20260610 CDTL HST D588 20 November 1950 Phó Giám đốc Phòng vệ Hỗ Tương Ohly gửi Phụ tá Ngoại trưởng Rusk. Bản lương giá Đông Dương.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d588
Google Translated
Tài liệu 588
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1950, Đông Á và Thái Bình Dương, Tập VI
751G.00/11–2050
Phó Giám đốc Chương trình Phòng vệ Hỗ Tương Ohly gửi Phụ tá Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Viễn Đông Rusk.
Tối mật
Cá nhân
Washington, ngày 20 tháng 11 năm 1950.
Kính gửi ông Dean: Kèm theo đây là một bản ghi nhớ gửi tới Ngài Bộ trưởng, được đính kèm để ông xem xét và cân nhắc riêng; bản ghi nhớ này nêu lên những vấn đề mà tôi tin là [Trang 925] một số câu hỏi then chốt liên quan đến khu vực Đông Dương. Mặc dù văn bản này khá dài, tôi rất mong ông dành thời gian đọc và nghiên cứu kỹ lưỡng—sau đó, vui lòng chuyển nó tới Ngài Bộ trưởng sớm nhất có thể để Ngài trực tiếp xem xét, kèm theo bất kỳ ý kiến bình luận nào của riêng ông, nếu ông thấy phù hợp. Cá nhân tôi hiện đang giữ lại tất cả các bản sao khác, bởi lẽ đây là một tài liệu không nên phổ biến rộng rãi, mặc dù tôi tin rằng nó sẽ là vấn đề đáng quan tâm đối với cả ông Perkins lẫn ông Nitze.
Như tôi đã nêu trong bản ghi nhớ, tôi không nắm rõ câu trả lời cho phần lớn các câu hỏi được đặt ra, và tôi cũng không tin rằng có bất kỳ cá nhân nào khác biết được những câu trả lời đó. Nếu buộc phải đưa ra một nhận định, tôi sẽ cho rằng chính sách hiện hành của chúng ta là sai lầm; tuy nhiên, tôi sẽ không cảm thấy hoàn toàn chắc chắn về nhận định này.
John H. Ohly
[Tài liệu đính kèm]
Bản ghi nhớ của Phó Giám đốc Chương trình Hỗ Tương Quốc phòng Ohly gửi Bộ trưởng Ngoại giao.
[Trích đoạn]
Tối mật
Washington, ngày 20 tháng 11 năm 1950.
Chủ đề: Đánh giá lại chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Dương
I. Bản ghi nhớ này được soạn thảo nhằm nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách của việc tiến hành một cuộc rà soát lại chính sách của chúng ta đối với khu vực Đông Dương—một cách tức thời, toàn diện và thực tế. Xét từ góc độ của Chương trình Hỗ tương Quốc phòng, cuộc rà soát này là điều bắt buộc; bởi lẽ, việc tiếp tục duy trì chính sách viện trợ quy mô lớn như hiện nay—dù có thể không đạt được mục đích đề ra—lại có nguy cơ khiến cho việc hoàn thành các mục tiêu quốc phòng hỗ tương tại những khu vực khác trên thế giới trở nên bất khả thi. Cuộc rà soát này rất có thể sẽ dẫn đến việc tái khẳng định chính sách hiện hành mà không cần thực hiện bất kỳ thay đổi đáng kể nào; tuy nhiên, theo quan điểm của tôi—và khi xét đến những yếu tố được trình bày dưới đây—sẽ là một sự dại dột tột bậc nếu cứ tiếp tục theo đuổi chính sách này mà thiếu đi một cuộc phân tích thấu đáo hơn nhiều so với những gì đã được thực hiện từ trước đến nay, nhằm đánh giá xác thực khả năng thành công cũng như những hệ quả mang tính toàn cầu của chính sách đó.
Ngay cả khi nhu cầu về một phương pháp tiếp cận như vậy trước đây chưa thực sự cấp bách (dù tôi tin rằng nó đã cấp bách), thì sự can thiệp trực tiếp của Tầu cộng vào Triều Tiên chắc chắn đã khiến nhu cầu này trở nên cấp thiết:
(1) sự can thiệp này đặt thêm những đòi hỏi vận hành to lớn lên nguồn tài nguyên vật chất vốn đã hạn hẹp, nguồn tài nguyên phải được phân bổ cho cả các nhu cầu của Hoa Kỳ lẫn toàn bộ các chương trình hỗ trợ quân sự nước ngoài; và
(2) nó cho thấy Điện Kremlin có thể đã sẵn sàng chấp nhận những rủi ro vốn có trong việc thực sự điều động quân đội Tầu cộng sang hỗ trợ Hồ Chí Minh—một bước đi mà, như sẽ được đề cập sau đây, sẽ làm thay đổi hoàn toàn tính chất của vấn đề quân sự tại Đông Dương.
. . . . . . . . . . . . . . [Trang 926]
(3) Giả định rằng có thể cung cấp đủ trang thiết bị và nhân lực hiệu quả, liệu có tồn tại ý chí, tinh thần chiến đấu và năng lực lãnh đạo cần thiết để giải quyết tình hình quân sự một cách hiệu quả hay không?
Các quan sát viên quân sự từng đến Đông Dương—bao gồm cả Tướng Erskine cùng các thành viên trong đoàn của ông—đều nhất quán nhận định về sự thiếu hụt tinh thần tấn công trong hàng ngũ quân Pháp, những khiếm khuyết trong chiến thuật của họ, việc sử dụng kém hiệu quả một số loại vũ khí (đặc biệt là pháo binh), cũng như năng lực chỉ huy yếu kém. Những quan sát viên này cũng đồng loạt khẳng định rằng, trừ khi một phần hoặc toàn bộ những yếu điểm kể trên được khắc phục, cơ hội giành thắng lợi tại Đông Dương sẽ không mấy sáng sủa. Mặc dù tinh thần của lực lượng Liên hiệp Pháp vẫn duy trì được sự vững vàng đáng ngạc nhiên—bất chấp suốt 5 năm qua hầu như không đạt được tiến triển thực chất nào trong việc đánh bại Việt Minh, cũng như phải đối mặt với những thất bại nặng nề tại Bắc Kỳ—nhưng một câu hỏi tất yếu vẫn được đặt ra: liệu tình trạng này còn có thể duy trì được bao lâu nữa, nhất là khi khu vực Đồng bằng sông Hồng tiếp tục bị mất thêm nhiều phần lãnh thổ.
Còn một vấn đề nữa cần đặt ra, đó là liệu người Pháp và Bảo Đại—trong khuôn khổ chính trị hiện hành hoặc có khả năng hình thành trong tương lai gần—có đủ năng lực khơi dậy tinh thần và ý chí chiến đấu cần thiết để biến các đội quân quốc gia non trẻ thành những đơn vị chiến đấu hữu hiệu trong cuộc chiến chống lại Việt Minh hay không. Những bằng chứng ít ỏi hiện có về khía cạnh cụ thể này lại mang đôi chút tín hiệu đáng khích lệ.
(4) Liệu có thể ngăn chặn tình trạng suy thoái chính trị — vốn sẽ làm vô hiệu hóa những thành tựu đạt được trên lĩnh vực quân sự — hay không? Câu trả lời cho câu hỏi này phụ thuộc vào một loạt các yếu tố mà các bộ phận khác thuộc Bộ Ngoại giao sẽ có thể làm rõ hơn. Tuy nhiên, dường như cần phải xem xét ít nhất ba điểm phụ quan trọng sau đây:
(a) tốc độ và quy mô của những thắng lợi tiếp theo mà Việt Minh giành được, cũng như tác động của những thắng lợi này đối với thái độ của người bản xứ và đối với những nhân vật chủ chốt mà lòng trung thành của họ có thể đang dao động;
(b) năng lực của Bảo Đại và những người xung quanh ông trong việc khẳng định và thực thi vai trò lãnh đạo một cách hiệu quả, thông qua việc vận dụng quyền uy và quyền lực tại những lĩnh vực mà họ vốn đã nắm giữ; và
(c) sự sẵn lòng của phía Pháp—cả về mặt văn bản lẫn tinh thần—trong việc đưa ra những nhượng bộ được xem là cần thiết, nếu muốn các chính quyền bản xứ mới nhận được sự ủng hộ của quần chúng—yếu tố sống còn quyết định sự tồn tại của chính quyền đó.
Như đã đề cập trước đó, bài viết này không nhằm đưa ra câu trả lời cho những câu hỏi trọng yếu nêu trên; tuy nhiên, tôi muốn lưu ý đến những hoài nghi nghiêm trọng vốn đã được lặp đi lặp lại trong các bản đánh giá tình báo của tất cả các cơ quan tình báo điều hành thuộc chính phủ…
. . . . . . . . . . . . . .
C. Những chi phí và hệ quả tại các khu vực khác sẽ là gì khi nỗ lực đạt được mục tiêu thiết lập quyền kiểm soát phi Cộng sản vững chắc tại Đông Dương?
Chúng tôi sẽ xem xét vấn đề này hoàn toàn dưới góc độ mục tiêu an ninh nội bộ, bởi lẽ dường như có rất ít biện pháp khả thi—ngoài sự can thiệp trực tiếp từ phía Hoa Kỳ—để đẩy lùi một cuộc xâm lược của phe Tầu cộng, nếu họ thực sự phát động. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta được phép bỏ qua việc cân nhắc [Trang 927] những tổn thất và hệ quả nói trên, nhất là khi xét đến khả năng một cuộc xâm lược như vậy có thể thực sự xảy ra, tạo nên một tình thế mà trong đó, mọi tổn thất đã phải gánh chịu và mọi hệ quả đã phải hứng chịu trước đó đều trở nên hoàn toàn vô ích. Những tổn thất này chủ yếu thuộc về hai nhóm chính sau đây:
(1) trang thiết bị quân sự, chủ yếu từ các nguồn của Hoa Kỳ, và
(2) nhân lực lẽ ra đã có sẵn cho các lực lượng Pháp tại Tây Âu.
Về vấn đề thứ nhất, chúng tôi đã bày tỏ quan điểm rằng các nhu cầu trước mắt có thể dự báo được sẽ vào khoảng 500.000.000 đô la, và rằng những nhu cầu này sẽ gia tăng đáng kể. Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân đã cho biết rằng những nhu cầu này không thể được đáp ứng mà không gây ra tác động đáng kể đối với chương trình viện trợ quân sự dành cho Tây Âu. Điều này thậm chí sẽ càng đúng hơn nữa trong trường hợp các chương trình viện trợ quân sự dành cho Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran—những quốc gia vốn được xếp ưu tiên thấp hơn so với các chương trình dành cho những nước thuộc Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Hơn nữa, khi và trong chừng mực mà các chiến dịch tại Triều Tiên tiêu tốn ngày càng nhiều lượng trang thiết bị sẵn có của Hoa Kỳ, thì tác động tại châu Âu và những nơi khác do việc thực hiện các yêu cầu cần thiết tại Đông Dương sẽ gia tăng một cách đáng kể.
Nói cách khác, việc phát triển các lực lượng hữu hiệu tại Tây Âu—vốn trong thời điểm hiện tại gần như phải phụ thuộc hoàn toàn vào trang thiết bị của Mỹ—sẽ bị trì hoãn đáng kể; nỗ lực đưa các lực lượng Hy Lạp vào thế sẵn sàng chống lại sự xâm lược từ phía Bulgaria và/hoặc Albania có thể sẽ phải hoãn lại vô thời hạn; và sẽ không thể thực hiện trọn vẹn các biện pháp đang hết sức cấp thiết nhằm biến quân đội Thổ Nhĩ Kỳ thành một lực lượng chiến đấu thực sự hiệu quả. Mặc dù đúng là sẽ có một thời điểm—có lẽ là sau 12 hoặc 18 tháng nữa—khi sự huy động của nền công nghiệp Mỹ (nhờ vào các đơn đặt hàng đang được thực hiện) sẽ chấm dứt tình trạng khan hiếm trang thiết bị và tạo điều kiện để bắt kịp tiến trình, nhưng chúng ta buộc phải chấp nhận một thực tế rằng: việc khai triển chương trình tại Đông Dương sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các chương trình MDAP khác trong khoảng thời gian chuyển tiếp này.
Thật không thể đánh giá hết tác động của việc cắt giảm đáng kể lịch trình bàn giao MDAP đối với công tác tăng cường lực lượng tại khu vực Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, cũng như đối với chính bản thân Hiệp ước này. Tuy nhiên, một điều rõ ràng là—bất kể tác động thực tế nào đối với quá trình phát triển các sư đoàn sẵn sàng chiến đấu—sẽ nảy sinh một hệ quả khác bắt nguồn từ sự thiếu hụt trang thiết bị huấn luyện, gây ảnh hưởng đến tốc độ thành lập các đơn vị và xây dựng lực lượng. Vấn đề này còn chịu tác động từ một cái giá quan trọng khác của việc theo đuổi chính sách hiện hành tại Đông Dương, cụ thể là sự hao tổn về nhân lực của phía Pháp. Chúng ta đang đặt kỳ vọng vào khả năng của Pháp trong việc cung cấp 10 sư đoàn vào cuối năm 1951 và khoảng 27 sư đoàn vào đầu năm 1954.
Ngoài vấn đề trang thiết bị, trở ngại lớn nhất trong việc hoàn thành các cam kết này sẽ nằm ở việc cung cấp đủ số lượng sĩ quan và hạ sĩ quan có trình độ, được huấn luyện bài bản [Trang 928] để làm nòng cốt chỉ huy, cũng như để huấn luyện cho các lực lượng quy mô lớn này. Mỗi sĩ quan hay hạ sĩ quan bị điều chuyển sang Đông Dương đều làm giảm đáng kể triển vọng đạt được—dù chỉ là tiệm cận—mục tiêu hiện tại của phía Pháp; bởi lẽ thời gian huấn luyện đối với các chuyên viên kỹ thuật, hạ sĩ quan và sĩ quan cấp úy được tính bằng năm chứ không phải bằng tháng, và thật không may, một trong những nhu cầu thiết yếu tại Đông Dương lại chính là nhóm nhân sự thuộc cùng hạng mục này.
Hơn nữa, lẽ dĩ nhiên, việc điều chuyển binh sĩ sang một chiến trường khác sẽ làm giảm nguồn nhân lực sẵn có cho lực lượng thường trực—vốn là thành phần thiết yếu của kiểu quân đội Pháp cần thiết tại Tây Âu—ngay khi lực lượng này vừa được thành lập. Về vấn đề này, cần lưu ý rằng số thương vong của quân đội Pháp tại Đông Dương kể từ năm 1945—chưa tính đến những thất bại thảm hại gần đây—đã vượt quá 50.000 người; đồng thời, số lượng sĩ quan Pháp tử trận trong chiến dịch này đang gia tăng với tốc độ nhanh hơn cả tốc độ đào tạo ra sĩ quan mới từ các trường quân sự tại chính nước Pháp.
Tình trạng thiếu hụt trang thiết bị hiện nay—và hệ quả mà việc đáp ứng các yêu cầu từ Đông Dương có thể gây ra—có lẽ sẽ được thấu hiểu rõ nhất khi tham chiếu đến các ước tính của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân về thời điểm mà trang thiết bị có thể được cung cấp cho các đơn vị Đức. Trừ khi phải huy động đến kho dự trữ tại Áo, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân ước tính rằng sẽ là bất khả thi để cung cấp đầy đủ trang thiết bị theo biên chế (TO&E) cho bốn sư đoàn bộ binh Đức đầu tiên trước tháng 9 năm 1952—tức là gần hai năm nữa—và ngay cả trang thiết bị huấn luyện cho thêm 11 sư đoàn khác cũng không thể được cung cấp trước tháng 6 năm 1952. Hơn nữa, nếu không thực hiện tổng động viên công nghiệp toàn diện, cũng như không dành mức ưu tiên đủ cao cho việc phân bổ trang thiết bị cho các đơn vị Đức, thì sẽ không thể trang bị cho họ các khí tài hạng nặng—chẳng hạn như xe tăng và pháo binh hạng nặng—trước thời điểm đầu năm 1954.
Những tác động đối với các chương trình khác rất có thể sẽ nghiêm trọng đến mức chương trình tại Đông Dương sẽ buộc phải tụt xuống dưới mức ưu tiên số một; và nếu thực tế diễn ra như vậy, thì dĩ nhiên điều này sẽ ảnh hưởng đến câu trả lời cho mục A nêu trên.
D. Liệu chính sách hiện hành của chúng ta tại Đông Dương có hợp lý hay không khi được xem xét dưới góc độ về khả năng thành công của chính sách đó, cũng như xét về những hệ quả của nó đối với việc hoàn thành các mục tiêu của Hoa Kỳ tại các khu vực khác có tầm quan trọng chiến lược?
Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ phụ thuộc phần lớn vào các câu trả lời cho các mục A, B, 4 và C nêu trên, cộng thêm một sự đánh giá về tầm quan trọng tương đối giữa việc đạt được mục tiêu của chúng ta tại Đông Dương và các mục tiêu của chúng ta tại những nơi khác trên thế giới. Nếu không có những câu trả lời được cân nhắc kỹ lưỡng cho các mục A, B và C nêu trên, và nếu không thực hiện một sự đánh giá thấu đáo về tầm quan trọng chiến lược của Đông Dương khi đặt trong mối tương quan với tầm quan trọng chiến lược của các khu vực [Trang 929] mà an ninh của chúng sẽ bị ảnh hưởng bất lợi bởi chính sách hiện hành của chúng ta tại Đông Dương, thì vấn đề được đặt ra trong đoạn văn này sẽ không thể được thảo luận một cách thấu đáo. Tuy nhiên, người ta tin rằng vấn đề liên quan có thể được minh họa thông qua các câu hỏi hoàn toàn giả định dưới đây; mỗi câu hỏi sẽ được xem xét trong mối liên hệ với hai giả định thay thế—thứ nhất, chính sách của chúng ta tại Đông Dương có triển vọng thành công hợp lý; và thứ hai, triển vọng thành công của chính sách này không thực sự khả quan:
(1) Liệu có đáng phải chấp nhận sự chậm trễ 6 tháng đối với thời điểm mà lực lượng thuộc Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương sẽ đủ khả năng chống lại sự xâm lược của Liên Xô—hay nói cách khác là đáp ứng các yêu cầu về lực lượng và trang thiết bị theo Kế hoạch Trung hạn?
(2) Liệu có đáng phải chấp nhận sự chậm trễ 6 tháng trong việc thành lập, huấn luyện và trang bị cho các đơn vị của Đức?
(3) Liệu có đáng phải chấp nhận sự chậm trễ 6 tháng đối với thời điểm mà lực lượng Hy Lạp sẽ đủ khả năng chống đỡ cuộc xâm lược từ phía Bulgaria và/hoặc Albania?
(4) Liệu có đáng phải chấp nhận sự chậm trễ 6 tháng đối với thời điểm mà lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ có thể được bố trí vào vị thế sẵn sàng kháng cự tối đa trước lực lượng Nga—hoặc, trong trường hợp xảy ra chiến tranh toàn cầu, nhằm kìm chân một lực lượng Liên Xô lớn nhất có thể?
IV. Các đề nghị
Tôi đặc biệt đề nghị rằng, trước khi đưa ra bất kỳ cam kết đáng kể nào khác về trang thiết bị, uy tín hay lực lượng tại Đông Dương, một cuộc đánh giá theo phương thức đã được đề nghị trong các trang trước cần phải được tiến hành. Tôi đề nghị rằng công tác này nên được thực hiện bởi một lực lượng đặc nhiệm chuyên trách dưới sự bảo trợ của Hội đồng An ninh Quốc gia; bởi lẽ tính cấp bách của vấn đề lớn đến mức nó không thể—và cũng không nên—được giải quyết thông qua các kênh thủ tục chậm chạp thông thường. Chúng ta đã chạm đến một điểm mấu chốt, tại đó Hoa Kỳ—do những hạn chế về nguồn lực—không còn khả năng theo đuổi đồng thời mọi mục tiêu của mình trên khắp các khu vực địa lý toàn cầu nữa. Do đó, chúng ta buộc phải đối diện một cách thực tế với sự thật rằng: một số mục tiêu nhất định—dẫu cho chúng có thể vô cùng giá trị và quan trọng—vẫn có thể sẽ phải bị gác lại, nếu muốn đạt được những mục tiêu khác mang giá trị và tầm quan trọng thậm chí còn to lớn hơn. Tình thế hiện nay không khác mấy so với hoàn cảnh mà Hoa Kỳ từng phải đối mặt vào những ngày đầu của cuộc chiến tranh vừa qua, khi mà một sự lựa chọn bắt buộc đã phải được đưa ra giữa việc phát động tấn công ở mặt trận phía Tây hay phía Đông—chứ không thể đồng thời ở cả hai nơi cùng một lúc.
Như một suy nghĩ nảy sinh sau cùng—và cũng là một lời cảnh báo bổ sung—tôi muốn chỉ ra rằng những đòi hỏi đặt lên Hoa Kỳ liên quan đến vùng Đông Dương đang gia tăng gần như từng ngày; và rằng, đôi khi một cách khó nhận biết, qua từng bước một, chúng ta đang dần gia tăng mức độ can dự của mình vào kết cục của cuộc đấu tranh tại đó. Hơn nữa, chúng ta đang chậm rãi (dù không quá chậm) tự đưa mình vào một vị thế mà ở đó, các trách nhiệm của chúng ta có xu hướng lấn át—thay vì hổ trợ—cho trách nhiệm của phía Pháp; một vị thế mà khi thất bại xảy ra, mọi lỗi lầm lại bị quy cho chúng ta, cứ như thể chính chúng ta mới là bên chịu trách nhiệm chính và có lợi ích cốt lõi tại đó. Chúng ta có thể đang trên đà trở thành một "vật tế thần"; và chắc chắn rằng chúng ta đang tiến đến một điểm nguy hiểm, nơi sự can dự của chúng ta trở nên quá sâu rộng [Trang 930] đến mức chúng ta có thể sẽ thấy mình hoàn toàn bị ràng buộc, thậm chí phải tiến hành cả sự can thiệp trực tiếp. Đáng tiếc thay, những tình thế như vậy thường có xu hướng phát triển và phình to ra như một quả cầu tuyết lăn dốc.
John H. Ohly
1. Paul H. Nitze, Giám đốc Ban Hoạch định Chính sách.↩
2. Văn bản gốc có độ dài 42 trang.↩
3. Mục A có tiêu đề: “Liệu chúng ta có cơ hội hợp lý để đạt được mục tiêu thiết lập sự kiểm soát vững chắc phi Cộng sản tại Đông Dương nhằm chống lại các mối đe dọa nội bộ hay không?”↩
4. Mục B có tiêu đề: “Liệu chúng ta có cơ hội hợp lý để đạt được mục tiêu thiết lập sự kiểm soát vững chắc phi Cộng sản tại Tầu cộng [sic] nhằm chống lại các mối đe dọa bên ngoài hay không?”↩
List of abbreviations and symbols
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp1
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp5
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/ch6
1. Document 588
Foreign Relations of the United States, 1950, East Asia and the Pacific, Volume VI
751G.00/11–2050
The Deputy Director of the Mutual Defense Assistance Program (Ohly) to the Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs (Rusk)
top secret
personal
Washington, November 20, 1950.
Dear Dean: Attached for your personal review and consideration is a memorandum to the Secretary which raises what I believe are [Page 925] some of the key questions with respect to Indochina. While it is long, I would appreciate your reading it and studying it carefully—and then, passing it on as soon as possible to the Secretary for his personal attention, with, if you feel it is appropriate, any comments of your own. I am personally holding all other copies for the time being, since the document is not one which should be floating around, although I believe it would be of interest to both Perkins and Nitze.1
As I state in the memorandum, I do not know the answers to a large number of the questions raised, nor do I believe that any single person does. If I had to make a judgment, I would say that our present policy was wrong, but I would not feel sure of that judgment.
John H. Ohly
[Enclosure]
Memorandum by the Deputy Director of the Mutual Defense Assistance Program (Ohly) to the Secretary of State 2
[Extracts]
top secret
Washington, November 20, 1950.
Subject: Reappraisal of U.S. Policy with respect to Indochina
I. This memorandum is designed to stress the urgent necessity for an immediate, thorough and realistic re-examination of our policy with respect to Indochina, From the standpoint of the Mutual Defense Assistance Program, such a re-examination is imperative, because the continuance of the present policy of substantial aid may, without achieving its intended purpose, make impossible the fulfillment of mutual defense objectives elsewhere in the world. Such a re-examination may well lead to a reaffirmation of this policy without significant change, but in my opinion, and in the light of the considerations set forth below, it would be the height of folly to pursue such policy further in the absence of a far more searching analysis than has heretofore been made of its possibilities of success and its global consequences. Even if the need for such an approach was not urgent before (and I believe it was), it has certainly been made so by the direct Chinese Communist intervention in Korea which (1) places large additional operating demands upon the limited materiel resources available for both U.S. requirements and all foreign military assistance programs and (2) indicates that the Kremlin may be prepared to accept the risks inherent in the actual commitment of Chinese troops to assist Ho Chi Minh, a step which would, as subsequently indicated, completely transform the character of the military problem in Indochina.
. . . . . . . . . . . . . .
(3) Assuming that enough equipment and effective manpower can be provided, will there be the will, the morale and the kind of leadership necessary effectively to handle the military situation? The military observers who have been to Indochina, including General Erskine and the members of his group, have uniformly commented on the lack of offensive spirit among the French forces, the faultiness of French tactics, the poor use made of certain weapons (particularly artillery), and the poor generalship. These observers have similarly stated that unless some or all of these weaknesses can be removed, the chances of success in Indochina are not particularly good. While the morale of the French Union forces has held up surprisingly well in the face of 5 years of little tangible progress in defeating the Viet Minh and in the face of severe setbacks in Tonkin, the question is naturally presented as to how long this can continue to be the case, particularly if more of the Red River Delta area goes. There is the further question of the ability of the French and Bao Dai, within the political frameworks now existing or likely to be developed in the near future, to obtain the kind of morale and will to fight which is needed to make the nascent national armies effective combat units in warfare against the Viet Minh. What little evidence is available on this particular score is somewhat encouraging.
(4) Will it be possible to prevent a political deterioration that will nullify accomplishments in the military field? The answer to this question depends on a series of factors which can better be developed by other offices of the State Department. It would appear, however, that at least three important subsidiary points must be considered:
(a)
the rapidity and extensiveness of further Viet Minh successes and their impact on native attitudes and on key individuals whose loyalties may be wavering;
(b)
the capacity of Bao Dai and those around him to assert and exercise effective leadership, utilizing the authority and power in those fields where they already possess them; and
(c)
the willingness of the French, both in letter and in spirit, to make those concessions which appear to be necessary if the new native governments are to receive the popular support upon which their continuance depends.
As indicated earlier, this paper does not attempt to provide answers to the foregoing crucial questions, but I would like to call attention to the grave doubts which have repeatedly been expressed in the intelligence evaluations of all of the principal intelligence agencies of the government.…
. . . . . . . . . . . . . .
C. What will he the costs and consequences elsewhere of attempting to attain the objective of firm non-Communist control of Indochina?
We will consider this question solely in relation to the internal security objective, since there appears to be little that can be done, short of outright U.S. intervention, to repel a Chinese Communist invasion if attempted. This does not mean, of course, that we must not weigh [Page 927] these costs and these consequences with a view to the possibility that such an invasion may occur and create a situation in which the costs which have theretofore been incurred, and the consequences suffered, have been incurred and suffered, to no avail. These costs fall principally into two categories:
(1)
military equipment, largely from U.S. sources, and
(2)
manpower otherwise available for French forces in Western Europe.
As to the former, we have already indicated our belief that immediate foreseeable requirements will be in the neighborhood of $500,000,000 and that these requirements will substantially increase. The Joint Chiefs of Staff have indicated that these requirements cannot be met without a substantial impact on the military assistance program for Western Europe. This will be true to an even greater extent in the case of military assistance programs for Greece, Turkey and Iran, which have a lower priority than the programs of North Atlantic Treaty countries. Moreover, as and to the extent that Korean operations consume increasing quantities of available American equipment, the effect in Europe and elsewhere of doing what is needed in Indochina will materially increase. In other words, the development of effective forces in Western Europe which must, for the time being, rely almost exclusively on American equipment, will be substantially delayed; the effort to place Greek forces in a position to resist Bulgarian and/or Albanian invasion may have to be postponed indefinitely; and it will not be possible to carry through measures which are urgently required to make the Turkish army a really effective combat force. While it is true that a time will come, perhaps 12 or 18 months hence, when the mobilization of American industry, as a result of orders now being placed, will eliminate a situation of equipment scarcity and make it possible to catch up, we must accept as a fact, that the mounting of the Indochina program will seriously affect other MDAP programs in the interim.
It is impossible to assess the impact of materially reduced MDAP delivery schedules on the augmentation of forces in the North Atlantic Treaty area and on the North Atlantic Treaty itself. It is clear, however, that apart from any effect on the actual development of combat-ready divisions, there will be an effect, deriving from the lack of training equipment, on the speed of forming units and raising forces. This same problem is affected by the other important cost of pursuing the present policy in Indochina, namely the cost in French manpower. We are counting on the ability of the French to provide 10 divisions by the end of 1951 and some 27 divisions by the beginning of 1954. Apart from equipment, the great bottleneck in meeting these commitments will be the provision of enough qualified and fully trained [Page 928] commissioned and non-commissioned officers to form the cadres for, and to train, these large forces. Every officer and non-commissioned officer diverted to Indochina materially reduces the prospect that the French can even approximate the present objective, since the period of training for technicians, non-com’s, and commissioned officers is measured in years and not in months and, unfortunately, one of the crucial requirements in Indochina is for this same general category of personnel. In addition, of course, the diversion of enlisted personnel to another theater reduces the amount of manpower available for the rank and file for the kind of French army needed in Western Europe just as quickly as it can be formed. In this connection, it should be noted that French casualties in Indochina since 1945, without taking into account the recent debacles, have exceeded 50,000, and that French officers are being lost in this campaign at a faster rate than they are being graduated from officer schools in France.
The present tight equipment situation, and therefore the impact which meeting Indochinese requirements may have, can perhaps best be understood by reference to the Joint Chiefs of Staff estimates concerning the time when equipment might be made available for German units. Short of tapping the Austrian stockpile, the Joint Chiefs of Staff estimate that it will be impossible to provide full TO and E equipment for the first 4 German infantry divisions until at least September 1952, or almost two years hence, and that even training equipment for an additional 11 divisions could not be provided until June of 1952. Moreover, short of full industrial mobilization, and a sufficiently high priority for the allocation of equipment to German units, it will be impossible to equip them with heavy equipment, such as tanks and heavy artillery, until the early part of 1954.
The impacts on other programs may well be such that the Indochina program will have to drop far below a No. I priority, and if this proves to be the case, then of course it affects the answer to A above.3
D. Does our present policy in Indochina make sense when considered in the light of its possibility of success and in terms of its consequences to the accomplishment of U.S. objectives in other areas of strategic importance?
The answer to this question will largely depend upon the answers to A, B,4 and C above, plus an appraisal of the relative importance of achieving our objective in Indochina and our objectives elsewhere in the world. Without carefully thought out answers to A, B, and C above, and without making a thorough assessment of the strategic importance of Indochina vis-à-vis the strategic importance of areas [Page 929] whose security will be adversely affected by our present policy in Indochina, the issue posed in this paragraph cannot be intelligently discussed. However, it is believed that the problem involved can be illustrated by the following purely hypothetical questions, each to be considered in relation to two alternative assumptions—first, that our policy in Indochina has a reasonable prospect of success, and second, that the prospects of its success are not very good:
(1)
Is it worth a delay of 6 months in the date when North Atlantic Treaty forces will be adequate to resist Soviet aggression, or, put another way, to meet the force and equipment requirements of the Medium Term Plan?
(2)
Is it worth a delay of 6 months in the formation, training, and equipping of German units?
(3)
Is it worth a delay of 6 months in the time when Greek forces would be capable of withstanding Bulgarian and/or Albanian invasion?
(4)
Is it worth a delay of 6 months in the time when Turkish forces can be placed in a position to offer maximum resistance to Russian forces or, alternatively, in the event of a global war, to tie down the maximum amount of Soviet forces?
IV. Recommendations
I strongly recommend that before any further substantial commitments of equipment, prestige or forces are made in Indochina, the kind of assessment suggested in the preceding pages be undertaken. I suggest that this be done by a special task force under the auspices of the National Security Council, because it is so urgent that it cannot and should not be pursued through slower channels. We have reached a point where the United States, because of limitations in resources, can no longer simultaneously pursue all of its objectives in all parts of the world and must realistically face the fact that certain objectives, even though they may be extremely valuable and important ones, may have to be abandoned if others of even greater value and importance are to be attained. The situation is not unlike that which faced the United States in the early days of the last war, when a choice had to be made between pursuing the offensive in either the West or the East and not in both places at once.
As an afterthought, and by way of additional caveat, I would like to point out that the demands on the U.S. for Indochina are increasing almost daily and that, sometimes imperceptibly, by one step after another, we are gradually increasing our stake in the outcome of the struggle there, We are, moreover, slowly (and not too slowly) getting ourselves into a position where our responsibilities tend to supplant rather than complement those of the French, and where failures are attributed to us as though we were the primary party at fault and in interest. We may be on the road to being a scapegoat, and we are certainly dangerously close to the point of being so deeply committed [Page 930] that we may find ourselves completely committed even to direct intervention. These situations, unfortunately, have a way of snowballing.
John H. Ohly
1. Paul H. Nitze, Director of the Policy Planning Staff.↩
2. The source text is 42 pages in length.↩
3. Section A is titled “Do we have a reasonable chance of attaining the objective of firm non-Communist control of Indochina against internal threats?”↩
4. Section B is titled “Do we have a reasonable chance of attaining the objective of firm non-Communist control of China [sic] against external threats?”↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d588
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_925
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_926
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_927
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_928
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_929
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_930
Thân thế (các) nhân vật
Harry S. Truman
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_presidents_of_the_United_States
https://www.whitehousehistory.org/the-presidents-timeline
https://en.wikipedia.org/wiki/Harry_S._Truman
https://millercenter.org/president/truman/life-in-brief
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://www.trumanlittlewhitehouse.org/key-west/president-truman-biography
https://www.trumanlibrary.gov/education/trivia/biographical-sketch-harry-truman
https://www.history.com/articles/harry-truman
No comments:
Post a Comment