20260718 CDTL NRM D18 2 March 1973 18. Bản ghi nhớ của Kissinger Phụ tá Tổng thống về NSA gửi Tổng thống Nixon.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d18
Google Translated
Tài liệu số 18
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập XVIII, Trung Quốc, 1973–1976
18. Bản ghi nhớ của Kissinger Phụ tá Tổng thống về NSA gửi Tổng thống Nixon.
Washington, ngày 2 tháng 3 năm 1973.
CHỦ ĐỀ
Chuyến thăm Trung Quốc của tôi
Tổng quan
Các bản báo cáo riêng biệt đã trình bày những điểm chính về nội dung và bầu không khí trong chuyến thăm của tôi tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cũng như tường thuật đầy đủ về cuộc đối thoại giữa tôi và Chủ tịch Mao. Tài liệu này sẽ cung cấp thông tin chi tiết hơn về các cuộc thảo luận của tôi với phía Tầu cộng và đặt chúng trong bối cảnh mối quan hệ đang phát triển giữa hai bên.
Tôi đã dành hai mươi giờ cho các cuộc họp chính thức với Chu Ân Lai, gần hai giờ với Mao Trạch Đông, và thêm nhiều giờ nữa cùng Chu Ân Lai và các quan chức Tầu cộng khác tại các buổi tiệc chiêu đãi cũng như trong các chuyến tham quan. Các cuộc gặp này bao gồm cả những cuộc trao đổi với Phó Chủ tịch Diệp Kiếm Anh, Ngoại trưởng Cơ Bằng Phi và Thứ trưởng Ngoại giao Kiều Quán Hoa. Đây là những cuộc thảo luận cởi mở và thẳng thắn nhất, đồng thời sự đón tiếp dành cho chúng tôi cũng nồng hậu và mang đậm tính công khai nhất trong số tất cả các chuyến thăm của tôi. Điều này xuất phát từ sự kết hợp của nhiều yếu tố:
—Việc dàn xếp vấn đề Việt Nam;
—cách chúng ta ứng xử đầy thận trọng và chu đáo với phía Tầu cộng, cũng như việc thực hiện các cam kết kể từ tháng 7 năm 1971;
—mối quan ngại ngày càng lớn của Tầu cộng trước mối đe dọa từ Liên Xô;
—vấn đề tuổi tác ngày càng cao của các nhà lãnh đạo CHND Trung Hoa;
—nhu cầu cấp thiết nảy sinh từ đó nhằm đẩy nhanh quá trình bình thường hóa và thể chế hóa quan hệ song phương; và
—thực tế là hai bên đã trở nên quen thuộc với nhau sau năm chuyến thăm cùng hàng trăm giờ đàm phán tại Bắc Kinh và New York.
Quá trình phát triển quan hệ giữa hai bên
Sự phát triển trong mối quan hệ của chúng ta suốt hai mươi tháng qua thật đáng kinh ngạc. Tôi tin rằng đây là một trong những thành tựu nổi bật nhất của ông về mặt chính sách đối ngoại. Nếu tiếp tục xử lý vấn đề này một cách thận trọng, chúng ta sẽ còn gặt hái thêm nhiều thành quả—từ việc xoa dịu căng thẳng tại châu Á, thúc đẩy quan hệ với Moscow, cho đến việc xây dựng một nền tảng hòa bình nói chung.
Khi ông cử tôi đến Tầu cộng vào tháng 7 năm 1971, chúng ta hầu như không hình dung được điều gì đang chờ đợi phía trước khi phải phá vỡ bức tường ngăn cách, sự ngờ vực và thù địch đã tích tụ suốt hai thập kỷ. Kể từ đó, chúng ta đã đạt được những bước tiến nhanh và xa hơn nhiều so với bất kỳ dự đoán nào hay những gì thế giới bên ngoài có thể nhận thấy. Bởi lẽ, nói một cách thẳng thắn, giờ đây chúng ta đã trở thành những đồng minh ngầm. Quá trình chuyển biến đó đã diễn ra như sau:
—Khi ông nhậm chức, hoàn toàn không có sự liên lạc ngoại giao nào giữa hai chính phủ, không có sự giao lưu cá nhân hay thương mại giữa nhân dân hai nước, đôi bên công khai chỉ trích lẫn nhau, và thế giới quan của hai bên thì xung đột gay gắt.
—Trong hai năm rưỡi đầu tiên của chính quyền ông, chúng tôi đã thăm dò ý định một cách kín đáo thông qua các nước thứ ba, thực hiện các bước đi đơn phương công khai trong những lĩnh vực như thương mại và cấp hộ chiếu để phát đi tín hiệu, đồng thời định hướng các tuyên bố của mình theo hướng xây dựng một mối quan hệ mới. Những nỗ lực này đã dẫn đến thỏa thuận về nguyên tắc rằng ông sẽ gặp gỡ các nhà lãnh đạo Tầu cộng, cũng như chuyến đi thăm dò bí mật của tôi vào tháng 7 năm 1971.
—Chuyến đi tháng 7 năm 1971 của tôi đã khôi phục kênh liên lạc trực tiếp, xác nhận chuyến thăm Bắc Kinh của ông và cho thấy Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã sẵn sàng tiến tới bình thường hóa quan hệ. Tuy nhiên, Thủ tướng Chu Ân Lai cũng đưa ra những tuyên bố cứng rắn theo lập trường của họ, và chính sách của hai bên vẫn xung đột ở hầu hết các vấn đề lớn.
—Vào tháng 10 năm 1971, chúng ta đã thiết lập khuôn khổ cho chuyến thăm của ông, bao gồm cả những nét chính của bản thông cáo chung. Tuy nhiên, vấn đề Đài Loan vẫn là điểm vướng mắc trong bản thông cáo, và chính sách của hai bên vẫn còn xung đột trên nhiều phương diện.
—Chuyến thăm của ông vào tháng 2 năm 1972 là một bước ngoặt quan trọng. Nó ghi dấu ấn cá nhân của ông và Chủ tịch Mao Trạch Đông vào tiến trình bình thường hóa quan hệ. Thông cáo Thượng Hải đã xác lập các nguyên tắc chung trong các vấn đề quốc tế, khéo léo xử lý vấn đề Đài Loan thông qua sự thỏa hiệp mang tính nước đôi và có sự đồng thuận từ cả hai phía, khởi động hoạt động thương mại và giao lưu song phương, thiết lập kênh liên lạc công khai tại Paris, đồng thời thúc đẩy kênh liên lạc bí mật tại New York. Tuy nhiên, như nội dung thông cáo được công bố và các cuộc đối thoại riêng giữa chúng ta đã cho thấy, hai bên vẫn đang cải thiện quan hệ bất chấp những khác biệt về thế giới quan.
—Chuyến thăm của tôi vào tháng 6 năm 1972 đã đánh dấu bước chuyển biến đáng kể theo hướng tương đồng với quan điểm của chúng ta trong lập trường riêng của phía Trung Quốc về các vấn đề quốc tế. Dù vậy, cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn là yếu tố kìm hãm phía Tầu cộng, và trên thực tế, những gì chúng ta có thể ghi nhận công khai chỉ là sự gia tăng khiêm tốn trong các hoạt động giao lưu và thương mại.
—Trong chuyến đi vào tháng 2 năm 1973 này, cánh cửa hợp tác đã mở ra—cả trên bình diện kín đáo lẫn công khai—vì những lý do đã nêu. Các nhà lãnh đạo Tầu cộng thuộc số ít những người trên thế giới có tầm nhìn toàn cầu và dài hạn; tầm nhìn này hiện nay tương đồng với chúng ta trên nhiều phương diện quan trọng. Chúng ta có cùng quan điểm đối với các khu vực như Liên Xô, Châu Âu, Nam Á và thậm chí cả Nhật Bản. Ở những khu vực khác như Đông Dương và Triều Tiên, dù mỗi bên đều ủng hộ đồng minh của mình, chúng ta vẫn có chung lợi ích trong việc duy trì các quốc gia độc lập và giảm bớt căng thẳng. Riêng về vấn đề Đài Loan, hai bên đã đạt được một phương thức chung sống rõ ràng: về phía chúng ta là sự chuyển biến cụ thể, liên tục hướng tới quan hệ ngoại giao đầy đủ cùng mọi hệ quả đi kèm; còn về phía họ là sự kiên nhẫn và tinh thần thực dụng, thể hiện rõ nét nhất qua việc sắp tới sẽ cùng lúc hiện diện một Đại sứ quán của Trung Hoa Dân Quốc (ROC) và một Văn phòng Liên lạc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC). Trên bình diện song phương, hoạt động thương mại và giao lưu đang được đẩy mạnh tối đa. Về mặt đối ngoại công khai, phía Tầu cộng từ lâu đã nhắm vào Liên Xô để công kích, đồng thời ngày càng tỏ ra thân thiện trong các cuộc tiếp xúc công khai với chúng ta.
Dưới đây là những điểm chính trong các cuộc thảo luận của tôi với phía Tầu cộng, được trình bày theo từng chủ đề.
Liên Xô
Liên Xô là chủ đề chi phối các cuộc thảo luận của chúng tôi. Vào năm 1971, phía Tầu cộng có những nhận định khá dè dặt về các mưu đồ của Liên Xô, nhưng họ vẫn theo thông lệ mà xếp Mỹ và Liên Xô cùng một nhóm là hai siêu cường đang tìm cách xác lập quyền bá chủ. Đến thời điểm ông sang thăm, các nhà lãnh đạo Tầu cộng đã tỏ ra khá thẳng thắn về mối đe dọa từ Liên Xô nhưng lại tránh đi sâu thảo luận chi tiết về vấn đề này. Tới tháng 6 vừa qua, Liên Xô đã trở thành một trong hai chủ đề chính trong các cuộc trao đổi của tôi, bên cạnh vấn đề Đông Dương. Trong chuyến đi này, đây là trọng tâm và bao trùm lên toàn bộ nội dung thảo luận. Quan điểm của phía Tầu cộng thường được bộc lộ khi bàn về tình hình khu vực và sẽ được trình bày chi tiết ở phần sau của báo cáo này. Dưới đây là những nhận định mang tính khái quát hơn.
Ngay trong cuộc gặp đầu tiên, ông Chu đã đề cập đến vấn đề Liên Xô và liên tục quay lại chủ đề này. Ông đã triệu tập một cuộc họp đặc biệt vào tối ngày 17 tháng 2 để thảo luận về vấn đề này; khi kết thúc phần trình bày, ông thông báo về cuộc gặp giữa tôi và Mao Trạch Đông, trong đó vấn đề Liên Xô lại tiếp tục là một chủ đề trọng tâm. Chúng tôi cũng đã thảo luận kỹ lưỡng về vấn đề này vào ngày hôm sau. Ở bất kỳ khu vực nào trên thế giới, phía Tầu cộng cũng đều nhìn thấy sự can dự của Liên Xô. Như quý vị sẽ thấy trong phần thảo luận về các khu vực dưới đây, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã hối thúc chúng tôi phải đối phó với người Nga ở mọi nơi—cụ thể là hợp tác chặt chẽ với các đồng minh tại châu Âu và Nhật Bản, đồng thời hành động tích cực hơn nhằm ngăn chặn Liên Xô lấp đầy các khoảng trống quyền lực hoặc mở rộng ảnh hưởng tại những khu vực như Trung Đông, Vịnh Ba Tư, Cận Đông, Nam Á và Ấn Độ Dương. [Trang 211]
Trong cuộc gặp đầu tiên, sau phần phát biểu mở đầu của tôi, Chu Ân Lai đã hỏi tôi – đại ý là – liệu chúng tôi có cho rằng thế giới đang tiến tới hòa bình hay chiến tranh. Tôi trả lời rằng tuy có những diễn biến tích cực, nhưng chúng tôi không hề ngây thơ trước các mối nguy tiềm tàng, chẳng hạn như việc Liên Xô tăng cường mạnh mẽ tiềm lực quân sự. Tôi khẳng định rõ ràng rằng chúng tôi có những vấn đề quan trọng cần giải quyết với Moscow, nhưng hoàn toàn tỉnh táo về những động cơ có thể có của họ. Chúng tôi sẽ tiếp tục chính sách thông báo đầy đủ cho phía Tầu cộng và không ký kết bất kỳ thỏa thuận nào có thể nhằm chống lại Bắc Kinh.
Chou chỉ ra những diễn biến tại châu Âu và cho rằng có lẽ chúng ta đang tìm cách "đẩy luồng sóng độc hại từ Liên Xô về phía đông". Ông cũng viện dẫn việc chúng ta điều chuyển máy bay chiến đấu từ Đài Loan sang Nam Việt Nam vào mùa thu năm ngoái trong khuôn khổ chương trình Enhance Plus như một ví dụ về việc chúng ta lợi dụng Bắc Kinh; và dù có phần hơi lạc đề, ông nhận định rằng điều này cho thấy chúng ta có thể đang "đứng trên vai Tầu cộng" để vươn tới Liên Xô.
Ngày hôm sau, tôi cố ý trình bày chi tiết kế hoạch cắt giảm lực lượng của chúng ta tại Đài Loan, rồi sau đó đưa ra một bản phân tích bao quát hơn về chính sách của chúng ta đối với Liên Xô. Tôi nêu rõ rằng tính chất mối quan hệ hiện tại đòi hỏi chúng ta phải theo đuổi một chính sách phức tạp hơn so với CHND Trung Hoa – quốc gia có thể công khai đối đầu trực diện với Liên Xô về các vấn đề cụ thể. Chúng ta đang đạt được một số thỏa thuận với Moscow, nhưng sẽ không để những thỏa thuận này trói buộc mình trong trường hợp lợi ích quốc gia bị đe dọa. Tôi chỉ ra rằng Liên Xô có thể chọn một trong hai hướng đi. Nếu họ thực sự mong muốn hòa bình, chúng ta sẽ hoan nghênh điều đó, và các thỏa thuận đang được đàm phán có thể góp phần hiện thực hóa mục tiêu này. Tuy nhiên, nếu họ kiên quyết đi theo con đường gây hấn – điều có vẻ dễ xảy ra hơn – thì chúng ta từng chứng minh trong quá khứ rằng mình sẽ phản ứng mạnh mẽ nếu lợi ích bị xâm phạm. Dù trong bất kỳ kịch bản nào, tôi nhấn mạnh, chúng ta vẫn sẽ duy trì khả năng phòng thủ vững chắc và tăng cường lực lượng chiến lược chừng nào Liên Xô còn tiếp tục gia tăng sức mạnh quân sự. Đồng thời, đối với những vấn đề mà Bắc Kinh đặc biệt quan tâm, chúng ta sẽ tính đến lợi ích của Tầu cộng; chẳng hạn như trong vấn đề sáng kiến của Liên Xô về một thỏa thuận hạt nhân – lĩnh vực mà chúng ta đã tìm cách trì hoãn tiến trình đàm phán kể từ mùa xuân năm ngoái.
Tuy nhiên, cả Chu Ân Lai và sau đó là Mao Trạch Đông đều lặp lại quan điểm cho rằng chúng ta có thể đang tiếp tay cho Liên Xô, dù là cố ý hay vô tình. Trong khi chúng ta nhìn nhận hai khả năng—rằng Liên Xô sẽ chọn con đường hòa bình hoặc con đường đầy đe dọa—thì phía Tầu cộng lại chỉ thấy khả năng thứ hai. Họ đang mở rộng ảnh hưởng khắp nơi với sự trợ giúp của các nước chư hầu, chẳng hạn như Ấn Độ, và tìm cách cô lập Tầu cộng. Những kẻ "Sa hoàng mới" này mang tâm lý hoang tưởng và hiện diện ở khắp mọi nơi. Tầu cộng coi việc vạch trần âm mưu của họ ở bất cứ đâu có thể là nghĩa vụ của mình, bất chấp sự đơn độc trong nỗ lực đó giữa một thế giới đang say sưa với viễn cảnh hòa hoãn giả tạo. [Trang 212]
Mao thậm chí còn gợi ý rằng chúng tôi có thể muốn thấy người Nga sa lầy vào một cuộc tấn công nhắm vào Tầu cộng; sau khi họ đã kiệt sức vì cuộc chiến kéo dài vài năm, chúng tôi sẽ "chọc một ngón tay" vào sau lưng Moscow. Tôi đáp lại rằng chúng tôi tin một cuộc chiến tranh giữa hai gã khổng lồ cộng sản nhiều khả năng sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát và gây ra những hậu quả tai hại cho tất cả các bên. Do đó, chúng tôi mong muốn ngăn chặn một cuộc xung đột như vậy chứ không phải lợi dụng nó.
Trước những nhận định đầy hoài nghi của Mao và Chu về vấn đề này, tôi đã dành nhiều thời gian để phân tích kỹ lưỡng vấn đề này vào ngày hôm sau cuộc gặp với Chủ tịch. Tôi nêu ra ba động cơ giả định của Hoa Kỳ trong một chính sách góp phần gia tăng áp lực từ Liên Xô lên Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thứ nhất, có thể chúng tôi muốn Liên Xô đánh bại Trung Quốc. Tôi nhấn mạnh một cách dứt khoát rằng, dù Moscow đánh bại Tầu cộng hay châu Âu trước, thì hậu quả đối với chúng tôi vẫn như nhau; chúng tôi sẽ bị cô lập và trở thành mục tiêu cuối cùng. Vì vậy, đây tuyệt đối không thể là chính sách của chúng tôi.
Khả năng thứ hai là điều mà Mao đã đề cập—mong muốn của chúng ta về một cuộc tấn công của Moscow vào Bắc Kinh rơi vào thế bế tắc, nhằm làm suy kiệt Liên Xô. Tôi chỉ ra rằng ngay cả sự thống trị một phần của Liên Xô đối với Tầu cộng cũng có thể dẫn đến nhiều hệ quả tương tự như kịch bản thứ nhất. Dù thế nào đi nữa, một cuộc xung đột quy mô lớn như vậy sẽ mang lại những hậu quả khó lường. Liên Xô có thể hành động liều lĩnh nếu họ bị sa lầy, giống như cách mà Chủ tịch cho rằng chúng ta đã gặp phải ở Việt Nam. Và khi đó, chúng ta sẽ buộc phải lựa chọn giữa việc phơi bày sự bất lực và vai trò mờ nhạt của mình, hoặc phải đưa ra một loạt quyết định cực kỳ phức tạp.
Khả năng thứ ba là chúng ta có thể vô tình góp phần châm ngòi cho một cuộc chiến tranh giữa Tầu cộng và Liên Xô do những phán đoán sai lầm chứ không phải do chủ đích chính sách. Tôi nhận thức rõ đây là một mối nguy hiểm, bất chấp những ý định ban đầu của chúng ta. Sau đó, tôi đã phân tích kỹ lưỡng chính sách của chúng ta trên toàn cầu—đặc biệt chú trọng đến châu Âu—nhằm chứng minh rằng chúng ta có kế hoạch duy trì năng lực quốc phòng, tiếp tục đảm nhận vai trò quốc tế đầy trách nhiệm và hợp tác chặt chẽ với các đồng minh. Tóm lại, trong khi tìm cách xoa dịu căng thẳng với Moscow, chúng ta cũng sẽ đảm bảo rằng nếu họ không chọn con đường hòa bình, thì chúng ta cùng các đối tác vẫn đủ khả năng chống trả và bảo vệ lợi ích quốc gia. Đồng thời, tôi cũng khẳng định rõ ràng rằng chúng ta sẽ coi hành động gây hấn nhắm vào Tầu cộng là vấn đề liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia của chính chúng ta.
Hoàn toàn chưa rõ liệu chúng ta đã hoàn toàn xua tan được những nghi ngại của phía Trung Quốc hay chưa. Mặc dù trong ngắn hạn họ không còn lựa chọn nào khác, nhưng chắc chắn họ sẽ theo dõi đầy cảnh giác các động thái của chúng ta liên quan đến Liên Xô, đồng thời tìm cách củng cố quan hệ với Nhật Bản và châu Âu như một biện pháp phòng ngừa rủi ro.
Châu Âu
Châu Âu hiện là mối quan tâm hàng đầu của các nhà lãnh đạo Tầu cộng. Kể từ chuyến đi của tôi vào tháng Sáu, đã có hàng loạt đoàn đại biểu cấp cao từ các thủ đô châu Âu đến Bắc Kinh. Phía Tầu cộng tin rằng châu Âu đang dần [Trang 213] suy sụp tinh thần và bị bào mòn sức mạnh bởi những ảo tưởng về hòa bình do Liên Xô nuôi dưỡng. Theo quan điểm của Tầu cộng, một sự hòa dịu giả tạo như vậy – thể hiện rõ nhất qua chính sách *Ostpolitik* nhưng cũng đang lan rộng sang những nơi khác – không chỉ mang tính lừa dối mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Họ coi những diễn biến tại châu Âu này là yếu tố làm gia tăng áp lực từ phía Liên Xô lên Trung Quốc. Bầu không khí của các sự kiện như Hội nghị An ninh châu Âu, cùng những kết quả cụ thể có thể đạt được từ các cuộc đàm phán về cắt giảm lực lượng quân sự (MBFR), đã giúp giải phóng sườn phía tây của Liên Xô, cho phép Moscow tập trung nguồn lực vào sườn phía đông – nơi đối diện với Tầu cộng. Cả Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đều cho rằng chúng ta đang hợp tác trong tiến trình này, và do đó – dù có cố ý hay không – chúng ta đang góp phần gia tăng áp lực lên họ.
Phía Tầu cộng tỏ thái độ coi thường các đảng cộng sản châu Âu – vốn thường chịu sự chi phối của Moscow – và dành thiện cảm cho phe Bảo thủ hơn là các đảng Xã hội hay Công đảng. Điều này thể hiện rõ nhất tại Pháp, nơi việc ông Mitterrand thách thức vị thế của ông Pompidou khiến Bắc Kinh vô cùng lo ngại. Chủ tịch Mao Trạch Đông từng khuyên ông Pompidou nên duy trì quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ. Tầu cộng cũng lo ngại về sự suy yếu của nước Đức và rất muốn biết nguyên nhân khiến đảng Dân chủ Cơ đốc giáo thất bại trong cuộc bầu cử tại đây. Trong mắt họ, người Anh là những người tỏ ra tỉnh táo và sáng suốt nhất.
Nhìn chung, theo nhận định của Thủ tướng Chu Ân Lai, châu Âu tuy mạnh về kinh tế nhưng lại yếu về quân sự; tình trạng này hoàn toàn trái ngược với Liên Xô – quốc gia có sức mạnh quân sự không ngừng gia tăng nhưng lại gặp nhiều vấn đề kinh tế nghiêm trọng do công tác quản lý yếu kém. Tuy nhiên, những khó khăn kinh tế này có thể được giảm bớt nhờ vào hoạt động thương mại và các khoản tín dụng từ Hoa Kỳ cũng như châu Âu.
Cả Mao và Chu Ân Lai đều nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì quan hệ chặt chẽ với châu Âu. Cũng như trường hợp của Nhật Bản, chúng ta không nên để các rào cản thương mại và những bất đồng khác làm tổn hại đến mối quan hệ chính trị. Mao đã đưa châu Âu vào trục chống Liên Xô mà ông chủ trương xây dựng trên phạm vi toàn cầu, cùng với Nhật Bản, Mỹ, Iran, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ.
Để đáp lại, tôi nhấn mạnh rằng chúng tôi dành ưu tiên hàng đầu cho các đồng minh châu Âu. Chúng tôi dự định sẽ tập trung mạnh mẽ trong những tháng tới vào quan hệ chính trị, kinh tế và an ninh với châu Âu, hướng tới việc tổ chức một hội nghị cấp cao sau khi đã thống nhất được chiến lược tổng thể. Chúng tôi không hề ảo tưởng về ý đồ của Liên Xô tại châu Âu và sẽ triển khai chính sách sao cho không làm suy yếu khả năng phòng thủ của các đồng minh. Hội nghị An ninh châu Âu là sự kiện mà các đồng minh đã thúc ép chúng tôi phải tham gia, và chúng tôi buộc phải thực hiện nó. Lựa chọn duy nhất của chúng tôi là làm sao để hội nghị diễn ra ngắn gọn và ít mang lại kết quả thực chất nhất có thể. Mặt khác, tôi cho rằng các cuộc đàm phán MBFR (Cắt giảm Lực lượng Vũ trang hỗ tương) rất hữu ích, không chỉ giúp ngăn chặn áp lực từ Quốc hội Mỹ đòi cắt giảm đơn phương quân số Mỹ tại châu Âu, mà còn giúp các đồng minh châu Âu nhận thức rõ hơn về mối đe dọa quân sự từ lực lượng Liên Xô. Tôi cam kết với Chu Ân Lai rằng sẽ không có đợt cắt giảm nào diễn ra trước năm 1975, và nếu có, mức cắt giảm cũng sẽ không vượt quá 10 đến 15%. Chúng tôi sẽ khuyến khích sự thống nhất về chính trị và an ninh tại châu Âu, đồng thời hoan nghênh việc Tầu cộng giúp nâng cao nhận thức cho giới lãnh đạo châu Âu vốn đang có tầm nhìn hạn hẹp. [Trang 214]
Nam Á
Mao và Chu đã làm rõ rằng bên cạnh áp lực từ phía Đông của Liên Xô, một mối đe dọa lớn khác chính là tham vọng bá quyền hướng về phía Nam. Theo quan điểm của họ, các toan tính của Liên Xô bao gồm nhiều thủ đoạn nhắm vào toàn bộ trục chiến lược trải dài từ Trung Đông qua Cận Đông, Nam Á và Ấn Độ Dương.
Tại khu vực Nam Á, phía Tầu cộng tin rằng Ấn Độ vẫn là tay sai chủ chốt của Moscow; sự ngờ vực của họ đối với New Delhi vẫn sâu sắc như trước. Khi chúng tôi bắt đầu đối thoại trực tiếp với phía Tầu cộng cách đây 20 tháng, ông Chu đã liệt kê bốn kẻ thù tiềm tàng: Liên Xô, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Ấn Độ. Giờ đây, CHND Trung Hoa đã quyết định cải thiện quan hệ với chúng tôi và Nhật Bản, sau khi được trấn an rằng chúng tôi không hề thông đồng với Liên Xô. Như vậy, chỉ còn lại hai kẻ thù trong danh sách của họ: Moscow và New Delhi.
Chu tỏ thái độ đặc biệt coi thường người Ấn Độ và ác cảm cá nhân đối với các nhà lãnh đạo nước này. Ông ta kể lại vài giai thoại đầy vẻ mỉa mai và khinh miệt về Thủ tướng Nehru và bà Gandhi. Phía Ấn Độ đã liên tục thúc ép Bắc Kinh cải thiện quan hệ cũng như khôi phục cơ quan đại diện ngoại giao tại thủ đô của cả hai nước. Chu kể rằng Bắc Kinh đã đáp lại bằng một chiêu bài điển hình kiểu Tầu cộng: họ nâng cấp chức danh của viên biện lý đại sứ (chargé d’affaires) tại New Delhi từ bí thư thứ nhất lên tham tán!
Để chứng minh cho liên minh Moscow – New Delhi, Chu viện dẫn nỗ lực của hai nước này nhằm chia cắt Pakistan thông qua việc khuyến khích các phong trào ly khai ở Baluchistan và Pushtunistan, cũng như thực tế là phần lớn lực lượng Hải quân Ấn Độ đang chuyển sang sử dụng khí tài do Nga chế tạo. Ông ta không hề phản bác khi tôi nhận định rằng New Delhi cũng đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng tại Đông Dương.
Cũng như ở các khu vực khác trên thế giới, phía Tầu cộng thúc giục Mỹ thực hiện một chính sách đối ngoại chủ động nhằm đối phó với những âm mưu của các đối thủ. Chu Ân Lai đã đề xuất những điểm sau:
—Tôi nên gặp bà Bhutto trong thời gian ở Bắc Kinh.
—Chúng ta nên tăng cường viện trợ quân sự cho Pakistan. Tầu cộng đã hỗ trợ một phần, nhưng Mỹ cần phải đóng vai trò chủ đạo vì năng lực của Bắc Kinh còn hạn chế.
—Chúng ta nên cải thiện quan hệ không chỉ với Sri Lanka (Ceylon) và Nepal mà còn với cả Bhutan và Sikkim – những vùng lãnh thổ nằm dưới sự bảo hộ của Ấn Độ.
—Chúng ta nên cung cấp viện trợ nhân đạo cho Bangladesh và tạo dựng ảnh hưởng tại đây để đối trọng với New Delhi. Bắc Kinh cũng sẵn sàng hành động như vậy vào một thời điểm nào đó, nhưng chưa thể tiến hành chừng nào vấn đề nhạy cảm về các tù binh Pakistan đang bị Bangladesh giam giữ chưa được giải quyết.
—Ông ấy hỏi về các căn cứ của chúng ta tại Ấn Độ Dương.
Để đáp lại, tôi khẳng định rằng chính sách của chúng tôi đối với Nam Á vẫn song hành với lập trường của phía Tầu cộng. Chúng tôi sẽ tiến hành thận trọng và chậm rãi trong bất kỳ bước cải thiện quan hệ nào với [Trang 215] New Delhi, đồng thời sẽ luôn thông báo cho CHND Trung Hoa biết về các diễn biến này. Về vấn đề Pakistan, tôi cam kết với Thủ tướng Chu Ân Lai rằng chúng tôi sẽ khôi phục chính sách thời tiền chiến là cung cấp phụ tùng thay thế cho các trang thiết bị mà nước này đang sở hữu; chúng tôi sẽ bàn giao các trang thiết bị quân sự mà Pakistan đã ký hợp đồng mua sắm trước đó, bao gồm 300 xe bọc thép chở quân (APC); và chúng tôi sẽ tích cực làm việc với các nước thứ ba như Iran và Thổ Nhĩ Kỳ để khuyến khích họ cung cấp viện trợ quân sự cho Pakistan – một việc mà chúng tôi gặp khó khăn khi trực tiếp thực hiện do những trở ngại tại Quốc hội Mỹ. Chúng tôi cũng sẽ duy trì, và có thể là tăng cường, khoản viện trợ kinh tế trị giá 200 triệu đô la. Như ông đã biết, trong thời gian ở Bắc Kinh, tôi đã đến chào xã giao bà Bhutto và khẳng định sự ủng hộ cũng như tình hữu nghị bền chặt của chúng tôi dành cho Pakistan.
Về vấn đề Bangladesh, tôi thông báo với Chu Ân Lai rằng chúng tôi đã tạm hoãn khoản viện trợ lương thực trị giá 30 triệu đô la để chờ biết quan điểm của phía Tầu cộng, nhưng nay chúng tôi sẽ tiến hành giải ngân khoản này ngay lập tức. Đối với Sri Lanka, chúng tôi sẵn sàng cải thiện quan hệ theo tốc độ mà bà Bandaranaike mong muốn. Về khu vực Ấn Độ Dương, chúng tôi sẽ xem xét lại việc triển khai lực lượng hải quân tại đây, với định hướng duy trì một sự hiện diện đáng kể. Tôi nhấn mạnh rằng trong bất kỳ tình huống nào, sức mạnh hải quân của chúng tôi cũng vượt trội hơn hẳn so với Liên Xô.
Khu vực Cận Đông và Trung Đông
Trong các chuyến thăm trước đây, các nhà lãnh đạo Tầu cộng chỉ tỏ ra quan tâm hời hợt đến khu vực này. Giờ đây, đây lại là nơi gây nhiều lo ngại do chịu áp lực bành trướng về phía nam của Liên Xô. Tương tự như tình hình Nam Á, Chu Ân Lai cho rằng chúng ta đã thiếu quyết liệt trong các nỗ lực tại đây và cần hành động mạnh mẽ hơn để đối phó với những toan tính của Liên Xô. Mao Trạch Đông đã đích thân đưa Iran và Thổ Nhĩ Kỳ — cùng với Pakistan — vào trục các quốc gia thân thiện mà ông đề nghị chúng ta nên xây dựng; Chu Ân Lai cũng hối thúc chúng ta hành động tích cực hơn tại vùng Vịnh Ba Tư, đồng thời đặc biệt hỏi tôi về tình hình Iran và Thổ Nhĩ Kỳ.
Tôi trả lời rằng Quốc vương Iran là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn xa trông rộng và chúng tôi coi ông là một đồng minh then chốt. Chính vì lý do đó, chúng tôi đã cử Helms sang làm Đại sứ, không chỉ để đẩy mạnh các nỗ lực hợp tác với Iran mà còn để tổ chức một vai trò tích cực và mang tính hợp tác hơn của Mỹ đối với các quốc gia thân thiện khác tại khu vực Cận Đông và Vịnh Ba Tư. Tôi khẳng định với Chu Ân Lai rằng quan hệ của chúng ta với Thổ Nhĩ Kỳ vẫn tốt đẹp, nhưng cũng lưu ý rằng nước này đang gặp phải những vấn đề nội bộ. Chu Ân Lai nhận định rằng Liên Xô đang tìm cách lợi dụng những vấn đề đó.
Ông Chu cũng lần đầu tiên thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến khu vực Trung Đông, một lần nữa là do những động thái của Liên Xô mà ông đã đề cập tại các quốc gia như Ai Cập, Syria, Iraq và Libya. Ông dẫn chứng việc phát hiện vũ khí của Liên Xô tại Đại sứ quán Iraq ở Pakistan như một bằng chứng cho thấy mạng lưới các âm mưu đan xen của Liên Xô trên toàn bộ trục khu vực này. Ông khẳng định rõ ràng rằng Tầu cộng hoàn toàn ủng hộ các nước Ả Rập trong nỗ lực giành lại toàn bộ lãnh thổ đã mất và giải quyết tình cảnh khốn cùng của người tị nạn Palestine. Khi tôi kiên quyết nhấn mạnh cam kết của chúng tôi đối với sự tồn vong của Israel, ông thừa nhận rằng không thể tiêu diệt Israel và sự tồn tại của quốc gia này [Trang 216] hiện là một thực tế khách quan. Ông cho biết quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Israel sẽ không thể thiết lập chừng nào Israel chưa từ bỏ hành vi xâm lược lãnh thổ.
Mặc dù có những quan điểm trái ngược, ông ấy rõ ràng vẫn ủng hộ việc chúng ta duy trì sự hiện diện tại Trung Đông để đối phó với Liên Xô. Ông cho rằng phía Tầu cộng không thể làm được nhiều điều tại khu vực này, ngoại trừ việc cố gắng vạch trần các âm mưu của Liên Xô. Tôi đã thông tin cho ông về các cuộc thảo luận sắp tới với Ismail và khẳng định rằng chúng ta sẵn sàng làm việc với các nước Ả Rập dựa trên lợi ích riêng của họ, miễn là những lợi ích đó tách biệt khỏi ảnh hưởng của Moscow. Ông tán thành quan điểm của chúng ta rằng cần nỗ lực đạt được thỏa thuận với Ai Cập trước khi tiến hành với Jordan. Ông cũng hoan nghênh đề xuất của tôi về việc sẽ thường xuyên cập nhật cho ông những diễn biến quan trọng trong quá trình đàm phán về vấn đề Trung Đông.
Đông Dương và Đông Nam Á
Phía Tầu cộng đã trì hoãn việc chấp thuận chuyến thăm của tôi cho đến khi thỏa thuận về vấn đề Việt Nam hoàn tất. Ngược lại, lệnh ngừng bắn tại Việt Nam đã mở đường cho sự thành công trong chuyến đi của tôi tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đều hoan nghênh thỏa thuận này; Chủ tịch Mao nhận định rằng chúng tôi đã làm được "việc tốt" và yêu cầu tôi xác nhận lại rằng các vấn đề cơ bản đã được giải quyết.
Tôi khẳng định rằng tất nhiên chúng tôi sẽ thực hiện nghiêm túc Hiệp định, nhưng cũng nhấn mạnh rằng chúng tôi mong đợi Hà Nội sẽ hành động tương tự. Tôi đã kể lại chuyến đi đến Hà Nội và nêu rõ hai lựa chọn mà chúng tôi thấy Hà Nội đang đối mặt. Lựa chọn thứ nhất là sử dụng Hiệp định như một vũ khí tấn công nhằm gây sức ép lên chúng tôi và Chính quyền Việt Nam Cộng hòa, đồng thời theo đuổi các mục tiêu tại Đông Dương thông qua các hành động vi phạm. Tôi nói rõ rằng điều này đồng nghĩa với việc đối đầu với chúng tôi và chắc chắn sẽ không có cơ hội nhận được viện trợ kinh tế. Lựa chọn còn lại của Hà Nội là sử dụng Hiệp định như một công cụ hòa giải, đúng như mong muốn của chúng tôi. Hướng đi này sẽ cho phép hai bên tiến tới bình thường hóa quan hệ và tái thiết kinh tế – những điều mà chúng tôi coi là phù hợp với lợi ích của chính mình.
Tôi cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải kiềm chế tại Đông Dương, không chỉ đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn đối với các cường quốc bên ngoài. Khi tôi đề cập cụ thể đến việc hạn chế viện trợ quân sự, Chu Ân Lai đã trả lời một cách mơ hồ; ông cho rằng Liên Xô là bên cung cấp chính, còn Tầu cộng chỉ cung cấp các loại vũ khí bộ binh hạng nhẹ. Tuy nhiên, tôi tin rằng chúng ta có thể kỳ vọng phía Tầu cộng sẽ có những bước kiềm chế nhất định.
Một điểm quan trọng khác mà tôi nhấn mạnh là sự cần thiết phải có một quá trình chuyển biến dần dần tại Đông Dương cũng như một giai đoạn ổn định, yên bình. Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai dường như cũng nhận thức được điều này, mặc dù quan điểm cơ bản của họ vẫn là các vấn đề tại Đông Dương phải do chính các quốc gia trong khu vực tự giải quyết. Chúng tôi đã nhất trí rằng cả hai bên đều có chung lợi ích trong việc duy trì các quốc gia độc lập tại khu vực này, nhằm giảm thiểu nguy cơ Đông Dương rơi vào tầm ảnh hưởng chi phối của Liên Xô và Ấn Độ.
Trong thời gian tôi ở Bắc Kinh, thỏa thuận ngừng bắn tại Lào vẫn chưa được chốt lại. Tôi đã nhấn mạnh sự cấp thiết của việc chấm dứt các hành động thù địch tại đó và bắt đầu [Trang 217] việc rút quân của Bắc Việt Nam. Chu Ân Lai tỏ ý hoan nghênh một giải pháp hòa bình cho Lào, mặc dù ông vẫn giữ thái độ không can thiệp vào các vấn đề còn tồn đọng. Ông cam đoan với tôi rằng ngay khi có lệnh ngừng bắn, các đơn vị phòng không của họ sẽ rút khỏi Lào, và khi con đường do Tầu cộng xây dựng hoàn tất, họ cũng sẽ rút các đội công binh về nước. Tôi cho biết Souvanna Phouma – người đã đề nghị tôi nêu vấn đề về con đường của Tầu cộng – cũng sẵn sàng cải thiện quan hệ với Bắc Kinh. Chu Ân Lai tỏ ra cởi mở trước ý kiến này và bày tỏ sự tôn trọng đối với Quốc vương Lào.
Cả hai chúng tôi đều đồng ý rằng vấn đề Campuchia phức tạp hơn do có sự tham gia của nhiều phe phái. Tôi đã từ chối đề nghị mang tính hình thức của Chu Ân Lai về việc tôi nên nói chuyện với Sihanouk. Tôi khẳng định rằng chính quyền Lon Nol là một nhân tố quan trọng và các đại diện của Sihanouk cần phải đối thoại với ông ta. Cũng như đối với trường hợp Lào, tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rút quân đội Bắc Việt theo đúng quy định trong Hiệp định về Việt Nam. Tôi nêu rõ các mục tiêu của chúng tôi là đạt được lệnh ngừng bắn, việc rút quân của Bắc Việt và thiết lập các cuộc tiếp xúc trực tiếp giữa các phe phái. Chu Ân Lai tán thành quan điểm cho rằng tình hình sẽ dễ kiểm soát hơn nếu xung đột chuyển thành một cuộc nội chiến thuần túy. Ông ấy đưa ra vài nhận xét có phần mỉa mai về Sihanouk; tôi tin rằng mối quan hệ đồng minh giữa họ đã phần nào nguội lạnh. Ông ấy cho biết sẽ cân nhắc đề xuất của tôi về việc để đại diện của Lon Nol và Sihanouk gặp gỡ nhau, đồng thời nhất trí rằng chúng ta nên duy trì việc trao đổi quan điểm về vấn đề Campuchia một cách thường xuyên.
Theo đề nghị của phía Bangkok, tôi đã nêu vấn đề Tầu cộng hậu thuẫn phong trào nổi dậy tại Thái Lan. Ông Chu phủ nhận việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có dính líu, cho rằng các cuộc cách mạng là trách nhiệm của chính người dân sở tại. Ông chỉ ra rằng vẫn còn một số tàn quân Quốc dân đảng Trung Quốc ở lại Thái Lan và thường xuyên xâm nhập sang lãnh thổ Tầu cộng. Khi tôi đề cập đến sự lo ngại của Thái Lan về tuyến đường do Tầu cộng xây dựng tại Lào, ông cam đoan rằng con đường này sẽ chỉ dừng lại ở thung lũng sông Mekong – cách xa lãnh thổ Thái Lan – nên Bangkok không có lý do gì để lo lắng.
Ông Chu cũng bày tỏ sự quan tâm đến các quốc gia khác tại Đông Nam Á, và chúng tôi đã thảo luận sơ qua về vấn đề này. Ông chỉ đề cập một cách chiếu lệ đến các phong trào cách mạng—cho rằng chính người dân các nước đó phải tự mình thực hiện nhiệm vụ này—và dường như các phong trào cách mạng trong khu vực chưa phát triển mạnh mẽ. Ông tái khẳng định quan điểm từng đưa ra hồi tháng Sáu về việc xây dựng một khu vực trung lập và ổn định; rõ ràng là tại đây cũng như ở những nơi khác, ông đều lo ngại về ảnh hưởng của Moscow và New Delhi. Tôi đã nói rõ rằng nếu tình hình khu vực có những biến động đột ngột, chúng tôi có thể sẽ phải hành động; tuy nhiên, trong điều kiện bình thường, chúng tôi sẵn sàng chấp nhận một quá trình chuyển biến dần dần, hướng tới nền độc lập và trung lập thực sự cho các quốc gia trong khu vực về lâu dài.
Chúng tôi cũng đã thảo luận về Hội nghị Quốc tế. Quan điểm cơ bản của Tầu cộng là ủng hộ bất cứ điều gì mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) mong muốn; họ rõ ràng là [Trang 218] ngại việc phải đứng ra tiên phong. Do đó, họ ủng hộ một hội nghị ngắn gọn, không có sự công kích lẫn nhau và tán thành Hiệp định về Việt Nam, nhưng chỉ đề cập đến Lào và Campuchia trong khuôn khổ của Hiệp định này. Chu Ân Lai không chịu bàn sâu về các vấn đề khác—chẳng hạn như thẩm quyền tiếp tục xử lý các báo cáo về lệnh ngừng bắn hay vai trò chủ tịch Hội nghị—mà để mặc cho Hà Nội quyết định. Chúng tôi vẫn duy trì liên lạc với Bắc Kinh trong giai đoạn trước và trong suốt thời gian diễn ra Hội nghị.
Nhật Bản
Trong vòng 20 tháng qua, thái độ của phía Tầu cộng đối với Nhật Bản và Hoa Kỳ đã có sự thay đổi lớn. Cách tiếp cận lần này của Chu Ân Lai tiếp nối sự chuyển biến rõ rệt mà tôi đã nhận thấy từ tháng 6 năm ngoái. Dưới góc nhìn của Bắc Kinh vào năm 1971, Nhật Bản là một trong những cường quốc tiềm tàng có thể tham gia vào việc chia cắt Tầu cộng. Quốc gia này đã được Hoa Kỳ hậu thuẫn để phát triển mạnh mẽ về kinh tế và lúc bấy giờ đang đe dọa mở rộng chủ nghĩa quân phiệt ra khắp khu vực, đặc biệt là tại các vùng như Đài Loan và Triều Tiên. Trước đây, Tầu cộng luôn công khai cũng như kín đáo phản đối Hiệp ước An ninh Mỹ - Nhật.
Mặc dù Chu Ân Lai vẫn hối thúc chúng ta ngăn Nhật Bản can dự vào Đài Loan và Triều Tiên cũng như cảnh báo về mối đe dọa dai dẳng từ chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, nhưng giờ đây phía Tầu cộng rõ ràng đã coi Nhật Bản là một đồng minh tiềm năng cùng với chúng ta để đối phó với các âm mưu của Liên Xô và Ấn Độ. Điều này đã được thể hiện rõ qua chuyến thăm Tầu cộng đại lục của Thủ tướng Tanaka, việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản, cũng như mong muốn thăm Nhật Bản mà Chu Ân Lai đã bày tỏ (sau chuyến thăm của tôi).
Trong các cuộc trao đổi riêng, sự thay đổi thái độ của họ còn rõ rệt hơn nữa. Ông Chu nhận định rằng Nhật Bản đang đứng trước một ngã rẽ; khi đã trưởng thành, nước này mong muốn có được sự tự do. Ông thừa nhận rằng Hiệp ước An ninh giữa hai nước đóng vai trò kìm hãm chủ nghĩa bành trướng và quân phiệt của Nhật Bản; ông cũng chỉ ra rằng trong những tháng gần đây, dù từng phản đối Hiệp ước này lúc ban đầu, phía Bắc Kinh đã không còn công kích nó trong các quan hệ với Nhật Bản. Vì Mỹ đã góp phần giúp Nhật Bản lớn mạnh và vẫn duy trì ảnh hưởng sâu rộng tại Tokyo, ông cho rằng Mỹ có trách nhiệm lớn trong việc kiềm chế nước này. Ông kêu gọi sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa Mỹ và Nhật Bản trên mọi phương diện, đồng thời đặc biệt đề cập đến việc hợp tác khai thác nguồn tài nguyên tại Siberia. Ông nhấn mạnh sự cần thiết phải hợp tác để tranh thủ Nhật Bản và ngăn chặn kịch bản Liên Xô trở thành đồng minh của nước này thay vì Mỹ, bởi điều đó sẽ tạo ra mối đe dọa đối với thế giới.
Mao cho rằng việc tôi chỉ dành một ngày ở Tokyo trên đường về nước là một sai lầm và tôi lẽ ra nên dành nhiều thời gian hơn cho đồng minh của chúng ta. Ông muốn đảm bảo rằng các vấn đề thương mại và những bất đồng khác với Tokyo (cũng như với châu Âu) sẽ không làm tổn hại đến mối quan hệ hợp tác nền tảng giữa hai bên. Ông coi Mỹ và Nhật Bản, cùng với châu Âu và các quốc gia thân thiện ở Cận Đông, là trục liên kết cần được hình thành để đối trọng với Liên Xô.
Đáp lại, tôi ghi nhận sự tương đồng trong cách tiếp cận của hai bên và nhấn mạnh vai trò kiềm chế của Hiệp ước An ninh. Tôi khẳng định với cả Mao và Chu [Trang 219] rằng Ngài đặc biệt coi trọng mối quan hệ với Nhật Bản cũng như với các đồng minh châu Âu, và chúng tôi sẽ nỗ lực hết mình để vun đắp mối quan hệ này. Tôi ghi nhận sự kiềm chế của phía Tầu cộng trong cách ứng xử với Nhật Bản, đồng thời cảnh báo rằng bất kỳ nỗ lực nào nhằm tranh giành sự ủng hộ của Tokyo cũng có thể vô tình khơi dậy chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản đang trỗi dậy thông qua các áp lực trái chiều. Theo đó, chúng tôi ủng hộ việc cải thiện quan hệ giữa CHND Trung Hoa và Nhật Bản, đồng thời mong đợi sự đáp lại tương xứng từ phía Bắc Kinh.
Vấn đề Triều Tiên
Mặc dù đây là chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm trong các cuộc thảo luận trước đây của chúng tôi và từng có nhiều đồn đoán rằng ông Chu sẽ đưa vấn đề Triều Tiên lên làm trọng tâm trong lần gặp này, nhưng thực tế phải đến tận cuối chuyến đi, vấn đề đó mới được đề cập tới. Trong phần tổng quan tình hình vào cuối chuyến thăm, ông Chu đã nhắc lại quan điểm lâu nay của Tầu cộng về Bán đảo Triều Tiên, tuy nhiên với giọng điệu bớt gay gắt hơn đôi chút. Ông kêu gọi giải tán cả UNCURK (Ủy ban Thống nhất và Phục hồi Triều Tiên của Liên Hợp Quốc) lẫn Bộ Chỉ huy Liên Hợp Quốc, đề nghị rút lực lượng của chúng ta về nước, đồng thời ủng hộ việc giảm bớt căng thẳng và thúc đẩy thống nhất giữa hai miền Triều Tiên. Đồng thời, ông cũng khẳng định rõ ràng rằng phía Trung Quốc đã sẵn sàng cho một quá trình chuyển biến dần dần của tình hình. Ông cho biết họ đã khuyên Bình Nhưỡng cần kiên nhẫn trước lộ trình rút quân dần dần của Mỹ và tiến trình thống nhất, và phía Triều Tiên cũng đang dần thấu hiểu điều này. Ông nhấn mạnh rằng chúng ta cần đảm bảo khi rút khỏi Triều Tiên, Nhật Bản sẽ không đưa lực lượng của họ sang thay thế vị trí của chúng ta.
Tôi nói rằng chúng tôi sẵn sàng xem xét việc giải tán UNCURK—chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến các đồng minh Hàn Quốc và thông báo cho Bắc Kinh trong vài tuần tới—để đổi lấy cam kết của ông rằng Bắc Kinh sẽ làm dịu tình hình vấn đề Triều Tiên, đặc biệt là trong cuộc thảo luận tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc sắp tới. Tôi ngỏ ý rằng chúng tôi có thể cân nhắc việc rút dần quân đội theo thời gian, nhưng cũng nói rõ rằng điều này nằm trong khuôn khổ của Học thuyết Nixon và gắn liền với việc tăng cường năng lực phòng thủ của Hàn Quốc. Chu Ân Lai không tỏ ý phản đối. Thực tế, với lộ trình rút quân và thống nhất dần dần, cùng việc loại trừ sự can dự của Nhật Bản, ông hoàn toàn tin chắc rằng "sẽ không ai thực hiện hành động xâm lược" trên bán đảo Triều Tiên.
Đài Loan
Tôi đã cố ý nêu vấn đề Đài Loan ngay từ đầu các cuộc thảo luận của chúng ta. Tôi tái khẳng định những nguyên tắc mà ông đã trình bày với Chu Ân Lai về công thức của chúng ta đối với Tầu cộng và Đài Loan trong Thông cáo Thượng Hải; việc chúng ta không ủng hộ bất kỳ phong trào đòi độc lập nào cho Đài Loan; việc chúng ta không khuyến khích Nhật Bản can dự vào Đài Loan; [Trang 220] việc chúng ta ủng hộ mọi giải pháp hòa bình cho vấn đề Đài Loan; và ý định của chúng ta trong việc tìm cách bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh. Tôi cũng hứa sẽ cung cấp cho Chu Ân Lai một lộ trình cụ thể về việc cắt giảm một phần lực lượng của chúng ta tại Đài Loan, nay khi chiến tranh Việt Nam đã kết thúc.
Ông Chu quan ngại hơn về vấn đề viện trợ quân sự của chúng ta dành cho Đài Loan – điều mà ông cho rằng cần phải được cắt giảm dần theo thời gian – cũng như việc chúng ta tạo điều kiện để Đài Loan tự sản xuất máy bay F-5. Như đã đề cập ở trên, ông cũng phàn nàn rằng việc chúng ta chuyển hướng các máy bay F-4 từ Đài Loan sang Nam Việt Nam trong chiến dịch Enhance Plus vào mùa thu năm ngoái là hành động lợi dụng Tầu cộng; theo ông, đây là ví dụ điển hình cho việc "đứng trên vai Tầu cộng " để vươn tới Liên Xô.
Trong cuộc gặp thứ hai, trước khi đưa ra bản phân tích chi tiết về chính sách của chúng tôi đối với Liên Xô nhằm phản hồi lại nhận định của ông, tôi đã trình bày cho Chu Ân Lai một lộ trình cụ thể về việc cắt giảm lực lượng quân sự của Mỹ tại Đài Loan. Tôi thông báo rằng trong năm tới, chúng tôi sẽ rút năm phi đội không quân — tương đương khoảng một nửa trong tổng số 9.000 quân nhân Mỹ đang đồn trú tại đây. Tôi cũng cho biết thêm rằng vào năm kế tiếp, chúng tôi sẽ rút ít nhất hai phi đội máy bay F-4 và sẽ xem xét kỹ lưỡng việc điều chỉnh các đơn vị quân sự khác. Chu Ân Lai tỏ ý không quá chú trọng đến thời gian biểu cụ thể cho việc rút quân, cho rằng điều quan trọng là nguyên tắc cơ bản đã được xác lập. Ông quay lại đề cập đến chính sách viện trợ quân sự của chúng tôi — vấn đề mà tôi đã cam kết sẽ xem xét lại — và khẳng định với tôi rằng Bắc Kinh không có ý định dùng vũ lực để giải phóng Đài Loan.
Để đáp lại nhận xét sau cùng này, tôi tái khẳng định ý định của chúng tôi về việc tiến tới bình thường hóa quan hệ. Điều này đã mở đường cho thỏa thuận về việc trao đổi văn phòng liên lạc tại thủ đô của mỗi bên. Tôi cũng nói với Chu Ân Lai rằng chúng tôi sẵn sàng tiến tới một giải pháp tương tự như mô hình của Nhật Bản về quan hệ ngoại giao sau cuộc bầu cử năm 1974, và sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ trước giữa năm 1976. Tôi nói thêm rằng chúng tôi muốn duy trì một hình thức đại diện nào đó tại Đài Loan, nhưng tôi tin chắc rằng hai bên có thể tìm ra một phương thức chấp nhận được đối với cả hai. Ông ấy đã tán thành cách tiếp cận này.
Quan hệ Song phương
Những kết quả công khai từ các cuộc thảo luận với phía Tầu cộng được thể hiện qua những bước tiến đáng kể trong quan hệ song phương của chúng ta. Các yếu tố mà tôi đã nêu đã thúc đẩy phía Tầu cộng hành động nhanh hơn so với dự kiến của chúng ta. [Trang 221]
Diễn biến đáng chú ý nhất là việc thiết lập các văn phòng liên lạc tại thủ đô của mỗi bên. Chúng ta từng dự đoán họ sẽ đồng ý đặt một văn phòng thương mại, hoặc có thể là văn phòng liên lạc, tại Bắc Kinh; tuy nhiên, Chu Ân Lai đã nhanh chóng đề xuất việc họ cũng sẽ đặt văn phòng tại Hoa Kỳ. Điều này đi ngược lại chính sách nhất quán của họ là không duy trì một phái bộ quan trọng nào tại cùng một thủ đô nơi đã có Đại sứ của Trung Hoa Dân Quốc. Các văn phòng này—vốn có thể mang cấp hàm Đại sứ và được hưởng các đặc quyền, miễn trừ ngoại giao—sẽ có quy mô và chức năng gần như tương đương với Đại sứ quán, chỉ khác biệt về danh xưng mà thôi. Dù vậy, Chu Ân Lai chưa bao giờ đề cập đến vấn đề Đại sứ quán hay quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy Tầu cộng rất mong muốn thể chế hóa mối quan hệ của chúng ta. Điều này phản ánh đúng phương châm mà tôi đã nhấn mạnh ngay trong cuộc gặp đầu tiên: chúng ta cần tăng cường đáng kể các hoạt động tiếp xúc, đồng thời giúp người dân hai nước làm quen với các hoạt động giao lưu và hợp tác giữa Hoa Kỳ và Tầu cộng.
Các cuộc họp song phương về trao đổi và thương mại mà chúng tôi tổ chức đã diễn ra rất suôn sẻ. Phía Tầu cộng đã chuẩn bị sẵn một loạt chương trình cụ thể trong các lĩnh vực khoa học, văn hóa và những lĩnh vực khác, sẵn sàng để được phê chuẩn. Khác với trước đây, họ chú trọng việc các đoàn của chúng ta sang Tầu cộng cũng nhiều như việc các đoàn của họ sang đây. Họ sẵn sàng mời thêm các Thượng nghị sĩ và nghị viên Hạ viện. Họ cũng bày tỏ sự quan tâm đến việc tăng cường thương mại song phương và nhanh chóng tán thành cách tiếp cận của chúng ta về một thỏa thuận trọn gói mang tính chính trị, theo đó thực hiện việc trao đổi ngang giá giữa các yêu cầu bồi thường của tư nhân đối với họ và các tài sản của CHND Trung Hoa đang bị phong tỏa. Kể từ đó, Ngoại trưởng Rogers và Bộ trưởng Ngoại giao Cơ Bằng Phi đã bắt đầu tiến hành cuộc đàm phán này tại Paris.
Cả Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đều nỗ lực thể hiện sự quan tâm đến các hoạt động thương mại, giao lưu và việc thiết lập các văn phòng liên lạc. Song song với đó, họ cũng bày tỏ mong muốn thúc đẩy việc học tiếng Anh tại Tầu cộng và gia tăng số lượng người Mỹ sinh sống tại đây. Họ đã đồng ý trả tự do cho hai phi công Mỹ bị bắt giữ trong cùng khoảng thời gian diễn ra việc trao trả tù binh theo Hiệp định về Việt Nam; đồng thời, Chu Ân Lai cũng khẳng định rõ rằng trường hợp của Downey sẽ được xem xét theo hướng tích cực vào nửa cuối năm nay. Hai bên cũng hợp tác cung cấp thông tin về Trung úy Dunn, một phi công đã mất tích khi làm nhiệm vụ gần đảo Hải Nam từ năm 1968. Đáng tiếc là không có tình tiết mới nào được phát hiện trong vụ việc này, và hiện nay cái chết của ông dường như đã được xác nhận. Chúng tôi đã thông báo tin tức này cho bà Dunn. [Trang 222]
Tất cả các bước đi này đều được thực hiện trong bối cảnh chính sách của quý vị đối với CHND Trung Hoa – một chính sách mà tôi đã đặc biệt nhấn mạnh. Chúng tôi coi một nước Tầu cộng mạnh mẽ và độc lập là yếu tố hoàn toàn phù hợp với lợi ích của chúng tôi cũng như lợi ích của hòa bình thế giới. Chúng tôi sẽ coi bất kỳ cuộc tấn công nào nhắm vào Tầu cộng là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với an ninh quốc gia của chính mình. Do đó, chúng tôi sẽ không khuyến khích hay tìm cách lợi dụng bất kỳ cuộc tấn công nào của các quốc gia khác nhằm vào Tầu cộng. Thực tế là, chúng tôi sẽ xây dựng các chính sách toàn cầu của mình theo hướng mà Chủ tịch Mao đã chỉ ra là cần thiết để đối phó với những âm mưu bá quyền có thể xảy ra.
Các vấn đề
Do đó, xu hướng hiện tại là tích cực, nhưng không có cơ sở nào để chúng ta chủ quan. Có ít nhất hai lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ gây rắc rối lớn trong mối quan hệ của chúng ta:
—Cách chúng ta ứng xử với Liên Xô. Cho đến nay, yếu tố Liên Xô vẫn là đòn bẩy chính trong quan hệ của chúng ta với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đồng thời—và trái ngược với dự đoán của hầu hết các chuyên gia về Liên Xô—việc chúng ta mở cửa quan hệ với Bắc Kinh cũng mang lại những lợi ích đáng kể trong quan hệ với Moscow. Nếu chú trọng đúng mức đến cả hai thủ đô, chúng ta hoàn toàn có thể tiếp tục "vừa thưởng thức rượu Mao Đài vừa nhâm nhi rượu Vodka" (tức là duy trì lợi ích từ cả hai phía). Suy cho cùng, chừng nào còn duy trì thế đối đầu với Liên Xô, Bắc Kinh không có lựa chọn thực sự nào khác ngoài chúng ta để làm đối trọng (bất chấp việc họ gần đây có tìm cách tiếp cận Nhật Bản và Tây Âu như một biện pháp phòng ngừa). Và Moscow cũng cần đến chúng ta trong các lĩnh vực như châu Âu và kinh tế.
Tuy nhiên, đây vẫn là một bài toán cân bằng đầy cam go, buộc chúng ta ngày càng phải đối mặt với những lựa chọn khó khăn. Cả Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đều ám chỉ rằng—dù cố ý hay vô tình—các chính sách của chúng ta đối với Liên Xô có thể làm gia tăng áp lực lên Tầu cộng. Thậm chí còn có ý kiến cho rằng chúng ta có thể muốn một cuộc xung đột Trung-Xô nổ ra để làm sa lầy và suy yếu Liên Xô, tạo điều kiện cho chúng ta tấn công họ. Một vấn đề then chốt hiện nay là đề xuất của Liên Xô về một thỏa thuận hạt nhân. Một trong những động cơ của Moscow chắc chắn là nhằm gây khó xử cho chúng ta trong quan hệ với Bắc Kinh, bởi họ biết rõ rằng đề xuất này là điều mà Bắc Kinh cực lực phản đối. Chúng ta đã tìm cách trì hoãn vấn đề này suốt gần một năm qua, nhưng nhiều khả năng Brezhnev sẽ thúc đẩy giải quyết dứt điểm vấn đề này nhân chuyến thăm của ông tới đây. Việc vừa làm hài lòng Brezhnev mà không gây bất mãn cho Chu Ân Lai sẽ là một thách thức lớn. Những vấn đề cụ thể và tế nhị khác trong mối quan hệ tay ba này bao gồm các chính sách an ninh châu Âu và việc cấp tín dụng cho Moscow.
—Sự thay đổi sắp tới trong ban lãnh đạo Trung Quốc. Mao đã ở độ tuổi ngoài 80 và nhận được “lời mời” từ “Thượng đế”. Chu Ân Lai năm nay 75 tuổi và vừa công khai đề cập đến sự cần thiết phải sớm có một ban lãnh đạo mới cho đất nước. Rõ ràng họ đang nắm quyền kiểm soát chính sách của CHND Trung Hoa hiện nay, nhưng hoàn toàn không chắc liệu họ có thể đảm bảo sự tiếp nối cho các đường lối chính sách của mình hay không. Vụ Lâm Bưu rõ ràng là một thách thức lớn và suýt nữa đã dẫn đến hậu quả khôn lường. Kể từ đó, họ vẫn chưa thể [Trang 223] lấp đầy nhiều vị trí chủ chốt trong đảng và quân đội. Mao thường xuyên nhắc đến những khó khăn do phụ nữ tại Tầu cộng gây ra; điều này chắc chắn ám chỉ người vợ của ông – người đại diện cho thách thức đến từ phe cánh tả. Tất cả những điều này được phản ánh qua sự sốt sắng của phía Tầu cộng trong việc thể chế hóa mối quan hệ với chúng ta, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc phải nới lỏng nguyên tắc “một Tầu cộng” vốn được coi là bất di bất dịch.
Chúng ta biết rất ít về các mối quan hệ quyền lực tại CHND Trung Hoa và thậm chí còn biết ít hơn về vấn đề kế nhiệm. Chúng ta chỉ có thể giả định—dựa trên các chỉ dấu nêu trên cũng như những lựa chọn khách quan mà Tầu cộng đang đối mặt—rằng tồn tại sự phản đối đáng kể đối với các chính sách hiện hành, bao gồm cả chính sách đối ngoại. Chẳng hạn, chắc chắn có những người ủng hộ việc hòa dịu với Moscow hơn là với Washington. Do đó, trước khi bộ máy lãnh đạo hiện tại rời khỏi vũ đài chính trị, chúng ta cần tăng cường quan hệ song phương, giúp người dân hai nước làm quen với mối quan hệ gắn bó hơn, đồng thời tiếp cận nhiều tầng lớp lãnh đạo Tầu cộng nhằm củng cố vị thế của những người ủng hộ việc mở cửa với Mỹ.
Có hai vấn đề tiềm tàng khác, nhưng dường như chúng dễ kiểm soát và nằm trong tầm tay của chúng ta hơn:
—Sự cần thiết phải duy trì vai trò mạnh mẽ của Hoa Kỳ trên trường quốc tế. Chúng ta sẽ chẳng còn giá trị gì đối với Bắc Kinh trong vai trò đối trọng với Moscow nếu ta rút lui khỏi các vấn đề toàn cầu, lơi lỏng phòng thủ hay hành xử thụ động trên chính trường quốc tế. Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai từng thúc giục Hoa Kỳ thể hiện sự hiện diện quyết liệt hơn—nhằm ngăn chặn các âm mưu của Liên Xô tại nhiều khu vực, thắt chặt quan hệ với các đồng minh và duy trì thế trận phòng thủ vững chắc. Nếu phía Tầu cộng tin rằng chúng ta đang chiều theo những tiếng nói đòi quay về nội bộ từ các nhóm ồn ào trong Quốc hội, công chúng và giới truyền thông, thì chắc chắn thái độ của Bắc Kinh sẽ thay đổi một cách đột ngột. Tất nhiên, cả ông và tôi đều đã khẳng định—cả trong các cuộc trao đổi riêng với giới lãnh đạo CHND Trung Hoa lẫn qua các tuyên bố công khai—rằng chúng ta quyết tâm duy trì vai trò quốc tế đầy trách nhiệm. Chừng nào ông còn giữ cương vị Tổng thống, Bắc Kinh chắc chắn sẽ tin tưởng rằng chúng ta vẫn là nhân tố then chốt trong cán cân quyền lực toàn cầu.
—Vấn đề Đài Loan. Phía Tầu cộng đã thể hiện tầm nhìn xa và sự kiên nhẫn đối với vấn đề này. Thiện chí của họ trong việc giúp chúng ta tháo gỡ thế bí hiện được thể hiện rõ nét nhất qua việc họ chấp nhận đặt văn phòng liên lạc tại Washington, ngay cả khi chúng ta vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với chính quyền Đài Loan. Mặt khác, thái độ ôn hòa công khai mà họ thể hiện phần lớn là nhờ vào những cam kết riêng tư của chính ông—rằng chúng ta sẽ bình thường hóa hoàn toàn quan hệ vào năm 1976 và rút quân khỏi Đài Loan khi Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc. Đài Loan là vấn đề mà chúng ta có thể kiểm soát được, cả trên bình diện quốc tế lẫn trong nước, khi chúng ta tiếp tục phát đi những tín hiệu báo trước và định hướng dư luận. Tuy nhiên, chúng ta không nên ảo tưởng rằng bước đi cuối cùng sẽ diễn ra êm thấm; bởi lẽ, hiếm có người bạn nào lại tử tế và đáng quý như các đồng minh của chúng ta tại Đài Loan.
1. Nguồn: Cơ quan Lưu trữ Quốc gia, Tài liệu Tổng thống Nixon, Hồ sơ NSC, Hồ sơ Văn phòng Kissinger, Hộp 98, Hồ sơ Quốc gia, Viễn Đông, Chuyến thăm Tầu cộng của HAK, Biên bản ghi nhớ & Báo cáo (bản gốc), tháng 2 năm 1973. Tuyệt mật; Nhạy cảm; Chỉ dành cho người có thẩm quyền xem trực tiếp (Exclusively Eyes Only). Không có dấu hiệu nào trên bản ghi nhớ cho thấy Nixon đã xem nó.↩
2. Xem chú thích 3, Tài liệu 17.↩
3. Xem các Tài liệu 8–14. Tất cả các biên bản ghi nhớ về các cuộc gặp của Kissinger từ ngày 15 đến 19 tháng 2 đều nằm trong Cơ quan Lưu trữ Quốc gia, Tài liệu Tổng thống Nixon, Hồ sơ NSC, Hồ sơ Văn phòng Kissinger, Hộp 98, Hồ sơ Quốc gia, Viễn Đông, Chuyến thăm Trung Quốc của HAK, Biên bản ghi nhớ & Báo cáo (bản gốc), tháng 2 năm 1973.↩
4. “Enhance Plus” (Tăng cường Cộng) là nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm mở rộng và nâng cao năng lực lực lượng vũ trang của Việt Nam Cộng hòa trước khi hiệp định hòa bình có hiệu lực. Chương trình này kéo dài từ ngày 23 tháng 10 đến ngày 12 tháng 12 năm 1972. Xem thêm chú thích 3, Tài liệu 73.↩
5. Theo Học thuyết Nixon—vốn bắt nguồn từ cuộc họp báo không chính thức tại Guam vào ngày 25 tháng 7 năm 1969 mà Nixon dành cho các phóng viên—Hoa Kỳ sẽ giữ vững các cam kết của mình nhưng khuyến khích các quốc gia châu Á tự chịu trách nhiệm về an ninh của chính họ; xem *Foreign Relations* (Quan hệ Đối ngoại), 1969–1976, Tập I, Tài liệu 29.↩
6. Các số liệu mà Kissinger trích dẫn nhiều khả năng dựa trên thông tin ông nhận được trong bản ghi nhớ ngày 6 tháng 2 từ Bộ trưởng Quốc phòng Elliot Richardson. (Cơ quan Lưu trữ Quốc gia, Tài liệu Tổng thống Nixon, Hồ sơ NSC, Hồ sơ Văn phòng Kissinger, Hộp 98, Hồ sơ Quốc gia, Viễn Đông, Chuyến thăm Trung Quốc của HAK, Biên bản ghi nhớ & Báo cáo (bản gốc), tháng 2 năm 1973)↩
7. Sau câu này, có một dòng ghi chú bằng nét chữ không xác định với nội dung: “không hoàn toàn rõ ràng như vậy.” Chu Ân Lai đã nhận định vào ngày 16 tháng 2 rằng: “Tôi có thể cam đoan với ông rằng chúng tôi không có ý định giải phóng nó [Đài Loan] bằng lực lượng vũ trang. Hiện tại chúng tôi không có kế hoạch như vậy.” Xem Tài liệu số 9.↩
8. Các bản ghi chép nội dung những cuộc thảo luận này hiện lưu tại Cơ quan Lưu trữ Quốc gia (National Archives), trong bộ sưu tập Tài liệu Tổng thống Nixon (Nixon Presidential Materials), Hồ sơ NSC, Hồ sơ Văn phòng Kissinger, Hộp 87, Hồ sơ Quốc gia, Khu vực Viễn Đông, Các cuộc đàm phán với phía Trung Quốc (PRC), 1971–1973.↩
9. Trong bản ghi nhớ gửi Kissinger ngày 9 tháng 3 năm 1973, Theodore Eliot báo cáo rằng CHND Trung Hoa “đã đồng ý giải quyết các yêu cầu bồi thường của tư nhân Hoa Kỳ thông qua việc chuyển giao các tài sản Trung Quốc đang bị phong tỏa cho Chính phủ Hoa Kỳ để sử dụng vào mục đích bồi thường cho các bên yêu cầu phía Hoa Kỳ.” (Sđd, Hộp 527, Hồ sơ Quốc gia, Khu vực Viễn Đông, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Tập 7, tháng 5 năm 1973 – ngày 9 tháng 7 năm 1973)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/sources
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/comp1
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch1
1. Document 18
Foreign Relations of the United States, 1969–1976, Volume XVIII, China, 1973–1976
18. Memorandum From the President’s Assistant for National Security Affairs (Kissinger) to President Nixon1
Washington, March 2, 1973.
SUBJECT
- My Trip to China
Overview
Separate reports have given you the substantive highlights and atmosphere of my visit to the People’s Republic of China, plus a complete rundown of my conversation with Chairman Mao.2 This will give you a more detailed account of my talks with the Chinese and place them in the context of our developing relationship.
I spent twenty hours in formal meetings with Chou, almost two hours with Mao, and several more hours with Chou and other Chinese officials at banquets and on sightseeing tours.3 This included talks with Vice Chairman Yeh Chien-ying, Foreign Minister Chi Peng-fei, and Vice Foreign Minister Ch’iao Kuan-hua. These talks were the freest and most candid, and our reception the most cordial and public-oriented, of any of my visits. This was due to a combination of factors:
- —The Vietnam settlement;
- —our meticulous handling of the Chinese and fulfillment of our undertakings since July 1971;
- —the growing Chinese preoccupation with the Soviet threat;
- —the shadow of advancing age of the PRC leaders;
- —the consequent urge to accelerate the normalization and institutionalization of our bilateral relationship; and
- —the fact that we are now familiar interlocutors after five trips and literally hundreds of hours of talks in Peking and New York.
Evolution of Our Relationship
The progression of our relationship in the past twenty months is remarkable. I believe it is one of your most striking successes in foreign policy. If we continue to handle it carefully, it should continue to pay dividends—in relaxing tensions in Asia, in furthering relations with Moscow, and generally in building a structure of peace.
When you sent me to China in July 1971 we had almost no idea what to expect as we penetrated twenty years of accumulated isolation, distrust and enmity. Since then we have progressed faster and further than anyone would have predicted, or the rest of the world realizes. For in plain terms we have now become tacit allies.The evolution has gone as follows:
- —When you took officethere was total lack of diplomatic communication between our two governments, no personal or commercial interchange between our two peoples, mutual public recrimination, and clashing world views.
- —In the first two and a half years of your Administration, we put out private feelers through third countries, took unilateral public steps in such fields as trade and passports in order to send signals, and pointed our rhetoric toward a new relationship. This resulted in agreement in principle that you would meet the Chinese leaders and my secret exploratory trip of July 1971.
- —My July 1971 tripreestablished direct communications, confirmed your trip to Peking and suggested that the PRC was ready to move toward normalization. On the other hand, Chou presented his quota of rhetoric and our policies clashed on most major issues.
- —In October 1971we established the framework for your trip, including the outlines of the joint communiqué. The Taiwan issue remained hanging in the communiqué, however, and our policies continued to conflict in many areas.
- —Your February 1972 visitwas the watershed. It stamped your and Mao’s personal imprints on the move toward normalization. The Shanghai Communiqué contained joint principles in international affairs, finessed the Taiwan problem through mutual and ambiguous compromise, set in motion bilateral trade and exchanges, established the public Paris channel, and accelerated the private New York channel. However, as the communiqué publicly, and your conversations [Page 210] privately demonstrated, we were improving our relations despite different world outlooks.
- —My June 1972 tripmarked substantial evolution toward our views in the Chinese private positions on international issues. But the Vietnam war continued to inhibit the Chinese, and publicly all we could register was a modest increase in exchanges and trade.
- —On this trip in February 1973, the flood gates opened privately and publicly for the reasons stated. The Chinese leaders are among the very few in the world with a global and longer term perspective—and it now parallels ours in many important respects. In such areas as the Soviet Union, Europe, South Asia and even Japan we have similar outlooks. In others, like Indochina and Korea, we each back our allies but share an interest in independent states and relaxed tensions. And on Taiwan we have reached a clear modus vivendi—on our part, continued, concrete evolution toward full relations with all its implications; and on their part, patience and a pragmatism reflected most vividly in the coming side-by-side presence of a GNP Embassy and a PRC Liaison Office. On the bilateral plane, it is full speed ahead on trade and exchanges. As for public relations, the Chinese have long since singled out the USSR for attack and have shown increasing cordiality in their public contacts with us.
Following are the main points of my talks with the Chinese, topic by topic.
Soviet Union
The Soviet Union dominated our conversations. In 1971 there were somewhat guarded references by the Chinese to Soviet designs, but they ritualistically linked the U.S. and the USSR as the two superpowers seeking hegemony. By the time of your visit the Chinese leaders were quite candid about the Soviet menace but stayed away from extended discussion. By last June the Soviet Union had become one of the two major topics in my conversations, the other one being Indochina. On this trip it was the centerpiece and completely permeated our talks. The Chinese views generally surfaced in the regional discussion and are detailed later in this report. Following are the more general observations.
Chou raised the USSR in our first meeting and kept coming back to it. He called a special meeting the night of February 17 to discuss this subject and at the end of his presentation he announced my meeting with Mao, where again it was a major topic. We discussed it at length the next day as well. In literally every region of the world the Chinese see the Soviet hand at play. As you will see in the area discussions below, Mao and Chou urged us to counter the Russians everywhere—to work closely with our allies in Europe and Japan, and to take more positive action to prevent the Soviets filling vacuums or spreading their influence in areas like the Middle East, Persian Gulf, Near East, South Asia and Indian Ocean.
In our first meeting, after my opening statement, Chou asked me in effect whether we thought the world was moving toward peace or war. I said that there were some positive developments, but we were not naive about potential dangers, such as the intensive Soviet military buildup. I made clear that we had major business to do with Moscow, but we were under no illusions about its possible motivations. We would continue our policy of keeping the Chinese fully informed and not concluding any agreements that could be directed against Peking.
Chou pointed to developments in Europe and said perhaps we sought to “push the ill waters of the Soviet Union eastward.” He also cited our diversion of fighters from Taiwan to South Vietnam last fall in Enhance Plus4 as an example of our taking advantage of Peking; somewhat out of context, he said that this showed that we might be standing on Chinese shoulders to reach out toward the Soviet Union.
The next day I purposely detailed our proposed force reductions on Taiwan and then made a more sweeping analysis of our policy toward the Soviet Union. I said that the nature of our relationship meant that we had to pursue a more complicated policy than the PRC which could oppose the Soviet Union outright on issues. We were making several agreements with Moscow, but we would not let these constrain us in the event that our interests were jeopardized. I pointed out that the USSR could follow one of two courses. If they truly wanted peace, we would welcome that course, and the agreements we were making might contribute to that end. If, however, as seemed more likely, they were bent on a more threatening road, we had shown in the past that we would react strongly if our interests were jeopardized. In any event, I emphasized, we would maintain strong defenses and improve our strategic forces so long as the Soviet buildup continued. And on issues of direct concern to Peking we would take Chinese interests into account, such as on the Soviet initiative on a nuclear understanding, where we have been fighting a delaying action ever since last spring.
Chou and then Mao, however, both replayed the theme that we might be helping the Soviet Union, whether or not purposely. Whereas we saw two possibilities, i.e. that the Soviet Union would either pursue a peaceful or a menacing course, the Chinese saw only the latter. They were spreading their influence everywhere with the help of their satellites, like India, and were out to isolate the Chinese. The “new czars” were neurotic and omnipresent. It was the Chinese duty to try and expose their designs wherever possible, however lonely their efforts in a world enamored with false détente.
Mao even went so far as to suggest that we might like to see the Russians bogged down in an attack on China; after wearing themselves out for a couple of years, we would then “poke a finger” in Moscow’s back. I rejoined that we believe that a war between the two Communist giants was likely to be uncontrollable and have unfortunate consequences for everyone. We therefore wished to prevent such a conflict, not take advantage of it.
Given Mao’s and Chou’s skeptical comments on this issue, I treated it at considerable length the day after my meeting with the Chairman. I said there were three hypothetical U.S. motives in a policy that contributed to pressures on the PRC from the USSR. First, we might want the Soviet Union to defeat China. I stressed emphatically that whether Moscow defeated China or Europe first, the consequences for us would be the same; we would be isolated and the ultimate target. Thus this could never be our policy.
The second possible motive was the one Mao mentioned—our wish for a stalemated Moscow attack on Peking, so as to exhaust the Soviet Union. I pointed out that even partial Soviet dominance of China could have many of the consequences of the first option. In any event, such a major conflict would have unpredictable consequences. The Soviet Union might take rash actions if they were stymied as the Chairman claimed we had been in Vietnam. And we would be forced either to demonstrate our impotence and irrelevance, or make a series of extremely complex decisions.
The third possibility was that we might contribute to a war between China and the Soviet Union through misjudgment rather than policy. This I recognized as a danger despite our intentions. I then analyzed at length our policy around the world, with emphasis on Europe, to demonstrate that we plan to maintain our defense, continue a responsible international role, and work closely with our allies. In short, while seeking relaxation with Moscow, we would also ensure that if it did not choose a peaceful course we and our friends would be in a position to resist and defend our national interests. And I made it evident that we would consider aggression against China as involving our own national security.
It is not at all clear that we have fully allayed Chinese suspicions. While they have nowhere else to go in the short term, they will certainly watch our Soviet moves with wariness, and take out insurance with Japan and Europe.
Europe
Europe is now a major preoccupation of the Chinese leaders. Since my June trip there has been a series of high-level visitors from European capitals to Peking. The Chinese believe that Europe is becoming [Page 213] demoralized and sapped of its strength through the illusions of peace fostered by the Soviet Union. Such a fake détente, most evident in Ostpolitik but also spreading elsewhere, is not only deceptive but dangerous in the Chinese view. They see these European developments as adding to the Soviet pressures against China. The atmospherics of events like the European Security Conference and the possible concrete results of events like the MBFR negotiations free the Soviet western flank so that Moscow can concentrate on its Chinese flank. Both Mao and Chou suggested that we were cooperating in this enterprise and thus, whether or not inadvertently, contributing to the pressures on them.
The Chinese have contempt for the Communist parties of Europe, which are generally Moscow-dominated, and favor the Conservatives over the Socialist and Labor parties. This is most evident in France where the Mitterand challenge to Pompidou causes Peking great concern. Mao told Pompidou to maintain strong ties with the U.S. The Chinese are also worried about German weakness and were anxious to hear why the Christian Democrats had lost the election there. The British seem the most level-headed to them.
In general, Chou pointed out, Europe has grown strong economically but weak militarily, in direct contrast to the Soviet Union whose military strength continues to increase but whose mismanagement has caused serious economic problems. The latter, however, can be eased by U.S. and European trade and credits.
Mao and Chou both stressed the need for us to maintain close ties with Europe. As in the case of Japan, we should not let trade barriers and other frictions disrupt our political bonds. Mao included Europe in the anti-Soviet axis that he urged across the world, together with Japan, the U.S., Iran, Pakistan and Turkey.
In response I emphasized the top priority that we give to our European allies. You plan to concentrate greatly during the coming months on our political, economic and security relations with Europe with a view toward a high-level conference once we had coordinated a general strategy. We had no illusions about Soviet intentions in Europe, and we would conduct our policy so as not to render allied defense vulnerable. The European Security Conference had been foisted upon us by our allies, and we were forced to go through with it. Our only choice was to make it as brief and as meaningless as possible. On the other hand, I said that the MBFR talks were useful, not only to deter Congressional pressures for unilateral American troop reductions in Europe but also to educate our European allies about the military threat posed by Soviet forces. I assured Chou that there would be no reductions before 1975 and these in any event would not exceed 10 to 15%. We would encourage European political and security unit, and we welcome Chinese education of Europe’s shortsighted leadership.
South Asia
Mao and Chou made clear that in addition to the Soviet Union’s Eastward pressures, the other major threat was hegemonial drives toward the South. In their view Soviet designs include a variety of maneuvers directed along the whole axis running from the Middle East through the Near East, South Asia and the Indian Ocean.
In South Asia, the Chinese believe India remains Moscow’s principal agent; their distrust of New Delhi remains as potent as ever. When we first began talking directly to the Chinese twenty months ago Chou cited four potential enemies—the Soviet Union, the United States, Japan, and India. the PRC has now decided to improve relations with us and Japan, reassured that we are not colluding with the Soviet Union. This leaves two enemies in its pantheon, Moscow and New Delhi.
Chou displayed a particular contempt for the Indians and a personal dislike for Indian leaders. He related several cynical and disdainful anecdotes about Prime Ministers Nehru and Gandhi. The Indians have been pressing Peking for improved relations, and the reestablishment of embassies in both capitals. Chou related that Peking had responded with a typical Chinese ploy—they raised their chargé d’affaires in New Delhi from first secretary to counsellor!
As evidence of the Moscow–New Delhi alliance Chou pointed to those two countries’ attempt to dismember Pakistan by encouraging dissident movements in Baluchistan and Pushtunistan and the fact that most of the Indian Navy is becoming Russian-built. He did not demur when I suggested that New Delhi was seeking to expand its influence in Indochina as well.
As in other areas of the world the Chinese urged an active U.S. foreign policy to counter their enemies’ designs. Chou suggested the following:
- —I should see Mrs. Bhutto while I was in Peking.
- —We should increase our military aid to Pakistan. China had given it some assistance, but it was up to us to take the lead for Peking’s capability was limited.
- —We should better our relations not only with Sri Lanka (Ceylon) and Nepal but also with the Indian protectorates of Bhutan and Sikkim.
- —We should provide Bangladesh with humanitarian assistance and establish some influence there to counter New Delhi. Peking would be willing to do so as well at some point, but couldn’t move so long as the emotional issue of Pakistani prisoners held by Bangladesh was not resolved.
- —He asked about our bases in the Indian Ocean.
In response I stated that our policies toward South Asia were still in parallel. We would go slow in any improvement of relations with [Page 215] New Delhi and would keep the PRC informed. With regard to Pakistan, I assured Chou that we would resume our pre-war policy of providing spare parts for equipment it already possessed; that we would release military equipment that Pakistan had already contracted for, including 300 APC’s; and that we would work vigorously with third countries like Iran and Turkey to encourage them to provide military assistance to Pakistan which was awkward for us because of our Congressional problems. We would also maintain, perhaps increase, our $200 million in economic aid. As you know, I paid a courtesy call on Mrs. Bhutto while I was in Peking, during which I stressed our continued support and friendship for Pakistan.
On Bangladesh, I informed Chou that we had been holding up $30 million in food assistance until we had elicited Chinese views, but that we would now move immediately to release this. On Sri Lanka, we were prepared to improve our relations at whatever pace Madame Bandaranaike desired. As for the Indian Ocean, we would review our naval deployments in that region, suggesting that we would maintain a meaningful presence. I emphasized that in any event our naval strength was far superior to that of the Soviet Union.
The Near and Middle East
In past trips, the Chinese leaders have shown only passing interest in this region. Now it is an area of great concern, subject to Soviet southward pressures. As in South Asia, Chou claimed that here too we were too slack in our efforts and should do more to counter Soviet designs. Mao explicitly included Iran and Turkey as well as Pakistan in the friendly axis that he suggested we shape; Chou urged us to be more active in the Persian Gulf and queried me on Iran and Turkey specifically.
I replied that the Shah of Iran was a very farsighted leader, and that we considered him a pivotal ally. For this reason we were sending Helms to be Ambassador, not only to step up our efforts with Iran but to organize a more active and cooperative American role with other friendly countries in the Near East and Persian Gulf regions. I reassured Chou that our relations remain good with Turkey, but pointed out that it had domestic problems. Chou commented that the Soviet Union was trying to take advantage of these.
Chou also showed significant interest in the Middle East for the first time, again because of Soviet efforts which he cited in such places as Egypt, Syria, Iraq and Libya. He cited the discovery of Soviet arms in the Iraqi Embassy in Pakistan as evidence of the interlocking web of Soviet designs throughout the entire axis. He made clear that China fully supported the Arabs in their efforts to regain all lost territories and solve the plight of the Palestinian refugees. When I forcefully pointed out that we were committed to the survival of Israel, he acknowledged that Israel could not be destroyed and that its existence [Page 216] was now a fact. He said that PRC relations with Israel were not possible until it gave up its territorial aggression.
Despite our opposing views he clearly looked with favor on our continuing presence in the Middle East to counter the Soviets. The Chinese, he said, were unable to do much in that area except to try to expose Soviet designs. I filled him in on my upcoming talks with Ismail and said that we were prepared to deal with the Arab countries on the basis of their own interests, so long as these were distinct from Moscow’s. He agreed with us that we should try to reach a settlement with Egypt before Jordan. He welcomed my suggestion that we keep him posted on any significant developments in our negotiations on the Middle East.
Indochina and Southeast Asia
The Chinese held up agreeing to my visit until the Vietnam settlement was completed. In turn the ceasefire in Vietnam paved the way for the success of my trip to the PRC. Mao and Chou welcomed the settlement, with the Chairman pointing out that we had done “good work” and getting my confirmation that the basic issues were settled.
I said that we would, of course, strictly implement the Agreement but I emphasized that we expected Hanoi to do the same. I described my trip to Hanoi and underlined the two choices for Hanoi which we saw. The first was to use the Agreement as an offensive weapon, pressuring us and the GVN and seeking their Indochina objectives through violations. I made clear that this would mean confrontation with us and obviously no possibility of economic assistance. Hanoi’s other choice was to use the Agreement as an instrument of conciliation as we wish to do. This would allow us to move towards normalization of relations and economic reconstruction which we considered in our own interests.
I also stressed the need for restraint in Indochina, not only by the DRV but also by major outside powers. When I specifically mentioned limits on military assistance, Chou was ambiguous, saying that the Soviet Union was the dominant supplier and China only supplied small arms. I believe, however, that we can expect some moderation on the Chinese part.
My corollary emphasis was on the need for a gradual evolution in Indochina and a period of tranquility. Mao and Chou seemed to recognize this, although their basic posture is that Indochina problems are up to the individual countries themselves. We agreed that we shared an interest in there being independent states in the region, to alleviate the threat of a Soviet and Indian-dominated Indochina.
While I was in Peking, the Laos ceasefire was still not pinned down. I pointed out the urgent need to cease hostilities there and begin [Page 217] North Vietnamese withdrawals. Chou indicated that they would welcome a settlement in Laos, although he maintained a hands-off attitude on the pending issues. He assured me that as soon as there was a ceasefire their anti-aircraft units would withdraw from Laos and that once the Chinese road was completed they would withdraw their engineer teams as well. I indicated that Souvanna Phouma, who had requested me to raise the issue of the Chinese road, was prepared for better relations with Peking. Chou seemed receptive, and noted his respect for the King of Laos.
We both agreed that Cambodia presented a more complex problem because of the many factions involved. I rejected Chou’s rather pro forma request that I talk to Sihanouk. I stated that Lon Nol’s government was a major factor and that Sihanouk’s representatives should speak to him. As in Laos I emphasized the importance of the withdrawal of North Vietnamese troops as stipulated in the Vietnam Agreement. I said that our objectives were to bring about a ceasefire and North Vietnamese withdrawal and direct contacts between the various factions. Chou agreed that the situation would be more manageable if the conflict became a purely civil war. He made some cynical remarks about Sihanouk; I believe their alliance has cooled somewhat. He said he would think over my proposal that representatives of Lon Nol and Sihanouk get together, and he agreed that we should exchange views on Cambodia on a continuing basis.
At Bangkok’s request I brought up the subject of Chinese support of the insurgency in Thailand. Chou denied PRC involvement, saying that revolutions were the responsibility of the indigenous peoples. He pointed out that some Chinese Nationalist troops were still left in Thailand and often crossed over into Chinese territory. When I noted Thai nervousness about the Chinese road in Laos, he assured me that the road would stop at the Mekong Valley, way short of Thai territory, so there was no cause for Bangkok concern.
Chou also indicated an interest in other countries in Southeast Asia, and we briefly touched on them. He gave only lip service to revolutionary movements—the peoples themselves must accomplish this task, and it seemed that revolutionary movements were not maturing quickly in the region. He echoed his approach of June when he called for a neutral and stable region; clearly he is concerned here as elsewhere about Moscow and New Delhi influence. I made clear that if there were sudden changes in the situation in the region we might have to react, but otherwise we were prepared for a gradual evolution and genuine independence and neutrality for the countries of the region over the longer term.
We also discussed the International Conference. The basic Chinese position was to back whatever the DRV wanted; they clearly were [Page 218] reluctant to get out in front. Thus they were for a short conference which was free of recrimination and endorsed the Vietnam Agreement, but treated Laos and Cambodia only in the context of the Agreement. Chou would not be drawn out on other issues, such as continuing authority for ceasefire reports and chairmanship of the Conference, leaving that up to Hanoi. We continued to keep in touch with Peking in the period before the Conference and during the Conference itself.
Japan
The Chinese have done a major turnabout in their attitude toward Japan and the U.S. in the last 20 months. Chou’s approach this time continued the marked evolution which I noticed last June. From Peking’s perspective in 1971 Japan was one of the potential large powers that might help to carve up China. It had been fattened economically by the U.S. and was now threatening to expand its militarism throughout the region, in such areas as Taiwan and Korea. Both publicly and privately China used to oppose the U.S.-Japan Security Treaty.
Although Chou still urged us to keep Japan out of Taiwan and Korea and noted the continuing threat of Japanese militarism, the Chinese now clearly consider Japan as an incipient ally along with ourselves to counter Soviet and Indian designs. Publicly this has been reflected in Tanaka’s visit to the Mainland, PRC-Japan establishment of diplomatic relations, and (since my visit) Chou’s expressed desire to visit Japan.
Privately, the change in their attitude is even more marked. Chou stated that Japan is at a crossroads; having grown up it wants its freedom. He now acknowledges that our Security Treaty is a brake on Japanese expansionism and militarism; he pointed out that Peking had not attacked the Treaty in any way in recent months in their dealings with Japan, despite its original opposition to it. Since we had fattened Japan and still had great influence with Tokyo, he suggested that we had a great responsibility to restrain it. He urged the closest U.S.-Japanese cooperation generally and mentioned development of Siberian resources specifically. He said that work should be done with Japan to win it over and prevent the situation where the Soviet Union became its ally instead of the U.S., for this would be a threat to the world.
Mao said that it was a mistake for me to spend only one day in Tokyo on my way home and that I should take more time with our ally. He wanted to make sure that trade and other frictions with Tokyo (as well as with Europe) would not mar our fundamental cooperation. He cited the U.S. and Japan, together with Europe and the friendly Near East countries, as the axis to be formed to oppose the Soviet Union.
In response I noted our similarity of approach and stressed the restraining factor of our Security Treaty. I assured both Mao and Chou [Page 219] that you put the highest value on our relations with Japan, as well as with our European allies, and we would be working hard to foster this relationship. I acknowledged Chinese restraint in dealing with the Japanese and cautioned that any attempt to compete for Tokyo’s allegiance could end up encouraging resurgent Japanese nationalism through conflicting pressures. Accordingly, we favored improvement in PRC-Japanese relations and expected reciprocal treatment from Peking.
Korea
While this had been a significant area of interest in our past conversations and there had been much speculation that Chou would raise Korea this time as a prime topic, it did not come up until the very end of my trip. In his final tour d’horizon Chou repeated, with somewhat less emphasis, past Chinese views on the Korean Peninsula. He called for the abolition of both UNCURK and the United Nations Command, said that our forces should be withdrawn, and favored relaxation of tensions and reunification between the two Koreas. At the same time he made it clear that the Chinese were prepared for a gradual evolution in the situation. He informed me that they had been telling Pyongyang in effect to be patient with gradual U.S. withdrawals and reunification, and that the North Koreans were beginning to understand. He stressed that we should make sure that as we left Korea, Japan did not send its own forces to replace us.
I said that we were prepared to consider abolishing UNCURK—we would check with our South Korean allies and let Peking know in a few weeks—in exchange for his pledge that Peking would defuse the Korean issue, specifically in the next UN General Assembly debate. I indicated that we would entertain a gradual withdrawal of troops over time but made clear that this was in the context of the Nixon Doctrine5 and a strengthening of South Korean defenses. Chou did not demur. In fact, given gradual withdrawal and gradual reunification and the keeping out of Japan, he was quite sure that “no one will commit aggression” in the Korean Peninsula.
Taiwan
Purposely I brought up the issue of Taiwan at the very outset of our conversations. I reaffirmed the principles that you had outlined to Chou concerning our formula on China and Taiwan in the Shanghai Communiqué; our disassociation from any Taiwan independence movement; our discouragement of the Japanese moving into Taiwan; [Page 220] our support for any peaceful resolution of the Taiwan issue; and our intention to seek normalization of relations with Peking. I also promised to give Chou a specific schedule of the reduction of some of our forces on Taiwan now that the Vietnam war was over.
Chou was more concerned about our military assistance to Taiwan, which he said should be phased out over time, and our providing Taiwan with the ability to produce its own F–5 airplanes. As noted above, he also complained that in diverting F–4’s from Taiwan to South Vietnam during Enhance Plus last fall, we were taking advantage of China, and this was an example of standing on China’s shoulders to reach out toward the Soviet Union.
In our second meeting, before giving Chou a long analysis of our policy toward the Soviet Union in reaction to his comment, I gave him a specific schedule for the reduction of our Taiwan forces. I told him that we would withdraw five air force squadrons, or about half of our 9,000 military personnel on Taiwan, during the coming year. I also said that we would withdraw at least two squadrons of F–4’s during the following year and would look at other military units carefully.6 Chou professed disinterest in a specific timetable for withdrawal, saying that the important thing was the principle had already been established. He returned to our military aid policy which I said we would review. He assured me that Peking had no intention to liberate Taiwan by armed force.7
In response to this latter comment I reaffirmed our intention to move toward normalization of relations. This set up the eventual deal for an exchange of liaison offices in each other’s capital. I also told Chou that we would be prepared to move after the 1974 elections toward something like the Japanese solution with regard to diplomatic relations and before mid-1976, we were prepared to establish full diplomatic relations. I added that we would want to keep some form of representation on Taiwan but I was sure that we could find some mutually acceptable formula. He agreed with this approach.
Bilateral Relations
The public manifestations of the discussions with the Chinese are reflected in the substantial progress in our bilateral relations. The factors I have cited impelled the Chinese to move forward faster than we [Page 221] anticipated. The most dramatic development was the establishment of liaison offices in each other’s capitals. We had expected them to agree to a trade, or perhaps liaison, office in Peking, but Chou quickly raised the question of their having an office in the United States. This contrasts their consistent policy of not having a significant mission in the same capital as an Ambassador from the Republic of China. And these offices, which as you know may well be at Ambassadorial rank, and will enjoy diplomatic immunity and privileges, will be closely equivalent to Embassies in everything but name. Yet Chou never mentioned the GNP Embassy or our diplomatic relations. This is the best proof of Chinese eagerness to institutionalize our relationship. It reflects our approach, which I reiterated at the very first meeting, that we need greatly to increase our contacts and to get our peoples used to U.S.-Chinese exchanges and cooperation.
The counterpart meetings we held on exchanges and trade went very smoothly.8 The Chinese were prepared with a whole series of specific programs which they were ready to approve in various scientific, cultural and other fields. In contrast to the past, they put as much emphasis on our groups going to China as on their groups coming here. They are ready to invite more Senators and Congressmen. They also expressed interest in increased bilateral trade and readily agreed to our approach of a political package deal of a lump sum exchange between private claims against them and blocked PRC assets. Since then Secretary Rogers and Foreign Minister Chi Peng-fei have launched this negotiation in Paris.9
Both Mao and Chou went to considerable length to show their interest in trade, exchanges, and the liaison offices. They supplemented this with a desire to increase the knowledge of English in their country and the number of Americans residing in China. They agreed to the release of the two captured American pilots within the same time period as the release of other prisoners under the Vietnam Agreement, and Chou clearly indicated that Downey’s case would be reviewed favorably in the second half of this year. They also cooperated in providing information on Lieutenant Dunn, a pilot who has been missing in action since 1968 near Hainan Island. Unfortunately no new facts turned up in this case, and his death now seems confirmed. We have provided this information to Mrs. Dunn. [Page 222]
All these steps were taken against the background of your approach to the PRC which I emphasized. We see a strong and independent China as being clearly in our interest and the interest of world peace. We would consider an attack on China as an ultimate threat to our own national security. We therefore would not encourage nor try to take advantage of any attack on China from other countries. Indeed we would develop our global policies in the way that Chairman Mao had indicated would be needed to counter possible hegemonial designs.
Problems
The current trend therefore is positive, but there are no grounds for complacency. There are at least two areas which have substantial potential for trouble in our relationship:
—Our dealings with the Soviet Union. To date the Soviet factor has been the main leverage in our dealings with the PRC. At the same time—and contrary to the predictions of almost all Soviet experts—our opening to Peking has paid us substantial dividends with Moscow as well. With conscientious attention to both capitals we should be able to continue to have our mao tai and drink our vodka too. Peking, after all, assuming continued hostility with the USSR, has no real alternative to us as a counterweight (despite its recent reaching out to Japan and Western Europe as insurance). And Moscow needs us in such areas as Europe and economics.
But this is nevertheless a difficult balancing act that will increasingly face us with hard choices. Mao and Chou both suggested that, inadvertently or not, our Soviet policies could increase the pressures on China. It was even intimated that we might favor a Sino-Soviet conflict, so as to bog down the Soviet Union and weaken it for our own attack. A cutting edge is the Soviet initiative on a nuclear understanding. One of Moscow’s motives is certainly to embarrass us in our relations with Peking, since they know their initiative is anathema to Peking. We have fought a delaying action on this issue for almost a year now, but Brezhnev is apt to push it to a head in conjunction with his visit here. To satisfy him and not dissatisfy Chou at the same time will be a challenge. Other concrete awkward areas in our triangular relationship include European security policies and the granting of credits to Moscow.
—The coming change in Chinese leadership. Mao is in his 80s and has received an “invitation” from “God.” Chou is 75 and has just publicly noted the need for new leadership soon in his country. They obviously control PRC policy now, but it is not at all clear that they can assure continuity in their policy lines. The Lin Piao affair was obviously a major challenge and may have been a close thing. They have not managed [Page 223] to fill many key party and military posts since then. Mao constantly referred to the difficulties posed by women in China, undoubtedly a reference to his wife who represents the challenge from the left. All of this is reflected in Chinese eagerness to institutionalize our relationship, even if it means bending the sacred “one China” policy to do it.
We know little about power relationships in the PRC and even less about the succession problem. We can only assume—both from the above indices and because of the objective choices facing China—that substantial opposition to present policies exist and that this includes foreign policy. There are undoubtedly those who favor accommodation with Moscow over Washington for example. Thus, before the present dynasty passes from the scene, we must strengthen bilateral ties, get our two peoples used to a closer relationship, and reach out to more layers of Chinese leadership so as to strengthen the advocates of an opening to America.
There are two other potential problems, but these would seem to be more manageable and under our control:
- —The need for a strong American world role. We are useless to Peking as a counterweight to Moscow if we withdraw from the world, lower our defenses, or play a passive international game. Mao and Chou urged a more aggressive American presence—countering Soviet designs in various areas, keeping close ties with our allies, maintaining our defense posture. If the Chinese became convinced that we were heeding the inward impulses of voluble sectors of Congress, the public and the press, we would undoubtedly witness a sharp turn in Peking’s attitude. You and I have, of course, assured the PRC leaders privately, as well as proclaiming publicly, our intentions to maintain a responsible international role. So long as you are President, Peking should certainly be convinced that we will be a crucial factor in the world balance.
- —The issue of Taiwan. The Chinese have been farsighted and patient on this question. Their willingness to ease our predicament is now most dramatically shown in their setting up a liaison office in Washington while we maintain diplomatic relations with the GNP. On the other hand, we have largely bought their public reasonableness with your own private assurances—to normalize fully our relations by 1976 and to withdraw our forces from Taiwan now that the Vietnam War is over. Taiwan is a problem we should be able to control, both internationally and domestically, as we continue to add to the handwriting on the wall and condition our audiences. However, we should be under no illusions that our final step will be anything but painful—there are few friends as decent as our allies on Taiwan.
1. Source: National Archives, Nixon Presidential Materials, NSC Files, Kissinger Office Files, Box 98, Country Files, Far East, HAK China Trip, Memcons & Reports (originals), February 1973. Top Secret; Sensitive; Exclusively Eyes Only. There are no markings on the memorandum indicating that Nixon saw it.↩
2. See footnote 3, Document 17.↩
3. See Documents 8–14. All memoranda of conversation of Kissinger’s meetings of February 15–19 are in National Archives, Nixon Presidential Materials, NSC Files, Kissinger Office Files, Box 98, Country Files, Far East, HAK China Trip, Memcons & Reports (originals), February 1973.↩
4. “Enhance Plus” was an effort by the United States to expand and improve the armed forces of the Republic of Vietnam before the peace agreement came into effect. It lasted from October 23 to December 12, 1972. See also footnote 3, Document 73.↩
5. According to the Nixon Doctrine, the origin of which can be traced to a July 25, 1969, informal background briefing on Guam that Nixon gave to reporters, the United States would stand by its commitments but encourage Asian nations to take responsibility for their own security. see Foreign Relations, 1969–1976, vol. I, Document 29.↩
6. The figures cited by Kissinger were most likely based on those he received in a February 6 memorandum from Secretary of Defense Elliot Richardson. (National Archives, Nixon Presidential Materials, NSC Files, Kissinger Office Files, Box 98, Country Files, Far East, HAK China Trip, Memcons & Reports (originals), February 1973)↩
7. After this sentence, a notation in unknown handwriting reads: “not so clear cut.” Zhou remarked on February 16, “I can assure you that we don’t mean that we are going to liberate it [Taiwan] by the armed forces. We have no such plan at the moment.” see Document 9.↩
8. Memoranda of conversation of these talks are at National Archives, Nixon Presidential Materials, NSC Files, Kissinger Office Files, Box 87, Country Files, Far East, PRC Counterpart Talks, 1971–1973.↩
9. In a memorandum to Kissinger, March 9, 1973, Theodore Eliot reported that the PRC “has agreed to settle U.S. private claims through an assignment of blocked Chinese assets to the U.S. Government for use in compensating American claimants.” (Ibid., Box 527, Country Files, Far East, People’s Republic of China, Vol. 7, May, 1973–Jul 9, 1973)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d18
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_210
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_211
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_212
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_213
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_214
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_215
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_216
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_217
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_218
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_219
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_220
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_221
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_222
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_223
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d17fn3
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d8
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d9
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d10
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d11
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d12
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d13
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d14
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d73fn3
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v01/d29
Thân thế (các) nhân vật
General Secretary of the Communist Party of the Soviet Union
https://en.wikipedia.org/wiki/Leonid_Brezhnev
https://www.britannica.com/biography/Leonid-Ilich-Brezhnev
https://en.wikipedia.org/wiki/General_Secretary_of_the_Communist_Party_of_the_Soviet_Union
https://www.britannica.com/place/Soviet-Union/The-Brezhnev-era
Chiao Kuan-hua,
Vice Foreign Minister, People’s Republic of China
https://en.wikipedia.org/wiki/Qiao_Guanhua
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/d124
https://www.marxists.org/subject/china/china-reconstructs/1974/CR1974-12-Sup.pdf
SYND 25-11-71 CHINESE DELEGATE CHIAO KUAN HUA SPEAKS ABOUT DISARMAMENT AT THE UN
https://www.youtube.com/watch?v=bjnyWtitbrg
Premier of the People’s Republic of China; member, Standing Committee of the Chinese Communist Party’s Political Bureau
https://en.wikipedia.org/wiki/Zhou_Enlai
https://en.wikipedia.org/wiki/Premier_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Minister_of_Foreign_Affairs_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Chairman_of_the_Chinese_People%27s_Political_Consultative_Conference
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d139
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/zhou-enlai-talking-ho-chi-minh
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?f[0]=topics:86538&fo[0]=86538
Tài liệu Chu Ân Lai yêu cầu Hoa Kỳ loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và dùng Dương Văn Minh để lật đổ hai nền Đệ I và Đệ II VNCH.
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/discussion-between-zhou-enlai-and-le-duc-tho
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/89367/download
Eliot, Theodore L., Jr.,
Executive Secretary of the Department of State
https://en.wikipedia.org/wiki/Theodore_L._Eliot_Jr.
https://www.academyofdiplomacy.org/members-1/eliot-jr./theodore-l.
https://history.state.gov/departmenthistory/people/eliot-theodore-lyman
https://tile.loc.gov/storage-services/service/mss/mfdip/2004/2004eli01/2004eli01.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve06/d7
Gandhi, Indira,
Indian Prime Minister
https://en.wikipedia.org/wiki/Indira_Gandhi
https://www.britannica.com/biography/Indira-Gandhi
https://www.pmindia.gov.in/en/former_pm/smt-indira-gandhi/
https://www.history.com/this-day-in-history/january-19/indira-gandhi-becomes-indian-prime-minister
https://www.biography.com/political-figures/indira-gandhi
Helms, Richard M., Deputy Director for Plans, Central Intelligence Agency, until April 1965; Deputy Director of Central Intelligence, April 1965–June 1966; thereafter Director
https://www.rollingstone.com/culture/culture-news/the-rise-and-fall-of-richard-helms-191224/
https://www.rollingstone.com/culture/culture-news/the-rise-and-fall-of-richard-helms-191224/2/
https://www.rollingstone.com/culture/culture-news/the-rise-and-fall-of-richard-helms-191224/3/
https://www.rollingstone.com/culture/culture-news/the-rise-and-fall-of-richard-helms-191224/4/
https://www.rollingstone.com/culture/culture-news/the-rise-and-fall-of-richard-helms-191224/5/
https://www.rollingstone.com/culture/culture-news/the-rise-and-fall-of-richard-helms-191224/6/
https://slate.com/news-and-politics/2002/11/the-nasty-career-of-cia-director-richard-helms.html
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Helms
https://www.cia.gov/legacy/museum/artifact/helms-letter/
https://www.youtube.com/watch?v=Vh8IHr6iT2w
https://www.cia.gov/legacy/museum/artifact/helms-letter/
Ji Pengfei (Chi P’eng-fei),
Vice Minister of Foreign Affairs, People’s Republic of China, until April 1971; Acting Foreign Minister until February 1972; Foreign Minister from February 1972
PRC Vice Minister of Foreign Affairs until April 1971; Acting Foreign Minister until February 1972; Foreign Minister from February 1972 to November 1974
https://www.fmprc.gov.cn/eng/zy/wjrw/3606_665551/202405/t20240531_11367614.html
https://repository.lib.cuhk.edu.hk/en/item/cuhk-3011805
https://en.wikipedia.org/wiki/Ji_Pengfei
Henry A Kissinger
Assistant to the President for National Security Affairs until November 3, 1975; also Secretary of State from September 21, 1973
https://www.theguardian.com/world/2023/may/20/bilderberg-meeting-group-lisbon-kissinger
https://www.theguardian.com/world/bilderberg
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/summary
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip
https://china.usc.edu/catalog/documents/us-china
http://www.archives.gov/press/press-releases/2001/nr01-47.html
https://china.usc.edu/talking-points-july-22-august-3-2011
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#meetings
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#nixon-announcement
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#chinese-accept
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#signals
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#the_aim
http://www.foreignaffairs.com/articles/23927/richard-m-nixon/asia-after-viet-nam
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d4
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d12
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d13
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d141
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf
https://en.wikipedia.org/wiki/Henry_Kissinger_and_the_Vietnam_War
Lesson in Vietnam from Kissinger to Nixon: “when we made it “our war” we would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war”, we would not help them fight it.”
(We also had trouble with excesses here: when we made it “our war” we would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war,” we would not help them fight it. Ironically, we prepared the South Vietnamese for main force warfare after 1954 (anticipating another Korean-type attack), and they faced a political war; they had prepared themselves for political warfare after 1973 only to be faced with a main force invasion 20 years after it had been expected.)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/d280
Lesson of Vietnam May 12 1975 by Henry A. Kissinger
https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/exhibits/vietnam/032400091-002.pdf
https://thebattleofkontum.com/extras/kissinger.html
“Richard M. Nixon and Kissinger on 3 August 1972,” Conversation 760-006, Presidential Recordings Digital Edition [Fatal Politics, ed. Ken Huges] (Charlottesville: University of Virginia Press, 2014-). URL:https://prde.upress.virginia.edu/conversations/4006748
https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0
https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0
Discover the Truth at:
https://www.theblackvault.com/documentarchive/the-cias-vietnam-document-cd-rom/
The secret life of Henry Kissinger minutes of a 1975 meeting with Lawrence Eagleburger
https://etan.org/news/kissinger/secret.htm
Henry Kissinger and the Truth About Negotiations In Vietnam
https://www.youtube.com/watch?v=Z5fxxKVfX5g
Henry Kissinger - Secrets of a superpower | DW Documentary
https://www.youtube.com/watch?v=bWVMTKeAwlA
The Untold Truth of Henry Kissinger
https://www.youtube.com/watch?v=0iheZdvWdbI&t=1s
Was Henry Kissinger a War Criminal?
https://www.youtube.com/watch?v=COqq7862wcU&t=25s
Lin Piao (Lin Biao),
Deputy Premier and Minister of Defense of the People’s Republic of China
https://en.wikipedia.org/wiki/Lin_Biao
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Premier_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Minister_of_National_Defense_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://www.britannica.com/biography/Lin-Biao
General, Cambodian Prime Minister and Minister of National Defense, June 1969; led coup that deposed Prince Norodom Sihanouk in March 1970; Prime Minister and Minister of National Defense after March 18, 1970; President of Khmer Republic from 1972 until 1975
Mitterand, Francois,
French Socialist politician
https://en.wikipedia.org/wiki/Fran%C3%A7ois_Mitterrand
https://www.britannica.com/biography/Francois-Mitterrand
https://www.ebsco.com/research-starters/history/francois-mitterrand
https://jacobin.com/2021/05/francois-mitterrand-french-socialism-parti-socialiste-40th-anniversary
https://jacobin.com/2021/05/francois-mitterrand-french-socialism-parti-socialiste-40th-anniversary
https://thearabweekly.com/uncovering-colonialist-face-french-socialist-leader-mitterrand
https://www.elysee.fr/en/francois-mitterrand
https://denismacshane.substack.com/p/francois-mitterrand-the-man-who-made
https://phenomenalworld.org/analysis/mitterrands-austerity-turn/
Prime Minister of India and Minister for External Affairs and Commonwealth Relations
https://en.wikipedia.org/wiki/Jawaharlal_Nehru
https://www.pmindia.gov.in/en/former_pm/shri-jawaharlal-nehru/
https://www.nps.gov/people/prime-minister-nehru.htm
https://www.presidency.gov.za/jawaharlal-nehru-1889-1964
Nixon Richard M.,
Vice President of the United States
https://www.history.com/topics/us-presidents/richard-m-nixon
https://www.britannica.com/event/Watergate-Scandal
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/14-nov-68-lbj-and-nixon
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
http://www.pbs.org/wgbh/amex/honor/peopleevents/e_paris.html
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
http://www.nytimes.com/2016/12/31/opinion/sunday/nixons-vietnam-treachery.html
http://www.nytimes.com/interactive/2016/12/31/opinion/sunday/haldeman-notes.html
http://www.bbc.com/news/magazine-21768668
https://www.nixonlibrary.gov/index.php
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v07/ch5
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/bundy.htm
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/toc.htm
Nixon, Richard M.,
President of the United States
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf
https://www.history.com/topics/us-presidents/richard-m-nixon
https://www.britannica.com/event/Watergate-Scandal
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/14-nov-68-lbj-and-nixon
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
http://www.pbs.org/wgbh/amex/honor/peopleevents/e_paris.html
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
http://www.nytimes.com/2016/12/31/opinion/sunday/nixons-vietnam-treachery.html
http://www.nytimes.com/interactive/2016/12/31/opinion/sunday/haldeman-notes.html
http://www.bbc.com/news/magazine-21768668
https://www.nixonlibrary.gov/index.php
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v07/ch5
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/bundy.htm
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/toc.htm
Nixon had a Trip to China from February 21 to 28 1972,
https://www.nixonlibrary.gov/nixons-trip-china
http://www.presidentialtimeline.org/
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10a.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10b.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1a.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1b.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-21-56.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10a.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10b.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1a.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1b.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-21-56.mp3
https://nsarchive.gwu.edu/briefing-book/nuclear-vault-vietnam/2023-03-24/movement-and-madman
The Vietnam War Johnson and Nixon Administrations Videos
March 2, 2016 Last Aired May 5, 2016
https://www.c-span.org/program/the-presidency/reflections-on-richard-nixon/431130
July 16, 1973 Last Aired July 22, 2013
Senate Watergate Committee Testimony
https://www.c-span.org/program/vignette/senate-watergate-committee-testimony/316346
April 26, 2016 Last Aired June 5, 2016
Vietnam War Commander in Chief
https://www.c-span.org/program/american-history-tv/vietnam-war-commanders-in-chief/439971
June 12, 2008 Last Aired July 22, 2013
Alexander Butterfield Oral History Interview, Part 2
June 12, 2008 Last Aired July 15, 2013
Alexander Butterfield Oral History Interview, Part 1
January 27, 2012 Last Aired June 11, 2012
President Nixon's Secret White House Tapes
https://www.c-span.org/program/american-history-tv/president-nixons-secret-white-house-tapes/277123
July 25, 1994 Last Aired June 20, 2008
Watergate: Corruption of American Politics
https://www.c-span.org/program/public-affairs-event/watergate-corruption-of-american-politics/119480
February 16, 2003 Last Aired December 25, 2003
Presidential Tapes: Taping Systems History
https://www.c-span.org/program/public-affairs-event/presidential-tapes-taping-systems-history/122572
Alexander Butterfield: The 60 Minutes Watergate Interview (1975)
https://www.youtube.com/watch?v=ss9AkLUmM4g
Watergate Hearing: Alexander Butterfield Testimony
Alexander Butterfield Was ‘Worried To Death’ Testifying Against Nixon
https://www.youtube.com/watch?v=c52oIe3Gj6w
How Nixon’s Invasion of Cambodia Triggered a Check on Presidential Power
Vietnam War Cambodia and Laos
https://www.history.com/articles/nixon-war-powers-act-vietnam-war-cambodia
Nixon's Vietnam Visit 1965, Rare Film Unearthed
https://www.youtube.com/watch?v=RaTi8OEpINI
Nixon on LBJ and Vietnam: Where Did It All Go Wrong?
https://www.youtube.com/watch?v=-n-4o3vOYD4
1969 July 30_Tổng Thống Hoa Kỳ 🇺🇸 Richard M. Nixon Thăm Việt Nam Cộng Hoà.
https://www.youtube.com/watch?v=ZRp4v6M6YJw&t=19s
Phouma, Souvanna,
Prime Minister of the Kingdom of Laos until 1975
Pompidou, Georges,
Georges Jean Raymond Pompidou
President of France from 1969 until 1974
https://en.wikipedia.org/wiki/Georges_Pompidou
https://www.elysee.fr/en/georges-pompidou
https://www.ebsco.com/research-starters/history/georges-pompidou
https://artsandculture.google.com/entity/georges-pompidou/m01lbpj?hl=en
Richardson, Elliot L.,
Under Secretary of State, January 23, 1969–June 23, 1970; thereafter, Secretary of Health, Education, and Welfare
https://en.wikipedia.org/wiki/Elliot_Richardson
https://history.defense.gov/Multimedia/Biographies/Article-View/Article/571290/elliot-l-richardson/
https://www.ssa.gov/history/richards.html
https://www.discoverlbj.org/item/richardsone
Secretary of State from January 21, 1969
https://en.wikipedia.org/wiki/William_P._Rogers
https://history.state.gov/departmenthistory/people/rogers-william-pierce
https://www.justice.gov/ag/bio/rogers-william-pierce
https://millercenter.org/president/nixon/essays/rogers-1969-secretary-of-state
https://simple.wikipedia.org/wiki/William_P._Rogers
Norodom Sihanouk,
King of Cambodia to March 1955, thereafter Prince of Cambodia; Prime Minister and Foreign Minister, October 1955–January 1956; Prime Minister, Foreign Minister, and Minister of the Interior, March–April 1956; Prime Minister, September–October 1956; Prime Minister, Foreign Minister, Minister of Plans, and Minister of the Interior, April–July 1957
Cambodian Head of State until March 1970; thereafter, leader of Cambodian Government in exile in Beijing
Prince, Head of State of Cambodia until March 18, 1970; thereafter, leader of the Cambodian government-in-exile in Beijing (GRUNK)
4/11/75 - Phnom Penh Evacuation
Tanaka Kakuei,
Japanese Prime Minister from July 7, 1972, until December 9, 1974
https://www.britannica.com/biography/Tanaka-Kakuei
https://en.wikipedia.org/wiki/Kakuei_Tanaka
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d227
https://grokipedia.com/page/Kakuei_Tanaka
https://www.jimin.jp/english/about-ldp/history/104281.html
https://scholar.lib.vt.edu/VA-news/ROA-Times/issues/1993/rt9312/931217/12170054.htm
https://www.fccj.or.jp/number-1-shimbun-article/day-reckoning-kakuei-tanaka-and-fccj
https://historica.fandom.com/wiki/Kakuei_Tanaka
Yeh Chien-ying (Ye Jianying),
senior Chinese Communist Party (CCP) military cadre; Marshal, People’s Liberation Army; Vice Chairman, Central Military Council of the Chinese Communist party; member of the Central Committee and Politburo
https://en.wikipedia.org/wiki/Ye_Jianying
https://www.britannica.com/biography/Ye-Jianying
https://chineseposters.net/themes/yejianying
https://xboorman.enpchina.eu/biographie/ye-jianying/
https://generals.dk/general/Ye_Jianying/_/China.html
https://en.people.cn/data/people/yejianying.shtml
https://en.namu.wiki/w/%EC%98%88%EC%A0%A0%EC%9E%89
No comments:
Post a Comment