20260627 CDTL HST D605 27 December 1950 Bản ghi nhớ của ông Robert E. Hoey gửi Đại sứ Jessup.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d605
Google Translated
Tài liệu số 605
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, năm 1950, Đông Á và Thái Bình Dương, Tập VI
790.5/12–2750
Bản ghi nhớ của ông Robert E. Hoey thuộc Văn phòng phụ trách các vấn đề Philippines và Đông Nam Á gửi Đại sứ Lưu động Jessup.
Tuyệt mật
[Washington,] ngày 27 tháng 12 năm 1950.
Dưới đây là các ý kiến của chúng tôi về văn bản NSC 64/1.
Đoạn 1. Vào tháng 11, PSA nhận định rằng bản tuyên bố chính sách do Ủy ban Chính sách Viện trợ Đông Nam Á đề nghị đã trở nên lỗi thời do những diễn biến thực tế. Do đó, việc thảo luận về văn kiện chính sách này dường như chỉ còn mang tính lý thuyết suông. [Trang 956]
Đoạn 3. PSA đồng ý rằng, để đạt được một giải pháp thuận lợi cho vấn đề an ninh tại Đông Dương—dù là trong ngắn hạn hay dài hạn—cần phải nâng cao nhận thức của người dân về những mối nguy hại của chủ nghĩa Cộng sản cũng như tăng cường nỗ lực chống lại nó. Trước đây, cả quân đội Liên hiệp Pháp lẫn quân đội Quốc gia Việt Nam đều không gặp khó khăn gì trong việc tuyển mộ tình nguyện viên.
Do đó, quy mô của lực lượng chống Cộng hiện bị giới hạn bởi năng lực tài chính và kỹ thuật của Pháp và Hoa Kỳ trong việc cung cấp công tác huấn luyện và trang thiết bị mà các nguồn lực tại Đông Dương không thể đáp ứng. Dự án thành lập quân đội quốc gia, được thông qua vào ngày 8 tháng 12, đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng một đội quân quốc gia quy mô lớn; theo đó, một số đơn vị nhất định (gồm 7 tiểu đoàn bộ binh) được chuyển giao từ lực lượng Liên hiệp Pháp sang quân đội Quốc gia Việt Nam, đồng thời thiết lập cơ chế phối hợp trong đó chính quốc Pháp sẽ đóng góp khoảng 1,5 tỷ đồng bạc Đông Dương để chi trả lương và duy trì hoạt động cho quân đội Quốc gia Việt Nam khi lực lượng này được mở rộng. Chính phủ Việt Nam sẽ đóng góp khoảng 750 triệu đồng bạc Đông Dương.
Vào ngày 18 tháng 12, một danh sách trang bị cho khoảng 30 tiểu đoàn bộ binh đã được đệ trình lên Hoa Kỳ; danh sách này do quân đội Pháp và Chính phủ Việt Nam soạn thảo, đồng thời đã được Phái bộ Cố vấn Quân sự Hoa Kỳ (MAAG) phê chuẩn. Bước đi này tạo cơ sở pháp lý và thực tiễn cho việc phát triển Quân đội Quốc gia Việt Nam trong tương lai, với quy mô dự kiến đạt khoảng 45 tiểu đoàn cùng các lực lượng không chính quy. Nếu đạt được mục tiêu này, quy mô quân đội Việt Nam sẽ lớn hơn quân đội Miến Điện. Các bước đi tương tự cũng đã được thực hiện đối với quân đội quốc gia tại Lào và Campuchia. Tuy nhiên, PSA không đồng tình với câu thứ ba trong đoạn 3 liên quan đến những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự suy giảm tình hình an ninh tại Đông Dương.
Sự sa sút tình hình bắt nguồn từ năng lực ngày càng gia tăng của phong trào cộng sản bản địa dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, nhờ vào sự hỗ trợ to lớn cả về vật chất lẫn nhân lực từ phía Tầu cộng. Chúng tôi tin rằng thực tế này rất quan trọng và cần được đưa vào bất kỳ nghiên cứu nào về khu vực này.
Đoạn 4. Các mục tiêu ngắn hạn, bao gồm các điểm a, b, c và c (1), từ lâu đã là một phần trong chính sách của Bộ. Điểm c (2): Đây là một nhận định còn gây tranh cãi. Lịch sử các quốc gia vệ tinh đã chứng minh rằng chúng được thiết lập mà không cần đến "sự ủng hộ của quần chúng". Do đó, việc khẳng định dứt khoát rằng sự ủng hộ của quần chúng đối với một chính quyền chống Cộng là yếu tố thiết yếu có thể không hoàn toàn chính xác. Các điểm c (2) (a), (b), (c), (d), (3), d và e: Những nội dung này được đưa vào gần như nguyên văn từ các văn bản trước đây của Bộ.
Chúng tôi cho rằng các vấn đề này đã được hoàn tất hoặc đang ở giai đoạn phát triển khả quan. Mục f: Việc xem xét lại chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Dương [Trang 957] được liệt kê ở đây là một phần của văn kiện NSC 64, do PSA soạn thảo vào tháng 3 năm 1950. Bộ Ngoại giao nhận thức được sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách chính trị trong trường hợp Tầu cộng thực hiện hành động xâm lược thành công tại Đông Nam Á, nhưng chưa nắm được bất kỳ kế hoạch nào của Bộ Quốc phòng cho tình huống đó. Hoa Kỳ đã khuyến nghị phía Pháp đưa vấn đề Đông Dương ra Liên Hợp Quốc, chứ không phải là "can ngăn" họ làm điều này.
Vào tháng 9 năm 1950, sau khi được phía Pháp tiếp cận để bàn về vấn đề này, chúng tôi đã thông báo quan điểm của mình rằng thái độ chính trị của các quốc gia châu Á tại Liên Hợp Quốc cho thấy kết quả nếu đưa vấn đề Đông Dương ra Liên Hợp Quốc có thể sẽ không như mong đợi. Tuy nhiên, đồng thời chúng tôi cũng làm rõ với phía Pháp rằng Bộ không hề khuyên Pháp hay bất kỳ quốc gia nào đang đối mặt với nguy cơ bị Cộng sản xâm lược là không nên báo cáo sự việc lên Liên Hợp Quốc. Đoạn g: đã thống nhất.
Các mục tiêu dài hạn
b. Mặc dù PSA nhận thấy tầm quan trọng của việc đạt được một tình trạng ổn định, tốt đẹp tại Đông Dương cũng như ở Philippines, Miến Điện và Mã Lai, nhưng việc thiết lập hòa bình — hoặc ít nhất là tạo ra những điều kiện cho phép các lực lượng bản địa tự duy trì an ninh nội bộ mà không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài — sẽ không thể thực hiện được chừng nào hành động xâm lược của Cộng sản vẫn tiếp diễn theo chiều hướng hiếu chiến như hiện nay.
c. Chúng tôi tin rằng điều này đã được thực hiện một cách thỏa đáng.
d. Đồng ý.
e. PSA, dù thừa nhận tính cần thiết của các cơ chế an ninh khu vực, lại cho rằng việc Mỹ khuyến khích thành lập một tổ chức như vậy sẽ đặt dấu chấm hết cho sáng kiến này (tức là "nụ hôn tử thần"). Tuy nhiên, chính sách của Bộ lại ủng hộ một cơ chế như vậy nếu do các nước châu Á đứng ra bảo trợ. Hiện nay, điều này dường như vượt quá khả năng của bất kỳ nhà lãnh đạo Đông Nam Á nào.
Kết luận
Do văn bản khởi nguồn cho nỗ lực này của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân được soạn thảo từ tháng 9 và đến tháng 11 đã trở nên lạc hậu, chúng tôi cho rằng điều cần thiết không phải là "soạn lại" văn bản đó mà là một văn bản mới của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC). Tuy nhiên, dựa trên những nhận định trước đó, rõ ràng là văn bản NSC 64/1 không đáp ứng được yêu cầu. Chúng tôi kiến nghị:
(a) không thông qua NSC 64/1; hoặc
(b) sửa đổi văn bản này thông qua nỗ lực phối hợp giữa Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng; hoặc
(c) xét thấy các nỗ lực chính trị của chúng ta đã gần đạt kết quả, NSC cần chỉ đạo Bộ Quốc phòng khẩn trương soạn thảo (1) một bản đánh giá chiến lược về Đông Nam Á, trong đó bao gồm các nghiên cứu về năng lực của các lực lượng chống Cộng hiện có; ...các lực lượng đó được tăng cường bằng mức hỗ trợ tối đa về khí tài của Hoa Kỳ; cùng với năng lực và ý đồ của khối Cộng sản thế giới đối với Đông Nam Á, tất cả dẫn đến một kết luận – lần đầu tiên xác định những hệ quả có thể xảy ra từ cuộc xâm lược Đông Nam Á của Tầu cộng [Trang 958] – một kịch bản hiện có vẻ đang đến rất gần. Đồng thời, Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) cần chỉ đạo Bộ Quốc phòng tham gia vào các cuộc thảo luận quân sự mà Bộ trưởng Ngoại giao của ba nước đã thống nhất hồi tháng Chín.
1. Jessup là đại diện của Bộ Ngoại giao trong Ban Tham mưu Cấp cao của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC).↩
2. Xem phần trước, tr. 945.↩
3. Một hiệp định quân sự Pháp-Việt được ký kết vào ngày 8 tháng 12 đã thành lập quân đội quốc gia Việt Nam thông qua việc quy định chuyển giao quyền kiểm soát một số đơn vị nhất định từ phía Pháp sang phía Việt Nam.↩
4. Danh mục các yêu cầu cụ thể về vật tư, trang bị cho lực lượng của các Quốc gia Liên kết đã được gửi trong các bức điện số 1077 ngày 16 tháng 12 (751G.5 MAP/12–1650) và số 1095 ngày 19 tháng 12 (751G.5 MAP/12–1950) từ Sài Gòn; cả hai bức điện này đều không được in lại trong tài liệu này.↩
List of abbreviations and symbols
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp1
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp5
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/ch6
1. Document 605
Foreign Relations of the United States, 1950, East Asia and the Pacific, Volume VI
790.5/12–2750
Memorandum by Mr. Robert E. Hoey of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs to the Ambassador at Large (Jessup)1
top secret
[Washington,] December 27, 1950.
Our comments on NSC 64/12 follow.
Paragraph 1. PSA considered in November that the policy statement proposed by the Southeast Asia Aid Policy Committee had been overtaken by events. It would therefore appear that any discussion of that policy paper would be academic.
Paragraph 3. PSA agrees that a long range or a short range favorable settlement of the security problem in Indochina requires an increased awareness by the people of the dangers of Communism and an increased effort to combat it. Neither the French Union army nor the Vietnam State army has had in the past difficulty in securing volunteers. Therefore the size of an anti-Communist force is presently limited by the fiscal and technical ability of France and the United States to supply training and equipment not available from Indo-Chinese resources. The national army project agreed to on December 8 established the legal basis for a large national army, transferred certain units (7 infantry battalions) from the French Union forces to the Vietnam State army and set forth a working arrangement by which metropolitan France would contribute approximately 1.5 billion piastres toward the pay and maintenance of an increased Vietnam State army.3 The Vietnam Government would contribute approximately 750 million piastres. The equipment for some 30 infantry battalions was requested of the United States on 18 December in a list prepared by the French Military, the Vietnam Government and approved by the US MAAG.4 This step is the legal and factual basis for the future development of a Vietnamese National Army whose eventual size would be approximately 45 battalions plus irregulars. If and when achieved this would be larger than the army of Burma. Similar steps were taken with regard to national armies in Laos and Cambodia. PSA, however, does not agree with the third sentence in paragraph 3 regarding the fundamental causes of the deterioration in the Indochinese security situation. The deterioration has been caused by the increased capability of the indigenous Communist movement under Ho Chi Minh realized by extensive Chinese Communist assistance in both materiel and personnel. We believe that this fact is important and should be included in any study of the area.
Paragraph 4. Short-term objectives, paragraphs a, b, c and c(1) have long been a part of Departmental policy. Paragraph c(2): This is a debatable statement. The history of satellites has proven that they were established without “popular support”. To therefore state categorically that popular support of an anti-Communist government is essential may not be entirely correct. Paragraphs c(2) (a), (b), (c), (d), (3), d, and e: These points are raised more or less verbatim from previous Departmental papers. We consider that they have been already accomplished or are in a satisfactory state of development. Paragraph f: The reconsideration of US policy toward Indochina [Page 957] enumerated herein was a part of NSC 64, prepared by PSA in March 1950. The Department is aware of the necessity for recasting political policy in the event of successful Chinese Communist aggression in Southeast Asia but is not aware of any plans of the Department of Defense in such a contingency. The US has advised, not “dissuaded” the French from referring the Indochina question to the UN. In September 1950 having been approached by the French in this regard we advised them that in our opinion the political attitudes of the Asian states in the UN was such that the result of a reference of the Indochina matter to the UN would probably be unsatisfactory. At the same time, however, we made clear to the French that the Department was not advising France or any other country in danger of Communist invasion that such an act should not be reported to the UN. Paragraph g: agreed.
Long-term Objectives
b. While PSA recognizes the desirability of such a happy condition in Indochina as well as in the Philippines, Burma and Malaya the achievement of peaceful conditions or at least those conditions which would permit indigenous forces without outside help to maintain internal security cannot be realized so long as Communist aggression follows its present militant course.
c. We believe that this has already been satisfactorily achieved.
d. Agreed.
e. PSA while recognizing the desirability of regional security arrangements believes that US encouragement of such a body would be the “kiss of death”. Departmental policy, however, supports such an arrangement under Asian sponsorship. This now seems beyond the capability of any Southeast Asian leader.
Conclusion
Since the paper which gave rise to this effort on the part of the Joint Chiefs was prepared in September and was overtaken by November, we presume that it is not a “recasting” of that paper which is required so much as a new NSC paper. From our preceding comments, however, it is obvious that NSC 64/1 does not fill the bill. We recommend that: (a) NSC 64/1 not be adopted, or; (b) that it be revised by a joint State-Defense effort, or; (c) that in view of the near satisfaction of our political efforts that the Department of Defense be directed by the NSC to prepare without delay (1) a strategic estimate of Southeast Asia in which there be embodied studies of the capabilities of the present anti-Communist forces; those forces augmented by the maximum US matériel assistance; the capability and intentions of world Communism toward Southeast Asia leading to a conclusion which would for the first time identify the possible results anticipated from the Chinese Communist invasion of Southeast Asia [Page 958] which now appears so imminent. The Department of Defense should at the same time be directed by the NSC to participate in the military conversations agreed upon in September by the three Foreign Ministers.
1. Jessup was the representative of the Department of State on the NSC Senior Staff.↩
3. A French-Vietnamese military convention signed on December 8 established a Vietnamese national army by providing for the transfer of certain units from French to Vietnamese control.↩
4. Lists of firm material requirements for the forces of the Associated States were transmitted in telegrams 1077, December 16 (751G.5 MAP/12–1650), and telegram 1095, December 19 (751G.5 MAP/12–1950), from Saigon, neither printed.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d605
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_956
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_957
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_958
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_945
Thân thế (các) nhân vật
Harry S. Truman
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_presidents_of_the_United_States
https://www.whitehousehistory.org/the-presidents-timeline
https://en.wikipedia.org/wiki/Harry_S._Truman
https://millercenter.org/president/truman/life-in-brief
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://www.trumanlittlewhitehouse.org/key-west/president-truman-biography
https://www.trumanlibrary.gov/education/trivia/biographical-sketch-harry-truman
No comments:
Post a Comment