20260622 CDTL HST D600 7 December 1950 Điện tín của Đại sứ Bruce tại Pháp gửi Bộ trưởng Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d600
Google Translated
Tài liệu 600
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, năm 1950, Đông Á và Thái Bình Dương, Tập VI
751G.5 MAP/12–750: Điện tín của Đại sứ Bruce tại Pháp gửi Bộ trưởng Ngoại giao.
Mật
Paris, ngày 7 tháng 12 năm 1950 — 8 giờ tối.
3244. Gửi Tomap. Tham chiếu Công điện Legtel Sài Gòn số 987 (đồng gửi Paris, số 482) đề ngày 2 tháng 12.
1. Phía quân sự Pháp không hiểu được cơ sở dẫn đến nhận định sau đây trong Công điện Legtel 987: “Chúng tôi tại đây không hiểu tại sao phía Pháp ở Paris lại đưa ra yêu cầu về tàu sân bay chủ yếu nhằm ngăn chặn nạn buôn lậu từ đảo Hải Nam.”
2. Quân đội Pháp đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có tàu sân bay tại Đông Dương và nhiều lần liệt kê các lý do cho yêu cầu này. Thứ tự mà phía Pháp đưa ra các lý do mong muốn có tàu sân bay không nhất thiết phản ánh mức độ ưu tiên của các lý do đó hay tầm quan trọng của các nhiệm vụ sẽ được giao cho tàu. Bức điện số 2991 ngày 27 tháng 11 đã nêu việc "chặn đứng các tuyến đường buôn lậu" là một trong bốn lý do khiến tàu sân bay hộ tống (CVE) trở nên cấp thiết tại vùng biển Đông Dương. Tuy nhiên, "phối hợp với lực lượng mặt đất để yểm trợ đường không tại những khu vực mà các sân bay nằm quá xa hoặc ở vị trí nguy hiểm ngay sát cơ sở địch" và việc duy trì một "lực lượng tấn công cơ động, sẵn sàng khai triển tới bất kỳ khu vực nào ở Đông Dương" chắc chắn là những lý do chính yếu được đề cập trong bức điện đó, mặc dù chúng không được liệt kê theo thứ tự ưu tiên này.
3. Phía Pháp chỉ ra rằng chỉ có hai sân bay đang hoạt động ở Bắc Đông Dương: một ở Hà Nội và một ở Hải Phòng. Hai sân bay này dễ bị địch tấn công, đặc biệt là bởi lực lượng du kích, và có thể bị vô hiệu hóa nếu tình hình quân sự trở nên tồi tệ hơn. Trong trường hợp đó, không quân hải quân sẽ trở thành lực lượng không quân chủ yếu và duy nhất hiện diện tại khu vực này. Hơn nữa, Việt Minh đang kiểm soát các vùng lãnh thổ phía nam tuyến Hà Nội – Hải Phòng, trong khi các sân bay hoạt động gần nhất lại nằm cách đó [Trang 944] khoảng 300 dặm về phía Nam, tại khu vực Huế. Phía Pháp hoàn toàn thừa nhận và khẳng định rằng các nhiệm vụ như ngăn chặn đường dây buôn lậu hay vận chuyển máy bay chỉ đóng vai trò thứ yếu.
4. Bộ hẳn đã ghi nhận tuyên bố của Tướng De Lattre (Điện số 3218 gửi Bộ, đồng gửi Sài Gòn số 242 ngày 6 tháng 12) rằng nhu cầu cấp thiết nhất của Pháp là máy bay và tàu sân bay.
Trong cuộc trao đổi gần đây với tôi, ông Pleven đã đề cập vấn đề này và cũng nhấn mạnh tính cấp bách của nó dựa trên cùng những lý do nêu trên.
Đề nghị Bộ chuyển tiếp cho Sài Gòn; đã gửi Bộ điện số 3244, đồng gửi thông tin cho Sài Gòn (điện số 245).
Bruce.
1. Nội dung bức điện tham chiếu như sau:“Nếu Hải quân Hoa Kỳ hoàn toàn không thể điều tàu sân bay đến, thì tất nhiên việc tiếp tục tranh luận chẳng còn ý nghĩa gì. Tuy nhiên, nếu Tầu cộng công khai xâm lược Đông Dương, và đặc biệt là nếu họ cung cấp máy bay cho Việt Minh, thì việc khai triển tàu sân bay hoạt động ngoài khơi vùng đông bắc Đông Dương là giải pháp duy nhất, xét đến thực tế là không có sân bay nào đủ tốt trong khu vực đó. Chúng tôi ở đây không hiểu tại sao phía Pháp tại Paris lại đưa ra yêu cầu về tàu sân bay chủ yếu nhằm ngăn chặn nạn buôn lậu từ đảo Hải Nam. Chúng tôi nhận thấy rằng việc gửi các tàu tuần tra vũ trang (privateers) và các trang thiết bị khác đến đây cũng có thể đáp ứng mục đích đó. Ngay cả khi quân đội Tầu cộng không công khai xâm lược Đông Dương, máy bay từ tàu sân bay vẫn rất cần thiết để phòng thủ vùng đồng bằng, và đặc biệt là để hỗ trợ trực tiếp, nhanh chóng và kịp thời cho khu vực ven biển mà Pháp dự định bảo vệ. Tướng Brink cũng đồng tình với quan điểm này.” (751G.5 MAP/12–2550)↩
2. Không được in lại.↩
3. Bức điện số 3181 gửi Paris ngày 9 tháng 12 có nội dung như sau: “Chỉ để quý vị nắm thông tin: Vào ngày 30 tháng 11, Bộ Ngoại giao đã hỏi Bộ Quốc phòng (theo điện số 3244 ngày 7 tháng 12) liệu quyết định không chấp thuận cho mượn tàu sân bay (điện của Bộ Ngoại giao gửi Sài Gòn số 645 ngày 27 tháng 11, đồng gửi Paris số 2931) có được xem xét lại hay không, xét đến các bức điện số 2991 ngày 27 tháng 11 và số 943 ngày 25 tháng 11 từ Sài Gòn. Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân hiện đang nghiên cứu vấn đề này.” (751G.5 MAP/11–2750) Bức điện số 852 gửi Sài Gòn ngày 10 tháng 1 năm 1951 (đồng gửi Paris dưới dạng điện số 3644) có nội dung như sau: “Bộ Quốc phòng tái khẳng định việc không chấp thuận cho mượn tàu sân bay (điện của Bộ Ngoại giao số 721 ngày 9 tháng 12), với lý do lợi ích an ninh của Hoa Kỳ không cho phép thực hiện thêm bất kỳ việc chuyển giao tàu sân bay nào, dù là dưới hình thức viện trợ hay cho mượn. Bộ Ngoại giao đang thông báo cho Đại sứ quán Pháp tại Washington. “Phái bộ có thể cân nhắc việc đề nghị phía Pháp tự xây dựng các sân bay bằng các trang thiết bị hiện có.” (751G.5 MAP/1–1051)↩
List of abbreviations and symbols
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp1
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp5
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/ch6
1. Document 600
Foreign Relations of the United States, 1950, East Asia and the Pacific, Volume VI
751G.5 MAP/12–750: Telegram
The Ambassador in France (Bruce) to the Secretary of State
secret
Paris, December 7, 1950—8 p. m.
3244. Tomap. Reference Legtel Saigon to Department 987 repeated information Paris 482 dated December 2.1
1.
French military unable to understand background from which following statement was made in Legtel 987: “We fail to understand here why the French in Paris based their request for the carrier primarily to prevent smuggling from Hainan.”
2.
French military have emphasized need for carrier in Indo-China and have from time to time enumerated reasons why carrier is required. Order in which French have enumerated reasons for desiring carrier have not necessarily been priority of reasons nor priority of importance of the missions which would be assigned carrier. Embtel 2991 dated November 272 gave “closing of smuggling routes” as one of four reasons why CVE was urgently needed in Indochina waters. However, “cooperation with ground forces in providing air coverage in areas where airfields are too distant or dangerously adjacent to enemy facilities” and providing a “striking force readily available for any area in Indochina” are certainly primary reasons advanced in that radio, although not enumerated in that priority.
3.
French point out that there exist only two operational airdromes in northern Indochina, one at Hanoi and one at Haiphong. These two airdromes are exposed to enemy attacks, especially by guerrillas, and they can be paralyzed if military situation deteriorates. In the latter case, action of naval aviation would become primary and only aviation available in that area. Furthermore, Viet Minh control areas south of Hanoi–Haiphong and nearest available operational fields are [Page 944] some 300 miles south in the Hue area. French readily recognize and state that missions such as closing smuggling routes and ferrying airplanes are quite secondary.
4.
Department will have noted statement by General De Lattre (Embtel 3218 to Department, repeated Saigon 242 December 6) that greatest French needs were planes and aircraft carrier.
In recent conversation with me Pleven brought this matter up and also stressed its urgency on same grounds.3
Department pass Saigon; sent Department 3244, repeated information Saigon 245.
Bruce
1. The reference telegram read as follows:
“If US Navy absolutely cannot spare carrier there is of course no point in continuing argument. If the Chinese, however, openly invade Indochina and particularly if they place planes at the disposal of the Viet Minh, carrier operating off the coastline northeast Indochina is the only answer in view of the fact there are no good airfields in that area. We fail to understand here why the French in Paris based their request for the carrier primarily to prevent smuggling from Hainan. We recognize privateers and other equipment being sent here would serve that purpose. Even if Chinese troops do not openly invade Indochina, carrier based planes are necessary for defense of the delta and particularly for quick immediate close support of coastal area which French plan to defend. General Brink concurs.” (751G.5 MAP/12–2550)↩
2. Not printed.↩
3. Telegram 3181 to Paris, December 9, read as follows: “FYI only Dept Nov 30 queried Def (urtel 3244 Dec 7) whether disapproval carrier loan (Deptel Saigon 645 Nov 27 rptd Paris 2931) wld be reconsidered in view urtel 2991 Nov 27 and Saigon 943 Nov 25. JCS presently studying quesition.” (751G.5 MAP/11–2750) Telegram 852 to Saigon, January 10, 1951, repeated to Paris as telegram 3644, read as follows: “Def reconfirms disapproval carrier loan (Deptel 721 Dec 9) stating US security interests preclude any further carrier transfers on either grant or loan basis. Dept advising Fr Emb Wash.
“Leg may wish consider advisability suggesting construction airfields by Fr with presently available equip.” (751G.5 MAP/1–1051)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d600
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_944
Thân thế (các) nhân vật
Harry S. Truman
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_presidents_of_the_United_States
https://www.whitehousehistory.org/the-presidents-timeline
https://en.wikipedia.org/wiki/Harry_S._Truman
https://millercenter.org/president/truman/life-in-brief
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://www.trumanlittlewhitehouse.org/key-west/president-truman-biography
https://www.trumanlibrary.gov/education/trivia/biographical-sketch-harry-truman
https://www.history.com/articles/harry-truman
No comments:
Post a Comment