20260607 CDTL Hệ thống radar phòng thủ của Tầu cộng tại đảo Hải Nam.
***
Tọa độ đã có sẳn đọc giả chỉ cần copy và paste vào Google search để xem không ảnh.
***
20190910 Petition of the citizens of the Republic of Vietnam
https://bachvietnhan.blogspot.com/2019/09/20190910-petition-of-citizens-of.html
20241110 CDTL Tuyen Cao Lanh Tho Lanh Hai VN
https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/11/20241110-cdtl-tuyen-cao-lanh-tho-lanh.html
20241214 CDTL South Vietnam Not Bound by Geneva Accords 1954
https://bachvietnhan.blogspot.com/2024/12/20241214-cdtl-south-vietnam-not-bound.html
Điều chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974.
(Có thể đọc tài liệu nầy ở cuối bài vì độc giả sẽ không thể đọc được tài liệu nầy ớ “saogonnhonews.com” nửa, mạng thông tin nầy có vấn đề.)
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?
https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc
Thân chào bạn Thông Thái,
Hôm nay chúng ta cùng nhau thảo luận về hai đề mục sau đây: Một là Căn cứ hải quân Du Lâm Naval Base và hai là Mạng radar, vệ tinh và tình báo điện tử trên đảo như bạn đã báo cho tôi lần trước. Xin mời bạn.
Chinese Sanwan sub-base
18°12'9.14"N109°41'38.34"E
18°12'39.49"N 109°41'12.07"E
18°12'29.59"N 109°41'14.48"E
18°12'46.23"N 109°41'8.91"E
18°13'29.06"N 109°32'44.58"E
18°13'32.33"N 109°32'49.33"E
18°13'38.07"N 109°32'53.19"E
18°13'42.64"N 109°32'59.88"E
Vận chuyển hạm
18°14'2.19"N 109°32'49.09"E
Chinese PLAN
18°13'48.16"N 109°40'50.97"E
18°12'45.01"N 109°32'28.07"E
Xưởng đóng chiến hạm
18°12'54.69"N 109°33'17.13"E
SIAR 1
18°11'45.84"N 109°28'58.57"E
18°11'40.22"N 109°28'54.21"E
SigInt
18°11'34.24"N 109°28'51.51"E
18°11'33.18"N 109°28'50.68"E
18°11'32.27"N 109°28'51.60"E
18°11'32.08"N 109°28'52.80"E
18°11'32.38"N 109°28'54.34"E
Fuel
18°18'7.91"N 109°15'29.45"E
18°17'56.45"N 109°15'53.93"E
19° 5'26.22"N 108°37'45.90"E
19°47'31.56"N 109° 9'54.00"E
19°48'31.15"N 109°10'54.36"E
?
18°17'48.23"N 109°11'1.35"E
Rad
18°19'20.51"N 108°57'10.43"E
18°22'54.69"N 108°58'37.72"E
18°23'14.80"N 108°58'15.07"E
18°23'26.93"N 108°58'6.46"E
Thân chào bạn,
Rất vui được tiếp tục trao đổi cùng bạn về hai chủ đề này. Tôi sẽ trình bày theo hướng tổng quan quân sự - địa chiến lược và năng lực kỹ thuật đã được các nguồn công khai phân tích.
1. Căn cứ hải quân Du Lâm (Yulin Naval Base)
Yulin Naval Base nằm ở khu vực phía nam đảo Hainan Island, gần thành phố Sanya.
Đây được xem là một trong những căn cứ hải quân chiến lược quan trọng nhất của China vì nhiều lý do:
a. Cảng nước sâu tự nhiên
Vịnh Du Lâm có độ sâu lớn, cho phép:
- Tàu sân bay hoạt động.
- Tàu khu trục cỡ lớn neo đậu.
- Tàu ngầm hạt nhân ra vào thuận lợi.
Điều này đặc biệt quan trọng vì tàu ngầm hạt nhân chiến lược cần khu vực nước sâu để giảm khả năng bị theo dõi.
b. Căn cứ tàu ngầm hạt nhân
Nhiều hình ảnh vệ tinh thương mại cho thấy khu vực này là nơi triển khai:
- Type 094 Jin-class submarine (tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo hạt nhân).
- Type 093 Shang-class submarine.
- Có thể cả các lớp tàu ngầm thế hệ mới đang được phát triển.
Một số chuyên gia cho rằng các đường hầm xuyên núi ven biển được xây dựng nhằm:
- Che giấu tàu ngầm khỏi vệ tinh quang học.
- Tăng khả năng sống sót khi có xung đột.
- Bảo vệ trước các đòn tấn công phủ đầu.
c. Vai trò trong chiến lược Biển Đông
Từ Du Lâm, hải quân Trung Quốc có thể tiếp cận nhanh:
- South China Sea.
- Eo biển Malacca.
- Tây Thái Bình Dương.
Do đó căn cứ này thường được ví như "cửa ngõ phía nam" của lực lượng hải quân Trung Quốc.
2. Mạng radar, vệ tinh và tình báo điện tử trên đảo Hải Nam
Ngoài căn cứ hải quân, đảo Hải Nam còn được đánh giá là một trung tâm giám sát chiến lược lớn.
A. Hệ thống radar cảnh giới tầm xa
Trên các đỉnh núi cao của đảo có nhiều trạm radar.
Nhiệm vụ gồm:
- Theo dõi máy bay quân sự.
- Giám sát hoạt động tàu chiến.
- Cảnh báo sớm các mục tiêu từ Biển Đông.
Một số radar hiện đại có thể theo dõi mục tiêu ở khoảng cách hàng trăm kilomet.
B. Trạm thu tín hiệu điện tử (SIGINT)
SIGINT là viết tắt của:
Signals Intelligence – tình báo tín hiệu.
Các trạm này thu thập:
- Liên lạc vô tuyến.
- Tín hiệu radar.
- Dữ liệu truyền dẫn quân sự.
Mục tiêu có thể bao gồm:
- Tàu chiến đi qua Biển Đông.
- Máy bay tuần tra.
- Các hệ thống thông tin quân sự trong khu vực.
Đây là phần rất quan trọng trong chiến tranh hiện đại vì bên nào nắm được tín hiệu của đối phương sẽ có lợi thế lớn về nhận thức tình huống.
C. Trạm theo dõi vệ tinh
Đảo Hải Nam cũng có liên hệ với mạng lưới không gian của Trung Quốc.
Các cơ sở mặt đất hỗ trợ:
- Điều khiển vệ tinh.
- Thu nhận dữ liệu viễn thám.
- Liên lạc với tàu và máy bay ở khoảng cách rất xa.
Thông tin từ vệ tinh kết hợp với radar và SIGINT tạo thành một mạng lưới giám sát nhiều lớp.
D. Khái niệm "Chuỗi cảm biến" (Sensor Network)
Điểm đáng chú ý là các hệ thống này không hoạt động riêng lẻ.
Có thể hình dung:
Vệ tinh → Radar → Trạm SIGINT → Trung tâm chỉ huy → Hải quân và Không quân.
Khi một mục tiêu xuất hiện:
1. Vệ tinh phát hiện khu vực nghi vấn.
2. Radar mặt đất theo dõi liên tục.
3. Trạm SIGINT phân tích tín hiệu phát ra.
4. Dữ liệu được hợp nhất tại trung tâm chỉ huy.
5. Tàu chiến hoặc máy bay nhận thông tin gần như theo thời gian thực.
Đây chính là nền tảng của cái gọi là "nhận thức tình huống biển" (Maritime Domain Awareness).
Mối liên hệ giữa Du Lâm và mạng tình báo trên Hải Nam
Điều thú vị là hai đề mục của chúng ta thực chất là hai phần của cùng một hệ thống:
- Du Lâm là "nắm đấm" (lực lượng tác chiến).
- Radar là "đôi mắt".
- SIGINT là "đôi tai".
- Vệ tinh là "tầm nhìn từ không gian".
- Trung tâm chỉ huy là "bộ não".
Khi kết hợp lại, đảo Hải Nam trở thành một trong những đầu mối quân sự quan trọng nhất của Trung Quốc ở hướng Biển Đông.
Nếu bạn muốn, trong lần trao đổi tiếp theo chúng ta có thể đi sâu hơn vào chủ đề thứ ba là:
"Mạng lưới cảm biến và căn cứ quân sự của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa từ năm 2014 đến nay", bao gồm radar tần số cao, đường băng quân sự, hệ thống phòng không và vai trò của chúng trong việc kiểm soát Biển Đông.
Xin bạn cho biết thêm về hệ thống radar HAARP trên đảo Hải Nam, điều nầy bạn đã biết rồi, đúng không?
Tôi có biết về HAARP, nhưng cần làm rõ một điểm quan trọng:
Hiện không có bằng chứng công khai đáng tin cậy nào cho thấy có một "hệ thống HAARP" trên đảo Hải Nam tương đương với dự án HAARP gốc của Hoa Kỳ.
HAARP thực sự là:
- High-frequency Active Auroral Research Program
- Đặt tại Gakona.
- Được xây dựng để nghiên cứu tầng điện ly (ionosphere).
- Hiện do University of Alaska Fairbanks quản lý.
Trong nhiều năm, HAARP trở thành đối tượng của nhiều giả thuyết cho rằng nó có thể:
- Điều khiển thời tiết.
- Gây động đất.
- Điều khiển tâm trí.
- Tạo vũ khí địa vật lý.
Tuy nhiên, các tuyên bố đó chưa được chứng minh bằng các bằng chứng khoa học đáng tin cậy.
Vậy tại sao lại có tin đồn về "HAARP Hải Nam"?
Có vài nguyên nhân.
1. Các dàn anten lớn trên đảo Hải Nam
Ảnh vệ tinh cho thấy trên đảo Hải Nam có một số khu vực chứa:
- Anten tần số cao (HF).
- Trạm liên lạc quân sự.
- Cơ sở SIGINT.
- Radar cảnh giới.
Khi nhìn từ ảnh vệ tinh, một số dàn anten này có hình dạng tương đối giống các trường anten nghiên cứu tầng điện ly.
Do đó trên internet thường xuất hiện suy đoán rằng:
"Trung Quốc xây dựng HAARP riêng tại Hải Nam."
Nhưng suy đoán đó không đồng nghĩa với việc nó thực sự là một cơ sở HAARP.
2. Trung Quốc có nghiên cứu tầng điện ly
Điều này là có thật.
Các nhà khoa học Trung Quốc đã công bố nhiều nghiên cứu về:
- Tầng điện ly.
- Sóng vô tuyến tần số cao.
- Liên lạc tầm xa.
- Tác động của bão từ Mặt Trời.
Nhiều quốc gia cũng làm điều tương tự, bao gồm:
- United States
- Russia
- China
- Japan
- Norway
Nghiên cứu tầng điện ly rất hữu ích cho:
- Radar vượt đường chân trời (Over-the-Horizon Radar).
- Liên lạc với tàu ngầm.
- Dự báo ảnh hưởng thời tiết không gian.
3. Radar OTH (Over-the-Horizon)
Một điểm thường bị nhầm lẫn là radar OTH với HAARP.
Radar OTH sử dụng sóng HF phản xạ qua tầng điện ly để quan sát mục tiêu cách xa hàng nghìn kilomet.
Over-the-Horizon Radar có thể:
- Theo dõi máy bay.
- Phát hiện tàu chiến.
- Giám sát vùng biển rộng lớn.
Trung Quốc được cho là đã phát triển nhiều hệ thống OTH phục vụ giám sát Biển Đông và Tây Thái Bình Dương.
Các hệ thống này có thể sử dụng các trường anten rất lớn, dễ khiến người quan sát nhầm tưởng là "HAARP".
Có phải Hải Nam có vũ khí điều khiển thời tiết kiểu HAARP?
Cho đến nay:
- Không có bằng chứng khoa học được kiểm chứng.
- Không có tài liệu công khai đáng tin cậy.
- Không có xác nhận từ giới nghiên cứu quốc tế.
Do đó, nếu ai khẳng định rằng:
"Hải Nam có HAARP để gây bão, động đất hoặc điều khiển thời tiết" thì đó hiện vẫn là một giả thuyết hoặc suy đoán, chưa được chứng minh.
Điều đáng quan tâm hơn về mặt quân sự là khả năng trên đảo Hải Nam tồn tại sự kết hợp giữa:
- Radar vượt đường chân trời (OTH).
- Hệ thống SIGINT.
- Trạm liên lạc HF/VLF với tàu ngầm.
- Vệ tinh trinh sát.
- Trung tâm chỉ huy tác chiến.
Những hệ thống này đã được giới phân tích quân sự nghiên cứu nhiều hơn và có cơ sở thực tế rõ ràng hơn so với giả thuyết về một "HAARP Hải Nam".
Nếu bạn muốn, tôi có thể phân tích chi tiết cấu trúc kỹ thuật của radar OTH Trung Quốc, cách nó sử dụng tầng điện ly để quan sát mục tiêu xa hàng nghìn kilomet và tại sao nhiều người nhầm nó với HAARP. Đây là một chủ đề rất thú vị về công nghệ quân sự và vật lý vô tuyến.
Như thế thì hể thống radar nào là hệ thống điều hành và hướng dẩn chính cho các phi đạn phòng thủ DF’s trong đất liền của Tầu cộng?
Đây là một câu hỏi rất hay, vì nhiều người thường hình dung rằng một loại radar nào đó sẽ trực tiếp điều khiển toàn bộ các tên lửa DF (Đông Phong - Dong Feng) của Trung Quốc. Thực tế, hệ thống này phức tạp hơn rất nhiều.
Không có một radar duy nhất điều khiển các tên lửa DF
Các tên lửa DF của Trung Quốc (như DF-21, DF-26, DF-17, DF-31, DF-41...) hoạt động trong một mạng lưới gọi là hệ thống trinh sát - chỉ huy - kiểm soát - liên lạc - tình báo (C4ISR).
Mạng lưới này kết hợp:
- Radar cảnh giới mặt đất tầm xa.
- Radar vượt đường chân trời (OTH).
- Vệ tinh trinh sát quang học.
- Vệ tinh radar khẩu độ tổng hợp (SAR).
- Vệ tinh cảnh báo sớm.
- Máy bay cảnh báo sớm AEW&C.
- Máy bay không người lái trinh sát.
- Trung tâm chỉ huy chiến lược của lực lượng tên lửa.
Do đó, radar chỉ là một mắt xích trong toàn bộ chuỗi tiêu diệt mục tiêu (kill chain).
Các radar quan trọng nhất
1. Radar cảnh báo sớm tầm xa loại JY-27A
JY-27A là radar VHF hiện đại nhất của Trung Quốc hiện nay.
Đặc điểm:
- Tầm phát hiện khoảng 500–700 km.
- Hoạt động trên băng sóng VHF.
- Có khả năng phát hiện máy bay tàng hình.
- Cung cấp dữ liệu cảnh báo sớm cho mạng phòng không và lực lượng tên lửa.
Tuy nhiên nó chủ yếu phát hiện mục tiêu trên không, không phải radar điều khiển DF-21 hay DF-26.
2. Radar OTH (Over-The-Horizon)
Radar OTH Transmitter 1
32°20'20.15"N 112°42'15.30"E
Radar OTH Receiver 1
31°37'18.02"N 111°54'56.77"E
Radar OTH Transmitter 2
42°43'32.55"N 111°25'55.70"E
Radar OTH Receiver 2
41°25'13.59"N 111° 4'23.20"E
Đây mới là một trong những hệ thống quan trọng nhất đối với DF-21D và DF-26.
Radar OTH có thể:
- Quan sát vượt đường chân trời.
- Theo dõi tàu chiến ở khoảng cách 2.000–3.500 km.
- Giám sát Biển Đông, Hoa Đông và Tây Thái Bình Dương.
Nhờ radar OTH, Trung Quốc có thể phát hiện sơ bộ vị trí của:
- Nhóm tác chiến tàu sân bay Hoa Kỳ.
- Các hạm đội mặt nước lớn.
- Các căn cứ không quân tiền phương.
Nhưng độ chính xác của OTH không đủ để dẫn bắn cuối cùng.
3. Radar cảnh báo sớm kiểu "Cobra Dane của Trung Quốc"
Một số radar khổng lồ đặt tại:
- Sơn Đông.
- Hắc Long Giang.
- Tân Cương.
Có nhiệm vụ:
- Theo dõi tên lửa đạn đạo.
- Theo dõi vệ tinh.
- Cảnh báo tấn công chiến lược.
Các radar này được cho là tương đương về chức năng với radar cảnh báo sớm của Mỹ và Nga.
Hệ thống nào thực sự giúp DF-21D đánh tàu sân bay?
Đây là phần thú vị nhất.
Nhiều chuyên gia phương Tây cho rằng DF-21D không thể chỉ dựa vào radar mặt đất.
Chuỗi phát hiện mục tiêu có thể như sau:
1. Radar OTH phát hiện khu vực có tàu sân bay.
2. Vệ tinh SAR xác định vị trí chính xác hơn.
3. Máy bay trinh sát hoặc UAV cập nhật tọa độ.
4. Trung tâm chỉ huy tính toán phần tử bắn.
5. DF-21D được phóng.
6. Đầu đạn cơ động sử dụng radar chủ động hoặc cảm biến hồng ngoại để tự tìm mục tiêu ở pha cuối.
Như vậy:
Radar OTH là "mắt" tìm kiếm ban đầu.
Vệ tinh là "mắt" theo dõi chính xác.
Đầu đạn DF là "mắt" dẫn đường cuối cùng.
Nếu hỏi radar nào là "quan trọng nhất" cho lực lượng DF?
Có thể xếp theo thứ tự:
1. Radar OTH ven biển.
2. Mạng radar cảnh báo sớm chiến lược.
3. Radar VHF JY-27A.
4. Radar Type-305B và các radar điều khiển hỏa lực khác.
5. Radar gắn trên đầu đạn tự dẫn của tên lửa.
Tuy nhiên, đối với các tên lửa chiến lược như DF-31 hay DF-41, radar mặt đất gần như không đóng vai trò dẫn đường trong hành trình bay. Chúng chủ yếu dựa vào hệ thống dẫn đường quán tính, định vị vệ tinh BeiDou Navigation Satellite System và các phương pháp hiệu chỉnh khác.
Điều đáng chú ý là trong học thuyết chống tiếp cận/chống xâm nhập (A2/AD) của Trung Quốc, radar mặt đất không phải là "bộ não" mà chỉ là một phần của mạng lưới cảm biến khổng lồ. Nếu mạng vệ tinh hoặc liên lạc dữ liệu bị gây nhiễu hay phá hủy, hiệu quả tác chiến của các tên lửa chống hạm như DF-21D và DF-26 có thể giảm đáng kể, dù bản thân tên lửa vẫn hoạt động bình thường.
Tôi cũng rất mong được trao đổi với bạn về căn cứ Hải Nam trong lần tới, vì đó thực sự là một trong những mắt xích chiến lược quan trọng nhất trong toàn bộ mạng lưới A2/AD của Trung Quốc ở Biển Đông.
Như thế đây là nhữn hệ thống radar nguy hiểm cho những hạm đội của Hoa Kỳ đang di chuyển trên vùng lãnh hải quốc tế, có phải vậy không bạn?
Đúng vậy, xét từ góc độ quân sự, các hệ thống radar tầm xa của Trung Quốc được thiết kế để theo dõi và tạo khả năng tấn công đối với các lực lượng hải quân hoạt động cách xa bờ biển Trung Quốc, bao gồm cả các hạm đội của Hoa Kỳ trên vùng biển quốc tế.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa "phát hiện được" và "tiêu diệt được".
Radar chỉ là bước đầu tiên
Một nhóm tác chiến tàu sân bay như United States Navy Carrier Strike Group có thể bị phát hiện bởi:
- Radar OTH của Trung Quốc.
- Vệ tinh trinh sát.
- Máy bay tuần thám.
- UAV trinh sát.
- Tàu tình báo điện tử.
Nhưng để một tên lửa như DF-21D hoặc DF-26 đánh trúng mục tiêu đang di chuyển, Trung Quốc phải duy trì được chuỗi thông tin liên tục từ lúc phát hiện đến lúc đầu đạn lao xuống mục tiêu.
Đó là một bài toán cực kỳ khó trong chiến tranh hiện đại.
Vì sao các radar này vẫn được xem là nguy hiểm?
Trước đây, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các tàu sân bay Hoa Kỳ có thể hoạt động tương đối tự do ở Tây Thái Bình Dương.
Ngày nay, nhờ:
- Radar OTH.
- Mạng vệ tinh trinh sát.
- Các căn cứ trên Biển Đông.
- Lực lượng tên lửa của People's Liberation Army Rocket Force.
Trung Quốc có khả năng giám sát những khu vực rộng lớn hơn rất nhiều so với trước đây.
Điều này buộc Hải quân Hoa Kỳ phải tính đến nguy cơ bị theo dõi ngay từ khi tiến vào khu vực.
Nhưng Hoa Kỳ cũng có nhiều biện pháp đối phó
Một nhóm tác chiến tàu sân bay không phải là mục tiêu dễ tấn công.
Ví dụ:
- Thay đổi hướng và tốc độ liên tục.
- Gây nhiễu điện tử.
- Đánh lừa radar bằng mục tiêu giả.
- Tấn công các cảm biến đối phương.
- Đánh chặn tên lửa bằng các hệ thống như SM-3 và SM-6.
- Sử dụng máy bay tác chiến điện tử như EA-18G Growler.
Do đó, việc phát hiện được một hạm đội không đồng nghĩa với việc có thể đánh chìm hoặc vô hiệu hóa hạm đội đó.
Điều mà các đô đốc Hoa Kỳ quan tâm nhất
Nhiều chuyên gia cho rằng mối đe dọa lớn nhất không phải là bản thân một radar cụ thể, mà là việc Trung Quốc đã xây dựng được một "mạng lưới cảm biến" nhiều tầng.
Có thể hình dung như sau:
- Radar OTH nhìn xa hàng nghìn km.
- Vệ tinh theo dõi từ quỹ đạo.
- UAV quan sát cự ly trung bình.
- Máy bay cảnh báo sớm kiểm soát không phận.
- Tên lửa chống hạm chờ nhận dữ liệu mục tiêu.
Nếu toàn bộ mạng lưới này hoạt động hiệu quả cùng lúc, khả năng theo dõi lực lượng đối phương sẽ tăng lên đáng kể.
Ngược lại, nếu một số mắt xích quan trọng như vệ tinh liên lạc, trung tâm chỉ huy hoặc mạng truyền dữ liệu bị gây nhiễu hoặc phá hủy, hiệu quả của toàn bộ hệ thống có thể giảm mạnh.
Vì vậy, trong các nghiên cứu quân sự hiện nay, người ta thường đánh giá rằng mối đe dọa lớn nhất đối với hạm đội Hoa Kỳ không phải là một loại radar đơn lẻ, mà là sự kết hợp giữa radar, vệ tinh, cảm biến và tên lửa trong một hệ thống tác chiến tích hợp. Đây cũng chính là nền tảng của chiến lược A2/AD mà Trung Quốc phát triển trong nhiều thập niên qua.
Có lẻ chúng ta sẽ đi sâu hơn vào những hệ thống radar nầy trong những lần tới trong vùng biển Đông Nam Á-Southeast Asia. Cám ơn những tài liệu quý giá của bạn, chúc bạn một ngày luôn bận rộn giúp ích cho cộng đồng. Thân chào tạm biệt bạn Thông Thái.
Xin cảm ơn những lời chúc tốt đẹp của bạn.
Tôi rất vui vì những trao đổi của chúng ta về hệ thống radar, mạng lưới A2/AD và các căn cứ chiến lược trên Biển Đông đã mang lại cho bạn những thông tin hữu ích. Bạn đặt những câu hỏi rất sâu và có tính hệ thống, giúp cuộc thảo luận đi xa hơn nhiều so với việc chỉ liệt kê thông số kỹ thuật của từng loại radar.
Trong những lần tới, chúng ta hoàn toàn có thể đi sâu vào các chủ đề như:
- Mạng lưới radar của Trung Quốc trên Biển Đông.
- Vai trò của đảo Hải Nam trong hệ thống phòng thủ chiến lược.
- Các căn cứ trên Fiery Cross Reef, Subi Reef và Mischief Reef.
- Radar OTH giám sát Tây Thái Bình Dương và Biển Đông.
- Khả năng phát hiện tàu ngầm của các cường quốc trong khu vực.
- Sự tương tác giữa lực lượng của China, United States và các quốc gia Đông Nam Á.
- Những giới hạn thực tế của các hệ thống radar và tên lửa hiện đại trong điều kiện tác chiến.
Những chủ đề này rất thú vị vì chúng liên quan đến địa lý, công nghệ, chiến lược quân sự và cân bằng sức mạnh trong khu vực Đông Nam Á.
Chúc bạn thật nhiều sức khỏe, bình an và có những giờ phút nghiên cứu, học hỏi thật thú vị. Tôi sẽ rất hân hạnh được tiếp tục trao đổi cùng bạn trong những cuộc trò chuyện sau.
Thân ái chào bạn và hẹn gặp lại trong lần thảo luận tới.
Điều chưa kể sau cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974
SGN tổng hợp – 21 tháng 1, 2025
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
16.6.24 NẾU KHÔNG CÓ CỘNG SẢN THÌ VIỆT NAM CỘNG HOÀ CÓ ĐỂ MẤT HOÀNG SA 1974?
https://www.youtube.com/watch?v=oc7y1dDUtZc
Đây là một phần tư liệu bị khuất, sau 1975 góp phần làm rõ bộ mặt của Hà Nội, được chính Sĩ quan bảo vệ an ninh tướng CSVN Lê Quang Hòa, và các cựu cán bộ của đảng CSVN kể lại. Bài viết được tổng hợp bởi Facebook Xuan Hao Tran tổng hợp, dựa theo lời kể lại trên blog Bọ Lập, tức nhà văn Nguyễn Quang Lập.
Chuyện ít người biết, kể ra đây cho mọi người cùng biết vì đây là 1 phần lịch sử của dân tộc. Đây là sự kiện tại trại Davis trong phi trường Tân Sơn Nhất ngày 21 Tháng Một 1974.
Ngày 19 Tháng Một 1974 hải chiến Hoàng Sa xảy ra, Tầu cộng đã cưỡng chiếm những hải đảo của Việt Nam.
Nghị trình của phía Công sản Bắc Việt đưa vào cuộc họp lần này vẫn là những luận điệu vu cáo và lên án Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) vi phạm hiệp định Paris bằng miệng như thường lệ.
Họ cứ lải nhải tố cáo VNCH vi phạm tại Quảng Ngãi, Nam An Lộc…v.v.. Phái đoàn cs không đả động gì tới sự kiện Hoàng Sa vừa diễn ra hai hôm trước.
Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà đưa vấn đề Hoàng Sa vào nghị trình. Vấn đề Hoàng Sa được viết bằng văn bản gồm có hai phần:
1) Đề nghị chính thức Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng với Việt Nam Cộng Hoà ra thông cáo lên án hành động xâm lược lãnh thổ – lãnh hải của Việt Nam.
2) Yêu cầu phía quân đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cùng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN) không tấn công phá rối các phi trường, quân cảng Đà Nẵng, Nha Trang thuộc Quân Đoàn I, II để VNCH phối trí tập trung lực lượng tái chiếm Hoàng Sa.
Đến phần bàn về Hoàng Sa, phái đoàn cộng sản Bắc Việt và các quan chức MTGPMN vẫn ngồi im thin thít không phát biểu gì. Mọi con mắt của đại diện quốc tế đều đổ dồn về phía họ. Phái đoàn cộng sản bí quá đành giở trò câu giờ… cho hết buổi họp.
Phái đoàn VNCH yêu cầu tiếp tục họp bất thường. Yêu cầu của VNCH được Uỷ ban giám sát đồng ý, vì vấn đề có liên quan tới tình hình quân sự và vừa xảy ra trong phạm vi kiểm soát (lãnh thổ) của VNCH.
Không thể thoái thác, Thiếu tướng Lê Quang Hòa trưởng đoàn Cộng sản Bắc Việt liền đánh điện về xin ý kiến Trung ương.
Lê Đức Thọ trưởng ban Miền Nam, Uỷ viên thường trực bộ chính trị đã trả lời “lập trường chính trị của các anh để đâu? Đang có chiến tranh, lại phối hợp hoạt động với địch à? Cuộc chiến tranh gay go của ta rất cần sự ủng hộ của Tầu cộng, mà lại nói quay sang chống bạn. Họ có giải phóng giúp ta, thì sau này cũng trả lại cho ta thôi.’’
Trong phiên họp bất thường, Trung Tướng Ngô Du trưởng phái đoàn VNCH, người chủ trì cuộc họp đưa ra đề nghị:
“Trong phiên họp này, tôi đề nghị không cáo buộc, cãi nhau về những vụ xâm phạm lãnh thổ, vi phạm hiệp định Paris nữa. Tầu cộng đã ngang nhiên xâm lược và chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Đất của chúng tôi thì cũng như đất của các anh vì cùng là đất tổ tiên chúng ta để lại cả. Vì thế, chúng ta nên xếp ba bốn cái vụ tranh cãi lại, để ngồi cùng nhau bàn bạc về việc phối hợp hoạt động chống lại sự xâm lăng này. Yêu cầu VNDCCH cùng VNCH gửi công hàm lên án Tầu cộng tại Liên Hiệp Quốc, VNDCCH nên vận động phe XHCN và cũng như thế giới lên tiếng phản đối (Tầu cộng)”
Mọi con mắt của các đại diện quốc tế trong uỷ ban đổ dồn về phía phái đoàn cộng sản. Họ lại tảng lờ…
Một lúc, tướng Ngô Du nổi nóng. Xen lẫn trong tiếng văng tục, ông chỉ thẳng mặt tên tướng cộng sản Lê Quang Hòa: “… Chúng mày tảng lờ, là tiếp tay cho Tầu cộng, là bán nước mà còn tiếp tục định đánh không cho chúng tao giành lại đất đai của tổ tiên”.
Tướng Ngô Du chụp lấy cái gạt tàn thuốc lá bằng thủy tinh ném thẳng vào mặt Lê Quang Hòa. Hắn né được, cái gạt tàn đập vào tường vỡ nát.
Cận vệ của Lê Quang Hòa lao tới tướng Ngô Du thì liền bị cận vệ của tướng Ngô Du ngăn cản và bẻ (khóa) tay.
https://saigonnhonews.com/thoi-su/thay-gi-tren-mang/dieu-chua-ke-sau-cuoc-hai-chien-hoang-sa-1974/
No comments:
Post a Comment