệnh hoặc luật nào của Việt Nam ảnh hưởng đến lợi ích của Pháp có thể trở thành luật trừ khi và cho đến khi nó được Bộ trưởng Nội vụ Pháp ban hành dường như không phù hợp với mối quan hệ trung thành giữa các nước AS và cần được thay đổi. Tuy nhiên, dường như còn quá sớm để Mỹ thúc giục những thay đổi lớn trong Liên hiệp Hải quan hoặc các thỏa thuận ngân hàng trung ương được thiết lập sau cuộc thảo luận gay gắt tại Pau. Mặc dù cả AS và Pháp đều dường như tin rằng chế độ bốn bên hoặc thậm chí chế độ lưỡng bên không khả thi về lâu dài do xu hướng ly khai chính trị, nhưng điều này dường như không phải là thời điểm thích hợp để phá vỡ các thể chế mới được thành lập gần đây với kết quả bất lợi đối với nền kinh tế bấp bênh của AS. Quan điểm bảo thủ hơn dường như là kêu gọi tất cả các bên tiếp tục nỗ lực để các thể chế Pau hoạt động mà không có bất kỳ bên nào cố gắng sử dụng quyền phủ quyết của mình để đảm bảo các vị trí quyền lực ưu tiên.

G. Các cơ quan của Liên hiệp Pháp:

Đến thời điểm này, Liên hiệp Pháp lẽ ra đã phải đưa ra công thức hoạt động cho các cơ quan điều hành của Liên hiệp Pháp, và cách giải thích hiến pháp sao cho tôn trọng hơn nguyên tắc độc lập, đồng thời vẫn duy trì ảnh hưởng tối cao của chính quốc, điều vẫn cần thiết cho sự nghiệp chung. Có thể có những chi tiết khác đã lỗi thời và những hạn chế mà Liên hiệp Pháp không còn mong muốn. Ông Letourneau không nên bị ép buộc phải đưa ra những phán quyết rời rạc do hoàn cảnh mà nên tự mình suy nghĩ và trình bày bất kỳ cách giải thích tự do nào về những văn kiện cơ bản này mà việc đưa ra phán quyết là an toàn, hoặc đã có hiệu lực trên thực tế.

H. Quân đội Việt Nam:

Theo quan điểm của người Việt, sự thành lập chậm trễ của quân đội Việt là do áp lực từ Việt Nam Cộng hòa lên Pháp và mối đe dọa chiến tranh thế giới cũng như do thiện chí của Pháp. Tuy nhiên, về nguyên tắc, quân đội là bằng chứng và hy vọng về một quốc gia độc lập, chứng minh rằng đối thoại thực sự dẫn đến độc lập cho Việt Nam. Nếu Pháp thực hiện các biện pháp được đề nghị trong đoạn văn này, quân đội Việt Nam có thể phát triển thành một công cụ yêu nước và đáng tin cậy. Pháp có thể từ bỏ những dè dặt hiện tại về việc đẩy nhanh tuyển dụng sĩ quan và thành lập các bộ phận tham mưu và dịch vụ (Letourneau đã nói ông ủng hộ việc đẩy nhanh). Số lượng học viên của Trường Đà Lạt (Võ Bị Đà Lạt) có thể tăng gấp đôi hoặc số lượng trường có thể được tăng lên. Việc đào tạo thêm sĩ quan ở Pháp và Mỹ có thể được chấp nhận. Viện trợ của Mỹ có thể được áp dụng để giải quyết vấn đề.

I. Thương mại quốc tế của Việt Nam:

Giả sử Pháp không đòi hỏi chế độ ưu đãi quá mức tại các cuộc đàm phán kinh tế liên quốc gia Paris hiện nay, thì lập trường hợp lý của Pháp có thể được khai thác ở đây. Letourneau có thể nói rằng trong khi Liên hiệp Pháp là một hiệp hội hỗ trợ lẫn nhau nhằm tối đa hóa lợi ích và an ninh cho tất cả các bên, thì Pháp cũng không thờ ơ với những vấn đề và mối quan ngại cụ thể mà địa lý đặt ra cho các thành viên. Pháp và Việt Nam chỉ có lợi khi bảo vệ và thúc đẩy thương mại của mình bằng các biện pháp hợp lý; đồng thời, Pháp nhận thức được rằng Việt Nam là thành viên của cả cộng đồng châu Á và Pháp. Tăng cường thương mại với các nước châu Á và Nhật Bản không thuộc khối Cộng sản, với các biện pháp bảo vệ thích đáng cho các mối quan ngại của Pháp và các kênh thương mại đã được thiết lập, nên là mục tiêu của Pháp, Mỹ và Việt Nam.

J. Vốn của Việt Nam:

Pháp nên ủng hộ và tuyên bố ủng hộ việc hình thành vốn của Việt Nam, phù hợp với nhu cầu chiến tranh và phát triển có trật tự. Pháp nên khuyến khích phát triển các cơ sở ngân hàng của Việt Nam và không nên phản đối các biện pháp thúc đẩy tái đầu tư một lượng hợp lý vào Việt Nam từ lợi nhuận lớn mà các công ty nước ngoài thu được.

II. Các dự án và phương pháp tuyên truyền.

1. Nếu chương trình trên được thông qua, cần tối đa hóa hiệu quả tuyên truyền trong quá trình thực hiện. Chương trình nên được triển khai thông qua các bài phát biểu được lên kế hoạch kỹ lưỡng; và được áp dụng theo từng giai đoạn nhằm tạo hiệu ứng tích lũy, kèm theo những cử chỉ tuyên truyền đầy ý nghĩa.

2. Cung điện Norodom:

 Có lẽ điều quan trọng nhất là việc chuyển giao biểu tượng này cho quyền bá chủ. Nếu chỉ là một cử chỉ riêng lẻ, nó sẽ có tác dụng nhỏ. Nhưng nếu là một phần của kế hoạch được mô tả ở trên, nó sẽ tạo ra hiệu quả tổng hợp cho chương trình hành động.

3. Bảo Đại:

Trong tâm trạng uể oải, Đức Vua ít có ảnh hưởng đến tình hình. Ngay cả khi ngài có sự bùng nổ adrenaline cũng không thể thay đổi tình hình nếu không có chương trình cơ bản. Chúng ta nên ủng hộ bất kỳ biện pháp nào mà Letourneau đề nghị để thể hiện ngài là người có trách nhiệm hơn, năng động hơn, kiên trì hơn, biết hy sinh và được lòng dân hơn. Nếu Đức Vua trao cho ngài cung điện, ngài nên đưa gia đình đến sống ở đó.

4. “Khắc khổ”. Xem bài phát biểu của Letourneau tại sân bay; điều này quá tốt.

5. “Thân thiện”. Lên kế hoạch thúc đẩy tình hữu nghị giữa Pháp và Việt Nam ở mọi cấp độ thông qua các chiến dịch công cộng và các chỉ thị, hành vi chính thức.

6. “Rõ ràng”. Mục tiêu và ý định của Pháp sẽ không bao giờ được hiểu chừng nào 95% sản lượng dịch vụ thông tin khổng lồ của Pháp và Việt Nam vẫn bằng tiếng Pháp và chỉ hướng đến cấp độ “tiến hóa”. Họ phải đi đến tận gốc rễ.

III. Chương trình hành động của người Việt.

Chương trình này, chủ yếu được nêu trong điểm 5 ở phần 2, trên mặt trận chính trị, phải bao gồm việc thành lập Quốc hội sớm và tăng dần quyền lực của Quốc hội; tổ chức bầu cử ở những khu vực khả thi; thành lập các công đoàn có trách nhiệm; mở rộng quyền tự do dân sự trên diện rộng; nới lỏng dần sự kiểm soát của nhà nước cảnh sát phù hợp với tình trạng chiến tranh; tăng cường hiệu quả hoạt động của chính phủ và chiến dịch chống tham nhũng; tập trung vào nhiệm vụ phát triển đội ngũ cán bộ địa phương và tỉnh thành can đảm và tháo vát; và cuối cùng là chuyển đổi hệ thống thông tin của người Việt vốn cồng kềnh và tốn kém thành công cụ hiệu quả.

Trong nhiều lĩnh vực này, trách nhiệm tất nhiên vẫn được chia sẻ với Pháp. Pháp nên làm rõ rằng họ ủng hộ cải cách.

Ngay cả khi mọi ràng buộc được loại bỏ, người Việt cũng không tự động tạo ra kết quả. Chúng ta phải liên tục sử dụng đòn bẩy của mình.

Chương trình hành động của Pháp như đã nêu ở trên cần được người Việt đáp lại bằng những hành động cụ thể và sự trân trọng: cụ thể hơn, có lẽ là sự công nhận nghĩa vụ của người Việt đối với Liên hiệp Pháp.

IV. Kết luận.

Trên đây dường như là chương trình tối thiểu nếu muốn dọn sạch bụi rậm để xây dựng cấu trúc mới, đảm bảo rằng viện trợ của Mỹ sẽ không vô ích ở mức độ cao hơn so với bộ máy hiện tại. Về phía Pháp, điều này chủ yếu đòi hỏi thái độ mới hoặc ít nhất là thể hiện rõ hơn thái độ thực sự của họ, còn về phía Việt Nam, điều đó có nghĩa là định hướng lại và củng cố chính phủ hợp pháp duy nhất mà Mỹ có thể sử dụng.

Điều quan trọng nhất trong quan hệ Pháp-Việt là phải chủ động. Thật không may, những nhượng bộ thực sự của Pháp lại diễn ra sau chứ không phải trước những sự kiện như sự xuất hiện của Trung Cộng ở biên giới; sự sụp đổ của Fontainebleau, thất bại tại Cao Bằng, mối đe dọa chiến tranh thế giới khi bắt đầu chiến dịch Triều Tiên; và sự thất vọng của Pháp đối với Hòa Bình.

Lần này, Pháp và Bảo Đại nên nỗ lực hết sức để công bố và thực hiện chương trình kịp thời. Nếu không, dường như không còn gì để thử ngoài việc

[Trang 141] các lựa chọn đáng ngờ là đàm phán với kẻ thù; hoặc quốc tế hóa, với những kết quả khó lường đối với chính trị cộng đồng quốc tế và kêu gọi sự can thiệp của Lực lượng Mỹ; hoặc tiếp tục tình trạng bế tắc, dù có thể đang tiến gần đến giải pháp nhưng chắc chắn là một trở ngại đối với thế giới Pháp.

Heath.

1.    Bức điện tín này được truyền đi thành sáu phần.

2.    Musto 429 được mô tả trong chú thích 3, ở trên.

3.    Letourneau đến Sài Gòn vào ngày 21 tháng 4.

4.    Trong bài phát biểu nhân dịp đến Sài Gòn, ngày 21 tháng 4, Letourneau nhấn mạnh tính liên tục của chính sách Pháp dựa trên nền độc lập của các Quốc gia Liên kết trong Liên hiệp Pháp, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nhanh chóng các quân đội quốc gia, lên án sự tranh cãi nội bộ và chủ nghĩa cản trở, và kêu gọi tiết kiệm trước kẻ thù chung (Thông điệp chung Weeka 17 từ Sài Gòn, ngày 27 tháng 4 năm 1952; 751G.00(W)/4–2752).

5.    Xem điện tín 2218 từ Sài Gòn, ngày 10 tháng 5, ở trên.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1

1.    Document 61

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

751G.5 MSP/5–1252: Telegram

The Minister at Saigon (Heath) to the Department of State1

secret

Saigon, May 12, 1952—3 p.m.
[Received 7:31 a.m.]

2224. Sent Paris unn, Phnom Penh unn, Vientiane unn, Hanoi unn. Re Musto 429.2

1. Letourneau‘s arrival in Saigon3 as first Fr resident Min of State occasion for fresh approach Vietnamese problem. Continued lack polit dynamism in Viet, snail’s progress of govt in popularity, auth, and fiscal econ or social reform causes grave concern particularly when contrasted with unyielding will and drive of Ho Chi Minh. Unless this situation improves rapidly it may undo any milit effort or accomplishment against VM. This is apprehension of Fr and Leg.

[Page 135]

The Bao Dai camp has infinitely greater advantages but has not been able so far to win nor demonstrate that it will ever win decisively. Bao Dai and Ho each have roughly 11,000,000 Viets in their respective zones. Former has practically all good rice lands, rubber plantations, coal mines, ports, cement factories and major facilities. Ho Chi Minh lives in malarial foothills at bare subsistence levels. Bao Dai has more men under arms than Ho Chi Minh, is helped by the elite of Fr regular forces; Fr spends billion dollars a year here and US will have spent something over billion by end FY 53. Fr Union forces have aircraft, warships, tanks, heavy artillery, napalm; the Commies have had only trickle of Chi light arms aid.

VM losses, even if only half French estimates, are about five times those of Fr Union and many times greater than those of France. Yet, in spite of this Franco-Bao Dai numerical, material and fin superiority, bulk of Fr Union troops are still hemmed in Tonkin perimeter and are devoting themselves (with some success) to operations against the enemy who have penetrated their stockade.

There are several causes for this situation. One is fact that a fanatically indoctrinated guerilla force possessed of mobility, a privileged sanctuary (China) and increasing foreign (Chinese) assistance can always prolong resistance even against even greatly superior reg forces.

But in addition are these facts: (a) Ho‘s Govt is apparently more efficient, dedicated, disciplined and harder working than legal govt. (b) Ho, because of stronger police power, better propaganda and Communist “community sense” can both force and to some extent even persuade his people to pay heavy taxes—generally to devote possible ½ of GNP to war effort (no factual data available and personal evaluations differ) and to keep on fighting in spite of tremendous privationS (c) There is a mistrust and even hatred of Fr accumulated thru colonial subjection and founded on racial differences and which has not been allayed by effective or timely French action or propaganda.

In this situation of near-stalemate there are three basic and dangerous problems which must be attacked. First is continuation of Franco-Viet tensions which sterilize progressive plans; another is insufficiency and unpopularity of Huu Govt. Him has to his credit foundation of Viet Govt apparatus. He has not been able to form an effective govt of natl union including respected Natl elements on present polit bases. I believe in his sincerity but too many Viets do not. In part, his inability to attract better element to his govt is due to failure of Fr to convince Viet intellectuals—and the peasants—that France really means to get out of Vietnam once hostilities cease and that meanwhile they are fighting Vietnamese battle of independence [Page 136] against secret Chi invasion. Another cause lies in Huu‘s inability to share auth. He insists on retaining essential powers and major decisions in his own hands. His Ministers are merely subordinates. His is a mistrustful one-man show and on such terms he is unable to attract the ablest men to govt.

Third problem is refusal of Bao Dai to accept consistent active responsibility for conduct of govt. One is almost inclined to doubt that Bao Dai, despite protestations to that effect, really wants an efficient popular govt. He clearly does not want such a govt which wld be dominated by a politician of republican tendencies in whom he will see arival.

With regard to first problem, Letourneau and his closest advisors now see the urgent necessity of doing something dramatic to dispel hatred and distrust of French. They are prepared to see nationalist elements with anti-French records figure in a new Viet Govt. They are ready to reorganize the High Commissariat in a more acceptable form, to initiate certain economic aid actions and to improve French propaganda in IC. Our role is to encourage French in this new approach and for our information service to help theirs.

With regard to second and third problems, French have been endeavoring, and we have supported their efforts, to persuade Bao Dai to order the formation of an efficient representative govt which wld promptly undertake necessary reforms and action. Letourneau‘s view is, and rightly, that he must not be placed in position of demanding either the dismissal of Huu or a fundamental change of govt. This must be done on initiative of Bao Dai. However, Letourneau‘s present opinion is that it is in fact impossible at moment to find proper successor for Huu as Premier of Govt of National Union; that only effective solution is for Bao Dai himself, as an interim measure, to take over presidency of Council of Ministers with men like Tri, possibly Ngo Dinh Diem perhaps one or two others serving as vice presidents. I believe this solution shld be attempted. I am not, however, sanguine that even adding our exhortations to those of French will persuade Bao Dai to accept such an increase in activity (small as it wld be), decisions and responsibility. Without a convincing, well-publicized French action program giving Vietnamese more confidence in future it is uncertain that Bao Dai cld be lured from his retreat, or that nationalist elements wld now rally to his leadership.

Whether or not present Huu government is changed and Bao Dai can be persuaded to live up to his responsibilities there are certain measures which in our opinion must be undertaken promptly—(1) by French, and (2) by Viet Govt. They are specified in this and immediately succeeding telegram. If Dept agrees, we shall urge them [Page 137] on Letourneau and his advisors, and on Viet Govt and Bao Dai. If, as it now seems probable, Letourneau elects to make trip to Washington in June they can be discussed with him there.

I. A French action program.

A.

French bona fides: Letourneau has assured AS of France’s faithfulness to its mission. Yet rumors of French plans to negotiate with Ho Chi-Minh and Sino-Commies are multiplying. Huu himself believes them. The French shld do what they can to remove these suspicions officially and publicly. Neither Viet nor ourselves can be expected to give utmost to solution which may be abandoned without warning. In meantime, until west has made up its mind about what it wld do in case of Chinese invasion, French can be expected to consider channels of escape or negotiation.

B.

An evolutionary statement: A statement of French plans for IC independence made during a war of uncertain duration cld hardly name a date or set a timetable; at the least, it might say that when and as peace is restored the position of Associated States within French Union cld be reconsidered. (This wld be much more cautious declaration than that of General Templer in Malaya in not wholly dissimilar circumstances.) It shld be accomplished by a series of French acts and statements which wld testify to French desire for evolution within French Union. French have such statement under consideration; Letourneau is dubious and Offroy is in favor. Many of arguments against an evolutionary statement have now been removed. Since the Pau agreements, there exists the armature of Viet Govt, however imperfect: there are now 37 Viet battalions as compared to 5, two years ago; Viet balance of payments is now favorable (due, it is true, to French military expenditures); Viet people are less deceived about the character of Viet Minh; French Union forces wld no longer be shocked by such statement; and (subject to Paris views) it seems possible the French public and Parliament wld accept it. French position wld seem to have moved far enough so that such declaration wld catch up with facts.

C.

Reorganization of French representation in IC: Letourneau has given me heartening assurances of progressive plans in this respect. At present the High Commissariat too closely resembles the instrument with which France governed its colonies. It ought now to be remodeled in direction of its final form as a mission to Associated States govts, with a group of attached aid missions. French regional commissariats shld be “phased out.” The rolls of French functionaries shld be more rapidly reduced. Statements on the numbers who remain and their justification shld be more candid and less defensive; bureaucrats of “old colonialist stripe” shld be despatched to colonies.

D.

French aid to Associated States: At present, except for very small advances to Laos, French aid is in form of heavy military expenditures, including major costs national armies, and subsidies to French institutions and firms. French shld be encouraged to set up separately in French budgets a direct IC economic aid allocation together with French military aid to native armies. This wld be identified as French aid. The recommendation Letourneau has already made to Paris in this respect shld be encouraged in order to give the French Union affiliation a positive value in Vietnamese eyes rather than a negative tutelary character.

E.

Fr Union and AS Dipl representation: Internal Fr Union relations shld move toward Commonwealth model, with exchange HI COMMs among AS and with Fr. Letourneau tells me this has already been decided but it has not yet been publicized. AS shld be encouraged open diplomatic relations with more countries. Mar 8 agreements not withstanding (including Jap).

F.

Mar 8 and Pau accords: Various provisions Mar 8 accords such as some those with respect fon relations have already been outdated; those provisions which exclude fon technicians needed carry thru program described in our fol tel must surely be relaxed in practice; the stipulation that no Viets decree or law which affects Fr interest cld become law unless and until it is promulgated by Fr HICOMM appears incompatible with loyal relations among AS and should be changed. It appears, however, premature for US urge major alterations in either Customs Union or central banking arrangements established after bitter discussion at Pau. Altho AS and Fr both appear believe that quadipartitism or even bipartitism unworkable in long run due polit separatist tendencies, this does not appear moment to upset only recently established organisms with unfavorable result on shaky econs of AS. More conservative position appears be urge all parties continue endeavor make Pau organisms work without attempt by any party use their veto power to secure preferential power positions.

G.

The organs of the Fr Union: Fr shld by this time have devised formula for operation governing organisms of Fr Union, and interpretation Fr constitution which does more honor to principle of independence AS while preserving paramount metropolitan influence still necessary to common cause. There may be other details which are outmoded and restrictions which are no longer desired by the Fr. Letourneau shld not be in position of being forced by events into making piecemeal rulings but shld be able think himself now and expound any liberal interpretation these basic instruments which it safe to make, or which are already constructively in effect.

H.

The Viets Army: In Viet opinion its tardy creation owes as much to VM pressure on Fr and threat of world war as to Fr good-faith. Yet Army in principle evidence and hope of statehood and proof that dialogue does lead to independence for Vietnam. If good share measures proposed in this brace tels are carried thru by Fr, Viets Army may be developed into patriotic and reliable instrument. Fr cld abandon present reserves about speeding up officer procurement and formation of staffs and services (Letourneau has said he for speed up). Dalat School intake cld be doubled or number schools increased. Training of more officers in Fr and US cld be accepted. US aid cld be applied to problem.

I.

Viets foreign trade: Assuming that Fr do not demand unduly preferential regime at current Paris interstate econ talks, reasonableness Fr position cld be exploited here. Letourneau might well say that whereas Fr Union is a mutually supporting assoc which aims maximize benefits and security of all, Fr is not insensible to particular problems and concerns which geography imposes on the several members. Fr and Vietnam have only advantages to gain in protecting and advancing their trade by reasonable measures; at same time Fr aware that Vietnam member Asian as well as Fr community. Increase in trade with non-Commie Asia and Jap, with due safeguards to Fr concerns and established trade channels, shld be Fr as well as Amer and Viets goal.

J.

Viets capital: Fr shld favor and declare themselves in favor Viets capital formation, consistent with needs war and orderly development. Fr shld encourage development Viets banking facilities and shld not oppose measures to foster reasonable amt reinvestment in Vietnam of the large profits made by fon firms.

II. Propaganda projects and methods.

1.

If above program adopted, maximum publicity gains shld be made in its execution. It shld be unfolded in closely-timed speeches; and applied in stages designed for cumulative effect accompanied by telling propaganda gestures.

2.

The Norodom Palace: Perhaps most important these wld be transfer this symbol Fr hegemony. As isolated gesture it wld have slight effect. As part orchestration described above, it wld compound effect Fr action program.

3.

Bao Dai: In his torpid mood, His Majesty has little impact on sitn. Even adrenal spurt will on his part wld not transform sitn without basic program. We shld back any measures Letourneau can suggest to present him as more responsible, dynamic, persevering, self-denying and popular. If Fr give him Palace, he shld bring his family live in it.

4.

“Austerite”. Vide Letourneau‘s airport speech;4 this all to good.

5.

“Amabilite”. Plan promote amity between Fr and Viets at all levels by public campaigns and official directives and conduct.

6.

“Clarte”. Fr goals and intentions will never be understood so long as 95 percent output vast Fr and Viet info services is in Fr and addressed solely to “evolue” levels. They must get down to the rice roots.

III. A Viets action program.

This chiefly set forth in second tel;5 on polit front it must include early formation Assembly and gradual increase its powers; elections in areas where these are possible; formation responsible trade unions; wide area civil liberties; progressive relaxation police state controls consistent with state of war; increased efficiency in govt and campaign against corruption; concentration on task of developing courageous and resourceful resident regional and provincial cadres, and finally the transformation of large and costly Viets informational service into effective instrument.

In many these fields responsibility is of course still shared with Fr. Fr shld make clear they favor reform.

Even if all restraints were removed Viets wld not automatically produce results. Our leverage must be continuously applied.

Fr action program as above outlined shld be met with concrete gestures appreciation by Viets: specifically, perhaps Viets recognition Viet obligations to Fr Union.

IV. Conclusion.

Above seems minimum program if underbrush is to be cleared away for new structure which will assure to greater degree than present apparatus that US aid will not have been given in vain. On part Fr it calls chiefly for new attitude or at least better exhibition their true attitudes, and on Viet side it means reorientation and toughening of only legal govt thru which US can work.

Great thing in Franco-Viets relations is to be forehanded. Unfortunately very real concessions made by Fr have followed rather than preceded such events as arrival Chi Commies on frontier; collapse Fontainebleau, defeat at Cao Ban [Bang], world war threat at beginning Korean campaign; and Fr disappointment Hoa Binh.

This time Fr and Bao Dai shld make supreme effort announce and execute timely program. Otherwise there seems nothing left try except [Page 141] dubious alternatives of negot with enemy; or internationalization, with its unpredictable results for IC politics and calls on US Forces; or continuance of stalemate which may be inching toward solution but which is sure handicap to Fr world.

Heath

1.    This telegram was transmitted in six parts.

2.    Musto 429 is described in footnote 3, supra.

3.    Letourneau arrived in Saigon on Apr. 21.

4.    In an address on the occasion of his arrival at Saigon, Apr. 21, Letourneau emphasized the continuity of French policy based on the independence of the Associated States within the French Union, stressed the importance of the rapid development of the national armies, denounced internal quibbling and obstructionism, and appealed for austerity in the face of the common enemy (Joint Weeka 17 from Saigon, Apr. 27, 1952; 751G.00(W)/4–2752).

5.    See telegram 2218 from Saigon, May 10, supra.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d61

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_135

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_136

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_137

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_141

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d60fn3

Thân thế (các) nhân vật

Bao Dai,

Chief of State of Vietnam.

Heath, Donald R.,

Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath

https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read

https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/

Ho Chi Minh,

President of the Democratic Republic of Vietnam; also Chairman and General Secretary of Dang Lao Dong, Workers’ Party of Vietnam, leader of the Vietnamese Communist Party and President of the Democratic Republic of Vietnam until his death in 1969

Letourneau, Jean,

French Minister in Charge of Relations with the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner in Indochina, April 1952–July 19, 1953.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220

https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53

https://en.wikisource.org/wiki/United_States_%E2%80%93_Vietnam_Relations,_1945%E2%80%931967:_A_Study_Prepared_by_the_Department_of_Defense/IV._A._4._U.S._Training_of_Vietnamese_National_Army,_1954%E2%80%9359

https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html

20250105 Ngo Dinh Diem,

President of the Council of Ministers of the State of Vietnam to October 1955; thereafter President and Chief of State of the Republic of Vietnam

https://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Dinh_Diem

https://millercenter.org/the-presidency/educational-resources/diem-coup

https://www.jfklibrary.org/search?f%5B0%5D=digitized_collection%3APapers%20of%20John%20F.%20Kennedy.%20Presidential%20Papers.%20President%27s%20Office%20Files.&f%5B1%5D=source%3A46&f%5B2%5D=subject_place%3AVietnam

https://www.jfklibrary.org/asset-viewer/archives/jfkpof-128-010#?image_identifier=JFKPOF-128-010-p0003

https://www.jfklibrary.org/search?f[0]=subject:Vietnam%20War,%201961-1975

https://www.jfklibrary.org/search?f%5B0%5D=subject_person%3ANgo,%20Dinh%20Diem,%201901-1963&f%5B1%5D=source%3A46

The Diem Coup audio

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/sets/the-diem-coup

February 1, 1966: President Johnson remembers Diem coup (admitted) to Eugene McCarthy

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/february-1-1966-president

November 4, 1963: President Kennedy on the Diem coup

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/november-4-1963-president-kennedy-on-the-diem-coup

Toàn văn phát biểu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ năm 1957

https://www.youtube.com/watch?v=vKqHv23Cq3k

NHỚ LẠI NHỮNG NGÀY Ở CẠNH TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM (Full) - Tài Nguyễn Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=sWTTgB7oE6U&t=6927

Bà Ngô Đình Nhu năm 1982 (Providence Nguyễn phụ đề Việt Ngữ)

https://www.youtube.com/watch?v=2iEu0jx6fGU&t=131s

Một phụ nữ miền Bắc viết về cố TT Ngô Đình Diệm.

https://www.youtube.com/watch?v=UMEkUQRp01o

"The Death of Diem and Nhu"

https://www.youtube.com/watch?v=U8O1HOTXS8A

"The Coup in Saigon"

https://www.youtube.com/watch?v=k4IaJYiNanc

"Everybody'll Say We Did It"

https://www.youtube.com/watch?v=Jaai1NdZ70k

"We Have Plans for Withdrawal"

https://www.youtube.com/watch?v=0BABdRu7FY0

"The Road to Disaster"

https://www.youtube.com/watch?v=dr5dRFVV-ok

https://www.youtube.com/channel/UChty22qJfdeAd8dAee9Mo7g/featured

“The President Is Dead”

https://www.youtube.com/watch?v=lD-akTUBFWs

“That Wasn't What Killed Kennedy”

https://www.youtube.com/watch?v=LAF0JGttS3E

Kennedy and Vietnam: The great what-if

https://www.youtube.com/watch?v=6XLhqXt2pww

JFK, LBJ and the Paradox of Vietnam

https://www.youtube.com/watch?v=TYRsahM-GqQ&t=2054

BÀI 305: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA

http://www.bacaytruc.com/index.php/16996-bai-305-nhin-l-i-l-ch-s-d-nh-t-c-ng-hoa-tac-gi-vu-linh-ddtc

BÀI 306: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA

https://diendantraichieu.blogspot.com/2023/11/bai-306-nhin-lai-lich-su-e-nhi-cong-hoa.html

BÀI 307: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: VAI TRÒ CỦA MỸ

http://www.bacaytruc.com/index.php/17092-bai-307-nhin-l-i-l-ch-s-vai-tro-c-a-m-tac-gi-vu-linh-ddtc

Meetings: Tape 109. Meeting on Vietnam, 10 September 1963

https://bcbolt446c5271-a.akamaihd.net/media/v1/pmp4/static/clear/6057940510001/8bee104f-e149-4294-b43b-f40bbc246321/0e80236a-0f2c-4399-8eb5-bfd712213b49/main.mp4?akamai_token=exp=1705114905~acl=/media/v1/pmp4/static/clear/6057940510001/8bee104f-e149-4294-b43b-f40bbc246321/0e80236a-0f2c-4399-8eb5-bfd712213b49/main.mp4*~hmac=44ee030f5f5af43e69fe5e5497c55ed3372b6fa624dcf81013e3ceac53ae7c27

https://en.citizendium.org/wiki/Ngo_Dinh_Diem/Related_Articles

JFK and the Diem Coup

https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB101/

Evidence on the Diem Coup in South Vietnam 1963

https://www.tokyoprogressive.org/evidence-on-the-diem-coup-in-south-vietnam-1963/

***Tài liệu liên quan tới Diệm Coup***

Hồi Ký Miền Nam | ĐÊM PHAN THIẾT

https://www.youtube.com/watch?v=skRKrMGtVKY&t=1771

NHỮNG CÁI CHẾT TRONG CÁCH MẠNG 1-11-1963

(Chương 1: MỘT HÌNH THỨC THỦ TIÊU ĐẠI TÁ LÊ QUANG TUNG)

https://www.youtube.com/watch?v=hatVAqrKXEc&t=350s

(Chương 2: TRƯỜNG HỢP ĐẠI TÁ HỒ TẤN QUYỀN)

https://www.youtube.com/watch?v=Sh7_jRigXOs&t=4s

(Chương 3: TRƯỜNG HỢP ĐẠI TÁ HỒ TẤN QUYỀN - TIẾP THEO)

https://www.youtube.com/watch?v=-dJfhEF2s9k

(Chương 4: TRƯỜNG HỢP ĐẠI TÁ HỒ TẤN QUYỀN - TIẾP THEO)

https://www.youtube.com/watch?v=DjjZh9n3D9M

(Chương 5: ANH HÙNG CÁCH MẠNG ĐẠI ÚY BÙI NGƯƠN NGÃI)

https://www.youtube.com/watch?v=XXMXbZFpuoc

(Chương 6: ANH HÙNG ĐẠI ÚY BÙI NGƯƠN NGÃI - TIẾP THEO)

https://www.youtube.com/watch?v=9_l6apMRxaI

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 1 / Diễn Đọc Thiên Hoàng

https://www.youtube.com/watch?v=WE8V8aNWQeQ&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 2/ Diễn Đọc Thiên Hoàng

https://www.youtube.com/watch?v=GeLV-qHmkk4&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=2

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 3 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=NzK8Y9WsHwU&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=3

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 4 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=5KDVIxZHTW8&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=4

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 5 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=w3pbbRs4oj8&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=5

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 6 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=_HTX1X8K23k&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=6

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 7 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=EXx6Yt_Owbk&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=7

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 8 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=QG31Lx3TYyk&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=8

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 9 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=LTkYYSwf71g&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=9

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 10 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=5KfJfRjN5eI&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=10

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 11 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=ARwaHPp9PvE&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=11

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 12 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=4sOFJ12hn9Y&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=12

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 13 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=fzE03QRMhW4&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=13

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 14 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=k37rJZNIbMs&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=14

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 15 / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=OnSocp2Fdrs&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=15

Nhật Ký Đỗ Thọ Người Tùy Viên Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm Phần 16 kết thúc / Thiên Hoàng Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=ko7ORvDAAFQ&list=PLGkmQGfzDWEbWhEdSTORZRQXHYq6Rv9dT&index=16

Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc, Tập 1

https://www.youtube.com/watch?v=pF_IgO4Alhk

Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc, Tập 2

https://www.youtube.com/watch?v=KX_G6SoC4YI

Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc, Tập 3

https://www.youtube.com/watch?v=cqaXNVx8UMc

Ngô Đình DIệm và Chính Nghĩa Dân Tộc, Tập 4

https://www.youtube.com/watch?v=rlIXyflVUGE

Ngô Đình Diệm và Chính Nghĩa Dân Tộc, Tập 5

https://www.youtube.com/watch?v=2ei1TC6vfWY

Toàn văn phát biểu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ năm 1957

https://www.youtube.com/watch?v=vKqHv23Cq3k&t=299s

20241214 CDTL South Vietnam Not Bound by Geneva Accords 1954

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241214-cdtl-south-vietnam-not-bound.html

20241110 CDTL Tuyên Cáo Lãnh Thổ Lãnh Hải VN

https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/11/20241110-cdtl-tuyen-cao-lanh-tho-lanh.html

Vietnamese Communists Relations with China and the Second Indo China Conflict 1956-1962

Quan hệ giữa người cộng sản Việt Nam với Trung Quốc và cuộc xung đột Đông Dương lần thứ hai 1956-1962

https://eprints.soas.ac.uk/28956/1/10673200.pdf

Theo Tuyên bố sau cùng của Hội nghị Geneva năm 1954 về vấn đề Việt Nam, cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức sau đó hai năm vào tháng 7 năm 1956 dưới sự giám sát của một ủy ban quốc tế gồm các đại diện của Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế (ISCC).

Ngoài ra, còn có quy định rằng các cuộc tham vấn giữa miền Bắc và miền Nam về cuộc tổng tuyển cử sắp tới sẽ bắt đầu sớm hơn một năm, kể từ ngày 20 tháng 7 năm 1955.

Ngày 7 tháng 6 năm 1955, Phạm Văn Đồng tuyên bố Hà Nội sẵn sàng tham vấn với miền Nam Việt Nam để thảo luận về tổng tuyển cử.

Tuy nhiên, vào ngày 16 tháng 7 (năm 1955), Ngô Đình Diệm tuyên bố trên sóng phát thanh rằng vì Nam Việt Nam không ký Hiệp định Geneva nên không bị ràng buộc bởi Hiệp định này.

Hai ngày sau, ngày 19 tháng 7 (1955), Đồng gửi công hàm cho Diệm yêu cầu ông chỉ định đại biểu tham dự hội nghị tham vấn.

Nhưng vào ngày 10 tháng 8 (1955), Diệm tái khẳng định tuyên bố ngày 16 tháng 7 (1955)và bác bỏ mọi cuộc đàm phán với miền Bắc. Vào ngày 21 tháng 9 (1955), ông ra tuyên bố thứ hai tuyên bố rằng sẽ không có vấn đề gì về một hội nghị hay bất kỳ cuộc đàm phán nào với những người cộng sản.

Hai tuần sau, vào ngày 4 tháng 10 (1955), Diệm tuyên bố rằng một hội đồng dân cử sẽ được thành lập ở Nam Việt Nam vào cuối năm.

Sau đó, vào ngày 23 tháng 10 năm 1955, ông tuyên bố Nam Việt Nam là một nước cộng hòa và ông giữ chức Tổng thống.

Phạm Văn Đồng tiếp tục thúc đẩy các đồng chủ tịch Hội nghị Geneva 1954 triệu tập hội nghị hiệp thương theo đúng quy định của Hiệp định Geneva.

Khi Ngô Đình Diệm thông báo vào tháng 12 năm 1955 rằng cuộc bầu cử đơn phương sẽ được tổ chức tại Nam Việt Nam vào tháng 3 năm 1956, tuyên bố của ông đã ngay lập tức bị những người cộng sản Việt Nam lên án.

https://eprints.soas.ac.uk/28956/1/10673200.pdf

Discover the Truth at:

http://www.theblackvault.com

https://www.theblackvault.com/documentarchive/the-cias-vietnam-document-cd-rom/

Nguyen Huu Tri,

Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet (Vietnamese political party).

Sihanouk, Prince Norodom,

Norodom Sihanouk,

King of Cambodia to March 1955, thereafter Prince of Cambodia; Prime Minister and Foreign Minister, October 1955–January 1956; Prime Minister, Foreign Minister, and Minister of the Interior, March–April 1956; Prime Minister, September–October 1956; Prime Minister, Foreign Minister, Minister of Plans, and Minister of the Interior, April–July 1957

Cambodian Head of State until March 1970; thereafter, leader of Cambodian Government in exile in Beijing

Prince, Head of State of Cambodia until March 18, 1970; thereafter, leader of the Cambodian government-in-exile in Beijing (GRUNK)

4/11/75 - Phnom Penh Evacuation

Offroy, Raymond,

Diplomatic Counselor to the French High Commissioner in Indochina, 1952–1953; Deputy Commissioner-General, 1953–1954; French Ambassador in Thailand from May 1954.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48

https://search.library.wisc.edu/digital/ABHSHVCERGRA6I86/pages/AVDVZOKLBD6EGZ82?as=text&view=scroll

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/persons

https://search.library.wisc.edu/digital/AO2WVLY2YVFBWI8B/pages/AP6OH63ZF3MU2E84?as=text&view=scroll

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d292

https://legal.un.org/legislativeseries/pdfs/volumes/book14.pdf

https://eprints.soton.ac.uk/424345/1/LIBRARY_COPY_FERGUSON_PhD_Thesis.pdf

https://anyflip.com/mhnd/wfad/basic/351-400

 


No comments:

Post a Comment