Wednesday, July 15, 2026

20260716 CDTL DDE D186 21 February 1953 Điện văn của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Hoa Kỳ hổ trợ cải cách nông nghiệp

20260716 CDTL DDE D186 21 February 1953 Điện văn của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Hoa Kỳ hổ trợ cải cách nông nghiệp


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d186

Google Translated

Tài liệu số 186

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

751G.00/2–2153: Điện văn của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Sài Gòn, ngày 21 tháng 2 năm 1953 — 9 giờ sáng.

Số 1661; đồng gửi (không đánh số) tới Hà Nội và Paris. Điện tín chung của Đại sứ quán và phái đoàn STEM. Trưởng phái đoàn STEM tôi đã đến gặp Thủ tướng Tâm vào ngày 18 tháng 2 để thảo luận về một số vấn đề tồn đọng:

1. Hỗ trợ kỹ thuật.

Liên quan đến đề nghị hỗ trợ nhân sự cho hội đồng kinh tế quốc gia và ủy ban kế hoạch, ông Tâm đánh giá cao các thông tin được cung cấp [Trang 393]

về các cơ quan tương tự tại Thái Lan và Lào, nhưng cho biết do những thỏa thuận cơ bản với phía Pháp, vấn đề sử dụng chuyên gia kỹ thuật Mỹ là một vấn đề tế nhị. Tổng thống khẳng định dứt khoát rằng không có lý do gì để không thuê chuyên gia Mỹ làm việc cho STEM nhằm giám sát các dự án do Hoa Kỳ tài trợ; tuy nhiên, ông Tâm ngầm ý rõ ràng rằng chính phủ không thể chấp nhận các chuyên gia không gắn liền với dự án, qua đó loại trừ các chuyên gia trong các lĩnh vực như hành chính công, cải cách thuế, dịch vụ thống kê, v.v. Vì việc làm rõ lập trường của Việt Nam về vấn đề này được coi là yếu tố then chốt cho công tác quy hoạch tương lai của STEM, chúng tôi đã để lại bản ghi nhớ (aide-mémoire) mà trước đó đã thảo luận với ông Janot, Chánh văn phòng của ông Letourneau.

Ý kiến: STEM và Đại sứ quán mong muốn biết phản hồi của MSA/WBộ Ngoại giao về tình hình này, đặc biệt là liệu chúng ta có nên tiếp tục thúc đẩy việc chấp nhận các kỹ thuật viên không thuộc dự án hay không. Nếu Washington cho rằng vấn đề này chưa thể coi là đã khép lại, chúng tôi đề nghị thảo luận thêm với phía Pháp, có thể là ở cấp Washington hoặc Paris. Giải pháp sáng suốt nhất có lẽ là xem xét việc cung cấp loại kỹ thuật viên này – vốn dĩ thuộc trách nhiệm của Pháp – theo phương thức có thể thực hiện được thông qua phái bộ kinh tế và kỹ thuật mới của Pháp.

2. Dự án Lấn biển Gò Công.

Chúng tôi đề nghị rằng trước khi dự án này được triển khai, phía Việt Nam nên cân nhắc những điểm sau:

(a) Triển khai cải cách ruộng đất trong khu vực, do một phần lớn diện tích đất đai đang nằm trong tay các điền chủ lớn. Phản ứng của ông Tâm không quá dứt khoát, nhưng ông cho biết mình đã liên lạc với một hoặc hai chủ đất trong số đó.

(b) Áp dụng luật về quan hệ điền chủ - tá điền năm 1947 tại Nam Kỳ; luật này quy định mức trả bằng nông sản của tá điền là 40% sản lượng thu hoạch, thay vì mức thực tế thường thấy là khoảng 50%. Ông Tâm giải thích rằng ông coi luật năm 1947 là không còn hiệu lực và đã yêu cầu Bộ trưởng Nông nghiệp Quý sửa đổi, đơn giản hóa luật này; tuy nhiên, do ông Quý quá chú tâm vào việc nghiên cứu luật đất đai của các nước khác, nên chính ông Tâm đã bắt tay vào soạn thảo văn bản luật mới.

(c) Áp dụng một hình thức thuế đánh vào phần giá trị đất đai gia tăng. Phản ứng ban đầu của ông Tâm là muốn tiếp tục duy trì hệ thống cũ—dựa vào việc định giá lại đất đai định kỳ để từ đó tăng nguồn thu từ thuế bất động sản. Khi tôi chỉ ra rằng loại thuế đánh vào phần giá trị gia tăng này cũng có thể được áp dụng cho các dự án chỉnh trang đô thị, Tổng thống đã tỏ ra rất quan tâm.

Nhận định: Việc Tổng thống cho rằng chỉ mình ông mới có thể soạn thảo luật về quan hệ chủ nhà - người thuê nhà cho thấy ông phần nào thiếu tin tưởng vào các cộng sự cũng như đội ngũ chuyên viên kỹ thuật trong chính quyền. Phản ứng của ông đối với vấn đề cải cách ruộng đất càng củng cố nhận định của chúng tôi rằng ông Tâm muốn đích thân chỉ đạo công cuộc cải cách nông nghiệp theo hướng mang đậm dấu ấn cá nhân. Nếu đúng là như vậy, thật khó để hình dung làm thế nào chương trình này có thể được triển khai nhanh chóng hay được quản lý một cách khách quan. [Trang 394]

3. Các học viên.

Chúng tôi ghi nhận việc ông Tâm đã cắt giảm số lượng ứng viên học viên do Bộ trưởng Bộ Công chính và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp đề nghị, từ sáu người mỗi bộ xuống còn ba người. Ông Tâm giải thích rằng Việt Nam đang quá thiếu hụt chuyên viên kỹ thuật nên ông không thể cho phép họ rời bỏ vị trí công tác; tuy nhiên, ông lại không phản đối việc cấp học bổng cho cả "300" sinh viên trẻ sang Hoa Kỳ du học.

Nhận định: Chúng tôi thấu hiểu mong muốn của Tổng thống là không để mất – dù chỉ là tạm thời – bất kỳ kỹ thuật viên nào (vốn đã quá khan hiếm) trong số những người hiện có dù chỉ mới được đào tạo sơ bộ; tuy nhiên, chúng tôi tin rằng về lâu dài, đây sẽ là một chính sách thiển cận.

4. Dự án Bình định Đông Quan.

Khu vực Đông Quan

20°30'29.11"N 106°24'40.11"E

20260716 cdtl cải-cách-nông-nghiệp-Đông-Quan

Ông Tâm tỏ ra rất chỉ trích kế hoạch này và so sánh bất lợi với một dự án khác ít tốn kém hơn mà ông từng muốn triển khai với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ tại rìa vùng đồng bằng; tuy nhiên, ông vẫn sẵn lòng để ông Trí hoàn tất dự án nhằm kiểm chứng xem liệu nó có thực sự thành công hay không. Nhân dịp này, ông Bartlett đã thông báo với Thủ tướng Tâm rằng phái đoàn STEM giữ lập trường hoàn toàn trung lập đối với bất kỳ vấn đề nào mà nội bộ chính quyền có sự khác biệt về quan điểm.

Nhận xét: Phái bộ STEM và Đại sứ quán nhận thấy việc Đông Quan chấp nhận rủi ro là có tính toán, nhưng kiến ​​nghị để Thống đốc Trí hoàn tất thử nghiệm của mình, vì chưa có biện pháp bình định dân sự nào khác tỏ ra hiệu quả tại vùng đồng bằng. Báo cáo chi tiết hơn sẽ được gửi qua công điện hàng không.

Nhận xét chung: Bartlett và tôi cho rằng cuộc thảo luận rất hữu ích trong việc làm sáng tỏ các vấn đề. Điều này chắc chắn cho thấy mức độ tập trung quyền ra quyết định chính sách vào chính văn phòng Tổng thống, đồng thời giải thích một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ thường gặp trong việc triển khai hành động.

Heath.

1.    Frederic P. Bartlett First Secretary of the Embassy and Chief of the Mutual Security Agency Mission at Saigon.

2.    Not identified.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1953: Declining French military fortunes; the Viet Minh invasion of Laos; accelerated United States aid for Indochina (Documents 162–490)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp2

1.    Document 186

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

751G.00/2–2153: Telegram

The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State

confidential

Saigon, February 21, 1953—9 a.m.

1661, Repeated information Hanoi unnumbered, Paris unnumbered. Joint Embassy STEM message. Chief of STEM1 and I called on President Tam February 18 to discuss several accumulated problems:

1. Technical Assistance.

Subject associated with offer help in staffing a national economic council and planning board. Tam appreciated information supplied [Page 393] regarding similar institutions Thailand and Laos but indicated due basic accord with French question American technicians delicate. President stated firmly no question at all that American experts should be employed by STEM supervise US-financed projects, but Tam clearly implied government unable accept technicians not associated with projects thus excluding experts in field public administration, tax reform, statistical services et cetera. Since clarification Vietnam stand this question considered vital future planning STEM, we left aide-mémoire2 previously discussed with Janot, director Letourneau’s cabinet.

Comment:STEM and Embassy would appreciate MSA/W and State’s reaction this situation particularly whether we should continue push for acceptance non-project associated technicians. If Washington believes question should not be considered closed, we recommend further discussions with French at possibly Washington or Paris level. Possible [Possibly] wisest course might be consider supplying this type technician definitely French responsibility now possible of implementation through new French economic and technical mission.

2. Gocong Land Reclamation Project.

We suggested that before this project commenced Vietnam should consider the following:

(a)

Instituting land reform within area since considerable part of it held by large proprietors. Tam response not too definite but he indicated that he was already in touch with one or two of the owners.

(b)

Applying 1947 landlord-tenant law for Cochin China which provides generally for 40 percent of harvest as payment by tenant instead of actual payments roughly 50 percent. Tam explained he considered the 1947 law not in effect, had asked Agriculture Minister Quy to revise and simplify it, latter had become too involved in study land laws other countries, and he himself had undertaken draft new legislation.

(c)

Instituting some form capital increment assessment tax. Tam’s first reaction was better to continue old system of relying upon normal reassessment of land with consequently increased real estate tax returns. When I pointed out that special assessment tax could also be applied urban improvement, President was considerably interested.

Comment: Fact President feels only he can draft landlord-tenant law indicates certain lack of confidence in his associates and of technicians in government. His reaction applying land reform tends confirm our impression that Tam wishes handle agricultural reform on highly personalized basis. If this is true, difficult see how it can be quickly implemented or objectively administered.

[Page 394]

3. Trainees.

We noted Tam had reduced trainee candidates proposed by Ministers of Public Works and Agriculture from six each to three each. Tam explained Vietnam so short of technicians he could not authorize their leaving their posts although he did not object to having even “300” young students given scholarships for study in the States.

Comment: We sympathize with President’s desire not lose even temporarily any of the too few even semi-trained technicians which government now has, but believe in long run this will prove shortsighted policy.

4. Dong Quan Pacification Project.

Tam highly critical this scheme contrasting it unfavorably with much cheaper project which he wanted develop with US help on edge of Plaine des Jones but willing Tri finish project in order prove whether it will actually be successful or not. Bartlett took occasion inform President Tam that STEM mission maintains completely neutral position in any such matter where differences of opinion exist within the government.

Comment:STEM and Embassy realize Dong Quan calculated risk, but urge Governor Tri be allowed finish his experiment since no other form civil pacification has yet proved successful in delta. Fuller report by airgram.

General comment: Bartlett and I believe discussion most useful in clarifying issues. Certainly indicative degree to which policy decisions are concentrated in office of President himself and explains one reason for delays often encountered in getting action.

Heath

1.    Frederic P. Bartlett First Secretary of the Embassy and Chief of the Mutual Security Agency Mission at Saigon.

2.    Not identified.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d186

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_393

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_394

Thân thế (các) nhân vật

Heath, Donald R.,

Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath

https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read

https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/

Letourneau, Jean,

French Minister in Charge of Relations with the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner in Indochina, April 1952–July 19, 1953.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220

https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53

https://en.wikisource.org/wiki/United_States_%E2%80%93_Vietnam_Relations,_1945%E2%80%931967:_A_Study_Prepared_by_the_Department_of_Defense/IV._A._4._U.S._Training_of_Vietnamese_National_Army,_1954%E2%80%9359

https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html

Nguyen Huu Tri,

Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet (Vietnamese political party).

Nguyen Van Tam,

Minister of the Interior of the State of Vietnam and Acting Governor of Northern Vietnam to June 3, 1952; Prime Minister of the State of Vietnam, June 3, 1952–December 17, 1953.

 


No comments:

Post a Comment