20260616 CDTL DDE D156 20 December 1952 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao. Tình hình Nà Sản.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d156
Google Translated
Tài liệu 156
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
790.00/12–2052: Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.
MẬT
Sài Gòn, ngày 20 tháng 12 năm 1952 — 4 giờ chiều
1248. Thông tin được gửi bản sao tới Paris (không đánh số), Hà Nội (không đánh số). Sau đây là bình luận của tôi về các phần được đánh số trong văn bản tóm tắt về những kết luận và khuyến nghị của “Hội nghị Bukit Serene”, được truyền tải qua Điện tín Bộ số 1250, ngày 17 tháng 12.
2. Đúng là hiện tại quân Pháp đã đánh mất thế chủ động tại các khu vực phía Bắc nằm ngoài vùng châu thổ; tuy nhiên, tôi không cho rằng tình hình chung sẽ có chiều hướng "diễn biến xấu đi". Kế hoạch ban đầu cho mùa chiến dịch hiện tại không chỉ đơn thuần là dụ địch tấn công vào các tuyến phòng thủ đã được chuẩn bị sẵn trong vùng châu thổ Bắc Kỳ, mà còn nhằm tận dụng năng lực đổ bộ lính dù đã được tăng cường—nhờ việc mượn 29 chiếc máy bay C-47 từ Pháp và 21 chiếc từ Mỹ—để buộc các đơn vị địch nằm ngoài vành đai châu thổ phải giao chiến với các tiểu đoàn lính dù được thả xuống phía sau lưng họ, cũng như với các binh đoàn cơ động cơ giới đang từ trong châu thổ đánh thọc ra. [Trang 326] Việc mất Nghĩa Lộ đã đặt quân Pháp trước một bài toán khó: hoặc là từ bỏ vùng đất của người Thái, hoặc là thiết lập phòng tuyến kiên cố tại Na Sản—điểm trọng yếu duy nhất trong khu vực này có thể được bố trí quân đồn trú và tiếp tế bằng đường không.
Nghĩa Lộ
21°35'32.24"N 104°28'41.34"E
Nà Sản
21°12'53.44"N 104° 2'26.20"E
Sơn La
21°10'20.87"N 104° 0'26.05"E
Điện Biên Phủ,
21°22'59.58"N 103° 0'39.82"E
20260616 cdtl tình-hình-Nà-Sản
Quyết định đã được đưa ra nhằm cố gắng giữ vững vùng đất Thái, và các công sự phòng thủ tại Na Sản đã nhanh chóng được thiết lập để chống lại các cuộc tấn công ồ ạt của Việt Minh. Trên thực tế, các đợt tấn công của Việt Minh đã bị đẩy lùi một cách đẫm máu vào các ngày 24 tháng 11, cũng như ngày 1 và 2 tháng 12. Ước tính của Linares về việc Việt Minh chịu 3.000 lính tử trận và 6.000 thương vong trong các chiến dịch kéo dài từ Nghĩa Lộ cho đến những đợt tấn công bất thành vào Na Sản có thể hơi cao, song chắc chắn rằng tổn thất của Việt Minh là tương đối nặng nề. Hiện nay, Na Sản đã được củng cố và bố trí phòng thủ vững chắc đến mức, trong điều kiện hiện tại, Việt Minh không thể chiếm được cứ điểm này và cũng khó có khả năng sẽ phát động tấn công vào đây nữa. Tất nhiên, quyết định giữ vững Na Sản đồng nghĩa với việc phải giam chân mười trong số những tiểu đoàn tinh nhuệ nhất thuộc lực lượng dự bị cơ động của Pháp.
Mặt khác, chiến dịch này cũng đang cầm chân một sư đoàn—hoặc lực lượng tương đương—quân Việt Minh làm nhiệm vụ canh giữ, đề phòng các cuộc xuất kích hoặc hoạt động rút quân từ Na Sản. Nếu Việt Minh cắt giảm lực lượng canh giữ này nhằm tăng cường cho các hoạt động hiện tại tại vùng Đồng bằng, họ sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị các lực lượng từ Na Sản xuất kích đánh úp; với sự hỗ trợ từ ưu thế tuyệt đối trên không của Pháp, những cuộc xuất kích này hoàn toàn có thể gây ra tổn thất nặng nề cho phía Việt Minh—hoặc ngược lại, Pháp cũng có thể giảm bớt quân đồn trú tại Na Sản, một lực lượng vốn luôn có thể được tăng cường trở lại bất cứ lúc nào. Tôi không cho rằng lực lượng dự bị của Pháp là không đủ để "đạt được thành công" trong chiến dịch Na Sản; mặc dù hiện nay đã trở nên rõ ràng rằng, để giành được bất kỳ thắng lợi quyết định và sớm sủa nào trước toàn bộ lực lượng Việt Minh tại miền Bắc, liên quân Pháp-Việt cần phải được tăng cường một cách nhanh chóng và đáng kể.
3. Tất nhiên, đúng là nếu Nà Sản thất thủ, những hệ quả về chính trị và quân sự sẽ rất nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức chí tử. Vùng đất của người Thái sẽ bị mất, và Lào sẽ bị bỏ ngỏ trước nguy cơ xâm lược. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ ý nghĩa thực sự của nhận định cho rằng: nếu Nà Sản được giữ vững, thì việc này nhiều khả năng sẽ phải trả giá rất đắt. Trên thực tế, rất ít khả năng việc giữ vững Nà Sản lại dẫn đến những tổn thất nặng nề về nhân mạng cho các lực lượng Pháp-Việt. Đúng là việc vận chuyển bằng đường không tới Nà Sản gây tốn kém về nhiên liệu cũng như làm hao mòn máy móc của các máy bay vận tải Pháp. Phía Pháp cần tăng cường các đội ngũ bảo trì hàng không, và Hoa Kỳ nên—cũng như có khả năng—góp phần giải quyết vấn đề này. Cũng đúng là một bộ phận quan trọng trong lực lượng Pháp có thể sẽ bị cầm chân tại khu vực này; song đổi lại, điều đó cũng giúp kìm chân tại đó các binh lính Việt Minh—những kẻ sẽ gặp phải một số khó khăn nhất định trong việc tiếp tế.
4. Không còn nghi ngờ gì nữa, phía Pháp cần được tăng viện. Chỉ để khôi phục lại tình hình, ít nhất một sư đoàn cũng đã là đủ, bởi lẽ lực lượng này sẽ bù đắp cho các tiểu đoàn hiện đang đồn trú tại Na Sản. Nếu phía Pháp có thêm hai sư đoàn nữa (xem báo cáo Joint Weeka số 47, ngày 22 [23] tháng 11), họ đã không phải buộc phải ngừng cuộc tấn công tại Phú Thọ. Họ lẽ ra đã có thể tiếp tục trụ lại tại khu vực đó, án ngữ ngay trên các tuyến đường tiếp vận của Việt Minh, qua đó buộc Việt Minh phải tấn công đối mặt với hỏa lực vượt trội—một kịch bản có khả năng dẫn đến một thất bại hết sức nặng nề và mang tính quyết định đối với Việt Minh. Cũng không còn nghi ngờ gì về việc tăng cường nỗ lực tác chiến trên không—điều đồng nghĩa với việc [Trang 327] bổ sung thêm máy bay và phi hành đoàn—sẽ mang lại giá trị vô cùng to lớn. Với số lượng phi công và đội ngũ bảo trì được gia tăng, phía Pháp gần như có thể nâng gấp đôi hiệu quả tác chiến của phi đội hiện có.
5. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, hiện chưa có bất kỳ quyết định chính thức nào từ phía Chính phủ Pháp về việc rút quân Liên hiệp Pháp vào cuối năm 1954, đến mức giải thể Bộ Chỉ huy Đông Dương hay rút toàn bộ lực lượng, ngoại trừ các đơn vị đồn trú phục vụ mục đích phòng thủ của Liên hiệp Pháp. Tôi không rõ Hội nghị Bukit đã tiếp nhận ý tưởng này từ nguồn nào. Một số đơn vị quân sự Việt Nam sẽ được chuyển giao sang Quân đội Quốc gia Việt Nam; tuy nhiên, chúng tôi không nắm được bất kỳ chủ trương nào về việc cắt giảm đáng kể lực lượng Liên hiệp Pháp trong năm 1953 (theo thông tin cập nhật nhất mà Đại sứ quán nhận được, chỉ có hai tiểu đoàn—vốn không thuộc hàng ngũ tinh nhuệ nhất—được lên kế hoạch rút quân). Theo những gì tôi được biết, chưa có tuyên bố hay quyết định nào được đưa ra về việc chuyển giao quyền chỉ huy tối cao cho phía Việt Nam vào năm 1954; đồng thời, Chính phủ Việt Nam cũng chưa hề đưa ra bất kỳ yêu cầu nào mang tính tiên liệu về vấn đề này.
Hiện tại, phía Việt Nam chỉ chú trọng vào việc giành quyền chỉ huy tự chủ đối với các đơn vị quân đội Việt, nhưng vẫn phải đặt dưới quyền của Bộ Chỉ huy Tối cao Pháp. Bảo Đại, Bộ trưởng Quốc phòng cùng Tổng Tham mưu trưởng quân đội Việt đều thấu hiểu rất rõ rằng lực lượng Liên hiệp Pháp và Bộ Chỉ huy Tối cao Pháp vẫn là những yếu tố thiết yếu, chừng nào nguy cơ Tầu cộng xâm lược vẫn còn hiện hữu. Đến giữa năm 1954, quân đội Việt sẽ gần như chỉ bao gồm bộ binh với lực lượng thiết giáp và pháo binh còn hạn chế; thực tế không có không quân hay hải quân, và do đó hoàn toàn chưa sẵn sàng để đương đầu với một quân đội Tầu cộng hiện đại—hay thậm chí là một quân đội Việt Minh đã được hiện đại hóa, nếu lực lượng này được trang bị đầy đủ thiết giáp, pháo binh và không quân.
Quả thực, trong ngắn hạn—nếu khoảng thời gian này được hiểu là vài tháng—thì lực lượng tăng viện chỉ có thể được Pháp cung cấp; tuy nhiên, xét trên một giai đoạn dài hơn đôi chút, binh lính có thể do phía Việt Nam đảm nhiệm, với điều kiện là Pháp cử các sĩ quan cấp chiến trường cùng một lực lượng hạ sĩ quan nòng cốt sang hỗ trợ. Hiện tại, cả Pháp và Việt Nam đều đang cân nhắc việc tăng cường thêm từ 30.000 đến 40.000 quân cho Quân đội Quốc gia Việt Nam trong khoảng 12 tháng tới (bổ sung vào 13 tiểu đoàn mới vốn đã được lên kế hoạch từ trước), trong đó một phần của lực lượng tăng cường này sẽ sẵn sàng tham chiến vào nửa cuối năm 1953. Ngoài ra, Chính quyền của ông Trí tại miền Bắc cũng mong muốn mở rộng lực lượng dân quân địa phương từ 24.000 lên 40.000 người; đề nghị này đã được Cao ủy Pháp chấp thuận về mặt nguyên tắc.
Tình hình sẽ không chỉ được khôi phục mà thực sự còn thay đổi một cách dứt khoát, nếu phía Pháp có thể điều động thêm hai sư đoàn ngay lúc này, và rút các sư đoàn đó về khi một phần đáng kể trong số 30.000 đến 40.000 quân tăng viện cho phía Việt Nam—hiện đang được cân nhắc—sẵn sàng tham chiến. Tất nhiên, chúng tôi nhận thức rõ rằng việc này sẽ dẫn đến sự bất đồng với quan điểm chính thức hiện hành của Pháp, cũng như việc tạm thời không đáp ứng được các nghĩa vụ của Pháp trong khuôn khổ NATO; tuy nhiên, NATO gần đây đã thông qua một nghị quyết, trong đó khẳng định rằng việc duy trì nỗ lực của Pháp tại Đông Dương là hoàn toàn phù hợp với các mục tiêu của khối này. Phía Pháp hoàn toàn có thể cung cấp một hoặc hai sư đoàn nếu họ dỡ bỏ lệnh cấm điều động lính nghĩa vụ Pháp sang phục vụ ở nước ngoài. Lính nghĩa vụ của chúng ta hiện đang phục vụ tại Triều Tiên, do đó không hề có bất kỳ lý lẽ xác đáng nào để phản đối việc lính nghĩa vụ Pháp sang phục vụ tại Đông Dương. Nội dung nêu trên đã được trình lên Tướng [Trang 328] Trapnell và nhận được sự tán thành chung của ông, đồng thời cũng đã được chuyển tới các tùy viên quân sự—những người hiện vẫn đang tiếp tục nghiên cứu tình hình.
Heath.
1. Trong bức điện số 1250 gửi Sài Gòn ngày 17 tháng 12, Bộ Ngoại giao đã chuyển tiếp nội dung bức điện số 3336 từ Luân Đôn ngày 15 tháng 12, văn bản này được in tại trang 316.↩
2. Bản báo cáo Tuần lễ Liên hợp số 47, ngày 23 tháng 11—trong đó bao gồm bản tường thuật chi tiết về các hoạt động quân sự—không được in tại đây. (751G.00(W)/11–2352)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1. Document 156
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
790.00/12–2052: Telegram
The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State
secret
Saigon, December 20, 1952—4 p.m.
1248. Rptd info Paris unn, Hanoi unn. Fol is my comment on numbered parts of abbreviated text “Bukit Serene conference” conclusions and recommendations transmitted Deptel 1250, Dec. 17.1
2.
It is true that Fr have for time being lost initiative northern areas outside delta, but I do not believe it is likely that gen situation will “develop badly.” The original plan for the present campaign season was not alone to bring enemy against prepared defense in Tonkin delta, but also to take advantage increased capacity to drop parachute troops obtained by loan 29 Fr and 21 Amer C–47s to force enemy units outside delta perimeter to battle against parachute battalions dropped in their rear flank and motorized mobile groups thrusting [Page 326] out from delta. The loss of Nghia Lo faced French with problem of abandoning Thai country or digging in at Na San, the only good point in area which cld be manned and supplied by airlift. It was decided to try hold Thai country and Na San defenses were quickly built up to resist mass VM attack. In fact, VM attacks were bloodily repulsed Nov 24, Dec 1 and 2. Linares’ estimates of 3,000 VM dead and 6,000 casualties in operations from Nghia Lo to the unsuccessful assaults on Na San may be somewhat high, but it is certain that VM losses relatively heavy. Na San now is so competently and heavily fortified that under present conditions VM cannot take it and it is unlikely will now attack it. Of course, decision hold Na San ties down ten of best battalions of Fr mobile reserves. On other hand, operation also tying division or thereabouts of VM troops on guard against sorties or evacuation from Na San. If VM reduces this watching force in order strengthen present movements against delta, they wld risk sorties from Na San against the guarding force, which aided by Fr air monopoly might succeed in causing severe losses to them—or Fr cld reduce Na San garrison which cld always be restrengthened. I do not believe that Fr reserves inadequate to “achieve success” in Na San operation, altho it is now clear that to achieve any early decisive victories against total VM forces in north, Fr-Viet forces must be considerably and rapidly increased.
3.
It is, of course, true that, if Na San were lost, the polit and mil consequences wld be serious, but not fatal. The Thai country wld be lost and Laos open to invasion. It is not clear what is meant by statement that, if Na San is held, it wld likely be only at great cost. It is quite unlikely that holding Na San wld result in any heavy casualties for Fr-Viet forces. It is true that airlift to Na San imposes cost in gas, mechanical depreciation French transport planes. French must increase aviation maintenance crews and US shld and can contribute to solution this problem. It is also true that important element Fr forces may remain tied up in area, but it also ties down there VM troops which will have some supply difficulties.
4.
There is no question but that Fr require reinforcements. Merely to restore situation, one division shld be at least sufficient, since it wld compensate the battalions now garrisoned Na San. If Fr had had two extra divisions (see Joint Weeka 47, Nov. 22 [23],2 they wld not have had to break off their thrust at Phu Tho. They wld have remained in that area athwart VM supply lines and forces VM to attack against superior fire, possibly resulting in quite decisive VM defeat. There is no question but that an increase in air effort, which means [Page 327] more planes and crews, wld be extremely valuable. With more pilots and maintenance crews, the Fr cld almost double effectiveness of their present air fleet.
5.
It is not our understanding there is any firm Fr governmental decision withdraw Fr Union forces in late 1954 to extent of dissolving Indochina command and withdrawal all but garrison forces for Fr Union def. I do not know where the Bukit conf got that idea. Some Viet units will be passed to Viet Natl Army, but we know of no intention effect any important reduction in Fr Union forces in 1953 (only two battalions, not of first quality, slated to be withdrawn according most recent info available to Emb). As far as I know, no statement or decision has been made to turn supreme command over to Viet in 1954, nor has any such advance request been estimated by Viet govt. At present latter is thinking only of obtaining autonomous area commands of Viet forces but always under Fr High Command. Bao Dai and DefMin and Viet Chief of Staff quite thoroughly realize that Fr Union forces and Fr High Command are necessary as long as chance of Chi invasion persists. Viet army by mid-1954 will consist almost entirely of infantry with inadequate armor and artillery, practically no aviation or naval forces, and thus completely unprepared to withstand modern Chi army, or probably even modernized VM army if latter equipped with armor, artillery, and aviation.
It is true that in the short term, if by that is meant few months, reinforcements cld only be supplied by France but over a somewhat longer period the troops can be supplied by the Viets, provided Fr lend field grade offs and a stiffening of Fr NCOs. Both Fr and Viets are now thinking of an additional increase of Viet Natl Army by thirty to forty thousand men during next twelve months or so (over and above the 13 new battalions already scheduled) with part of increase ready for action in second half 1953. In addition, Gov Tri in north desires to increase local militia from 24,000 to 40,000 and this has been agreed to in principle by Fr HICOM. The situation wld be more than restored and indeed decisively altered if the Fr cld send two additional divisions now, taking them back when substantial part of the thirty or forty thousand additional Viet troops now being considered wld be ready for action. It is realized, of course, this wld involve conflict with present Fr official opinion and temporary non-fulfillment of Fr requirements under NATO, but NATO has recently passed res indicating that maintenance of Fr effort in Indochina is in line with NATO aims. The Fr cld supply a division or two if they wld abolish their prohibition against ordering Fr conscripts to serve abroad. Our draftees serve in Korea and there is no valid argument against Fr conscripts serving in Indochina. The foregoing has been shown to Gen [Page 328] Trapnell and has his general approval, and to service attachés who are still studying situation.
Heath
1. In telegram 1250 to Saigon, Dec. 17, the Department of State transmitted the text of telegram 3336 from London, Dec. 15, which is printed on p. 316.↩
2. Joint Weeka 47, Nov. 23, containing a detailed account of military operations, is not printed. (751G.00(W)/11–2352)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d156
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_326
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_327
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_328
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_316
Chief of State of Vietnam.
Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath
https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/
Nguyen Huu Tri,
Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet (Vietnamese political party).
Trapnell, Thomas J. H.,
Major General, Chief of the United States Military Assistance Advisory Group in Indochina, August 1952–February 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Thomas_J._H._Trapnell
https://valor.militarytimes.com/recipient/recipient-22747/
https://alumni.westpointaog.org/memorial-article?id=43659d74-1c8e-4252-a8d4-f2b73b491be0

No comments:
Post a Comment