Saturday, June 27, 2026

20260628 CDTL DDE D168 25 January 1953 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

20260628 CDTL DDE D168 25 January 1953 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d168

Google Translated

Tài liệu số 168

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

751G.00/1–2553: Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Sài Gòn, ngày 25 tháng 1 năm 1953 — 9 giờ tối.

1469. Liên quan đến Điện tín số 1381 của Bộ Ngoại giao ngày 6 tháng 1; các Điện tín số 2218 (ngày 10 tháng 5) và 2224 (ngày 12 tháng 5) của Đại sứ quán được soạn thảo vài tuần trước khi ông Tâm thay thế ông Hữu, và chúng phản ánh tình hình chính trị tương đối trì trệ vào thời điểm đó. Cũng như chúng ta, phía Pháp nhận thức rõ thực trạng đáng buồn này, và những nỗ lực của ông Letourneau lúc bấy giờ chủ yếu nhằm mục đích thành lập một chính phủ năng động hơn. Cũng vào khoảng thời gian đó, ông Hữu đã đánh mất sự tín nhiệm của Bảo Đại.

Mặc dù vào thời điểm Bảo Đại cách chức Hữu và chỉ thị Tâm thành lập chính phủ, đã có những lời đồn đại rằng Letourneau là người dàn xếp sự thay đổi này, nhưng Letourneau cam đoan với tôi rằng ông không hề biết trước về việc bổ nhiệm Tâm. Tuy nhiên, phía Pháp hài lòng khi có Tâm làm Thủ tướng, và khuynh hướng thân Pháp của ông đã giúp quan hệ giữa chính phủ Pháp và Việt Nam trở nên thuận lợi hơn. Mặt khác, sự ngưỡng mộ văn hóa Pháp [Trang 355] của Tâm cùng xuất thân từ ngành an ninh (Sûreté) của ông ban đầu đã gây lo ngại trong giới những người theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam. Những lo ngại này phần nào đã được xua tan nhờ vào những gì Tâm thể hiện cho đến nay. Tuy nhiên, Tâm vẫn chưa giành được sự ủng hộ của một bộ phận đáng kể nào trong giới theo chủ nghĩa dân tộc.

Điểm nổi bật của ông Tâm, trái ngược với ông Hữu, là sự năng động; tuy nhiên, ông lại gặp bất lợi bởi:

(a) Thiếu một đội ngũ cộng sự đắc lực. Cuộc cải tổ nội các gần đây đã loại bỏ được một số nhân sự kém hiệu quả nhưng lại không thu hút được nhân vật kiệt xuất nào về phe ông Tâm, đồng thời vị trí quan trọng là Bộ trưởng Quốc phòng vẫn bị bỏ trống. Nội các mới chắc chắn trung thành hơn và có lẽ cũng năng lực hơn đôi chút so với nội các tiền nhiệm. Tuy nhiên, đây không phải là tập thể có khả năng khơi dậy niềm tin hay cảm hứng cho người dân Việt Nam, và nó bao gồm một tỷ lệ quá lớn các thành viên xuất thân từ Nam Kỳ.

(b) Quy mô và mức độ phức tạp của những vấn đề mà ông phải đối mặt. Khi phân tích kỹ, chương trình hành động vốn được ca tụng nhiều của ông Tâm thực chất vẫn mang tính hình thức hơn là thực chất. Tuy nhiên, cần ghi nhận sự cố gắng, tinh thần làm việc miệt mài và lòng nhiệt huyết vượt trội của ông so với những người tiền nhiệm. Ông đã xây dựng được ngân sách và tổ chức thành công các cuộc bầu cử. Vấn đề quan trọng không nằm ở những gì ông Tâm chưa làm được, mà là ở những thành quả ông đã đạt được trong bối cảnh vừa phải tiến hành chiến tranh, thực hiện cải cách xã hội, vừa phải duy trì quan hệ với người Pháp và Bảo Đại, đồng thời nỗ lực thúc đẩy quyền tự quyết lớn hơn cho người Việt Nam.

(c) Thiếu sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Đây là một vấn đề nan giải. Letourneau và các quan chức Pháp lập luận – với những lý do xác đáng – rằng do các yếu tố chính trị nội bộ nước Pháp cũng như các vấn đề an ninh trong cuộc chiến tại Đông Dương, tiến trình nhượng bộ thêm quyền lợi cho các lực lượng bản địa (AS) và chuyển giao thêm trách nhiệm cho họ không thể diễn ra nhanh hơn được nữa. Mặt khác, một bộ phận lớn người dân Việt Nam và Campuchia có nhận thức chính trị tỏ ra bất bình trước việc Pháp tiếp tục duy trì ảnh hưởng và hưởng các đặc quyền tại Đông Dương; do đó, họ vẫn giữ thái độ hoài nghi đối với Pháp và từ chối tham gia một cách tích cực, mang tính xây dựng vào bộ máy chính quyền. Tuy nhiên, một số tiến bộ nhất định đã đạt được; dấu hiệu đáng mừng nhất cho thấy sự hợp lý hơn trong thái độ của cả phía Pháp và Việt Nam chính là thỏa thuận đưa ông Trí lên giữ chức Thống đốc Bắc Việt. Dù vậy, sự thấu hiểu giữa ông Tâm và ông Trí vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và chưa thể coi là một giải pháp dứt điểm.

(d) Sự cản trở phần lớn bắt nguồn từ các nhóm lợi ích cũng như sự kình địch giữa các phe phái chính trị và các cá nhân. Những thế lực cản trở cải cách bao gồm các nhóm lợi ích kinh doanh hùng mạnh của Pháp [Trang 356] —vốn có tầm ảnh hưởng tại Quốc hội, chính phủVăn phòng Cao ủy Pháp—cùng giới nhà giàu Việt Nam muốn duy trì quyền kiểm soát các điền trang rộng lớn. Việc kìm hãm sự phát triển của một chính quyền vững mạnh và có tinh thần trách nhiệm còn xuất phát từ tham vọng cá nhân của những chính trị gia vụ lợi cùng thái độ tiêu cực thâm căn cố đế của họ.

(e) Tính cách của Bảo Đại. Bảo Đại có thể đóng góp to lớn nhất vào việc cải thiện tình hình chính trị nếu ông có đủ ý chí và trí tuệ — điều không thể phủ nhận — để thực sự lãnh đạo và làm gương. Bảo Đại thường bày tỏ với tôi rằng ông sẵn sàng đảm nhận vai trò lãnh đạo như vậy khi hoàn cảnh cho phép. Cả phía Pháp lẫn Đại sứ quán đều đã thúc giục ông thực hiện trọn vẹn vai trò Quốc trưởng trong thời chiến. Tuy nhiên, khó có thể tin rằng những lời thúc giục đó sẽ khiến ông hành động thực sự như đòi hỏi của tình hình. Uy tín vốn đã khiêm tốn của ông đang ngày càng sụt giảm khi thói ham hưởng lạc và việc ông tích lũy tài sản ở nước ngoài bị lộ ra ngoài. Những âm mưu chính trị — chẳng hạn như vụ việc dẫn đến sự từ chức của Bộ trưởng Quốc phòng Trí — đang làm suy yếu vị thế của ông Tâm.

Tình hình quân sự không có chuyển biến đáng kể nào theo hướng có lợi cho lực lượng Pháp-Việt. Nhờ vào viện trợ quân sự của Hoa Kỳ, lực lượng Pháp-Việt đang ở vị thế mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn kinh tế trầm trọng đang bủa vây, Việt Minh vẫn có thể phát động cuộc tấn công vào vùng Thái; hành động này đã khiến quân Pháp bị bất ngờ và buộc họ phải chuyển sang thế phòng ngự thay vì nắm quyền chủ động như mong đợi. Mặc dù vùng Thái không có tầm quan trọng lớn về mặt chiến lược, nhưng lợi thế về mặt tâm lý mà Việt Minh đạt được lại rất đáng kể và gây ra những tác động bất lợi.

Mặc dù tinh thần binh sĩ Pháp rất tốt và quân đội được chỉ huy một cách tài tình, Bộ Chỉ huy vẫn gặp trở ngại do sự hạn chế về nguồn nhân lực từ chính quốc, đặc biệt là sĩ quan và kỹ thuật viên. Dường như Bộ Chỉ huy nhận thức rất rõ làn sóng phản đối dữ dội sẽ bùng phát tại Pháp nếu xảy ra tổn thất nhân lực lớn; điều này có lẽ đã phần nào kìm hãm quyết tâm theo đuổi các chiến dịch tấn công một cách mạnh mẽ.

Liên quan đến các chính sách và biện pháp cụ thể được đề nghị trong các bức điện số 2218 và 2224 của Đại sứ quán, một số tiến bộ đã đạt được. Tuy nhiên, đáng tiếc là các bước triển khai còn mang tính chắp vá và thiếu dứt khoát, dẫn đến việc không tạo được tác động tâm lý vốn đang rất cần thiết trong tình hình hiện nay. Dưới đây là tóm tắt tiến độ thực hiện theo từng hạng mục:

1. Về lập trường thực sự của Pháp: Letourneau đã đưa ra những tuyên bố đanh thép phản đối việc đàm phán với Việt Minh. Hiện nay, người Việt dường như ít tin hơn vào các tin đồn về những "thỏa thuận" với Việt Minh. Tuy nhiên, họ nhận thức rất rõ sự mệt mỏi của phía Pháp đối với cuộc chiến tại Đông Dương. Điều này tạo ra tác động hai chiều: một mặt, người Việt lo ngại rằng Pháp sẽ chỉ cố gắng giữ nguyên hiện trạng và chờ đợi một diễn biến mới; mặt khác, họ lại cảm thấy được khích lệ phần nào khi nhận thấy sự suy yếu của Pháp cũng như những lo ngại của nước này về vị thế tại châu Âu đang làm giảm khả năng Pháp có thể chống lại phong trào dân tộc chủ nghĩa. Hơn nữa, [Trang 357] nhận thức về việc Trung cộng mới là kẻ thù thực sự đối với nền độc lập của Việt Nam đang ngày càng gia tăng, dù vẫn chưa đầy đủ.

Pháp cần tiếp tục nhấn mạnh quyết tâm chống cộng sản đến cùng tại Đông Dương. Nếu quyết tâm này của Pháp được thể hiện rõ ràng trong các cuộc thảo luận về ngân sách, điều đó sẽ có tác động tích cực đến dư luận tại đây.

2. Tuyên bố về định hướng phát triển: Điều gần gũi nhất với một tuyên bố về định hướng phát triển là nhận định của ông Letourneau tại buổi tiệc trưa của Hiệp hội Báo chíWashington vào tháng 6 năm ngoái, khẳng định rằng Liên hiệp Pháp không phải là một nhà tù. Tuyên bố này đã gây xôn xao tại Paris và không được phía Pháp công bố rộng rãi. Sự việc này minh họa thái độ của Pháp đối với những tuyên bố mang tính chất như vậy; thái độ này, theo những gì chúng tôi được biết, vẫn chưa hề thay đổi. Việc thiếu một tuyên bố dứt khoát về các ý định của Pháp thường được cả người Việt Nam lẫn người nước ngoài nhắc đến như một trở ngại trong việc giành lấy lòng tin của người Việt Nam và các dân tộc châu Á khác.

Đại sứ quán đặt vấn đề liệu bất kỳ tuyên bố nào do Pháp đưa ra một cách đơn phương có được phía Việt Nam chấp nhận đúng như nội dung thể hiện và hoàn toàn tin tưởng hay không. Chắc chắn rằng tuyên bố đó sẽ không thể xóa bỏ ngay lập tức sự ngờ vực và lòng căm thù đối với người Pháp – những cảm xúc đã tích tụ qua nhiều năm và bắt nguồn từ các định kiến ​​về chủng tộc cũng như chủ nghĩa dân tộc. Tuy nhiên, Đại sứ quán tin rằng một tuyên bố mang tính tiến triển như đã thảo luận trong bức điện số 2224 sẽ là bước đi đúng hướng; mặc dù bản thân nó không mang tính quyết định trong việc đảm bảo sự hợp tác từ phía Việt Nam, nhưng đây có thể được xem là một cột mốc nữa trong việc Pháp khẳng định nền độc lập của các Quốc gia Liên kết (AS).

3. Việc tái tổ chức cơ cấu đại diện của Pháp tại Đông Dương: Các kế hoạch cải tổ cơ cấu đại diện của Pháp tại Đông Dương đã được soạn thảo và dự kiến ​​sẽ sớm được khia triển sau khi ngân sách Pháp được thông qua. Phía Pháp đã thể hiện tư duy sáng tạo trong vấn đề này, và hy vọng rằng bản chất của cơ cấu đại diện mới cũng như phong cách của các đại diện Pháp sẽ cho thấy rõ ràng rằng cuộc tái tổ chức này không chỉ đơn thuần là một "bình mới rượu cũ" cho chế độ cũ. Một bước đi đúng đắn để triển khai dự án này là phía Pháp nên từ bỏ việc sử dụng Dinh Norodom.

Vai trò của các công chức Pháp tại Đông Dương được cho là sẽ tiếp tục bị cắt giảm do quá trình tái tổ chức, tuy nhiên thông tin cụ thể về vấn đề này có lẽ sẽ chưa có cho đến khi các tổ chức mới đi vào hoạt động.

4. Viện trợ của Pháp dành cho AS: Pháp rõ ràng đang cân nhắc việc thiết lập các chương trình hỗ trợ về văn hóa và xã hội học. Được biết, ngân sách của Pháp hiện đang được thảo luận đã bao gồm các khoản chi cho giai đoạn khởi động với quy mô khiêm tốn. Đại sứ quán chưa nắm được thông tin chi tiết.

5. Quan hệ ngoại giao giữa Liên hiệp Pháp và các Quốc gia Liên kết (AS): Các mối quan hệ nội bộ trong Liên hiệp Pháp đang chuyển dịch theo mô hình Khối Thịnh vượng chung. Hiện có ba Quốc gia Liên kết đã cử Cao ủy tại Paris, đồng thời việc thiết lập các Cao ủy Pháp tại ba quốc gia này—với các chức năng tương đương cơ quan đại diện ngoại giao—cũng đã được dự kiến ​​trong đề án sửa đổi quy chế đại diện của Pháp tại Đông Dương. Hội nghị Hội đồng Tối cao vào tháng 11 đã khuyến nghị việc thiết lập cơ chế đại diện lẫn nhau giữa các Quốc gia Liên kết thông qua các phái đoàn; tuy nhiên, theo thông tin từ phía Văn phòng Cao ủy, kế hoạch thiết lập cơ chế đại diện mang tính chất ngoại giao dường như đang bị tạm hoãn, chủ yếu do những khó khăn trong việc xác định phạm vi thẩm quyền của các đại diện này. [Trang 358] Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Nhật Bản đã được thống nhất, và đại diện phía Nhật dự kiến ​​sẽ đến Sài Gòn vào tháng Tư.

Cả phía PhápAS đều tán thành việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Philippines, Ấn Độ, Ceylon, Indonesia cùng các quốc gia khác; tuy nhiên, tinh thần dân tộc cực đoan của các nước châu Á này đang là trở ngại. Những nỗ lực vận động các nước láng giềng công nhận AS đã được triển khai – đặc biệt là đối với Philippines – nhưng cho đến nay vẫn chưa mang lại kết quả cụ thể nào.

6. Hiệp định ngày 8 tháng 3 và Hiệp định Pau: Quy định bắt buộc mọi văn bản pháp luật Việt Nam phải được Cao ủy (High Commissariat) ban hành mới có hiệu lực áp dụng đối với công dân Pháp cư trú tại Việt Nam có lẽ là điều gây bất bình nhất trong số các đặc quyền dành cho người Pháp. Theo ông Cheysson, cố vấn chính trị của Thủ tướng Tâm, quyết định bãi bỏ quy định về việc ban hành luật này đã được thông qua tại cuộc họp gần đây của Hội đồng Tối cao ở Paris. Các tin tức báo chí về nội dung cuộc họp của Hội đồng Tối cao cho thấy một chuyên gia pháp lý người Pháp sẽ được cử đến Sài Gòn để nghiên cứu vấn đề này. Có vẻ như việc bãi bỏ quy định nói trên đã được thống nhất về mặt nguyên tắc, nhưng các chi tiết cụ thể về cách thức thực hiện thì vẫn cần được bàn thảo thêm.

Vấn đề sửa đổi các quy ước tư pháp giữa Phápchính quyền An Nam cũng đã được nêu ra tại cuộc họp của Hội đồng Tối cao và được cho là đang trong quá trình thảo luận. Các tòa án hỗn hợp có lẽ là đặc quyền ít có cơ sở biện minh nhất trong số những đặc quyền mà người Pháp được hưởng, song đáng ngạc nhiên là chúng lại không vấp phải nhiều sự phản đối từ phía người Việt.

Ngoài hai trường hợp nêu trên, dường như không có quyền đặc biệt nào khác được dành cho Pháp theo các hiệp định lại trở thành đối tượng của các cuộc thảo luận về việc hủy bỏ.

7. Các cơ quan của Liên hiệp Pháp: Đại sứ quán không ghi nhận bất kỳ cách giải thích nào về Hiến pháp Pháp hay các phán quyết quan trọng nào khác theo hướng đề cao hơn nữa nguyên tắc độc lập của các Quốc gia Liên kết (AS).

8. Quân đội Việt Nam: Phía PhápViệt Nam đã thống nhất về sự cần thiết phải mở rộng quy mô Quân đội Việt Nam thêm 41.000 quân, tuy nhiên vẫn còn một số chi tiết cần được giải quyết, đặc biệt là vấn đề phân chia tỷ lệ tài trợ cũng như việc trao cho Pháp quyền hạn và trách nhiệm quân sự lớn hơn đối với Quân đội Việt Nam. Quyết định gia tăng quân đội là một bước tiến quan trọng trong việc tiến hành chiến tranh, đồng thời chắc chắn là một quyết định có ý nghĩa lớn đối với việc hiện thực hóa nền độc lập của Việt Nam. Song song với đó, cần sớm triển khai các biện pháp nhằm thiết lập một cơ chế phối hợp kiểu "Bộ Tổng tham mưu liên hợp" giữa phía Việt Nam và Pháp.

Chưa có biện pháp nào được thực hiện để tăng cường tuyển dụng sĩ quan từ trường Đà Lạt hay các trường đào tạo sĩ quan dự bị, tuy nhiên vào tháng 1, chính phủ đã ban hành quy định kéo dài thời hạn phục vụ của sĩ quan dự bị và nhân viên kỹ thuật từ 18 tháng lên 3 năm.

Rõ ràng là sự dè dặt của phía Pháp về độ tin cậy của các sĩ quan Việt Nam vẫn là yếu tố kìm hãm việc mở rộng nhanh chóng đội ngũ sĩ quan này. Người Pháp có lý do để lo ngại về cả độ tin cậy chính trị lẫn năng lực chuyên môn của các sĩ quan, nhưng có thể họ đang tiếp cận vấn đề một cách quá thận trọng. Phía Pháp cũng tỏ ra không mấy mặn mà với ý tưởng huấn luyện tại Mỹ.

9. Ngoại thương của Việt Nam: Cho đến nay, các kế hoạch của Pháp dường như chỉ tập trung vào việc duy trì vị thế kinh tế của Pháp tại Đông Dương. Mặc dù một số người Pháp có thể chấp nhận thực tế rằng vị trí địa lý và hoàn cảnh khách quan tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại của Việt Nam với các khu vực lân cận ở châu Á – đặc biệt là Nhật Bản – nhưng chưa có quan chức Pháp có thẩm quyền nào tỏ ý cho thấy [Trang 359] rằng Pháp sẵn sàng thúc đẩy quan hệ thương mại bên ngoài khuôn khổ Liên hiệp Pháp.

10. Vốn Việt Nam: Chưa có bằng chứng nào cho thấy có kế hoạch thúc đẩy nguồn vốn Việt Nam phục vụ đất nước, hay buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải tái đầu tư tại Việt Nam khoản lợi nhuận lớn mà họ thu được.

Kết luận: Chúng tôi tin rằng các biện pháp và phương hướng hành động được đề nghị hồi tháng Năm vừa qua – những điều vẫn chưa được khai triển – đến nay vẫn là những bước đi cần thiết. Chúng tôi nhận thức rõ những trở ngại to lớn đối với một số đề nghị của mình, cũng như hiểu được những lý do chính đáng khiến phía Pháp hay phía Việt Nam chưa hành động theo các hướng đã được gợi ý. Chúng ta có thể cảm thấy phấn khởi trước thực tế là đã đạt được một số tiến bộ và tình hình chung cũng đã có những chuyển biến tích cực; tuy nhiên, chúng ta cần phải đẩy nhanh hơn nữa tiến độ thực hiện.

Tôi tin chắc rằng vào thời điểm hiện tại, không có bất kỳ dự án mới mẻ nào mà phía Pháp, Việt Nam hay chính chúng ta có thể thực hiện để góp phần quyết định vào việc sớm đánh bại Việt Minh. Tôi không tin rằng bất kỳ hội nghị hay nhóm nghiên cứu nào có thể tạo ra một "phép màu" như vậy vào lúc này. Đề nghị hứa hẹn mang lại kết quả quân sự mang tính quyết định nhất chính là việc tăng quân số cho Quân đội Quốc gia Việt Nam thêm 41.000 người. Cả phía Việt Nam và Pháp đều đã đồng ý về mặt nguyên tắc với đề nghị này, nhưng ngay cả khi công tác tuyển quân được tiến hành ngay lập tức, lực lượng tăng cường này cũng sẽ chưa thể sẵn sàng tham chiến cho đến tháng 11 năm sau.

Tôi tin rằng Tướng Trapnell – người sẽ có mặt tại Washington trong vài ngày tới – sẽ trình bày với ông rằng, với sự gia tăng lực lượng này, quân đội PhápViệt Nam có cơ hội "bẻ gãy xương sống" sự kháng cự quân sự có tổ chức của Việt Minh trong mùa chiến dịch 1953–1954, mặc dù kháng chiến du kích có thể vẫn tiếp diễn sau đó một thời gian, thậm chí là một thời gian dài. Chắc chắn chúng ta sẽ được đề nghị cung cấp vũ khí trang bị cho các tiểu đoàn mới, nhưng số lượng sẽ không lớn. Phía Pháp có thể sẽ chứng minh cho chúng ta thấy rằng ngân khố của Pháp và Việt Nam không đủ khả năng chi trả toàn bộ chi phí và kinh phí duy trì cho các tiểu đoàn tăng cường này, và chúng ta có thể sẽ được đề nghị hỗ trợ. Nếu có bằng chứng xác thực như vậy, vì lợi ích của chính mình, chúng ta nên đóng góp một phần – khoản đóng góp này không nhất thiết phải lớn. Tôi tin rằng các số liệu về chi phí cho việc tăng cường lực lượng này sẽ sớm có trong thời gian ngắn tới.

Trước đây, tôi từng nghĩ rằng nếu đích thân Bảo Đại nắm quyền điều hành chính phủ, ông có thể sẽ thành lập được một chính phủ đoàn kết dân tộc hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay tôi không tin rằng ông có đủ năng lực để trực tiếp lãnh đạo và làm gương – những yếu tố cần thiết – hay việc ông tự mình giữ chức Thủ tướng sẽ tạo ra tác động đáng kể đến dư luận hoặc các hành động của chính quyền. Trước mắt, chúng ta nên ủng hộ ông Tâm; bất chấp những hạn chế của mình, ông đang mang lại cho đất nước này một chính quyền tốt nhất kể từ khi giành lại độc lập. Có lẽ nếu Thống đốc Trí thành công trong công tác quản lý và bình định miền Bắc Việt Nam, ông ấy có thể sẽ kế nhiệm ông Tâm và thành lập một chính phủ năng động hơn.

Chúng tôi đang, [Trang 360] thông qua chương trình MSA, cung cấp sự hỗ trợ về tài chính và tinh thần cho ông Trí trong nỗ lực bình định tại miền Bắc. Chúng tôi sẽ tiếp tục thúc giục Bảo Đại, ông Tâm, cùng các bộ trưởng và thống đốc về sự cần thiết phải cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính. Các khoản tín dụng MSA của chúng tôi nhìn chung là đầy đủ và đủ linh hoạt để cho phép hỗ trợ một phần cho các biện pháp cải cách mới. Tất nhiên, một số diễn biến bất ngờ có thể mang lại cơ hội, hoặc thậm chí tạo ra sự cần thiết, để chúng tôi thử nghiệm những giải pháp hoàn toàn mới trong tình hình này.

Một bức điện tiếp theo sẽ đề cập đến các khuyến nghị nêu trong Bức điện số 2224 của Đại sứ quán; các khuyến nghị này chủ yếu mang tính chất kinh tế và xã hội học, đồng thời liên quan mật thiết đến MSA. Phần lớn các khuyến nghị này đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải hành động. Xét trên một khía cạnh nào đó, chúng thậm chí còn cấp thiết hơn, bởi đây chính là thời điểm để phía Việt Nam "nắm bắt cơ hội" và chủ động định hướng vận mệnh đất nước mình. Việc chứng minh được năng lực xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và có tinh thần trách nhiệm sẽ là minh chứng không thể chối cãi, cũng như là sự bảo đảm tốt nhất để giành lấy quyền tự chủ hành động mà phía Việt Nam vẫn luôn kiên quyết đòi hỏi.

Heath.

1.    Bức điện này được truyền đi thành bốn phần.

2.    Trong bức điện số 1381 gửi Sài Gòn ngày 6 tháng 1 năm 1953, Bộ Ngoại giao yêu cầu phân tích tình hình tại các Quốc gia Liên kết, dựa trên các báo cáo và khuyến nghị mà Sài Gòn đã gửi tới Washington trong các bức điện số 2218 ngày 10 tháng 5 năm 1952 (xem tr. 131) và số 2224 ngày 12 tháng 5 năm 1952 (xem tr. 134). (751G.00/5–1052) Một bản trình bày chi tiết bổ sung về quan điểm của Đại sứ Heath đối với tình hình Đông Dương vào thời điểm này có trong bức thư ông gửi cho Philip W. Bonsal, Giám đốc Văn phòng phụ trách các vấn đề PhilippinesĐông Nam Á, vào ngày 24 tháng 1 (văn bản này không được in lại). (751G.00/1–2452)

3.    Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm đã công bố những thay đổi lớn trong nội các của mình vào ngày 9 tháng 1. Việc tái cơ cấu này bao gồm việc bổ nhiệm ông Lê Văn Hoạch làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Thông tin, và ông Lê Quang Huy làm Quyền Bộ trưởng Quốc phòng.

4.    Cuộc bầu cử hội đồng xã và hội đồng đô thị đã được tổ chức tại các khu vực do chính quyền kiểm soát ở Việt Nam vào ngày 25 tháng 1. Trong bức điện số 1479 gửi từ Sài Gòn ngày 26 tháng 1, Đại sứ Heath đã nêu nhận định sau: “Còn quá sớm để đánh giá giá trị và năng lực của các ứng cử viên đắc cử, cũng như chưa rõ mức độ tham nhũng hay ‘gian lận’, nhưng có một điểm đáng chú ý là trong số những người đắc cử tại Sài Gòn có nhiều người theo chủ nghĩa dân tộc. Sự hưởng ứng mạnh mẽ của cử tri đối với quy trình dân chủ là minh chứng cho sự nhạy bén chính trị của ông Tâm. … Hành động này là một cú tát thẳng vào mặt Việt Minh – lực lượng giờ đây không còn có thể viện dẫn cuộc bầu cử tháng 1 năm 1946 là dịp duy nhất tham vấn ý nguyện của người dân – cũng như đối với những người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan thuộc phe ‘chờ thời’ (Attentistes), những kẻ từng dự đoán thất bại do sự thờ ơ của công chúng.” (751G.00/1–2653)

5.    Xem bức điện số 1534 gửi từ Sài Gòn ngày 4 tháng 2, tr. 378.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1953: Declining French military fortunes; the Viet Minh invasion of Laos; accelerated United States aid for Indochina (Documents 162–490)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp2

1.    Document 168

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

751G.00/1–2553: Telegram

The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State1

secret

Saigon, January 25, 1953—9 p.m.

1469. Re Deptel 1381 January 6.2Embtels 2218, May 10 and 2224 May 12 were drafted a few weeks prior to replacement Huu by Tam and reflect relatively stagnant political situation existing then. Like ourselves, French recognized this unhappy state affairs and Letourneau’s efforts at that time directed largely toward getting in government with more dynamism. About same time, Huu lost confidence of Bao Dai.

Although there were rumors current at time Bao Dai dismissed Huu and directed Tam form government that Letourneau had engineered change, Letourneau assured me he had no advance information appointment Tam. French, however, were pleased have Tam as President and his pro-French orientation has made for easier relations between French and Vietnamese Governments. On other hand, Tam’s Francophile [Page 355] sympathies and his sûreté background initially caused concern among Vietnamese nationalists. This concern has been dissipated to some extent as result of Tam’s performance to date. Tam has not, however, won support of any significant number of nationalists.

Salient characteristic Tam in contrast to Huu is his energy, but he is handicapped by:

(a)

Lack of capable team. Recent cabinet reshuffle3 eliminated some dead wood but failed to bring to Tam’s side any outstanding figure and important Defense Minister post remains unfilled. New cabinet is undoubtedly more loyal and probably slightly more capable than preceding one. But it is not a group to inspire Vietnamese and it contains an unduly large proportion of Cochin Chinese.

(b)

Magnitude and complexity of problems he faces. On analysis Tam’s much-vaunted action program remains more shadow than substance. But he must be given credit for activity, hard work and enthusiasm in much larger degree than his predecessors. He has produced budget and carried out elections.4 Point is not so much what Tam has failed to accomplish as what he has achieved considering that he must fight a war, institute social reforms, and get along with French and Bao Dai while at same time pushing for more self-determination for Vietnamese.

(c)

Lack of widespread popular support. This is a hard nut to crack. Letourneau and French officials argue, with considerable justification that because of French domestic political considerations and security factors in prosecution war in Indochina granting of additional concessions to AS and turning over of more responsibility to them can go no faster. On other hand, large proportion of politically conscious Vietnamese and Cambodians resent degree to which French continue to exert influence and enjoy privileges in Indochina, and therefore remain distrustful of French and refuse to participate actively and constructively in government. Some headway has been made, however, most heartening sign of more reasonableness on part of both French and Vietnamese being arrangement which brought Tri to governorship north Vietnam. Tam-Tri understanding is still in experimental stage however and is not to be regarded as definite solution.

(d)

Obstruction is due largely to vested interests, rivalries of political cliques and individuals. Blocking reforms are powerful French [Page 356] business interests with influence in French Assembly, government and High Commissariat and wealthy Vietnamese intent on maintaining control of large land holdings. Hampering development of strong, responsible government are personal ambitions of self-seeking politicians and their chronically negative attitudes.

(e)

Bao Dai’s character. Greatest single contribution to improving political situation could be made by Bao Dai if he had will [garbled group] undoubted intelligence to provide real leadership and example. Bao Dai has frequently spoken to me of his willingness, when circumstances are appropriate, to provide such leadership. Both French and Embassy have exhorted him to fulfill his role as Chief of State at war. It is to be doubted that exhortations will ever move him to real activity which situation requires. Small prestige which he enjoyed is declining as his self-indulgence and fact that he is piling up fortune abroad become known. Intrigue such as led to resignation Defense Minister Tri undercuts Tam.

Military situation has not changed significantly in favor of Franco-Viet Forces. Because of US military aid Franco-Viets are in stronger position than ever before. However, despite severe economic hardships besetting Viet Minh, they were able launch Thai country offensive which caught French off balance and forced them into series defensive moves rather than permitting them take initiative as had been hoped. While strategically Thai country is not of great importance, psychological advantage derived by Viet Minh has been impressive and unfortunate. Although French troop morale is good and army ably commanded, High Command handicapped by limitations on manpower available from France, particularly officers and technicians. High Command is apparently only too well aware of uproar which would arise in France if manpower losses were heavy and this probably has some inhibiting effect on aggressive pursuit of offensive operations.

With respect specific policies and measures recommended Embtel 2218 and 2224 some progress has been made. Unfortunately, however, it has been too piecemeal and often ambiguous with result that it has not produced psychological impact so badly needed in this situation. Summary of progress under various headings follows:

1.

French bona-fides: Letourneau has made strong statements against negotiation with Viet Minh. Less credence seems now to be given by Vietnamese to rumors of “deals” with Viet Minh. But Vietnamese are acutely aware of weariness French with Indochinese war. This has double effect. On one hand, Vietnamese are afraid French will attempt merely hold what they have, waiting for something to turn up. On other hand, they derive certain encouragement from fact France’s weakness and concern with her position in Europe lessen chances France withstanding nationalist movement AS. Moreover, [Page 357] there is growing, but as yet inadequate awareness that real enemy Vietnamese independence is Communist China.

France should continue stress its determination to fight communism to finish in Indochinese [Indochina], If during budget debates French determination is clearly set forth, this should have favorable influence on public opinion here.

2.

Evolutionary statement: Nearest thing to evolutionary statement was Letourneau’s comment at press association luncheon in Washington last June to effect French Union not a prison. This statement created some stir in Paris and has not been publicized by French. Incident illustrates French attitude on statement of this nature, which so far as we are aware has not changed.

Lack of unequivocal declaration regarding French intentions is often mentioned by Vietnamese and foreigners as stumbling block to winning confidence Vietnamese and other Asians. Embassy questions whether any statement made unilaterally by France would be accepted at face value and given full credence by Vietnamese. It certainly would not dissipate overnight mistrust and hatred of French accumulated over years and founded on racial and nationalistic prejudices. Nevertheless, Embassy believes that evolutionary statement of nature discussed Embtel 2224 would be move in right direction and, while not decisive in itself in assuring Vietnamese cooperation, could be pointed to as another milestone in French affirmation of AS independence.

3.

Reorganization of French representation in Indochina: Plans for transformation French representation in Indochina have been worked out and are scheduled to be put into effect soon after passage French budget. French have shown imaginative thinking in this matter and it is to be hoped that character of new representation and personality French representatives will clearly indicate that reorganization is not merely new facade for old regime. A good move for French in putting project into effect would be to give up Norodom Palace.

Roles of French functionaries in Indochina will reportedly be further reduced by reorganization, but definite information on this score will probably not be available until activation new organizations.

4.

French aid to AS: French clearly thinking in terms of establishing cultural and sociological aid programs. It is understood that provisions for modest start included in French budget now under discussion. Details not known to Embassy.

5.

French Union and AS diplomatic representation: Internal French Union relationships have been moving toward Commonwealth model. Three AS now have High Commissioners in Paris and establishment of French High Commissioners in three AS with attributes of diplomatic mission envisaged in project for amending character French representation Indochina. High Council meeting November recommended mutual representation among AS by means delegation but according information from High Commissariat source, diplomatic type representation appears to be on ice for moment, largely because of difficulties defining attributions representatives.

[Page 358]

Establishing of diplomatic relations with Japan is agreed and Japanese representative is expected to arrive in Saigon in April.

Desirability of establishment of diplomatic relations with Philippines, India, Ceylon, Indonesia and other states is agreed to by both French and AS but in this matter hyper-nationalistic attitudes of these Asian states is stumbling block. Efforts to influence neighboring states to recognize AS have been made, notably as regard Philippines, but so far without tangible results.

6.

March 8 and Pau accords: Stipulation which provides all Vietnamese laws must be promulgated by High Commissariat in order apply to French nationals residing Vietnam has perhaps been most unpopular of various privileges accorded French. According Cheysson, political counselor President Tam, repeal promulgation provision was definitely decided at recent meeting High Council Paris. Press account High Council transactions indicates French jurist to be sent Saigon to study question. Appears that abrogation provision agreed to in principle but mechanics implementation still to be worked out.

Question of revision judicial conventions between French and AS also raised at High Council meeting and this question understood to be currently under discussion. Mixed courts are probably least defensible of special privileges enjoyed by French but surprise (approx 15 character garbled) not been source much objection by Vietnamese.

Except for above two, none of special rights accorded French under accords appears to be subject of abrogation discussions.

7.

Organs of French Union: Embassy knows of no interpretations of French constitution or other significant rulings in direction of doing more honor to principle of independence of AS.

8.

Vietnamese Army: French and Vietnamese are agreed on need to expand Vietnamese Army by 41,000 men but there remain to be worked out certain details notably as regards proportionate share financing and great French military authority and responsibility for Vietnamese Army. Decision to expand army important step forward in prosecution of war and undoubtedly a significant decision as regards giving real substance to Vietnamese independence. Coupled with this, measures should be taken immediately to form some sort joint chiefs of staff arrangement between Viets and French.

No measures have been taken to increase intake of officers from Dalat school or of schools training reserve officers, but government in [Jan] 19 promulgated measure to increase length service reserve officers and technicians from 18 months to 3 years.

It is evident that French reservation regarding reliability of Vietnamese officers continues to be limiting factor to more rapid expansion Vietnamese officer corps. French have reason to be concerned regarding both political reliability and professional ability officers but it is possible they may be taking too cautious an approach to problem. French also remain cool to idea of training in US.

9.

Vietnamese foreign trade: So far French planning seems to have been directed solely in direction preserving French economic position Indochina. While some Frenchmen may accept principle that geography and circumstances favor Vietnamese trade with nearby Asian areas, notably Japan, no responsible French official has yet given indication [Page 359] that France is prepared to foster trade relations outside French Union.

10.

Vietnamese capital: There has been no evidence of planning to foster Viet capital for nation or to force reinvestment in Vietnam of large profits made by foreign firms.

Conclusion: We believe that measures and lines of action recommended last May, which have not yet been put into effect are still desirable. We recognize that there are formidable obstacles to some of our proposals and that there are reasonable explanations why French or Viets have not acted along lines suggested. We can be heartened by fact that some progress has been made and that over-all situation has shown some improvement. But we must make more rapid progress.

I am convinced that at this precise time there is no single, novel project which French, Vietnamese, or ourselves can undertake which would decisively contribute to accomplishment early defeat of Viet Minh. I do not believe any conference or study group can “pull such a rabbit out of the hat” at this time. Proposal which promises most decisive military result is that of increasing Vietnamese National Army by 41,000 men. This is agreed to in principle by both Vietnamese and French but, even if recruitment is undertaken immediately this increase force will not be available until November next.

General Trapnell, who will be in Washington in a few days, will tell you, I believe, that with this increase Franco-Viet Forces have chance of “break in the back” of Viet Minh organized military resistance in 1953–54 campaign season, although guerrilla resistance may continue thereafter for a time, perhaps for a long time. We will undoubtedly be called up to provide armament for new battalions but amount should not be great. French may be able to prove to us that France and Vietnamese Treasuries cannot afford to pay full cost and maintenance of these extra battalions, and we may be called upon to assist. If such [proof] is forthcoming, we should in our own interest make a contribution, which need not be large. Figures on costing of increase will be available, I believe within a short time.

In the past I had thought that were Bao Dai himself to take over actual reins of government, he might be able to form an effective government of national unity. I am not convinced now that he has energy to provide necessary direct leadership and example and that his becoming his own Prime Minister would greatly influence public opinion or governmental action. For the moment, we should support Tam, who whatever his deficiencies, is giving this country best government it has had since independence was regained. Perhaps if Governor Tri makes a success of his administration and pacification of north Vietnam, he might succeed Tam and form a more dynamic government. We are, [Page 360] through MSA giving financial and moral support to Tri in his pacification effort in the north. We will continue to urge on Bao Dai, Tam, and Ministers and Governors necessity of reforms and improvements in administrations. Our MSA credits are generally adequate and sufficiently elastic to permit us to extend some support to new reform measures. Of course some unforeseen turn of events may provide us with opportunity or indeed the necessity of attempting something radically new in this situation.

A subsequent telegram will discuss recommendations made in Embassy Telegram No. 2224 which are largely of economic and sociological character and in considerable degree concern MSA.5 These recommendations are largely for action by Viet Government. In a sense they are even more urgent for now is the time for Viets to “grab the ball” and take initiative in guiding destiny of their country. Demonstration of capability of Viets for strong, responsible government would be uncontestable argument and best guarantee of securing freedom of action Viets so persistently demand.

Heath

1.    This telegram was transmitted in four parts.

2.    In telegram 1381 to Saigon, Jan. 6, 1953, the Department of State requested an analysis of the situation in the Associated States with reference to the account and recommendations which Saigon had transmitted to Washington in telegrams 2218 of May 10, 1952 (see p. 131), and 2224 of May 12, 1952 (see p. 134). (751G.00/5–1052)

An additional detailed exposition of the views of Ambassador Heath on the situation in Indochina at this time is contained in a letter he transmitted to Philip W. Bonsal, Director of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs, on Jan. 24, not printed. (751G.00/1–2452)

3.    Premier Nguyen Van Tam announced major changes in his cabinet on Jan. 9. Included in the reorganization was the appointment of Le Van Hoach as Vice Premier and Minister of Information, and of Le Quang Huy as Minister of Defense ad interim.

4.    Elections for village and municipal councils were held in the government-controlled areas of Vietnam on Jan. 25. In telegram 1479 from Saigon, Jan. 26, Ambassador Heath stated the following: “Too early judge worth and capabilities elected candidates, and degree corruption or ‘rigging’ unknown, but interesting note that among successful Saigon candidates were number Nationalists. Enormous response voters in democratic process testimony to Tam’s political acumen. … Action is clear slap in face Viet Minh, who now no longer can point to January 1946 elections as only consultation popular will, and to extreme Nationalist Attentistes who predicted failure owing public apathy.” (751G.00/1–2653)

5.    See telegram 1534 from Saigon, Feb. 4, p. 378.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d168

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_355

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_356

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_357

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_358

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_359

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_360

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_378

Thân thế (các) nhân vật

Bao Dai,

Chief of State of Vietnam.

Bonsal, Philip W.,

Counselor of Embassy in France to March 1952; Director of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs, Department of State, from August 1952.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/persons

https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1954-03-march_0.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d223

https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/ReconsideringGenevaConf_1.pdf

https://huskiecommons.lib.niu.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=5991&context=allgraduate-thesesdissertations

https://www.jaas.gr.jp/jjas/pdf/1981/No.01-119.pdf

Heath, Donald R.,

Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath

https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read

https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/

Letourneau, Jean,

French Minister in Charge of Relations with the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner in Indochina, April 1952–July 19, 1953.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220

https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53

https://en.wikisource.org/wiki/United_States_%E2%80%93_Vietnam_Relations,_1945%E2%80%931967:_A_Study_Prepared_by_the_Department_of_Defense/IV._A._4._U.S._Training_of_Vietnamese_National_Army,_1954%E2%80%9359

https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html

Nguyen Huu Tri,

Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet (Vietnamese political party).

Nguyen Van Tam,

Minister of the Interior of the State of Vietnam and Acting Governor of Northern Vietnam to June 3, 1952; Prime Minister of the State of Vietnam, June 3, 1952–December 17, 1953.

Sihanouk, Prince Norodom,

Norodom Sihanouk,

King of Cambodia to March 1955, thereafter Prince of Cambodia; Prime Minister and Foreign Minister, October 1955–January 1956; Prime Minister, Foreign Minister, and Minister of the Interior, March–April 1956; Prime Minister, September–October 1956; Prime Minister, Foreign Minister, Minister of Plans, and Minister of the Interior, April–July 1957

Cambodian Head of State until March 1970; thereafter, leader of Cambodian Government in exile in Beijing

Prince, Head of State of Cambodia until March 18, 1970; thereafter, leader of the Cambodian government-in-exile in Beijing (GRUNK)

4/11/75 - Phnom Penh Evacuation

Trapnell, Thomas J. H.,

Major General, Chief of the United States Military Assistance Advisory Group in Indochina, August 1952–February 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Thomas_J._H._Trapnell

https://army.togetherweserved.com/army/servlet/tws.webapp.webapp?cmd=ShadowBoxProfile&type=Person&ID=238525&binder=true

https://valor.militarytimes.com/recipient/recipient-22747/

https://alumni.westpointaog.org/memorial-article?id=43659d74-1c8e-4252-a8d4-f2b73b491be0

https://oaktrust.library.tamu.edu/server/api/core/bitstreams/ff79c892-fc30-4773-8fff-5b57678deceb/content

https://apps.dtic.mil/sti/pdfs/ADA324510.pdf

No comments:

Post a Comment