Saturday, July 25, 2026

20260726 CDTL DDE D196 16 March 1953 Điện văn của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Việt Minh xâm nhập vào Mekong

20260726 CDTL DDE D196 16 March 1953 Điện văn của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Việt Minh xâm nhập vào Mekong


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d196

Google Translated

Tài liệu 196

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

751G.00/3–1653: Điện văn của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Sài Gòn, ngày 16 tháng 3 năm 1953 — 9 giờ sáng.

1797. Đã gửi bản sao tin cho Hà Nội; Paris (không đánh số). Hôm qua, tôi đã đến Ban Mê Thuột để chào từ biệt Bảo Đạigiới thiệu Tham tán mới, ông Robert McClintock.

1. Bảo Đại đã thảo luận về việc mở rộng Quân đội Việt Nam. Kinh phí cho 54 tiểu đoàn biệt kích trong năm 1953 đã được đảm bảo nhờ sự hỗ trợ của Pháp và dự kiến ​​gia tăng nguồn thu ngân sách chung của Việt Nam; điều này cho phép nâng mức đóng góp của Việt Nam vào ngân sách quốc phòng từ 1,7 tỷ đồng bạc Đông Dương (piastre) năm 1952 lên 2,9 tỷ đồng trong năm dương lịch này. Đối với năm 1954, ông đề nghị tăng lên mức 98 tiểu đoàn theo khuyến nghị của Tướng Alessandri. Chi phí cho việc gia tăng này – khoản tiền mà Việt Nam không thể tự chi trả – sẽ phải do Pháp đài thọ (có thể bao gồm cả viện trợ từ Mỹ); tuy nhiên, Bảo Đại cho rằng Pháp hoàn toàn có thể tự lo liệu khoản này, vì chi phí phát sinh dự kiến ​​sẽ không vượt quá 30 đến 40 tỷ franc (tương đương khoảng 85 đến 117 triệu đô la Mỹ).

Ông cho biết Việt Nam không thể tăng mức đóng góp thêm nữa trong năm 1954. Tôi đã gợi ý với ông – cũng như từng đề nghị với Thủ tướng Tâm (xem Điện tín Đại sứ quán số 1796, ngày 15 tháng 3) – rằng Việt Nam có thể tăng thuế hoặc áp dụng các loại thuế mới, mặc dù việc này có thể vấp phải sự phản đối từ các nhóm lợi ích của cả Pháp và Việt Nam. Cụ thể, tôi đề nghị áp dụng một loại thuế tạm thời đối với các khoản chuyển tiền ra nước ngoài. Rõ ràng là ý tưởng về loại thuế này không mấy hấp dẫn hay làm hài lòng Bảo Đại. (Các khoản chuyển tiền ra nước ngoài của ông diễn ra thường xuyên và với số lượng lớn.) Ông đã không bàn luận về đề nghị này. Thay vào đó, ông cho rằng với việc mở rộng Quân đội Việt Nam, họ sẽ sớm quét sạch Việt Minh khỏi miền Nam Việt Nam; điều này [Trang 411] sẽ cho phép khôi phục hoạt động xuất khẩu gạo quy mô lớn, từ đó giúp tăng nguồn thu cho chính phủ.

2. Bảo Đại bày tỏ mong muốn cử một phái đoàn đặc biệt do Tướng Hinh dẫn đầu sang Hoa Kỳ, có thể là vào cuối tháng Tư, và hỏi liệu tôi có mặt tại Washington vào thời điểm đó hay không. Tôi nhắc lại (xem Điện tín Đại sứ quán số 1721, ngày 4 tháng 3) rằng Washington tán thành chuyến thăm của Tướng Hinh nhưng lưu ý rằng chuyến đi này sẽ làm việc với Ngũ Giác Đài; tuy nhiên, tất nhiên chúng tôi vẫn rất hoan nghênh việc gặp gỡ và trao đổi với ông ấy tại Bộ Ngoại giao. Bảo Đại không hề đề cập đến khả năng Thủ tướng Tâm cũng sẽ đến Washington vào cùng thời điểm đó, mặc dù theo lời Cheysson, ông Tâm đã thông báo cho Bảo Đại biết về mong muốn thực hiện chuyến đi này của mình.

3. Khi đánh giá tổng thể tình hình quân sự, Bảo Đại nhận định rằng phe địch vẫn nắm quyền chủ động. Ông dẫn chứng các cuộc giao tranh gần đây tại Huế hoặc vùng phụ cận—khiến lực lượng Việt Nam chịu tổn thất 30 người tử trận và 150 người mất tích—như những ví dụ điển hình cho các cuộc đột kích từ vùng lãnh thổ do Cộng sản kiểm soát ở miền Bắc vào các khu vực do phía Việt Nam nắm giữ. Ông cho rằng một trong những mục tiêu chiến lược của Bộ chỉ huy Việt Minh là thâm nhập tới tận sông Mekong.

4. Khi tôi hỏi ông ấy về ý kiến ​​của mình về người có thể thay thế Tướng Salan, Bảo Đại nói rằng ông ấy không có ý kiến ​​gì. Tuy nhiên, ông ấy cảm thấy rằng bộ chỉ huy cao cấp của PhápViệt Nam thường được lựa chọn dựa trên việc đáp ứng các yêu cầu của chính trị nội bộ Pháp hơn là dựa trên năng lực chuyên môn đặc biệt của họ. Ông ấy nói rằng hầu hết các tướng lĩnh Pháp được cử đến đây dường như coi nhiệm vụ này như một phương tiện để giành thêm huân chương trước khi trở về chính quốc. Cá nhân ông ấy không biết rõ tầng lớp lãnh đạo cao nhất của Quân đội Pháp, nhưng chỉ có thể hy vọng rằng nếu Salan bị thay thế, người kế nhiệm ông ấy sẽ không phải là người cùng loại với Carpentier. Ông ấy nhận xét rằng Tướng Alessandri sẽ là người lý tưởng để đảm nhiệm chức vụ chỉ huy cao cấp, nhưng cho rằng không có khả năng ông ấy được bổ nhiệm vì thiếu sự ủng hộ chính trị ở Pháp.

Nhận định: Cá nhân tôi đồng ý rằng Alessandri sẽ là một vị tổng tư lệnh đầy năng lực. Ông chắc chắn đã đạt được thành công vào năm 1949; còn những thảm họa quân sự vào mùa thu năm 1950 — vốn bắt đầu khi ông đang nghỉ phép tại Pháp do bất đồng với các kế hoạch quân sự của PhápBộ Chỉ huy của Carpentier — hoàn toàn không phải là lỗi của ông. Tôi cũng đồng tình rằng gần như không có khả năng thực tế nào để Alessandri được trao quyền chỉ huy, bởi ông đã bị biến thành vật tế thần cho những khiếm khuyết trong các kế hoạch quân sự của Pháp cũng như trong sự chỉ huy của Carpentier.

5. Về tình hình chính trị, Bảo Đại cho biết ông dự đoán sẽ có khó khăn ở miền Bắc. Ông dường như lường trước việc các ủy viên hội đồng thành phố mới đắc cử [Trang 412] sẽ từ chức để phản đối ý định của chính quyền muốn điều hành mà không cần tham vấn họ. Ông cũng cho rằng nguy cơ xảy ra bãi khóa của sinh viên tại Bắc Kỳ là rất cận kề.

Tuy nhiên, như thường lệ, nhà vua tỏ ra điềm tĩnh và nói rằng: "Khi tôi đến đây vào năm 1945, tôi đã bắt đầu từ con số không. Tình hình nay đã khá hơn đôi chút nhưng chúng ta cần rất nhiều kiên nhẫn. Mọi việc đều cần thời gian". Tôi hỏi ông định làm gì để ngăn chặn việc các ủy viên hội đồng ở miền Bắc từ chức, và ông trả lời rằng đây không phải là vấn đề của mình mà là của ông Tâm. Chính ông Tâm là người chịu trách nhiệm về tình trạng này do đã khăng khăng tiến hành các cuộc bầu cử.

6. Bảo Đại cho biết sức khỏe của ông đã khá hơn, nhưng ông đang rất mong chờ chuyến đi ngắn ngày tới Pháp vào tháng Năm; trong cuộc trò chuyện, có hai lần ông ngỏ ý mời tôi ghé thăm ông tại Cannes trên đường trở về Sài Gòn. Ông nói rằng các chuyến đi Pháp thường rất hữu ích vì chúng tạo cơ hội cho ông trao đổi với các nhân vật chính trị Pháp. Chẳng hạn, ông kể lại rằng vào năm 1950 [1949] — khi các hiệp định đang trong quá trình đàm phán — ông đã thuyết phục (và theo ông là đã thành công) một số nghị sĩ thuộc đảng RPF không lật đổ chính phủ Queuille vào thời điểm đó.

Sau buổi yết kiến ​​Hoàng đế, tôi đã có cuộc trao đổi dài với ông Nguyễn Đệ. Ông xác nhận nhận định của Bảo Đại (hoặc có thể chính ông là người đã cung cấp thông tin đó cho Bảo Đại) về những khó khăn sắp ập đến tại Bắc Kỳ, đồng thời khẳng định rằng bằng mọi giá phải ngăn chặn cuộc bãi khóa của sinh viên và nguy cơ từ chức của các ủy viên hội đồng thành phố. Về năng lực của Thủ tướng Tâm trong việc đối phó với tình trạng bất ổn chính trị ở miền Bắc, vị Bộ trưởng tỏ ra khá hoài nghi, mặc dù ông cho biết mình vẫn luôn ủng hộ ông Tâm khi trò chuyện với Bảo Đại. Ông nhận xét rằng ông Tâm là người có uy quyền và quyết đoán, nhưng vị thế lại trở nên bấp bênh do quá tin tưởng và dựa dẫm vào người Pháp.

Sau đó, ông đã chỉ trích gay gắt Tâm vì hành động tìm kiếm sự ủng hộ chính trị thông qua ý tưởng tổ chức bầu cử địa phương và thành lập Quốc hội một cách vội vã. Ông cho rằng Tâm chỉ đang hành xử như một chính trị gia đầy tham vọng, kẻ chỉ biết nghĩ đến lợi ích cá nhân mà phớt lờ mối đe dọa đối với đất nước từ phía Tầu cộng. Việc tổ chức bầu cử hay thành lập Quốc hội vào thời điểm này chẳng khác nào rơi vào bẫy của Việt Minh. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận rằng hiện tại không có ai khác ngoài Tâm đủ khả năng lãnh đạo chính phủ.

Heath.

1.    Bức điện này được truyền đi làm hai phần.

2.    Điện văn số 1721 từ Sài Gòn, đề ngày 4 tháng 3, đề cập đến các chuyến công du nước ngoài có thể diễn ra của các nhà lãnh đạo Việt Nam, không được in trong tài liệu này. (751G.11/3–453)

3.    Ngày 17 tháng 3, Đại sứ Heath rời Sài Gòn đi Washington để tham vấn và nghỉ phép, đồng thời tham gia các cuộc thảo luận giữa Hoa Kỳ và Pháp diễn ra trong chuyến thăm Hoa Kỳ của Thủ tướng Mayer từ ngày 26 đến 28 tháng 3. Heath không trở lại nhiệm sở cho đến tháng 6.

4.    Henri Queuille giữ chức Thủ tướng Pháp từ tháng 9 năm 1948 đến tháng 10 năm 1949.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1953: Declining French military fortunes; the Viet Minh invasion of Laos; accelerated United States aid for Indochina (Documents 162–490)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp2

1.    Document 196

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

751G.00/3–1653: Telegram

The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State1

secret

Saigon, March 16, 1953—9 a.m.

1797. Repeated information Hanoi, Paris unnumbered. I went to Ban Me Thuot yesterday to take leave of Bao Dai and to present new Counselor, Robert McClintock.

1.

Bao Dai discussed expansion of Vietnamese Army. Financing of 54 commando battalions for 1953 was assured by French help and anticipated increase in Vietnamese general revenues which would allow expansion of Vietnamese contribution to defense budget from 1.7 billion piastres for 1952 to 2.9 billion piastres this calendar year. For 1954 he recommended an increase as Alessandri had advised of 98 battalions. Cost of this increase which could not be borne by Vietnam would have to come from French possibly with American aid, but Bao Dai said that French should be able manage this alone since extra cost should not exceed 30 to 40 billion francs (roughly $85 to $117 million).

He indicated that Vietnamese could not again increase its contribution in 1954. I suggested to him as I had to President Tam (see Embtel 1796, March 15) that Vietnam could increase taxes or impose new ones although this would probably involve opposition from French and Vietnamese interests. I suggested specifically that temporary tax on financial transfers abroad could be levied. The idea of this tax was evidently not very interesting or pleasing to Bao Dai. (His transfers abroad are large and regular.) He did not discuss this suggestion. Instead, he said that with expansion of Vietnamese Army they should in fairly short time clean Viet-Minh out of South Vietnam, which [Page 411] would permit resumption of large rice exports with consequent increased revenues to government.

2.

Bao Dai brought up his desire to send special mission headed by General Hinh to States, probably in late April, and inquired whether I would be in Washington at that time. I repeated (see Embtel 1721, March 4)2 that Washington was agreeable to General Hinh’s visit but pointed out that it would be with Pentagon, although we would, of course, be glad to see and talk with him in Department. Bao Dai made no mention of possibility President Tam visiting Washington at same time, although according to Cheysson, Tam had informed Bao Dai of his desire to make trip.

3.

In an over-all survey of military position Bao Dai said that enemy still had the initiative. He referred to recent fighting in or near Hue during which the Vietnamese forces had lost 30 killed and 150 missing as illustrative of recent raids from Communist territory in north into Vietnamese-held areas. He thought one strategic objective of Viet-Minh command was to penetrate to Mekong River.

4.

When I inquired as to his notions as to who might replace General Salan, Bao Dai said that he had no idea. He felt, however, that French high command in Vietnam usually had been selected more with view to satisfy requirements of French domestic politics than for their special qualifications in field. He said that most French generals sent out here seemed to regard the assignment as means to winning more ribbons preparatory to their return to metropolis. He personally did not know the top echelon of the French Army, but could only hope that if Salan were replaced his successor would not be man of same stripe of Carpentier. He remarked that General Alessandri would be the ideal man to exercise high command but supposed there were no possibilities of his getting it because of his lack of political backing in France.

Comment: I personally agree Alessandri would be highly competent commander-in-chief. He certainly achieved success in 1949, and military disasters in fall of 1950, which began during his absence in France where he had gone on leave because of his disagreement with the French military plans and Carpentier’s High Command, were not his fault. I also agree that there is no practical chance of Alessandri getting command since he was made scapegoat for defects of French military plans and Carpentier’s command.

5.

On political situation Bao Dai said that he expected difficulties in north. He seemed to anticipate that recently-elected municipal [Page 412] councillors would resign in protest to the intent of administration to govern without their advice. He likewise thought there was very imminent threat of student strike in Tonkin.

However, Emperor as usual was philosophic and said that “when I arrived here in 1945, I started with nothing. Things are somewhat better but we need much patience. It takes time”. I inquired what he proposed to do to avert these resignations of councillors in north and he replied that this was not his problem but Tam’s. Tam was responsible for this development by his insistence on going ahead with elections.

6.

Bao Dai said that his health was better but that he was rather looking forward to short trip to France in May and on two occasions during our talk asked me to visit him in Cannes on my way back to Saigon.3 He said that his trips to France were generally useful since they gave him chance to talk with French political personalities. Thus he said that in 1950 [1949] while the accords were being negotiated, he had argued, he thought with success, with several RPF deputies not to overthrow the Queuille4 government at that time.

Following my audience with Emperor, I had lengthy talk with Nguyen De. He confirmed Bao Dai’s estimate (or possibly it was he who had furnished Bao Dai with the information) of impending difficulties in Tonkin and said that at all costs the forthcoming student strike and the threatening resignation of the municipal councillors should be quashed. As for the ability of the Prime Minister, Tam, to counter this political trouble in north, Minister expressed considerable doubt, although he said he had always upheld Tam in his conversations with Bao Dai. He said that Tam was man of authority and action, but his posture was brittle because of his too great confidence in and reliance on the French.

He then launched long criticism of Tam of seeking political popularity by premature idea of local elections and National Assembly. He was merely playing game of ambitious politicians who think only of their own interests and not of danger to country of Communist China. To hold elections or form National Assembly at this time would be merely to play into Viet Minh hands. Nevertheless, he said for time being there is nobody in sight to lead government except Tam.

Heath

1.    This telegram was transmitted in two parts.

2.    Telegram 1721 from Saigon, Mar. 4, concerning possible trips abroad by Vietnamese leaders, is not printed. (751G.11/3–453)

3.    On Mar. 17, Ambassador Heath departed from Saigon for Washington for consultation and leave, and in order to participate in the U.S.-French conversations which occurred during the visit of Premier Mayer to the United States, Mar. 26–28. Heath did not return to his post until June.

4.    Henri Queuille was Premier of France from September 1948 to October 1949.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d196

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_411

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_412

Thân thế (các) nhân vật

Bao Dai,

Chief of State of Vietnam.

Heath, Donald R.,

Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath

https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read

https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/

Mayer, René,

Prime Minister of France, January 8–June 28, 1953.

https://en.wikipedia.org/wiki/Ren%C3%A9_Mayer

https://www.archontology.org/nations/france/france_govt09/mayer.php

https://www.jta.org/archive/rene-mayer-former-prime-minister-of-france-dead-at-age-77

https://www.wikidata.org/wiki/Q382070

https://www.encyclopedia.com/religion/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/mayer-rene

McClintock, Robert,

Counselor of Embassy in Vietnam.

https://en.wikipedia.org/wiki/Robert_M._McClintock

https://www.usni.org/people/robert-mcclintock

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1126

https://history.state.gov/departmenthistory/people/mcclintock-robert-mills

https://www.nndb.com/people/689/000122323/

Nguyen De,

Adviser to Bao Dai, Chief of State of Vietnam; Chief of the Imperial Cabinet.

Nguyen Van Hinh,

Chief of Staff of the Army of the State of Vietnam, 1953–1954; son of Nguyen Van Tam.

Nguyen Van Tam,

Minister of the Interior of the State of Vietnam and Acting Governor of Northern Vietnam to June 3, 1952; Prime Minister of the State of Vietnam, June 3, 1952–December 17, 1953.

Salan, Général Raoul,

Commander of French Forces in Indochina, April 1, 1952–May 1953.

https://en.wikipedia.org/wiki/Raoul_Salan

https://www.britannica.com/biography/Raoul-Albin-Louis-Salan

https://www.britishpathe.com/asset/219896/

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d21

http://saigon-vietnam.fr/raoul-salan_en.php

https://foreignlegion.info/1952-battle-of-na-san/

https://grokipedia.com/page/Raoul_Salan

https://historfiction.fandom.com/wiki/Raoul_Salan

https://www.upi.com/Archives/1984/07/03/General-Raoul-Salan-one-of-the-four-French-military/7009457675200/

 

No comments:

Post a Comment