Monday, June 22, 2026

20260623 CDTL DDE D163 9 January 1953 Công văn Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Việt-Nam bỏ lỡ thời cơ.

20260623 CDTL DDE D163 9 January 1953 Công văn Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Việt-Nam bỏ lỡ thời cơ.


***

MSA, Mutual Security Act (of 1951); Mutual Security Agency; Mutual Security Assistance

Đạo luật An ninh Hỗ tương (năm 1951); Cơ quan An ninh Hỗ tương; Viện trợ An ninh Hỗ tương

STEM, United States Special Technical and Economic Mission

Phái bộ Kỹ thuật và Kinh tế Đặc biệt của Hoa Kỳ

***

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d163

Google Translated

Tài liệu số 163

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

751G.5 MSP/1–953: Công văn Đại sứ Heath tại Sài Gòn  gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Số 256

Sài Gòn, ngày 9 tháng 1 năm 1953.

Chủ đề:

Tình hình triển khai và trạng thái của các chương trình thuộc Đạo luật An ninh Hỗ tương năm 1951 tính đến quý kết thúc ngày 31 tháng 12 năm 1952.

(a) Việc tuân thủ các cam kết.

Các Quốc gia Liên kếtPháp đã tuân thủ các cam kết được đưa ra trong quá trình đàm phán về viện trợ theo Đạo luật An ninh Hỗ tương (MSP).

(b) Diễn biến chính trị.

Tại Việt Nam, vấn đề chính trị cốt lõi vẫn là xây dựng được một chế độ năng động; chế độ này, thông qua niềm tin, sự quyết tâm và tinh thần nêu gương, sẽ huy động và đoàn kết toàn dân để chống lại những tham vọng chủ nghĩa dân tộc định hướng của Việt Minh. Bảo Đại có thể đóng góp vai trò quan trọng nhất nếu ông có ý chí sử dụng trí tuệ xuất sắc vốn có của mình để thực sự lãnh đạo và làm gương. Mặc dù Bảo Đại thường xuyên bày tỏ thiện chí đảm nhận vai trò lãnh đạo như vậy, và dù Đại sứ quán Mỹ cùng chính quyền Pháp đã nhiều lần thúc giục ông thực hiện trách nhiệm của người đứng đầu một quốc gia đang có chiến tranh, nhưng khó có khả năng ông sẽ thực sự hành động mạnh mẽ như đòi hỏi của tình hình thực tế.

Tuy nhiên, cho đến nay, ông đã giành được từ phía Pháp những nhượng bộ đủ để đất nước có thể tuyên bố vị thế độc lập. Ông đã đóng vai trò trung gian hòa giải giữa các phe phái đối lập, giải tán những chính phủ đã không còn hiệu quảbổ nhiệm các chính phủ mới – những chính phủ được đánh giá là tiến bộ hơn so với các chính phủ tiền nhiệm. Chẳng hạn, chính quyền do ông thành lập vào tháng 6 năm ngoái (1952!) dưới sự lãnh đạo của ông Tâm đã cho thấy sự cải thiện so với chính quyền của ông Hữu. Song, giờ đây cần phải có những bước tiến xa hơn nữa. Uy tín của Bảo Đại đang dần sa sút khi lối sống buông thả cùng việc ông tích lũy tài sản ở nước ngoài dần bị công chúng biết đến.

Vào tháng 8, chính phủ Tâm đã công bố bản ngân sách quốc gia năm 1952 vốn được chờ đợi từ lâu; đây là bản ngân sách đầu tiên được công bố kể từ khi phía Việt Nam tiếp quản toàn bộ quyền kiểm soát tài chính vào tháng 1 năm 1951. Trước đó, vào tháng 7, chính phủ đã áp dụng một khoản phụ thu quốc phòng. Đến tháng 12, các sắc lệnh về việc tổ chức bầu cử cấp xã và đô thị đã được ban hành, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc thực hiện cam kết của ông Tâm về việc thành lập Quốc hội.

Tại Campuchia, Nhà vua – người đã tiếp quản vai trò lãnh đạo chính phủ vào tháng 7 năm ngoái – tiếp tục thể hiện sự cố gắng, góp phần quan trọng vào việc xoay chuyển tình hình chính trị đang sa sút. Tuy nhiên, vẫn còn phải chờ xem liệu ông có thể duy trì được nhịp độ làm việc này hay không.

May mắn thay, Lào hầu như không gặp phải các vấn đề về chính trị.

(c) Các diễn biến kinh tế chính.

Dựa trên việc dự báo các số liệu của sáu tháng đầu năm, có thể ước tính rằng thâm hụt thương mại năm 1952 của liên minh thuế quan Đông Dương sẽ đạt khoảng 6 tỷ đồng bạc (piastre), gần gấp đôi mức thâm hụt ghi nhận vào năm 1951. Cũng như các năm trước, khoản thâm hụt thương mại này hầu như hoàn toàn phát sinh trong quan hệ với khu vực đồng franc và được kỳ vọng sẽ bù trừ cho các khoản chi tiêu quân sự bằng đồng franc của Pháp tại các Quốc gia Liên kết. Trong năm 1952, các khoản chi tiêu này đủ lớn để mang lại thặng dư cán cân thanh toán cho các Quốc gia Liên kết—tương tự như tình hình năm 1950 và 1951; tuy nhiên, do sự gia tăng đáng kể của thâm hụt thương mại, những tác động gây lạm phát vốn có từ chi tiêu quân sự của Pháp về cơ bản đã bị triệt tiêu trong bối cảnh hiện tại. Ngoài ra, xét đến các yếu tố khác, tình trạng cán cân đối ngoại của Đông Dương khó có khả năng gây ra tác động đáng kể nào đối với mức viện trợ của Hoa Kỳ. [Trang 342]

Với hệ thống tài khóa hiện tại vốn được thiết kế thiếu hợp lý và quản lý kém hiệu quả, chúng ta không thể kỳ vọng một cách thực tế vào bất kỳ sự cải thiện đáng kể nào đối với tình hình kinh tế của các Quốc gia Liên kết. Tình trạng bất ổn tài chính – vốn phần lớn bắt nguồn từ và phản ánh cấu trúc chính trị bấp bênh của các chính quyền quốc gia (hệ quả của cuộc nội chiến) – có lẽ sẽ tiếp tục là một yếu tố cần được đặc biệt lưu tâm và là nguyên nhân khiến việc bù đắp thâm hụt ngân sách bằng các khoản vay trở thành điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu tiếp tục duy trì các nguyên tắc ngân hàng trung ương đúng đắn – điều mà Viện Phát hành tiền tệ mới thành lập đã chứng minh được năng lực thực hiện trong năm hoạt động đầu tiên – thì việc vay mượn của chính phủ có thể được kiểm soát trong giới hạn hợp lý và được xử lý khéo léo để ngăn chặn nguy cơ nảy sinh áp lực lạm phát mất kiểm soát. Tóm lại, có thể nhận định rằng triển vọng kinh tế và tài chính – nếu không có biến động nào trên mặt trận chính trị hay chiến sựkhông cho thấy sự cần thiết phải tăng hay giảm mức viện trợ của Hoa Kỳ trong tương lai gần.

(d) Các diễn biến quốc tế.

Nghị quyết ngày 17 tháng 12 năm 1952, trong đó các nước NATO công nhận rằng chiến dịch do Lực lượng Liên hiệp Pháp tiến hành tại Đông Dương “xứng đáng được tiếp tục ủng hộ”, đã làm nổi bật tầm quan trọng của cuộc chiến tranh Đông Dương như một đóng góp vào an ninh của thế giới tự do. Nghị quyết này cũng cho thấy rõ những trở ngại mà các cam kết với NATO gây ra cho nỗ lực của Pháp tại đây, vào thời điểm mà chiến trường đang cần thêm quân số, đặc biệt là các chuyên viên kỹ thuật cũng như sĩ quan và hạ sĩ quan có trình độ chuyên môn để trực tiếp tham gia chiến đấu.

(e) Tác động của viện trợ MSP đối với sự ổn định và an ninh nội bộ.

Rõ ràng là nhờ có viện trợ vũ khí của Hoa Kỳ, lực lượng Pháp-Việt hiện đã chiếm ưu thế so với Việt Minh. Hai năm trước, trước khi các chương trình viện trợ bắt đầu tiến hành, vị thế của lực lượng Pháp-Việt thực sự rất bấp bênh. Mặc dù tình hình ổn định chính trị và an ninh nội bộ hiện tại chưa thực sự khả quan, nhưng tình hình ở cả miền Bắc và miền Nam đã được cải thiện kể từ khi các chương trình viện trợ bắt đầu, và không có sự mất mát lãnh thổ nào xảy ra ở miền Trung.

Ngoài ra, cũng đã có sự phát triển rõ rệt về cơ cấu chính quyền – điều gần như chưa hề tồn tại vào hai năm trước.

(f) Tiến độ chung trong việc thành lập các lực lượng theo kế hoạch.

Quân đội: Việc thành lập các đơn vị thuộc quân đội của các Quốc gia Liên kết đang được tiến hành đúng kế hoạch nhưng không theo hướng dự kiến ​​ban đầu. Một số lượng lớn các đơn vị được thành lập trong Quân đội Quốc gia Việt Nam thực chất là những đơn vị vốn đã thuộc Quân đội Pháp và chỉ chuyển sang biên chế Quân đội Quốc gia Việt Nam thông qua việc thay đổi danh xưng. Quy trình này không làm tăng tổng quân số tại Đông Dương. Phía MAAG, Pháp và Việt Nam đều nhận thấy thực trạng không gia tăng được lực lượng chiến đấu này. Các biện pháp khắc phục tình trạng trên đã được phía Pháp tiến hành thông qua [Trang 343] công tác lập kế hoạch và việc thành lập thêm các tiểu đoàn bộ binh nhẹ trước khi kết thúc mùa mưa năm 1953.

Không quân: Không quân Pháp hiện đang hoạt động với quân số và trang bị đúng mức quy định, và chưa có kế hoạch bổ sung thêm các đơn vị không quân mới.

Hải quân: Lực lượng Hải quân Pháp hiện đang hoạt động với quân số và số lượng tàu thuyền đúng mức quy định. Một số tàu thuyền do Pháp đưa sang Đông Dương trước đây hiện đã xuống cấp đến mức không còn khả thi để tiếp tục sử dụng. Các đơn vị này đang được thay thế bằng tàu thuyền do chương trình MDAP cung cấp mà không làm thay đổi cơ cấu lực lượng hiện có. Việc bàn giao trong năm 1953 sẽ nhằm thay thế các trang thiết bị lạc hậu và bù đắp những tổn thất dự kiến. Không có kế hoạch tăng quân số cho Hải quân Pháp. Tuy nhiên, kế hoạch xây dựng Hải quân Việt Nam đang được khai triển, với công tác huấn luyện binh sĩ và một số hạ sĩ quan đang được thực hiện tại Nha Trang. Dự kiến ​​sẽ có khoảng 1.600 sĩ quan và thủy thủ Việt Nam đảm nhiệm vận hành các tàu cỡ nhỏ.

(g) Việc bàn giao các sản phẩm hoàn chỉnh do Hoa Kỳ cung cấp. Công tác tiếp nhận trang thiết bị của MDA đang được thực hiện theo kế hoạch. Không có tình trạng thiếu hụt nào gây ảnh hưởng đến hoạt động tác chiến hay lịch trình kích hoạt các đơn vị.

(h) Khả năng sử dụng viện trợ quân sự của quốc gia sở tại.

Lục quân: Khả năng sử dụng các chương trình MDAP và MSP của quốc gia này dựa trên giả định rằng cuộc chiến tại Đông Dương sẽ tiếp tục là một cuộc chiến tranh cục bộ và sẽ không có sự can thiệp từ phía Tầu cộng. Phía Pháp – lực lượng chịu trách nhiệm hậu cần cho cả quân đội Pháp lẫn quân đội các Quốc gia Liên kết – hiện có đủ cơ sở vật chất cung ứng cho cuộc chiến với quy mô và tính chất như đang diễn ra. Dự kiến ​​trong ba tháng đầu năm 1953, một lượng dự trữ nhỏ sẽ được tích lũy; tuy nhiên, mức dự trữ này vẫn sẽ thấp hơn so với hạn mức được phê duyệt dành cho Đông Dương.

Không quân: Lực lượng Không quân Pháp đang thiếu hụt nhân sự, gây ảnh hưởng đến khả năng thực hiện hiệu quả công tác bảo dưỡng, đại tu cũng như việc vận hành máy bay theo nhu cầu mong muốn. Hệ thống sân bay đáp ứng được yêu cầu, nhưng kho tiếp liệu và bảo dưỡng chính lại có vị trí không thuận lợi và thiếu nhân lực cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ ở mức đạt yêu cầu.

Hải quân: Người ta tin rằng các trang thiết bị thuộc chương trình MDAP đang được tận dụng tối đa tại Đông Dương. Tuy nhiên, việc giới hạn quân số của lực lượng Hải quân Pháp cùng tình trạng xuống cấp do điều kiện thời tiết đã gây khó khăn cho công tác bảo dưỡng định kỳ theo tiêu chuẩn của Hải quân Hoa Kỳ. Hiện tại, cơ sở vật chất phục vụ việc tiếp nhận và lưu trữ trang thiết bị MDAP đã đáp ứng được yêu cầu, và các nỗ lực trong lĩnh vực này vẫn đang được cải thiện đều đặn.

(i) Lập kế hoạch sản xuất quốc phòng.

Quân đội: Chưa có bước tiến triển nào trong công tác sản xuất quốc phòng phục vụ chiến trường Đông Dương. Một số kế hoạch đã được đề nghị nhằm sản xuất các mặt hàng hỗ trợ nỗ lực chiến tranh. Tuy nhiên, cho đến nay, cả phía Pháp và phía Việt Nam đều chưa có hành động nào nhằm khai triển các đề nghị này.

Không quân: Việc chuyển đổi sang sử dụng một loại máy bay oanh tạc-ném bom duy nhất (F8F Bearcat) cùng với việc phía Pháp tuyên bố không có khả năng hỗ trợ các loại máy bay chiến đấu phản lực [Trang 344] là những diễn biến quan trọng trong chương trình phòng thủ đường không. Chuyến thăm của Bộ trưởng Không quân Pháp, ông Montel, có thể sẽ mang đến thêm nhân sự nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt nhân lực nghiêm trọng của Không quân Pháp – lực lượng hiện chỉ có quân số khoảng 10.000 người.

Hải quân: Việc cải hoán các tàu đổ bộ do chương trình MDAP cung cấp đang được thực hiện tại Xưởng Hải quân Sài Gòn và Căn cứ Đổ bộ. Tuy nhiên, hoàn toàn không có hoạt động sản xuất khí tài quân sự phục vụ cuộc chiến chống Việt Minh. Hiện chưa có thông tin về các kế hoạch phát triển trong tương lai.

(j) Quy hoạch Phát triển Kinh tế.

Một trong những bước tiến đáng khích lệ nhất trong lĩnh vực các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế đã được Lào thực hiện. Vào tháng 11, quốc gia vốn đã đi trước hai Quốc gia Liên kết còn lại trong công tác quy hoạch kinh tế này đã tiến thêm một bước nữa khi ban hành Sắc lệnh Hoàng gia thành lập Tổng cục Quy hoạchQuỹ Đầu tư Quốc gia để cấp vốn cho các kế hoạch. Các khoản vốn viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ, mặc dù được hạch toán riêng biệt, sẽ được hợp nhất thành một phần của quỹ này. Như vậy, với một kế hoạch 5 năm sơ bộ đã được xây dựng từ trước, Lào sẽ trở thành Quốc gia Liên kết đầu tiên kết hợp nguồn vốn MSA với các nguồn lực khácsử dụng tổng hợp các nguồn lực này để đạt được những mục tiêu đã được trình bày và phối hợp một cách bài bản.

Campuchia đã soạn thảo các kế hoạch 5 năm theo từng lĩnh vực bộ ngành, nhưng mới chỉ ở mức sơ bộ và thiếu sự phối hợp. Gần đây, Giám đốc phụ trách mảng STEM đã được Giám đốc Quốc gia về Quy hoạch – người đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Viện trợ Mỹ của Campuchia – thông báo rằng một trong những lý do khiến các kế hoạch này chưa thể được phát triển và hợp nhất hoàn chỉnh cho đến nay là do Campuchia thiếu nhân sự được đào tạo để thực hiện công việc đó. Ông giải thích rằng chính phủ nước này đã đề nghị Ủy ban Hỗ trợ Kỹ thuật của Liên Hợp Quốc cử một chuyên gia "trung lập" sang hỗ trợ từ vài tháng trước, nhưng Pháp đã gây sức ép khiến Ủy ban không thực hiện yêu cầu này. Vấn đề nan giải liên quan đến việc chấp thuận chuyên gia sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở phần dưới đây.

Chính phủ Việt Nam cũng đã đạt được một số tiến bộ; cụ thể là vào mùa thu này, lần đầu tiên họ đã lên kế hoạch trước cho toàn bộ nguồn vốn MSA thay vì sử dụng dần dần cho một loạt các dự án thiếu sự phối hợp. Cả ba chính phủ đều đã được yêu cầu tự xây dựng chương trình hoạt động cho giai đoạn 1953–1954, thay vì chỉ tiếp nhận các chương trình đã được STEM soạn thảo sẵn.

(k) Tác động Kinh tế và Xã hội của Chương trình Point IV

Kể từ khi được thành lập, STEM đã nỗ lực để các chuyên gia kỹ thuật của mình được chấp nhận với tư cách là những cố vấn thực thụ cho chính phủ các Quốc gia Liên kết, nhưng cho đến nay, kết quả đạt được vẫn chưa thực sự khả quan. Theo các thỏa thuận cơ bản với Pháp, mỗi quốc gia phải ưu tiên sử dụng các chuyên gia kỹ thuật người Pháp. Lào đã sẵn lòng thực hiện điều này, và bộ máy chính phủ của họ vận hành tương đối trôi chảy. Trong khi đó, Campuchia và Việt Nam lại lo ngại rằng ảnh hưởng của Pháp sẽ được thực thi nhằm phục vụ [Trang 345] lợi ích của Pháp thông qua bất kỳ chuyên gia nào được bố trí vào các vị trí chiến lược; do đó, họ không dám mạo hiểm làm phật lòng phía Pháp bằng việc nhờ đến sự hỗ trợ của STEM.

Mới chỉ vài tuần trước, Thống đốc Trí đầy nhiệt huyết đã thông báo với Trưởng đoàn STEM rằng ông không thể tiếp nhận dù chỉ là một cán bộ cấp dưới thuộc bộ phận Cứu trợ và Phục hồi vào Cơ quan Hành động Xã hội cấp Vùng của mình vì e ngại làm phật lòng phía Pháp, mặc dù ông sẵn lòng để người này làm việc tại miền Bắc trong khuôn khổ văn phòng khu vực của STEM. Trong bối cảnh đó, STEM đã thành công trong việc khai triển chương trình riêng với quy mô hạn chế của mình, nhưng lại không thể hỗ trợ các chính quyền sở tại trong việc quản lý các chương trình của họ vốn có quy mô lớn hơn nhiều. Cố vấn Tài chính và Kinh tế của Cao ủy cũng bày tỏ những lo ngại tương tự khi trao đổi với Trưởng đoàn STEM; ông tỏ ý hoài nghi về hiệu quả của Phái bộ Kinh tế và Xã hộiPháp đề nghị, với nhận định rằng: "chừng nào chúng tôi cũng như các ông vẫn luôn phải hoạt động bên lề bộ máy chính quyền" thì khó có thể đạt được kết quả như mong đợi.

Tuy nhiên, gần đây đã ghi nhận được một số thành công trong công tác đào tạo—đặc biệt là nhờ chuyến công tác của đoàn giáo dục đến Philippines do Bộ chủ trì và MSA tài trợ. Chúng tôi hy vọng rằng đây sẽ là bước khởi đầu cho quá trình dần chuyển hướng giáo dục tiểu học: từ bỏ các phương pháp và quan điểm truyền thống để chuyển sang cách tiếp cận chú trọng phúc lợi cộng đồng và bám sát thực tiễn cơ sở.

(l) Thái độ của Chính phủ và công chúng đối với Chương trình Viện trợ của Hoa Kỳ

Các chỉ huy Pháp thuộc cả ba quân chủng (cũng như Chính quyền Dân sự Việt Nam) đều nhận thức được tầm quan trọng của các chương trình MDA và MS. Khoản viện trợ này đã giúp phía Pháp duy trì và cải thiện vị thế so với năm trước, đồng thời giúp chính quyền dân sự gia tăng thẩm quyền. Tuy nhiên, có một vấn đề đáng bàn là liệu quân đội Việt Nam hay người dân có nhận thức được quy mô hoặc tầm quan trọng của khoản viện trợ này hay không, bởi lẽ tất cả các hạng mục viện trợ đều được phân phối thông qua các kênh cung ứng thông thường của Pháp.

Các hoạt động của MSA trong lĩnh vực y tế công cộngnông nghiệp đã giúp xây dựng hình ảnh Hoa Kỳ như một quốc gia có chính sách tôn trọng cá nhânphẩm giá con người. Chương trình nhập khẩu thương mại của MSA cũng đã phần nào tháo gỡ những nút thắt cản trở sự phát triển kinh tế. Chúng tôi thậm chí còn tạo được ảnh hưởng đối với Việt Minh; theo ghi nhận từ nhiều nguồn tin, lực lượng này đã cấm phá hủy các bộ sơ cứu hay giếng nước do MSA cung cấp khi tạm thời chiếm đóng những ngôi làng được hưởng lợi từ các tiện ích này—có lẽ vì chúng rất được lòng người dân, bất kể đó là nông dân thuộc phe ta hay phe đối phương.

(m) Các quy định tại Mục 511

Báo cáo đầy đủ của STEM theo Mục 511, cùng với các dữ liệu chi tiết do từng Quốc gia Liên kết (Associated States) xây dựng, đã được trình lên Washington

[Trang 346] dưới mã hiệu Tomus A 236. Báo cáo này chỉ ra nhiều điểm yếu dễ bị chỉ trích gay gắt liên quan đến mức độ các Quốc gia Liên kết đáp ứng các tiêu chí của Mục 511. Những điểm cốt yếu bao gồm: thiếu quyết liệt trong việc thúc đẩy cải cách ruộng đất tại Việt Nam; không huy động được nguồn vốn trong nước trên quy mô lớn cũng như không ngăn chặn được tình trạng dòng vốn này chảy ra ngoài dưới dạng lợi nhuận; và thiếu vắng các cải cách quy mô lớn đối với hệ thống pháp luật và công tác quản lý thuế.

Tóm lại, có thể nói rằng các quốc gia này đã thực hiện một số bước – nhưng chưa phải là tất cả các bước cần thiết – để huy động nền công nghiệp phục vụ mục tiêu phòng thủ chung, cũng như định hướng các nguồn lực tài chính, ngân sách, chính trị và quân sự nhằm đáp ứng các mục tiêu của Đạo luật An ninh Chung năm 1952.

Đặc biệt là tại các thành phố lớn, việc duy trì nhịp sống và hoạt động kinh doanh bình thường vẫn là ưu tiên hàng đầu, thay vì thực hiện tổng động viên cho chiến tranh. Tình trạng này đã được Đại sứ quán và, ở một mức độ nhất định, cả Phái bộ này thường xuyên báo cáo. Vấn đề cũng đã được trực tiếp trình bày với các quan chức thuộc MSA, đặc biệt là ông C. Tyler Wood trong chuyến thăm Sài Gòn gần đây của ông. Thực vậy, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế, Phái bộ hy vọng rằng Chính phủ Hoa Kỳ có thể, ở cấp cao nhất trong những tháng tới, thuyết phục được:

1. Người Pháp – những người trước đây từng e ngại sự cạnh tranh trong quá trình công nghiệp hóa của các Quốc gia Liên kết – nay lại tích cực ủng hộ nỗ lực chiến tranh toàn diện, bao gồm cả việc khai triển chương trình sản xuất quân sự và bán quân sự ở mức độ cao nhất có thể. Trước đây, việc tiếp nhận miễn phí các khí tài quân sự hoàn chỉnh thường dễ dàng hơn so với việc tự sản xuất một số loại trang bị đó bằng nguồn nguyên liệu và nhân lực tại chỗ.

2. Cả phía Pháp và các Quốc gia Liên kết đều chấp nhận các chuyên gia Hoa Kỳ trong lĩnh vực hành chính công, hoặc chấp nhận cả các chuyên gia Pháp theo chương trình viện trợ kinh tế mới của Pháp mà chúng tôi được biết là Quốc hội Pháp vừa mới thông qua.

Mặt khác, không còn gì phải nghi ngờ việc binh sĩ của các Quốc gia Liên kết đang tích cực chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản. Người dân Việt Nam, CampuchiaLào đang hy sinh mỗi ngày để bảo vệ các Quốc gia Liên kết – và qua đó là cả khu vực Đông Nam Ákhỏi sự thống trị của cộng sản. Cũng không thể phủ nhận rằng, trong phạm vi năng lực hiện có, các quốc gia này đang tích cực hỗ trợ quân đội Pháp cả về nhân lực lẫn vật lực. Việt Nam, ở mức độ thấp hơn là Campuchia, đang đóng góp một phần rất đáng kể nguồn thu ngân sách của mình cho cuộc chiến.

Cuối cùng, cũng không còn nghi ngờ gì nữa về việc các Quốc gia Liên kết đang tích cực hợp tác với Pháp theo các điều khoản của Hiệp định Cơ bản, cũng như hợp tác với nhau theo các Hiệp định Pau. Nhờ sự hợp tác này – được thể hiện qua các cơ chế như Viện Phát hành tiền tệ (gồm bốn bên), Hội nghị các Giám đốc Ngoại thương (gồm ba bên) và các Ủy ban nghiên cứu về Ngoại thương và Quan thuế (gồm bốn bên) [Trang 347] ba Quốc gia Liên kết đang vận hành như một liên minh tiền tệ và quan thuế hoàn chỉnh.

Lưu ý: MAAG đã thông báo cho Đại sứ quán biết rằng Đô đốc Radford, Tổng tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, bày tỏ mong muốn nhận được bốn bản sao báo cáo MDAP hàng tháng của Đại sứ quán (vốn đã được thay thế bằng báo cáo hàng quý mới này). Đề nghị Bộ xem xét liệu có nên cung cấp các bản sao của báo cáo hàng quý mới này cho Đô đốc Radford hay không và chỉ đạo Đại sứ quán thực hiện theo đó. Nếu Bộ quyết định gửi báo cáo này cho Đô đốc Radford, đề nghị gửi trực tiếp 4 bản sao của công văn này tới địa chỉ: “Commander in Chief, U.S. Pacific Fleet, c/o Fleet Post Office, San Francisco, Calif.”

Donald R. Heath.

1.    Bản công văn này đề cập đến công điện thông tư số 2139 ngày 24 tháng 11 năm 1952, trong đó nêu các hướng dẫn báo cáo do Giám đốc Chương trình An ninh Hỗ tương (Director for Mutual Security) ban hành. Trưởng phái bộ tại mỗi quốc gia đang triển khai các chương trình An ninh Hỗ tương được yêu cầu nộp báo cáo hàng quý về tình hình hoạt động và trạng thái của các chương trình đó. (700.5 MSP/11–2452) Để biết tài liệu về Chương trình An ninh Hỗ tương nói chung, xem Tập I.

2.    Để xem nội dung nghị quyết, xem chú thích số 5, tr. 321.

3.    Theo Mục 511 của Đạo luật An ninh Tương hỗ năm 1951 (Luật Công số 165, Quốc hội khóa 82; 65 Stat. 373), được sửa đổi bởi Đạo luật An ninh Hỗ tương năm 1952 (Luật Công số 400, Quốc hội khóa 82; 66 Stat. 141), các quốc gia nhận viện trợ bắt buộc phải thực hiện một số hành động nhất định nhằm thúc đẩy tinh thần tự lực và hợp tác lẫn nhau.

4.    Không được in lại.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1953: Declining French military fortunes; the Viet Minh invasion of Laos; accelerated United States aid for Indochina (Documents 162–490)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp2

1.    Document 163

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

751G.5 MSP/1–953: Despatch

The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State1

secret
No. 256

Saigon, January 9, 1953.

Subject:

  • Operation and Status of Programs Under Mutual Security Act of 1951 as of Quarter Ending December 31, 1952.

(a)

Adherence to Commitments. The Associated States and France have adhered to commitments made in the course of MSP Aid negotiations.

(b)

Political Developments. In Vietnam the political problem remains achievement of a dynamic regime which by conviction, determination, and example will mobilize and unify the country against Viet Minh nationalist pretensions. The greatest single contribution could be made by Bao Dai if he had the will to use his undoubted intelligence to provide real leadership and example. Although Bao Dai has frequently spoken of his willingness to provide such leadership and although the American Embassy and the French authorities have exhorted him to fulfill his role as chief of a state at war it is not likely that he will ever be moved to the real activity that the situation requires. So far, however, he has obtained from the French enough concessions for the country to claim an independent status. He has mediated between conflicting groups and has dismissed Governments which outlived their usefulness and appointed new Governments which have amounted to improvement over their predecessors. Thus the Tam regime which he named last June was an improvement over the Huu administration. But now something more is required. Bao Dai’s prestige is declining as his indulgences and the fact that he is accumulating a fortune abroad become known.

The Tam government in August published a long awaited National Budget for 1952, the first budget to be published since the Vietnamese assumed full financial control in January 1951. In July it instituted a national defense surtax. In December, decrees were issued for village and municipal elections, an important step toward the fulfillment of the Tam commitment to create a National Assembly.

In Cambodia, the King, who took the leadership of the government last July, continued to display the energy which has done much to redress a deteriorating political situation. It remains to be seen whether he can sustain the pace he has set.

Laos, fortunately, was largely free of political problems.

(c)

Major Economic Developments. By projecting figures for the first six months of the year, it may be estimated that the 1952 trade deficit of the Indochinese customs union will reach approximately 6 billion piastres, almost doubling the adverse balance registered in 1951. As in previous years, the trade deficit is practically wholly vis-à-vis the franc zone and should counter-balance France’s franc military expenditures in the Associated States. These expenditures were large enough during 1952 to give the Associated States a favorable balance of payments—as was the case in 1950 and 1951, but due to the considerable increase in the trade deficit, the inflationary implications inherent in France’s military expenditures are essentially eliminated under present conditions, and apart from other considerations it is unlikely that the Indochinese external accounts position should have any significant repercussions on the level of U.S. aid.

[Page 342]

Given the present ill-conceived and poorly managed fiscal system, we cannot reasonably expect any major improvement in the economic situation of the Associated States. Financial instability, in large part attributable to, and a reflection of, the precarious political structure of the national governments, in turn a consequence of civil war, will probably continue to be an element which must be given due consideration, and which will make deficit financing unavoidable. On the other hand, with the continuation of the sound central banking practices of which the newly established Institute of Issue has shown itself capable during its first year of operation, government borrowing should be kept within reasonable bounds and handled in such a way as to prevent uncontrollable inflationary pressures from arising. In summation it may be fairly stated that the economic and financial outlook, barring changes on the political and war fronts, is not such as to portend a necessity for either an increase or decrease in U.S. aid in the immediate future.

(d)

International Developments. The resolution of December 17, 1952 by which the NATO countries recognized that the campaign being waged by the French Union Forces in Indochina “deserves continuing support,”2 served to highlight the importance of the Indochina war as a contribution to the security of the free world. It should also serve to dramatize the obstacles which NATO commitments place in the way of the French effort here at a time when more troops are needed in the field, especially technicians and qualified officers and non-commissioned officers for combat duty.

(e)

Effect of MSP Aid on Internal Stability and Security. It is clearly apparent that, thanks to United States arms aid, the Franco-Vietnamese forces now have an edge over the Viet Minh. Two years ago, before the aid programs began to operate, the Franco-Vietnamese position was precarious indeed. Although the present condition of internal political stability and security is not satisfactory, conditions have improved in the north and in the south since the aid programs were started and there has been no loss of ground in the center.

There has also been a marked development of governmental structure which was almost non-existent two years ago.

(f)

General Progress in Activation Planned Forces.

Army: The activation of units in the Associated States Armies is proceeding as planned but not along the line expected. A large number of units activated in the Vietnamese National Army are units already a part of the French Army and, by a change of designation only, become a part of the Vietnamese National Army. This procedure has not increased the number of troops in Indochina. The failure to increase the combat forces is recognized by MAAG, the French, and Vietnamese. Action has been taken to correct this situation by the [Page 343] French in planning and by activation of additional light Infantry Battalions before the end of the rainy season in 1953.

Air Force: The French Air Force is operating at approved strength level with no current plan for introduction of additional air units.

Navy: French Naval Forces are currently operating at approved strength in both personnel and ships. Certain ships and craft originally brought out to Indochina by the French are in such condition that their continued operation is no longer practicable. These units are being replaced by MDAP delivered ships without effecting a change in the Force Basis. Deliveries in 1953 will replace obsolete equipment, and anticipated losses. An increase in French Navy personnel is not planned. However, plans for a Vietnamese Navy are underway with the training of enlisted men and some petty officers being carried on at Nha Trang. It is anticipated that some 1600 Vietnamese officers and men will be manning smaller ships.

(g)

Deliveries of U.S.-Furnished End-Items. The receipt of MDA equipment is on schedule. There are no shortages which would affect either the tactical operation or the activation schedule of units.

(h)

Country’s Ability to Utilize Military Aid.

Army: The ability of the country to utilize the MDAP and MSP is based on the assumption that the war in Indochina will continue to be a local war and that there will be no intervention by the Chinese Communists. The French, who have the responsibility for logistical support of both French and Associated States Forces, have adequate supply facilities for the war as now beins fought. It is expected during the first three months of calendar year 1953 there will be a small reserve accumulated. This reserve will be below that authorized for Indochina.

Air Force: The French Air Force is undermanned and this has a negative effect on their ability effectively and efficiently to conduct maintenance and overhaul functions and operate their aircraft at desired rates. Airfields are adequate but the main supply and maintenance depot is poorly situated and inadequately manned to perform an acceptable mission.

Navy: It is believed that there is maximum utilization of MDAP material in Indochina. However, the personnel ceiling on French Naval Forces, and deterioration from weather conditions make it difficult to carry out preventive maintenance in accordance with U.S. Navy standards. Facilities for receipt and stowage of MDAP equipment are adequate at the present time, and efforts along this line are steadily being improved.

(i)

Defense Production Planning.

Army: There has been no development for defense production for Indochina. Several plans have been proposed for the production of items which would assist in the war effort. To date, however, neither the French nor the Vietnamese have initiated action with a view to implementing these proposals.

Air Force: The conversion to one type fighter-bomber aircraft (F8F, Bearcat) and the stated inability of the French to support jet

[Page 344]

interceptor aircraft are major developments in the defense program for air. The visit of the French Air Secretary, M. Montel, may bring about additional personnel to alleviate the totally inadequate French Air Force personnel strength of approximately 10,000.

Navy: The conversion of MDAP delivered landing craft is being carried out at the Navy Yard in Saigon and at the Amphibious Base. However, the manufacturing of defense items for prosecution of the war against the Viet Minh is non-existent. No future developments are known.

(j)

Economic Development Planning. One of the most encouraging steps forward in the field of economic development plans and programs was taken by Laos. In November this country, which has been well in advance of the other two Associated States in economic planning, went one step further when, by a Royal Ordonnance, it created a Commissariat General for Planning and a National Investment Fund to finance the plans. American Economic Aid funds will, though accounted for separately, be incorporated as part of this fund. Thus, with a rough five-year plan previously developed, Laos will become the first Associated State to integrate MSA financing with other sources and to apply its combined resources to the attainment of fairly well presented and coordinated goals.

Cambodia has drafted, but very roughly, uncoordinated functional five-year plans by ministerial fields. STEM’s Chief was recently informed by the National Director of Planning, who is also Chairman of Cambodia’s American Aid Committee, that one of the reasons why the country’s plans had not been further advanced and consolidated to date was that Cambodia lacked any trained personnel to do this. He explained that his government had several months ago asked the UN Committee on Technical Assistance for the loan of an expert “who would be neutral” but that France had influenced the Committee not to act on the request. This serious situation of experts’ acceptability is further discussed below.

The Vietnamese government also has made some advance, for this fall for the first time it programmed the entirety of its MSA funds in advance instead of gradually utilizing them on a series of discoordinated projects. All three governments have already been asked to present their own programs for 1953–1954, not just to accept them ready-made from STEM.

(k)

Economic and Social Effects of Point IV Program

Ever since its establishment STEM has been endeavoring to get its technical assistants accepted as true advisors to the governments of the Associated States, but to date the results have not been too encouraging. Under the basic accords with France, each State must give priority to French technicians. Laos has willingly done so, and its government functions relatively smoothly. Cambodia and Vietnam have been fearful of French influence being exerted on behalf of [Page 345] French interests through any strategically placed expert, and they have not dared to risk French displeasure by calling upon STEM. Only a few weeks ago energetic Governor Tri informed the Chief of STEM that he could not take even a junior Relief and Rehabilitation Officer into his Regional Social Action Service for fear of ruffling French feelings, though he would be happy to have him working in the North as part of STEM’s regional office. Under these circumstances STEM has been successful in guiding its own limited program but not in assisting the governments in the administration of their own vastly larger ones. The High Commissariat’s own Financial and Economic Counselor reflected much the same fears in his statement to the STEM Chief of Mission that he was doubtful how effective France’s proposed Social and Economic Mission would be “as long as we, like you, must always work on the fringe of government.”

Nevertheless, some successes in training have recently been registered—notably as a result of a MSA-financed, Ministerially-led educational delegation to the Philippines. We are hopeful that this may have proved to be the starting point of a gradual reorientation of elementary education away from classic techniques and doctrines to a community welfare, grass-roots approach.

(l)

Attitude of Government and Public Toward U.S. Aid Program

The French commanders in all three services (and the Vietnamese Civil Government) recognize the importance of the MDA and MS Programs. This aid has made it possible for French to maintain and to improve their position over last year and for the civil government to increase authority. However, it is questionable if either the Vietnamese army or the civilian population realize the amount or the importance of this aid as all items are distributed through normal French supply channels.

MSA’s operations in Public Health and Agriculture have successfully identified the United States with a policy of respect for the individual and human dignity. MSA’s commercial import program has in some measure broken the bottleneck toward economic progress. We have even had an influence on the Viet Minh, who, it has been reported by several sources, have forbidden the destruction of STEM first-aid kits or wells during any temporary occupation of a village enjoying these facilities—presumably because they are so popular with the masses, whether they be peasants on our side or peasants on the other side.

(m)

Provisions of Section 5113

STEM’s full report under Section 511, together with detailed data developed by each of the Associated States, was submitted to Washington [Page 346] as Tomus A 236.4 This report set forth many weak points open to adverse criticism as to the degree with which the Associated States have fulfilled the criteria of Section 511. Essential weak points are failure resolutely to push land reform in Vietnam, failure to effect large scale mobilization of domestic capital and to prevent the flight of such capital in the form of profits, and lack of any large scale reform of tax legislation and administration.

In short it could possibly be said that the countries have taken some, but not all possible steps to mobilize their industries for mutual defense and gear their fiscal budgetary capital, political and military resources to the objectives of the Mutual Security Act of 1952.

Particularly in the larger cities, “business as usual” has been much more the goal than total mobilization for war. This situation has been reported frequently by the Embassy and to some extent by this Mission. It has also been brought to the attention of MSA officials in person, particularly of Mr. C. Tyler Wood when he recently visited Saigon. Indeed, as first priority in the economic field, the Mission hopes that the United States Government may be able at the highest levels during the coming months to persuade:

1.

The French, who have heretofore feared the competitive industrialization of the Associated States, actively to support an all-out war effort which would include, in so far as possible, a program of military and para-military production. In the past it has been easier to receive finished military items on a free basis than to manufacture, where appropriate, some of them with local materials and local manpower,

2.

Both the French and the Associated States to accept American experts in the field of public administration or for that matter French experts under the new French economic aid program which we understand the French parliament has just authorized.

On the other hand, there is no doubt whatsoever that soldiers of the Associated States are actively fighting against communism. Vietnamese, Cambodians and Laotians are dying every day to protect the Associated States and therefore Southeast Asia from communist domination. There is also no question but that within the limits of their present capabilities these States are vigorously assisting the French Armies with men and materials. Vietnam, and to a lesser extent Cambodia, are contributing a very substantial part of their budgetary receipts to fighting the war. There is finally no doubt at all also that the Associated States are actively cooperating with France under the terms of their Basic Accords, and among themselves under the Pau Agreements. Thanks to this cooperation which is evidenced by such institutions as the quadripartite Institute of Issue, the tripartite Reunion of Directors of Foreign Commerce and the quadripartite [Page 347] study Committees on Foreign Trade and Tariffs, the three Associated States are operating as a complete monetary and customs union.

Note:MAAG has informed the Embassy that Admiral Radford, Commander in Chief, U.S. Pacific Fleet, has expressed a desire to receive four copies of the Embassy’s Monthly MDAP report which has been superseded by this new Quarterly report. It is requested that the Department determine whether or not copies of this new quarterly report should be provided to Admiral Radford and instruct the Embassy accordingly. If the Department determines that copies of this report should go to Admiral Radford it is requested that 4 copies of this despatch be sent directly to “Commander in Chief, U.S. Pacific Fleet, c/o Fleet Post Office, San Francisco, Calif.”

Donald R. Heath

1.    This despatch referred to circular airgram 2139, Nov. 24, 1952, which contained reporting instructions originated by the Director for Mutual Security. The chief of mission in each country where Mutual Security programs were being carried out was asked to submit quarterly reports on the operation and status of those programs. (700.5 MSP/11–2452) For documentation on the Mutual Security Program in general, see volume i.

2.    For text of the resolution, see footnote 5, p. 321.

3.    Under Section 511 of the Mutual Security Act of 1951, P.L. 165, 82d Cong. (65 Stat. 373), as amended by the Mutual Security Act of 1952, P.L. 400, 82d Cong. (66 Stat. 141), countries receiving aid were required to undertake certain actions designed to promote self-help and mutual cooperation.

4.    Not printed.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d163

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_342

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_343

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_344

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_345

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_346

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_347

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v01p1

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d153fn5

Thân thế (các) nhân vật

Bao Dai,

Chief of State of Vietnam.

Heath, Donald R.,

Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath

https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read

https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/

Nguyen Huu Tri,

Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet (Vietnamese political party).

Nguyen Van Tam,

Minister of the Interior of the State of Vietnam and Acting Governor of Northern Vietnam to June 3, 1952; Prime Minister of the State of Vietnam, June 3, 1952–December 17, 1953.

Radford, Admiral Arthur W.,

Chairman of the Joint Chiefs of Staff to August 1957

https://www.jcs.mil/About/The-Joint-Staff/Chairman/Admiral-Arthur-William-Radford/

https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/a/arthur-w-radford.html

https://www.geni.com/people/Admiral-Arthur-W-Radford-Chairman-of-the-Joint-Chiefs-of-Staff/6000000015711625403

https://en.wikipedia.org/wiki/Arthur_W._Radford

 

No comments:

Post a Comment