Monday, October 19, 2026

20261020 CDTL NRM D112 3 July 1975 112. Bản ghi nhớ của các Phụ tá Ngoại trưởng

20261020 CDTL NRM D112 3 July 1975 112. Bản ghi nhớ của các Phụ tá Ngoại trưởng Habib, Gleysteen, Lord và Richard H. Solomon gủi Ngoại trưởng Kissinger.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d112

Google Translated

Tài liệu số 112

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập XVIII, Trung Quốc, 1973–1976

112. Bản ghi nhớ của Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương (Habib), Phó Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương (Gleysteen), Giám đốc Ban Hoạch định Chính sách (Lord) và Richard H. Solomon thuộc Ban tham mưu Hội đồng An ninh Quốc gia gửi Ngoại trưởng Kissinger

Washington, ngày 3 tháng 7 năm 1975.

CHỦ ĐỀ

Quan hệ Mỹ–Tầu cộng (CHND Tầu cộng) và các phương án tiếp cận chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống: Các nhiệm vụ trong thời gian còn lại của năm 1975

Chính sách của chúng ta đối với Trung Quốc hiện đang ở thế giằng co giữa hai xu hướng rất mâu thuẫn: Một mặt, chúng ta đang định hướng theo mục tiêu đã được xác lập trong Thông cáo Thượng Hải. Trong bài phát biểu trước Quốc hội ngày 10 tháng 4, Tổng thống đã tái khẳng định mong muốn thăm Bắc Kinh vào cuối năm nay nhằm "đẩy nhanh" tiến trình bình thường hóa quan hệ. Trong cuộc gặp với Hoàng Trấn (Huang Chen) vào ngày 9 tháng 5, ông đã đặt vấn đề về thời điểm và chương trình nghị sự cho chuyến thăm của Tổng thống, đồng thời bày tỏ sự quan tâm đến quan điểm của Bắc Kinh về các vấn đề này. Như vậy, cả trên phương diện công khai lẫn riêng tư, chúng ta vẫn duy trì kỳ vọng nơi giới lãnh đạo Tầu cộng cũng như công chúng trong nước rằng tiến trình bình thường hóa vẫn đang tiếp diễn.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, các lực lượng chính trị trong nước và quốc tế—được củng cố bởi những sự kiện tại Đông Dương và duy trì bởi các diễn biến ở những nơi khác trên thế giới—đang tạo ra những trở ngại mới đối với việc thay đổi mối quan hệ của chúng ta với Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Việc Thượng nghị sĩ Goldwater công khai chất vấn Chính quyền vào thời điểm diễn ra tang lễ Tưởng Giới Thạch chỉ là biểu hiện rõ nét nhất cho hàng loạt áp lực đè nặng lên Tổng thống, buộc ông phải tránh hoặc trì hoãn việc điều chỉnh các mối quan hệ pháp lý và an ninh với Đài Loan—vốn là trọng tâm của tiến trình "bình thường hóa" quan hệ với Bắc Kinh. Phản ánh những áp lực này, Tổng thống hiện đã công khai (dù có thể là vô tình) tái khẳng định các cam kết của chúng ta đối với Đài Bắc; đồng thời, ông cũng đã tuyên bố—cả trong các cuộc trao đổi riêng (với Ngoại trưởng Nhật Bản) lẫn công khai (trên tạp chí *U.S. News and World Report*)—rằng chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống sẽ không nhất thiết dẫn đến việc bình thường hóa quan hệ hoàn toàn.

Tất nhiên, ẩn sau những xu hướng mâu thuẫn này là tầm quan trọng lâu dài đối với Hoa Kỳ trong việc bình thường hóa quan hệ với CHND Tầu cộng, nhằm tái cấu trúc các mối quan hệ chính trị và quân sự giữa các cường quốc. Tuy nhiên, mục tiêu này hiện đang xung đột với nhu cầu cấp bách là phải trấn an các đồng minh chủ chốt (và cảnh báo các đối thủ tiềm tàng) sau những thất bại của chúng ta tại Đông Dương. Tình hình càng trở nên phức tạp hơn bởi các yếu tố chính trị trong nước mà Tổng thống phải cân nhắc khi đối mặt với cuộc bầu cử lại vào năm 1976.

Bản ghi nhớ này nhằm cung cấp cho ông cái nhìn tổng quan về một số phương án rất khác nhau mà chúng ta có thể áp dụng trong quan hệ với Bắc Kinh trong thời gian còn lại của năm nay. Chúng tôi cho rằng các quyết định cụ thể mà Tổng thống sẽ đưa ra về chính sách đối với Tầu cộng vào mùa thu này sẽ được định hình bởi sự kết hợp giữa các diễn biến quốc tế trong vài tháng tới (đặc biệt là những vấn đề liên quan đến ngoại giao Trung Đông và quan hệ Xô-Mỹ) và nhận định của chính ông về tác động của các bước đi tiếp theo với Bắc Kinh đối với cả chính sách đối ngoại lẫn tương lai chính trị trong nước của mình.

Để mang đến cho ông các phương án tiếp cận đa dạng trong việc xử lý quan hệ với CHND Tầu cộng trong phần còn lại của năm 1975, các phần tiếp theo của tài liệu này sẽ phân tích những vấn đề và khía cạnh liên quan đến ba cách thức xử lý hội nghị thượng đỉnh tại Bắc Kinh:

—Hoãn vô thời hạn.

—Một chuyến thăm mang tính "duy trì" quan hệ.

—Bình thường hóa hoàn toàn.

• Ngoài ra, chúng tôi xem xét các vấn đề cần được giải quyết nếu ông muốn, ít nhất là, thảo luận với các nhà lãnh đạo Tầu cộng về các điều khoản cho một thỏa thuận bình thường hóa toàn diện.

• Chúng tôi tóm tắt những nhiệm vụ còn lại trong năm nay liên quan đến việc xử lý quan hệ với CHND Tầu cộng, bất kể loại hình hội nghị thượng đỉnh nào mà ông và Tổng thống muốn tổ chức.

• Chúng tôi đề xuất một số lĩnh vực vấn đề và chủ đề liên quan đến cuộc đối thoại chính thức của chúng ta với phía Tầu cộng, cũng như mối liên hệ của chúng với các cuộc thảo luận sắp tới của ông tại Bắc Kinh.

• Trong phần phụ lục (Mục A), chúng tôi xem xét định hướng hiện tại của CHND Tầu cộng đối với tiến trình bình thường hóa.

Quan điểm của chúng tôi không phải là theo đuổi "bình thường hóa bằng mọi giá", mà là lợi ích chính sách đối ngoại lâu dài của Hoa Kỳ sẽ được củng cố thông qua việc tăng cường mối quan hệ hiện tại (dù còn hạn chế) với Bắc Kinh; đồng thời, nếu đạt được một thỏa thuận bình thường hóa chấp nhận được ngay lúc này, chúng ta có thể tránh được các vấn đề rắc rối với CHND Tầu cộng trong tương lai với cái giá tương đối thấp, cũng như tạo dựng được vị thế thuận lợi tại châu Á cho [Trang 677] tương lai. Chúng tôi tin rằng, ít nhất thì cũng có những lý do quan trọng để nỗ lực một cách nghiêm túc nhằm thảo luận với các nhà lãnh đạo cấp cao của CHND Tầu cộng về các điều khoản cho một thỏa thuận toàn diện về bình thường hóa hoàn toàn, mặc dù cuối cùng chính Tổng thống sẽ là người quyết định mức độ tiến triển của tiến trình này. Phía Tầu cộng —sau những diễn biến tại Đông Dương—dường như đang mong muốn hơn bao giờ hết có một mối quan hệ công khai với Hoa Kỳ vì lý do an ninh. Do đó, đây có lẽ là thời điểm thuận lợi nhất để họ đáp ứng các nhu cầu chính trị của chúng ta; và chừng nào Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai còn tại vị, thì Bắc Kinh vẫn có đủ thẩm quyền để đạt được thỏa thuận và triển khai thực hiện nó. Tuy nhiên, mức độ linh hoạt cụ thể của Tầu cộng đối với vấn đề nhạy cảm nhất—an ninh tương lai của Đài Loan—sẽ chỉ được làm rõ thông qua các cuộc đàm phán trực tiếp.

Đồng thời, trong những ngày gần đây, các nhà lãnh đạo cấp cao của CHND Tầu cộng đã công khai cho thấy họ sẽ chấp nhận một chuyến thăm của Tổng thống ngay cả khi chuyến thăm đó không dẫn đến việc bình thường hóa hoàn toàn. Điều này mang lại cho chúng ta sự linh hoạt cao hơn trong việc lên kế hoạch cho chuyến thăm của Tổng thống, mặc dù vẫn còn đó những rủi ro (chủ yếu liên quan đến tiến trình chính trị nội bộ của Tầu cộng) khi cố gắng duy trì quan hệ với Bắc Kinh ở mức độ hiện tại thêm vài năm nữa. Do đó, chúng tôi tin rằng nếu Ngài có thể đạt được những cam kết chắc chắn từ phía Tầu cộng về vấn đề an ninh Đài Loan, đồng thời các khía cạnh chính trị và kinh tế khác trong thỏa thuận tổng thể về bình thường hóa quan hệ đều khả quan, thì việc hoàn tất thỏa thuận gắn liền với chuyến thăm của Tổng thống sẽ mang lại lợi ích cho chúng ta.

Ba phương án tiếp cận Hội nghị thượng đỉnh Bắc Kinh: Hoãn vô thời hạn; Chuyến thăm duy trì quan hệ; hoặc Bình thường hóa hoàn toàn.

Chúng tôi cho rằng—mà không cần xem xét lại toàn bộ các lập luận—việc hướng tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ Mỹ-Trung (PRC) và hoàn tất tiến trình này trong thời gian ngắn nhất có thể về mặt chính trị vẫn là một cam kết cơ bản trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Những vấn đề còn lại cần giải quyết là các điều khoản cụ thể cho thỏa thuận bình thường hóa và thời điểm thực hiện chúng.

Chúng tôi cũng cho rằng (như ông đã đề cập với Hoàng Trấn vào ngày 9 tháng 5) bất kể hình thức chuyến thăm nào của Tổng thống mà ông muốn tổ chức, thì trước đó ông cần thực hiện một chuyến đi tiền trạm để đàm phán về các vấn đề chính trị. Chuyến đi tiền trạm này có thể được sắp xếp trước hoặc sau hội nghị thượng đỉnh với Brezhnev, mặc dù chúng tôi nhận thấy việc thực hiện chuyến đi trước hội nghị sẽ mang lại những lợi thế nhất định về mặt chính trị. Một chuyến thăm Bắc Kinh vào thời điểm sau cuộc gặp của ông với Gromyko vào tháng 7 (có thể là tháng 8 hoặc nửa sau tháng 9) được cho là sẽ tạo thêm áp lực lên phía Liên Xô trước chuyến thăm của Brezhnev; và mặc dù phía Tầu cộng có thể tỏ ra dè dặt hơn về các điều khoản bình thường hóa—như một cái giá phải trả cho việc bị Mỹ công khai sử dụng làm quân bài đối trọng với Nga—họ cũng sẽ lo ngại rằng sự trì trệ trong quan hệ Mỹ-Trung có thể khiến chúng ta ngả về phía một mối quan hệ gần gũi hơn với Moscow. [Trang 678]

Xét từ một góc độ khác, sự thiếu chắc chắn của Tầu cộng về kết quả cụ thể của hội nghị thượng đỉnh với Liên Xô (tương tự như tình trạng trước chuyến thăm Washington của Brezhnev) có thể tạo ra bối cảnh thuận lợi hơn cho các cuộc thảo luận của ông tại Bắc Kinh so với tình huống sau hội nghị, khi mà các nhà lãnh đạo Tầu cộng có thể cho rằng chúng ta đang tiến tới sự "thông đồng" chặt chẽ hơn với Moscow. Tuy nhiên, cũng có thể lập luận rằng ngay cả những bước tiến đáng kể trong quan hệ Xô-Mỹ cũng sẽ chỉ thúc đẩy Bắc Kinh muốn "theo kịp" chúng ta thay vì rút lui (như trường hợp đã xảy ra vào tháng 11 năm ngoái sau hội nghị thượng đỉnh Vladivostok).

Nhận định tổng quát của chúng tôi về những yếu tố này là việc ông thực hiện chuyến thăm tiền trạm tới Bắc Kinh trước hội nghị thượng đỉnh với Brezhnev sẽ là hành động hữu ích và kịp thời nhất. Nếu ông đến Bắc Kinh vào tháng 10 hoặc đầu tháng 11, sẽ phát sinh thêm những bất lợi do thời gian chuẩn bị quá ngắn trước chuyến thăm của Tổng thống, gây khó khăn cho công tác lập kế hoạch kỹ thuật và các khâu chuẩn bị liên quan đến những diễn biến chính trị có thể xảy ra. Những bước tiến triển muộn màng như vậy có thể buộc phải hoãn chuyến đi của Tổng thống sang tháng 12 hoặc đầu mùa đông năm 1976.

Hoãn vô thời hạn Hội nghị thượng đỉnh Bắc Kinh

Xét thấy hiện nay chúng ta đã có hình dung khá rõ ràng về các yếu tố có thể có trong một thỏa thuận bình thường hóa quan hệ, ông và Tổng thống có thể quyết định rằng thời điểm chưa chín muồi để hoàn tất việc bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Bắc Kinh, và do đó, hội nghị thượng đỉnh với CHND Tầu cộng nên bị hoãn vô thời hạn. Quyết định này có lẽ sẽ được định hình rõ nét hơn qua các cuộc thảo luận mà ông sẽ tiến hành trong chuyến đi tiền trạm; tuy nhiên, nếu không muốn chính thức hóa lập trường đàm phán của phía Tầu cộng hay Hoa Kỳ, ông có thể dàn xếp việc hoãn chuyến đi một cách gián tiếp thông qua các kênh liên lạc với Văn phòng Liên lạc của CHND Tầu cộng.

Việc hoãn vô thời hạn chuyến thăm của Tổng thống sẽ gây tác động lớn đến cả tương lai quan hệ Mỹ–Trung lẫn các hoạt động đối ngoại khác của chúng ta. Một nguồn áp lực quan trọng lên Liên Xô sẽ bị đặt dấu hỏi (mặc dù tầm quan trọng trong ngắn hạn của yếu tố này có thể giảm bớt sau hội nghị thượng đỉnh thành công với Brezhnev), đồng thời dư luận quốc tế sẽ có cảm giác chung rằng quan hệ Mỹ–Trung đang bị đình trệ. Thực tế, chúng tôi cho rằng nếu phía Mỹ quyết định hoãn chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống, điều này sẽ làm đóng băng mọi bước tiến đáng kể trong quan hệ song phương cho đến sau cuộc bầu cử mùa thu năm 1976, và có lẽ kéo dài sang tận năm 1977.

Trong bối cảnh đó, mặc dù các nhà lãnh đạo Bắc Kinh mà chúng ta đang làm việc cùng—theo mọi bằng chứng hiện có—sẽ tìm cách duy trì mối quan hệ ở trạng thái hiện tại, nhưng chúng ta sẽ phải chấp nhận rủi ro rằng một số diễn biến có thể xảy ra và làm mất đi triển vọng đạt được một mối quan hệ ổn định, bình thường hóa hoàn toàn với CHND Tầu cộng: Mao Trạch Đông và/hoặc Chu Ân Lai rất có thể sẽ qua đời trong vòng hai hoặc ba năm tới. Hệ quả là, sự đồng thuận về chính sách và liên minh lãnh đạo—những yếu tố đang mang lại sự nhất quán hiếm thấy cho nền chính trị Bắc Kinh suốt hai thập kỷ qua—có nguy cơ bị phân rã. Những áp lực đòi hỏi một chính sách ôn hòa hơn đối với Liên Xô (một quan điểm dường như xuất phát từ giới quân sự) mà chúng ta từng thấy thể hiện trên các phương tiện truyền thông Tầu cộng, có thể sẽ bùng phát thành một cuộc tranh giành quyền lực kế nhiệm. Ngoài ra, khả năng thay đổi chính quyền tại Washington sau năm 1976 có thể đặt Bắc Kinh trước một dàn nhân sự mới—những người mà họ có thể sẽ không có thiện cảm và buộc phải xây dựng lại các kênh đối thoại từ đầu.

Tóm lại, sự trì hoãn tiềm ẩn nguy cơ can thiệp từ các lực lượng chính trị có thể gây phức tạp đáng kể cho nỗ lực bình thường hóa quan hệ. Tất nhiên, yếu tố này cần được cân nhắc kỹ lưỡng bên cạnh những khía cạnh khác—vốn vẫn khẳng định rằng việc hoàn tất tiến trình do ông cùng Tổng thống Nixon, Chủ tịch Mao và Thủ tướng Chu khởi xướng từ năm 1970 là vì lợi ích quốc gia của cả Tầu cộng lẫn Hoa Kỳ.

Dựa trên những cân nhắc nêu trên, chúng tôi thẳng thắn cho rằng việc hoãn vô thời hạn chuyến thăm của Tổng thống là điều không thể chấp nhận được. Cơ sở chính trị dẫn đến việc khởi động tiến trình bình thường hóa vẫn còn nguyên giá trị; và bất chấp bầu không khí trong quan hệ với phía Tầu cộng có phần trầm lắng, tầm quan trọng của một mối quan hệ ổn định giữa Hoa Kỳ và Tầu cộng đối với tổng thể chính sách đối ngoại của Chính quyền khiến cho việc chấm dứt thực tế các cuộc đối thoại chính trị với Bắc Kinh—hay thậm chí là loại bỏ cả những biểu hiện mang tính hình thức trong quan hệ hai bên—sẽ gây ra cái giá phải trả đắt hơn nhiều so với, chẳng hạn như, một chuyến thăm của Tổng thống chỉ mang tính chất tượng trưng. Hơn nữa, phía Tầu cộng hiện đang phát đi tín hiệu—thông qua những phát biểu của Đặng Tiểu Bình với một nhóm biên tập viên báo chí Mỹ vào đầu tháng Sáu, cũng như qua các chỉ đạo chính thức khác mà chúng tôi nắm được từ các báo cáo của CAS—rằng họ mong muốn chuyến thăm của Tổng thống vẫn diễn ra, bất kể chuyến thăm đó có dẫn đến việc bình thường hóa hoàn toàn hay không. [Trang 680]

Một Hội nghị Thượng đỉnh nhằm "Duy trì Quan hệ"

Nếu ông và Tổng thống quyết định rằng các điều kiện của Bắc Kinh về bình thường hóa quan hệ là không thể chấp nhận được về mặt chính trị, nhưng vẫn muốn duy trì một mối quan hệ công khai với phía Tầu cộng, chúng tôi tin rằng Bắc Kinh sẽ thấy có lợi khi tổ chức một hội nghị thượng đỉnh mang tính hình thức—ngay cả khi hội nghị đó không tạo ra bước đột phá lớn nào hướng tới việc thiết lập quan hệ ngoại giao. Như các nhà lãnh đạo cấp cao Tầu cộng đã nhiều lần nói với ông, mặc dù họ muốn giải quyết vấn đề Đài Loan, họ sẵn sàng chờ đợi nếu Mỹ "cần Đài Loan". Báo chí thế giới đã đưa tin về phát biểu của Đặng Tiểu Bình vào ngày 3 tháng 6, khẳng định rằng Tổng thống Ford sẽ được chào đón tại Tầu cộng ngay cả khi không đạt được thỏa thuận nào về các vấn đề lớn giữa hai nước [tức là vấn đề Đài Loan].

Chúng tôi thậm chí không hoàn toàn loại trừ khả năng các nhà lãnh đạo CHND Tầu cộng không muốn tiến hành bình thường hóa vào thời điểm này; có thể vì họ biết cái giá mà Mỹ đưa ra là không thể chấp nhận được xét về mặt chính trị nội bộ của họ, hoặc vì họ không muốn gây ra thêm những thay đổi chính trị trong khu vực sau các sự kiện tại Đông Dương—những thay đổi có thể tạo thêm cơ hội cho Tầu cộng mà Tầu cộng có thể buộc phải đối phó với nguồn lực hạn chế. Ít nhất có thể nói rằng tình trạng quan hệ Mỹ - Tầu hiện nay, cùng với lập trường "giữ nguyên trạng" của Mỹ đối với vấn đề Đài Loan, là mức tối thiểu có thể chấp nhận được xét theo lợi ích của Tầu cộng vào lúc này.

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy hai vấn đề nảy sinh từ một hội nghị thượng đỉnh mang tính hình thức—chỉ nhằm duy trì quan hệ với Bắc Kinh ở mức hiện tại—và cả hai đều liên quan đến việc xây dựng một chương trình nghị sự thực chất. Sẽ rất khó để xác định một kết quả quan trọng nào đó (dù chưa đạt đến mức bình thường hóa hoàn toàn) nhưng đủ sức thuyết phục để biện minh cho chuyến thăm Bắc Kinh lần thứ hai của Tổng thống. Một chuyến đi chỉ nhằm mục đích "trao đổi quan điểm về các vấn đề cùng quan tâm" có thể bị báo chí chỉ trích là không xứng đáng với quỹ thời gian quý báu của ông Ford, cũng như là sự huy động uy tín Tổng thống không cần thiết cho chuyến thăm thứ hai tới thủ đô Tầu cộng. Điều này có thể làm gia tăng thái độ hoài nghi về mối quan hệ Mỹ - Tầu.

Liệu chúng ta có thể đạt được những thỏa thuận nào với Bắc Kinh—dù chưa phải là bình thường hóa hoàn toàn—đủ để thuyết phục công chúng Mỹ về sự cần thiết của chuyến thăm thứ hai của Tổng thống hay không? Cho đến nay, phía Tầu cộng vẫn chưa sẵn sàng hợp tác với chúng ta về một số vấn đề kinh tế và trao đổi (như giải quyết vấn đề yêu sách/tài sản, hay thúc đẩy quan hệ giao lưu văn hóa tích cực hơn) chừng nào chưa có tiến triển về vấn đề chính trị then chốt là Đài Loan. Tầu cộng sẽ cần xem xét lại lập trường này và tỏ ra linh hoạt hơn trong việc giải quyết các vấn đề thứ yếu so với trước đây. Theo đó, chúng ta có thể tìm cách giải quyết dứt điểm vấn đề yêu sách/tài sản. Các hiệp định về vận tải biển hoặc hàng không, hay một hiệp định thương mại cấp chính phủ, có thể được thống nhất "về mặt nguyên tắc" (mặc dù sẽ cần nhiều thời gian để đàm phán chi tiết). Hoặc có thể triển khai một số chương trình văn hóa dễ thấy, chẳng hạn như trao đổi sinh viên hay thiết lập văn phòng đại diện thường trú cho báo chí. Đổi lại, chúng ta có thể "nhượng bộ" Bắc Kinh bằng cách rút gần như toàn bộ lực lượng quân sự khỏi hòn đảo này (ngoại trừ một bộ phận nhỏ gồm vài trăm nhân sự làm công tác tình báo và liên lạc), hoặc hạ thấp cấp độ đại diện ngoại giao.

Tuy nhiên, dựa trên lập trường của Bắc Kinh từ trước đến nay, chúng ta không kỳ vọng nhiều vào việc họ sẽ đồng ý với các bước tiến triển bổ sung như trên nếu không có những cam kết khá cụ thể về việc giải quyết vấn đề Đài Loan. Tất nhiên, vấn đề mà Tổng thống phải đối mặt là bất kỳ cam kết nào về các vấn đề chính trị cũng cần được thực hiện ngay trong chuyến thăm Bắc Kinh hoặc ngay sau đó. Sẽ rất khó để công bố hoặc thực hiện những thay đổi đáng kể trong quan hệ với Đài Loan vào đúng mùa vận động tranh cử năm 1976 vì các lý do chính trị trong nước; và có lẽ Tổng thống cũng không muốn đưa ra (và phía Tầu cộng cũng khó chấp nhận) một thỏa thuận chính trị phụ thuộc vào việc ông có tái đắc cử hay không—hoặc để mặc cho người kế nhiệm quyết định.

Một vấn đề liên quan đến chương trình nghị sự là phản ứng từ phía Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC) đối với một hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai mà không giải quyết được vấn đề Đài Loan. Mặc dù chúng tôi tin rằng các nhà lãnh đạo cấp cao của PRC mong muốn một chuyến thăm của Tổng thống ngay cả khi không đạt được đột phá, họ có thể phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng trong nước đòi hỏi phải có những lợi ích hữu hình cho Tầu cộng từ mối quan hệ với Washington. Từ góc độ Tầu cộng, có thể lập luận rằng Bắc Kinh đã thực hiện mọi sự nhượng bộ cho đến nay mà nhận lại rất ít. Không những Đài Loan chưa được "giải phóng", mà Mỹ còn bổ nhiệm một đại sứ cấp cao mới tại đó và Trung Hoa Dân Quốc (ROC) có thêm hai lãnh sự quán tại Mỹ. Cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Mỹ, làm suy yếu khả năng "tự lực" của Tầu cộng và khiến các nhà khoa học PRC nảy sinh tâm lý "sùng bái ngoại bang". Chương trình giao lưu văn hóa đang khiến giới trí thức Tầu cộng tiếp xúc với những tư tưởng nước ngoài gây bất an; trong khi đó, các nhà báo và trí thức Mỹ đến thăm PRC lại trở về nước và công khai chỉ trích những gì họ chứng kiến ​​tại Tầu cộng, đặc biệt là các vấn đề chính trị nội bộ.

Mặc dù những lập luận kiểu trên có thể bị thổi phồng, nhưng có bằng chứng xác thực từ các báo cáo của CAS cho thấy các cuộc tiếp xúc song phương của chúng ta với PRC đã làm nảy sinh những chỉ trích như vậy, đặc biệt là từ phe cánh tả trong chính trường Tầu cộng. Lập luận cho rằng Tầu cộng tăng cường an ninh trước Liên Xô thông qua việc giao thiệp với Mỹ là một lý giải rất tinh vi nhưng chỉ được một số ít người chấp nhận. Thực tế, quân đội Tầu cộng dường như vẫn là nguồn gây áp lực liên tục đòi hỏi thái độ bớt thù địch hơn đối với người Nga (mặc dù chúng ta không có bằng chứng trực tiếp về việc họ phản đối quan hệ với Mỹ).

Xét đến những yếu tố này, chiến lược cho một chương trình nghị sự mang tính "duy trì" cần bao gồm các bước đi giúp các nhà lãnh đạo PRC giữ được sự ủng hộ của phe "cánh tả" và quân đội đối với mối quan hệ hiện tại của chúng ta. Các hành động an ninh đơn phương mà chúng ta có thể thực hiện (như tiếp tục cắt giảm quân số tại Đài Loan), hoặc các đề xuất trong những lĩnh vực như chuyển giao công nghệ hay hợp tác quân sự nhằm tăng cường khả năng phòng thủ của PRC, sẽ giúp giảm thiểu sự phản đối từ quân đội Tầu cộng đối với mối quan hệ này. Thật không may, một số biện pháp cần thiết để xoa dịu dư luận bảo thủ tại Mỹ, chẳng hạn như việc bán thiết bị quân sự cho Đài Loan trong tương lai, có thể sẽ gây bất bình cho Quân Giải phóng Nhân dân (PLA). Tương tự, những hình thức giao lưu văn hóa và khoa học thu hút sự quan tâm của giới trí thức và nhà báo chúng ta trong mối quan hệ với Tầu cộng lại chính là những chương trình bị các phần tử chính trị cực đoan tại nước này coi là mối đe dọa. Những yếu tố mâu thuẫn như vậy cần được cân bằng trong hầu hết các chương trình nghị sự của các chuyến thăm, đặc biệt là đối với chuyến thăm nhằm duy trì mối quan hệ Mỹ - Trung trong trạng thái hiện tại – một mối quan hệ mới chỉ đạt được những kết quả bước đầu.

Hội nghị Thượng đỉnh Bình thường hóa

Chúng tôi tin rằng, bất chấp một số dấu hiệu cho thấy sự cứng rắn hơn trong định hướng chính sách đối ngoại của Bắc Kinh (như việc ngày càng thiếu thiện chí hợp tác với chúng ta về các vấn đề liên quan đến nước thứ ba, gây sức ép lên Nhật Bản về các điều khoản hiệp ước hòa bình, và sự ủng hộ công khai hơn đối với một số phong trào nổi dậy theo đường lối Mao Trạch Đông ở nước ngoài), phía Tầu cộng vẫn coi việc bình thường hóa quan hệ Mỹ-Trung là phù hợp với lợi ích của chính họ. Các diễn biến tại Đông Dương đã làm gia tăng lo ngại của Tầu cộng về việc Liên Xô có thể mở rộng ảnh hưởng chính trị tại khu vực lân cận họ; và chúng tôi nhận định rằng việc Trung Quốc tăng cường thể hiện sự ủng hộ đối với Triều Tiên và chính quyền mới tại Campuchia là nỗ lực nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của Liên Xô, qua đó khẳng định với các nước này cũng như các quốc gia khác trong khu vực rằng Tầu cộng là một đồng minh chính trị đáng tin cậy hơn so với Liên Xô. Các báo cáo của CAS trong những tuần gần đây cho thấy giới chức Tầu cộng đang thực sự lo ngại rằng Tổng thống Ford có thể hủy chuyến thăm Bắc Kinh. Nếu chỉ xét riêng khía cạnh tâm thế của Bắc Kinh, bối cảnh hiện tại có thể là thời điểm thuận lợi nhất mà chúng ta có được trong một thời gian dài (xét về động lực của giới lãnh đạo Tầu cộng cũng như tình trạng hệ thống chính trị nước này) để tiến tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ.

Nếu có một điểm mấu chốt khiến Bắc Kinh lo ngại trong quan hệ với chúng ta, thì đó chính là sự bất định về mức độ tiến xa trong quan hệ giữa chúng ta và Moscow, cũng như những nghi ngại mới về việc chúng ta có thể và sẽ hành động tích cực đến mức nào để đối phó với sự hiện diện của Liên Xô tại khu vực của họ. Mặc dù Tầu cộng không ở vị thế có thể gây sức ép lên chúng ta về quan hệ với Moscow như cách họ đang làm với Nhật Bản, nhưng chắc chắn rằng những diễn biến trong quan hệ Mỹ-Xô những tháng tới sẽ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến bầu không khí của hội nghị thượng đỉnh tại Bắc Kinh.

Tầu cộng không thể đòi hỏi chúng ta từ bỏ chính sách "giảm căng thẳng" (détente) như một điều kiện tiên quyết để bình thường hóa quan hệ; tuy nhiên, nếu chúng ta tỏ ra chỉ nhìn nhận quan hệ với Tầu cộng thuần túy qua lăng kính chính sách đối với Liên Xô, chúng ta sẽ làm gia tăng nỗi lo sợ của họ về việc bị tổn thương trên các phương diện an ninh và chính trị do mối quan hệ với chúng ta mang lại. Như Chu Ân Lai đã chỉ ra với ông ngay từ tháng 2 năm 1973, giới lãnh đạo cấp cao tại Bắc Kinh lo ngại rằng chúng ta tiếp cận họ chỉ nhằm mục đích đối phó với Liên Xô bằng cách "đứng trên vai Tầu cộng ".

Hệ quả của lập luận trên đối với chuyến thăm của Tổng thống là: cách tiếp cận của chúng ta trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan và tìm kiếm các điều khoản để bình thường hóa hoàn toàn quan hệ—cùng với kết quả của hội nghị thượng đỉnh với Brezhnev—sẽ là phép thử quan trọng để phía Trung Quốc đánh giá mức độ nghiêm túc của chúng ta đối với mối quan hệ song phương. Nếu giả định của chúng ta là đúng—rằng Trung Quốc vẫn coi việc bình thường hóa quan hệ mang lại lợi ích to lớn cho họ—thì nỗ lực đàm phán cho chuyến đi tiền trạm sắp tới của ông sẽ bộc lộ mức độ linh hoạt tối đa của họ, đặc biệt là về vấn đề an ninh của Đài Loan. Ngay cả khi ông không đạt được các điều khoản mà Tổng thống có thể chấp nhận, thì ít nhất ông cũng đã đưa ra được một lập trường mang tính thiện chí—mức độ mà phía Tầu cộng có khả năng chấp nhận được—để làm cơ sở thảo luận trong tương lai. Hơn nữa, chúng ta có thể khẳng định với người dân trong nước (cũng như với phía Tầu cộng) rằng chúng ta đã nỗ lực hết mình để đạt được thỏa thuận, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phải có những cam kết hòa bình về vấn đề Đài Loan trước khi bất kỳ thỏa thuận bình thường hóa nào có thể được ký kết trong tương lai. Tóm lại, chúng tôi tin rằng cần phải thực hiện một nỗ lực nghiêm túc ngay lúc này để xác định xem liệu có thể đạt được thỏa thuận hay không.

Hiện nay, tình hình ra sao đối với các vấn đề cụ thể cần được giải quyết trong quá trình đàm phán một thỏa thuận bình thường hóa toàn diện? Không cần đi sâu vào chi tiết tất cả các yếu tố của một thỏa thuận như vậy (vốn đã được thảo luận trong bản phân tích tháng 10 năm 1974 tại Mục C),9 dưới đây là những điểm chính vẫn còn là vấn đề cần giải quyết:

—Công nhận CHND Tầu cộng là “chính phủ hợp pháp duy nhất” của Tầu cộng, trao đổi đại sứ và nâng cấp các văn phòng liên lạc thành đại sứ quán. Những bước tiến này đòi hỏi phải xây dựng các thỏa thuận giải quyết những vấn đề liên quan sau đây:

• Thống nhất với Bắc Kinh về một cách diễn đạt vượt ra ngoài tuyên bố trong Thông cáo Thượng Hải—vốn chỉ nêu rằng Hoa Kỳ “không thách thức” khẳng định của “tất cả người Tầu cộng ở hai bên eo biển Đài Loan” rằng Đài Loan là một phần của Tầu cộng —để chuyển sang một cách diễn đạt trực tiếp hơn, ngụ ý hoặc thể hiện sự ủng hộ đối với nguyên tắc thống nhất của Tầu cộng. Điều này có thể được thực hiện thông qua cách tiếp cận gián tiếp—nhấn mạnh tính kế thừa chính sách trước đây của Hoa Kỳ bằng cách tái khẳng định cam kết trả Đài Loan về dưới quyền kiểm soát của Tầu cộng như đã nêu trong Tuyên bố Cairo và Potsdam—hoặc dựa trên các tiền lệ về công thức công nhận gần đây của các quốc gia khác (như “ghi nhận”, “thừa nhận”, “công nhận” hay bày tỏ “sự thấu hiểu và tôn trọng” đối với khẳng định của Bắc Kinh rằng Đài Loan là một phần không thể tách rời của Tầu cộng). (Lập trường cụ thể của chúng ta về vấn đề này trong quá trình đàm phán có thể gắn liền với mức độ đảm bảo mà Bắc Kinh đưa ra về an ninh tương lai của hòn đảo.)

• Chúng ta sẽ cần đạt được sự hiểu biết chung với Bắc Kinh về việc duy trì một sự hiện diện còn lại (dưới hình thức chính thức hoặc bán chính thức) trên hòn đảo để thay thế cho việc rút đại sứ quán. Hiện tại, Bắc Kinh đã bác bỏ ý tưởng gọi sự hiện diện đó là “văn phòng liên lạc” hay lãnh sự quán. Có lẽ chúng ta sẽ phải tìm ra một cách diễn đạt mới (có thể là những tên gọi chung chung như “Văn phòng Đại diện Hoa Kỳ” hay “Hiệp hội Quan hệ Trung-Mỹ”, hoặc cụ thể hơn là “văn phòng thương mại”) cùng các cơ chế tổ chức cho phép nhân viên Bộ Ngoại giao và các cơ quan chính phủ khác được cử đến đây có thể duy trì liên lạc với chính quyền Đài Loan.

Chắc chắn Bắc Kinh sẽ muốn sự hiện diện còn lại của chúng ta tại Đài Bắc mang tính chất chính thức là phi chính thức—theo mô hình của Nhật Bản. Tuy nhiên, một sự sắp xếp như vậy sẽ không phù hợp xét đến tác động của nó đối với Đài Loan cũng như dư luận trong nước. Hơn nữa, một phân tích sơ bộ về mô hình phi chính phủ như vậy cho thấy sẽ nảy sinh những vấn đề đáng kể liên quan đến nguồn vốn của Chính phủ Hoa Kỳ, việc xử lý các công việc lãnh sự và quản lý chương trình bán vũ khí, nếu hoạt động của đại sứ quán chúng ta tại Đài Bắc được chuyển giao cho một hiệp hội tư nhân của Mỹ. Ngoài ra, trừ khi chúng ta duy trì một cơ quan lãnh sự chính thức tại Đài Bắc (dưới bất kỳ tên gọi nào), việc cần đến luật của Quốc hội để cho phép chúng ta cấp kinh phí và thực hiện các hoạt động của Chính phủ Hoa Kỳ thông qua một hiệp hội tư nhân sẽ khiến Chính quyền phải đối mặt với những tác động chính trị phức tạp; cụ thể là các nhà lập pháp tại Quốc hội sẽ can thiệp vào quá trình thể chế hóa chính sách bình thường hóa quan hệ với Tầu cộng. Những khía cạnh này đang được xem xét kỹ lưỡng trong một bản phân tích riêng, trong đó sẽ đưa ra các phương án để duy trì sự hiện diện của Chính phủ Hoa Kỳ tại Đài Bắc.

• Chúng ta sẽ phải đàm phán với Bắc Kinh để đạt được thỏa thuận rằng Hoa Kỳ vẫn duy trì các mối quan hệ kinh tế và xã hội hiện có với hòn đảo này, bao gồm khả năng tiếp tục đầu tư vào nền kinh tế của hòn đảo và [Trang 685] duy trì kết nối vật lý với Đài Loan thông qua đường hàng không và đường biển. (Về vấn đề này, diễn biến cuộc đàm phán năm 1973 giữa Bắc Kinh và Tokyo liên quan đến dịch vụ hàng không của Nhật Bản với CHND Tầu cộng —trong đó Nhật Bản đã nhượng bộ yêu cầu của Trung Quốc về việc ngừng công nhận hãng hàng không mang cờ của Trung Hoa Dân Quốc là hãng hàng không quốc gia—đã tạo ra một tiền lệ khó khăn cho cả Đài Bắc và chúng ta.)

—An ninh tương lai của Đài Loan vẫn là vấn đề cốt lõi cần đàm phán. Phía Trung Quốc có thể yêu cầu chúng ta đưa ra tuyên bố công khai, dứt khoát về việc hủy bỏ Hiệp ước Phòng thủ Chung Mỹ - Trung Hoa Dân Quốc (ROC). Họ cũng có thể sẽ muốn áp đặt những hạn chế ngặt nghèo—và thậm chí là cắt giảm nhanh chóng—việc bán vũ khí của Mỹ cho hòn đảo này. (Mối lo ngại ngược lại của họ là việc chấm dứt quá nhanh toàn bộ quan hệ an ninh Mỹ - Đài Loan có thể thúc đẩy ROC tìm kiếm vũ khí và sự ủng hộ chính trị từ nơi khác. Các báo cáo của CAS cho thấy giới chức CHND Trung Hoa (PRC) nhận định khả năng này đang gia tăng sau khi Tưởng Giới Thạch qua đời.) Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng không hề tạo cho chúng ta niềm tin rằng họ sẽ đưa ra cam kết công khai nào đó về ý định "giải phóng" hòn đảo chỉ bằng các biện pháp hòa bình. Đặng Tiểu Bình không chỉ nhiều lần nhấn mạnh riêng với ông rằng PRC sẽ không cho phép bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài vào quá trình tái sáp nhập Đài Loan vào đại lục trong tương lai, mà trong cuộc phỏng vấn ngày 2 tháng 6 với các biên tập viên Mỹ, ông còn ám chỉ rằng có thể phải sử dụng vũ lực, ví như "việc quét bụi trên sàn nhà bằng chổi" (một câu nói của Mao Trạch Đông). Mặc dù những tuyên bố trước đây của Chu Ân Lai—cả công khai lẫn riêng tư với ông—từng gợi mở đôi chút hy vọng về một tuyên bố của Tầu cộng thể hiện thiện chí hòa bình đối với Đài Loan, chúng tôi không quá lạc quan rằng sẽ có một tuyên bố đơn phương nào đó với nội dung chấp nhận được được đưa ra.

Ngược lại, các luật sư của Bộ Ngoại giao lại hối thúc ông đề nghị Bắc Kinh đưa ra một tuyên bố chung thể hiện cam kết không sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Đài Loan. Họ cho rằng một tuyên bố như vậy ít nhất sẽ cho phép chúng ta khẳng định một cách có cơ sở pháp lý rằng Mỹ vẫn giữ quyền hỗ trợ Đài Loan phòng thủ nếu hòn đảo này bị tấn công từ đại lục. Tuy nhiên, chúng tôi không kỳ vọng Bắc Kinh sẽ đồng ý với một tuyên bố chung như vậy; thực tế, phía Trung Quốc rất có thể sẽ coi đề xuất này là một hành động khiêu khích hoặc một yêu sách không thể chấp nhận được nhằm mục đích trì hoãn đàm phán. Các đề xuất khác nhằm giải quyết vấn đề an ninh (những đề xuất mà chúng tôi chưa xem xét kỹ do tính thiếu khả thi) bao gồm việc đạt được thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và CHND Tầu cộng về việc coi Đài Loan và eo biển Đài Loan là khu phi quân sự, hoặc khuyến khích Bắc Kinh và Đài Bắc đàm phán một thỏa thuận song phương về việc từ bỏ sử dụng vũ lực.

Cách tiếp cận của ông đối với vấn đề này—kể từ khi ông lần đầu nêu ý tưởng trong chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 10 năm 1971—là tìm kiếm một tuyên bố đơn phương và mang tính tổng quát từ phía Bắc Kinh về ý định (nhiều khả năng sẽ được đưa vào thông cáo chung về bình thường hóa quan hệ) thể hiện thiện chí nỗ lực giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan. Mùa thu năm ngoái, ông đã chỉ đạo chúng tôi soạn thảo các tuyên bố đơn phương song song của phía Mỹ (có thể được đưa vào thông cáo chung ngay sau tuyên bố của Tầu cộng, được công bố riêng tại họp báo, hoặc được thể hiện trong một nghị quyết của Quốc hội). Các tuyên bố này nhằm thể hiện sự quan tâm của Mỹ đối với an ninh Đài Loan, mong muốn giải quyết hòa bình tương lai của hòn đảo này, và có thể là gắn việc duy trì quan hệ hoàn toàn bình thường với Bắc Kinh với điều kiện tiên quyết là không sử dụng vũ lực chống lại Đài Loan.

Trong ngày cuối cùng của cuộc đàm phán vào tháng 11 năm 1974, Đặng Tiểu Bình đã ám chỉ với ông rằng ông ấy cho rằng mình sẽ thảo luận về một thỏa thuận dạng này với ông vào một thời điểm sau đó.11 Nếu không có đàm phán trực tiếp, chúng ta sẽ không thể biết chính xác Bắc Kinh sẵn sàng đi xa đến đâu theo hướng này. Chúng tôi tin rằng ông nên đàm phán để đạt được một tuyên bố đơn phương từ phía Bắc Kinh, trong đó nêu rõ rằng CHND Tầu cộng không có ý định sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Đài Loan. Chúng tôi dự đoán rằng mình sẽ phải chấp nhận cách diễn đạt có kèm theo các điều kiện cụ thể về những tình huống mà Bắc Kinh sẽ kiềm chế hành động (xem các phương án diễn đạt thay thế mang tính gợi ý đã được soạn thảo cho chuyến thăm tháng 11 năm 1974 của ông tại Mục D). Chúng tôi cũng dự kiến ​​sẽ đưa ra một tuyên bố đơn phương của phía Mỹ song song với tuyên bố của Bắc Kinh, như đã nêu ở trên.

Một phương án ít thuận lợi hơn là một tuyên bố từ phía Bắc Kinh chỉ đơn thuần bày tỏ "hy vọng" và thiện chí nỗ lực giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan. Một phương án dự phòng khác là một tuyên bố từ phía CHND Tầu cộng, thể hiện thiện chí kiên nhẫn và kiềm chế trong việc tìm kiếm giải pháp cho tương lai của hòn đảo này (xem các cách diễn đạt thay thế tại Mục D).

Chúng tôi cho rằng nội dung cụ thể của các tuyên bố song song và đơn phương mà cả chúng ta và Bắc Kinh có thể đưa ra về an ninh tương lai của Đài Loan sẽ gắn liền—trong quá trình đàm phán—với thỏa thuận về chương trình duy trì bán trang thiết bị quân sự của Mỹ cho hòn đảo này (nghĩa là, tuyên bố của phía Tầu cộng càng cởi mở thì chương trình bán vũ khí của chúng ta có thể càng hạn chế). Như đã đề cập ở trên, CHND Tầu cộng có lẽ sẽ thấy lợi ích của mình được đảm bảo nếu việc Mỹ bán vũ khí giảm dần theo lộ trình; tuy nhiên, ông có thể muốn gắn kết sự hiểu biết với Bắc Kinh về quy mô và thời hạn của việc bán vũ khí như vậy với những cam kết cụ thể về sự kiềm chế mà phía Tầu cộng sẵn sàng chấp thuận, như một phần của thỏa thuận tổng thể về bình thường hóa quan hệ.

(Một khía cạnh khác trong việc điều chỉnh quan hệ an ninh của chúng ta với Đài Loan sẽ là việc tiếp tục rút lực lượng quân sự [và tình báo] còn lại của chúng ta khỏi hòn đảo này. Mặc dù đây không phải là vấn đề ông sẽ đàm phán trực tiếp với Bắc Kinh, nhưng nó sẽ là một yếu tố trong các cuộc thảo luận của ông với các nhà lãnh đạo Tầu cộng. Theo đó, việc tiếp tục rút quân có liên quan trực tiếp đến việc hoàn tất thỏa thuận bình thường hóa. Ông đã nhận được, thông qua các kênh của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC), hai văn bản trình bày các phương án về lộ trình cắt giảm lực lượng quân sự và nhân sự tình báo tín hiệu còn lại của chúng ta trên đảo, cũng như chương trình duy trì bán thiết bị quân sự.)

—Cho đến nay, trong cách tiếp cận thỏa thuận bình thường hóa, ông chưa gắn các vấn đề liên quan đến nước thứ ba với việc hoàn tất quy trình này—ngoại trừ việc rút quân khỏi Đài Loan có liên quan đến "giảm căng thẳng trong khu vực". Vì những lý do được chúng tôi trình bày chi tiết ở trang 25 và 26 dưới đây, ông có thể cân nhắc việc gắn kết sự hợp tác gia tăng của Tầu cộng trong các vấn đề như Triều Tiên với tiến trình phát triển một mối quan hệ song phương hoàn toàn bình thường.

Nếu các vấn đề nêu trên là những câu hỏi song phương then chốt cần giải quyết thông qua đàm phán, thì phải nói rằng ở giai đoạn hiện tại của các cuộc thảo luận với lãnh đạo Tầu cộng, dư địa để thương lượng về thỏa thuận bình thường hóa dường như không còn nhiều. Nếu muốn đạt được sự bình thường hóa hoàn toàn, chúng ta sẽ phải công nhận Bắc Kinh là chính phủ hợp pháp duy nhất của Tầu cộng, đồng thời ngầm hiểu hoặc thể hiện—thông qua một cách diễn đạt nào đó—sự chấp thuận quan điểm cho rằng Đài Loan là một phần của Tầu cộng. Chúng ta sẽ duy trì một văn phòng mang tính chất "tư nhân nhưng thuộc chính phủ" tại Đài Bắc với nhân sự do Bộ Ngoại giao biệt phái sang, đồng thời—theo mô hình của Nhật Bản—chúng ta sẽ duy trì các mối quan hệ thương mại và giao lưu xã hội với hòn đảo này. Vào thời điểm bình thường hóa quan hệ, chúng ta sẽ tuyên bố (một cách ngầm định hoặc công khai) rằng Hiệp ước Phòng thủ Chung Mỹ-Trung Hoa Dân Quốc không còn hiệu lực; tuy nhiên, việc chấm dứt mối quan hệ chính thức này sẽ được bù đắp bằng tuyên bố của phía Tầu cộng về thiện chí hòa bình, bằng việc chúng ta đơn phương bày tỏ sự quan tâm (có thể thông qua một nghị quyết của Quốc hội) đối với an ninh tương lai của Đài Loan cũng như kỳ vọng rằng những bất đồng giữa Đài Loan và đại lục sẽ được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, và bằng việc duy trì chương trình bán vũ khí của Mỹ cho hòn đảo này.

[Nếu Bắc Kinh tỏ ra không sẵn lòng chấp thuận bất kỳ gói thỏa thuận nào liên quan đến an ninh tương lai của Đài Loan (bao gồm các yếu tố như các tuyên bố công khai song song, thỏa thuận duy trì nguồn cung cấp vũ khí của Mỹ, và việc rút dần sự hiện diện quân sự còn lại của chúng ta), thì nhiều khả năng Tổng thống sẽ thấy không thể đạt được thỏa thuận bình thường hóa quan hệ. Thực tế, chúng tôi sẽ khuyến nghị không nên thực hiện một thỏa thuận dựa trên cơ sở như vậy.]

Chúng ta sẽ phải phản hồi những người chỉ trích thỏa thuận bình thường hóa với lý do rằng chúng ta đã tước bỏ quyền tự quyết của người dân Đài Loan, bằng lập luận rằng quyền tự quyết chưa bao giờ là vấn đề trọng tâm trong chính sách của Mỹ đối với Tầu cộng, và rằng những trí thức Đài Loan ủng hộ độc lập (chủ yếu là những người đang cư trú tại Mỹ hoặc Nhật Bản) đã không thể khơi dậy sự hưởng ứng đáng kể từ người dân hay chính quyền trên hòn đảo này.

Đối với những người chỉ trích việc bình thường hóa vì cho rằng chúng ta đã "bán đứng" một đồng minh lâu năm, chúng ta sẽ phải đáp lại rằng ngay cả vị "đồng minh lâu năm" vừa qua đời của chúng ta cũng từng khẳng định Đài Loan là một phần của Tầu cộng, và lợi ích quốc gia đòi hỏi chúng ta phải công nhận—dù có phần muộn màng so với phần còn lại của thế giới—thực tế bền vững về việc Bắc Kinh kiểm soát phần lớn lãnh thổ Tầu cộng. Chúng ta sẽ chỉ ra các khía cạnh trong cán cân chính trị và quân sự tại châu Á có khả năng ngăn Bắc Kinh thực hiện hành động quân sự trực tiếp nhằm kiểm soát hòn đảo, đồng thời đề cập đến các mối quan hệ kinh tế và chương trình bán vũ khí đang được duy trì như một cách giúp bảo toàn thực trạng hiện tại của Đài Loan. Và có lẽ chúng ta sẽ nhận được tuyên bố đủ rõ ràng về ý định hòa bình từ phía Bắc Kinh để tái khẳng định mối quan tâm của chính chúng ta: mong muốn người dân trên đảo có thể tự định đoạt bản chất mối quan hệ tương lai của họ với đại lục theo phương thức hòa bình.

Và đối với một số người, sẽ nảy sinh câu hỏi rằng liệu Mỹ có đạt được điều gì từ Bắc Kinh để đổi lấy việc bình thường hóa quan hệ theo các điều kiện do CHND Trung Hoa đặt ra hay không. Đây là vấn đề chỉ có thể được giải đáp khi xét đến giá trị chiến lược đối với chúng ta của một thái độ không đối đầu với CHND Tầu cộng, động lực mà thái độ này mang lại cho chính sách ngoại giao "giảm căng thẳng" với Liên Xô, cũng như những lợi ích lâu dài cho Hoa Kỳ khi loại bỏ được một mặt trận trong cục diện Chiến tranh Lạnh của thập niên 1950 và 1960. (Tất nhiên, một lý do khác nữa để tìm kiếm sự hợp tác sâu rộng hơn từ phía Tầu cộng trong các vấn đề liên quan đến nước thứ ba là nhằm biện minh cho việc bình thường hóa quan hệ dựa trên những cơ sở quốc tế rộng lớn hơn, thay vì chỉ đơn thuần là tạo lợi thế gây sức ép lên Liên Xô.)

Các nhiệm vụ trong thời gian còn lại của năm 1975

Dựa trên những thảo luận và phân tích nêu trên, dưới đây là các nhiệm vụ cần thực hiện trong năm 1975 nếu ông muốn ít nhất là thăm dò với các nhà lãnh đạo CHND Tầu cộng về khả năng tiến thêm các bước hướng tới bình quan hóa hoàn toàn quan hệ:

—Chuẩn bị một gói đàm phán. Nếu ông đưa ra chỉ đạo về phương thức mà ông muốn áp dụng cho các cuộc đàm phán tiếp theo với phía Trung Quốc về vấn đề bình thường hóa, chúng tôi sẽ soạn thảo một gói đàm phán để sử dụng trong chuyến đi tiền trạm của ông tới Bắc Kinh vào cuối năm nay. Ngoài các vấn đề song phương cần được xem xét trong gói đàm phán này, còn có vấn đề liên quan đến việc ông muốn phối hợp đàm phán với CHND Tầu cộng như thế nào trong bối cảnh diễn biến các cuộc tiếp xúc của chúng ta với Liên Xô trong năm—cụ thể là liệu ông muốn sắp xếp chuyến đi tiền trạm tới Bắc Kinh trước hay sau hội nghị thượng đỉnh với Brezhnev. Bên cạnh đó, còn có vấn đề liệu ông có muốn bắt đầu gắn việc [thiếu] sự hợp tác của CHND Tầu cộng đối với các vấn đề liên quan đến nước thứ ba (như Triều Tiên) và có thể là các vấn đề quốc tế (lương thực, năng lượng, v.v.) với các bước tiến tiếp theo trong quan hệ song phương của chúng ta hay không.

—Lên kế hoạch tiếp tục rút lực lượng khỏi Đài Loan. Vào ngày 8 tháng 2, ông Habib đã thông báo cho Văn phòng Liên lạc CHND Tầu cộng (PRCLO) rằng đến giữa năm 1975, chúng ta sẽ cắt giảm quân số tại Đài Loan xuống còn khoảng 2.800 người, chuyển căn cứ không quân Đài Loan sang chế độ bảo dưỡng tối thiểu (caretaker status) vào giữa năm và căn cứ không quân Ching Chuan Kang sang chế độ tương tự vào cuối năm. Phía CHND Tầu cộng cũng được thông báo rằng họ sẽ được cập nhật sau về mức quân số thấp hơn nữa dự kiến ​​đạt được vào cuối năm 1975.

Hai nghiên cứu lớn mang tính liên cơ quan, liên quan đến sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Đài Loan và chương trình bán vũ khí của chúng ta, vừa được hoàn tất và gửi tới ông cùng Tổng thống để đưa ra quyết định thông qua các kênh của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC). Báo cáo phản hồi NSSM 212 cung cấp cho ông các lựa chọn về định hướng chính sách chung đối với việc bán trang thiết bị quân sự trong tương lai cho—và duy trì mức lực lượng Hoa Kỳ tại—Trung Hoa Dân Quốc (ROC). Nghiên cứu thứ hai là bản phân tích của đội ngũ chuyên trách thuộc Cộng đồng Tình báo về sự hiện diện của hệ thống tình báo tín hiệu (SIGINT) của chúng ta tại Đài Loan (vốn chủ yếu tập trung vào CHND Tầu cộng). Nghiên cứu này trình bày các phương án nhằm tiếp tục cắt giảm số lượng nhân sự tình báo tín hiệu (SIGINT) quân sự—ước tính khoảng 715 người—sẽ vẫn hiện diện trên đảo sau tháng 7 năm 1975.17

—Chuẩn bị tâm thế cho công chúng. Cho đến nay, quan hệ của chúng ta với Bắc Kinh đã phát triển theo hướng chính phủ định hình dư luận thông qua nhiều sáng kiến ​​chính thức khác nhau. Ngài hoặc Tổng thống đã hành động, và công chúng đã phản hồi—với mức độ ủng hộ đáng kể. Tuy nhiên, chúng ta đang ở giai đoạn mà các quyết định khó khăn trong quan hệ Mỹ–Trung Quốc (PRC) ít có khả năng nhận được sự hưởng ứng tích cực từ công chúng. Nếu có tiến triển hướng tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ, một số vấn đề nhất định (đặc biệt là các vấn đề liên quan đến Đài Loan) có thể vấp phải phản ứng tiêu cực từ một bộ phận nghị sĩ Quốc hội, giới truyền thông và người dân. Ngược lại, nếu không có tiến triển, chắc chắn sẽ nảy sinh những câu hỏi về lý do tại sao. Câu hỏi "Tại sao quan hệ lại bị đình trệ" có thể trở thành một vấn đề được tranh luận trong chiến dịch tranh cử năm 1976.

Trong những tháng gần đây, Tầu cộng đã chủ động hơn trong việc định hướng dư luận về vấn đề bình thường hóa quan hệ. Các động thái này bao gồm việc khuyến khích và bí mật tài trợ cho "Hiệp hội Hữu nghị Nhân dân Mỹ–Trung" nhằm tuyên truyền quan điểm chính trị của Tầu cộng; vun đắp mối quan hệ với cộng đồng người Mỹ gốc Hoa thông qua các chương trình giao lưu văn hóa và các chuyến thăm Tầu cộng; cũng như nỗ lực tác động đến các nghị sĩ và báo chí Mỹ có thiện cảm với vấn đề bình thường hóa. Vì những lý do trái ngược, phía Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) cũng tìm cách truyền tải quan điểm của họ về mối quan hệ Mỹ–Trung đang ngày càng phát triển tới Quốc hội và giới truyền thông Mỹ. Đầu năm nay, các nhà ngoại giao Đài Bắc đã tích cực thuyết phục những nhóm có ảnh hưởng đến dư luận tại Mỹ rằng tiến trình bình thường hóa đã đạt đến mức cần thiết để phục vụ lợi ích của Mỹ, đặc biệt là thông qua việc tranh thủ sự ủng hộ từ các nhân vật có tầm ảnh hưởng như Thượng nghị sĩ Goldwater. Kể từ khi Tưởng Giới Thạch qua đời, các hoạt động quan hệ công chúng của Đài Loan đã chững lại, nhưng chúng ta có thể dự báo sự gia tăng các hoạt động này khi chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống đến gần.

Vấn đề mà chúng ta hiện phải đối mặt là làm thế nào để định hình thái độ của công chúng—một cách có chủ đích hơn và từ góc nhìn của Chính quyền—đối với các vấn đề còn tồn tại liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ Mỹ–Trung.

Một nỗ lực như vậy vấp phải một vấn đề cơ bản. Cho đến khi ông thực hiện chuyến đi tiền trạm tới Bắc Kinh và thăm dò ý kiến ​​các nhà lãnh đạo CHND Tầu cộng về triển vọng đạt được thỏa thuận, rõ ràng là việc ngăn chặn sự hình thành tâm lý kỳ vọng tích cực về chuyến thăm của Tổng thống Ford là có lợi cho chúng ta.18 Nếu không, điều này sẽ chỉ hạn chế dư địa hành động của ông trong các cuộc đàm phán với Bắc Kinh, đồng thời có thể huy động các nhóm chống đối những bước tiến xa hơn. Hiện tại, chúng ta nên thể hiện thái độ rằng: "Chúng tôi mong muốn thấy những bước tiến xa hơn, nhưng đang tồn tại những vấn đề quan trọng cần giải quyết—và đòi hỏi sự nhượng bộ từ phía CHND Tầu cộng —trước khi có thể đạt được thêm tiến triển."

Tùy thuộc vào kết quả chuyến đi tiền trạm của ông, công tác truyền thông của chúng ta có thể đi theo một số hướng: Nếu ông nhận thấy khả năng cao về việc bình thường hóa hoàn toàn gắn liền với chuyến thăm của Tổng thống, ông sẽ phải vận động sự ủng hộ của Quốc hội đối với các điều khoản của thỏa thuận (Quốc hội có thể cần hỗ trợ thông qua một nghị quyết ủng hộ hoặc ban hành luật cần thiết khi chúng ta chuyển sang mối quan hệ "phi chính thức" với Đài Loan) và chuẩn bị dư luận cho những diễn biến dự kiến. Nếu chuyến đi tiền trạm cho thấy triển vọng hạn chế về việc đạt thêm tiến triển, hoặc có thể dẫn đến việc hoãn chuyến thăm của Tổng thống, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiệm vụ giải thích [Trang 691] cho Quốc hội và công chúng lý do tại sao mối quan hệ lại "ổn định" ở mức hiện tại.

Tại thời điểm này, chúng ta sẽ không đi sâu hơn vào các khía cạnh truyền thông trong quan hệ với Bắc Kinh, ngoại trừ việc lưu ý rằng đây là vấn đề cần được xem xét chi tiết hơn trong quá trình triển khai công việc trong năm.

—Chuẩn bị cho Đài Loan về việc bình thường hóa. Nếu kết quả chuyến đi tiền trạm cho thấy triển vọng lớn về một thỏa thuận bình thường hóa, cũng sẽ cần bắt đầu các biện pháp tích cực hơn để chuẩn bị cho chính quyền Đài Loan trước những bước phát triển tiếp theo trong quan hệ của chúng ta với cả Đài Bắc và Bắc Kinh. Rõ ràng có những rủi ro nhất định khi thông báo trước cho chính quyền Trung Hoa Dân Quốc (ROC), vì điều đó có thể tạo điều kiện cho họ tìm cách ngăn cản những bước tiến xa hơn với CHND Tầu cộng. Đồng thời, cũng có những rủi ro nếu hoàn toàn thụ động trong việc chuẩn bị cho giới lãnh đạo tại Đài Bắc về những động thái của chúng ta có ảnh hưởng đến lợi ích cốt lõi của họ (mặc dù họ thừa hiểu rằng sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ công nhận Bắc Kinh và cắt đứt quan hệ với họ). Việc Tưởng Giới Thạch mới qua đời đã loại bỏ một yếu tố quan trọng vừa đóng vai trò kìm hãm, vừa mang tính ổn định, vốn đã giữ Đài Loan đi theo lộ trình "một nước Trung Hoa" trong hơn một phần tư thế kỷ qua. Hiện chưa có bằng chứng nào cho thấy cái chết của ông Tưởng đã gây bất ổn tình hình trên đảo hay đang khiến phe Quốc dân đảng chuyển hướng sang một con đường khác. Tuy nhiên, khi Bắc Kinh, Đài Bắc và Washington điều chỉnh chính sách cho phù hợp với bối cảnh chính trị và quốc tế mới trong những tháng tới, chúng ta cần nhạy bén trước những khả năng mới liên quan đến vấn đề Đài Loan, đồng thời chủ động tác động để các chính sách của hòn đảo này phát triển theo hướng phù hợp với lợi ích lớn hơn của Hoa Kỳ. (Chúng tôi hiện đang soạn thảo một văn bản riêng về tình hình Đài Loan để gửi tới ngài.)

—Công tác chuẩn bị đối với Nhật Bản. Mặc dù ở một mức độ nhận thức nào đó, người Nhật cho rằng sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh, nhưng vẫn còn đó niềm hy vọng (đặc biệt là trong giới doanh nghiệp và các quan chức Bộ Ngoại giao Nhật Bản) rằng Hoa Kỳ sẽ duy trì lập trường "hai nước Trung Hoa" như hiện nay. Mối quan hệ bền chặt của chúng ta với Đài Loan mang lại cho người Nhật cảm giác rằng lợi ích của họ trên hòn đảo này được bảo đảm; đồng thời, nhịp độ ngoại giao có chừng mực của chúng ta với Bắc Kinh đã tạo điều kiện cho Tokyo linh hoạt hơn trong các hoạt động giao thiệp với phía Tầu cộng. Chẳng hạn, nếu chúng ta công nhận Bắc Kinh vào mùa thu này, phía Nhật Bản sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc phải ký kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị với CHND Tầu cộng theo các điều khoản về "chống bá quyền" mà Bắc Kinh đưa ra.

Vì những lý do này, cũng như để tránh bị chỉ trích rằng Hoa Kỳ đã không rút ra được bài học từ những "cú sốc Nixon" (Nixon shocks) trước đây, chúng ta cần nỗ lực thông báo kịp thời cho phía Nhật Bản về bất kỳ diễn biến mới nào trong quan hệ giữa chúng ta và CHND Tầu cộng.

—Công tác chuẩn bị đối với CHND Trung Hoa. Mặc dù chuyến đi tiền trạm của ông tới Bắc Kinh sẽ là phương thức chủ yếu để xây dựng nền tảng cho những bước phát triển tiếp theo trong quan hệ Mỹ - Trung, ông cũng có thể cân nhắc thực hiện một số bước đi đơn phương trước chuyến thăm của Tổng thống nhằm tạo ra bầu không khí thuận lợi tại Bắc Kinh. Các bước đi này có thể bao gồm những biện pháp mang tính biểu tượng (như việc Tổng thống hoặc chính ông có bài phát biểu quan trọng về Tầu cộng vào mùa thu, hay việc ông Ford tiếp đón tại Nhà Trắng các phái đoàn thương mại và khoa học cấp cao của Tầu cộng sẽ đến thăm Washington vào tháng Chín), hoặc một số hành động đơn phương cụ thể như thông báo cho Bắc Kinh về việc Mỹ tiếp tục cắt giảm quân số tại Đài Loan, hay có thể là một sáng kiến ​​trong lĩnh vực kinh tế.

Một số suy nghĩ cuối cùng về lập trường đàm phán

Để kết luận, chúng tôi xin nêu ra một số vấn đề liên quan đến tốc độ và định hướng đàm phán với Bắc Kinh về vấn đề bình thường hóa quan hệ; những vấn đề này có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển trong tương lai của quan hệ Mỹ - Trung:

—Có nên tiến tới bình thường hóa hoàn toàn hay không? Như đã đề cập trong phần phân tích trên, cái giá phải trả trong ngắn hạn khi tiến hành thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh là rất lớn đối với Tổng thống, đặc biệt là sau những diễn biến tại Đông Dương và trong bối cảnh chiến dịch tranh cử năm 1976 đang đến gần. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tin rằng có những lý do xác đáng để nỗ lực đàm phán một thỏa thuận bình thường hóa trong vòng năm tháng tới, qua đó giúp ổn định mối quan hệ không đối đầu với CHND Trung Hoa. Không cần liệt kê lại toàn bộ các lập luận về lợi ích lâu dài mà bước phát triển này mang lại cho chúng ta, chúng tôi muốn nhấn mạnh ba lý do chính cho nỗ lực này:

Thứ nhất, bằng cách tiếp tục duy trì đà phát triển ngoại giao đã được thiết lập từ năm 1971, chúng ta có thể hoàn tất việc bình thường hóa theo chủ động của chính mình và trên cơ sở mối quan hệ tương đối hợp tác với Bắc Kinh. Ngược lại, nếu để mất đà phát triển này, quan hệ của chúng ta với CHND Tầu cộng có thể xấu đi khi những áp lực nội bộ tại Bắc Kinh gia tăng do cảm giác bị phía Mỹ trì hoãn hoặc kéo dài thời gian. Điều này có thể dẫn đến việc Bắc Kinh quay lại sử dụng các biện pháp gây sức ép nhằm buộc chúng ta phải rút khỏi Đài Loan và công nhận CHND Tầu cộng là chính phủ hợp pháp duy nhất của Tầu cộng. Rõ ràng là trong tình huống như vậy, việc thực hiện "bình thường hóa" sẽ tốn kém hơn nhiều đối với Chính quyền, bởi lẽ chúng ta sẽ phải hành động theo kiểu ứng phó bị động. Cần nhớ lại rằng vào năm 1969, Chính quyền từng lo ngại về việc CHND Tầu cộng lợi dụng tình hình chính trị nội bộ của Mỹ. Vấn đề này hoàn toàn có thể tái diễn.

Thứ hai, khía cạnh khác của lập luận trên là nếu sáng kiến ​​của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai hướng tới Mỹ được phía Tầu cộng coi là thành công, chúng ta sẽ tối đa hóa được khả năng Chủ tịch duy trì đường lối đối ngoại chống Liên Xô ngay trong nội bộ Tầu cộng —điều mang lại những lợi ích rõ ràng cho chính sách đối ngoại của chính chúng ta.

Thứ ba, vẫn còn đó những yếu tố quốc tế phức tạp khiến việc bình thường hóa trở thành nền tảng để ổn định cấu trúc chính sách đối ngoại của Chính quyền: duy trì một trong những đòn bẩy quan trọng nhất của chúng ta đối với Liên Xô; ngăn chặn nguy cơ Mỹ bị cô lập liên quan đến vấn đề Tầu cộng tại các diễn đàn đa phương (như Liên Hợp Quốc) cũng như trong hoạt động ngoại giao song phương; và tối đa hóa khả năng duy trì—hoặc thậm chí tăng cường—các bước đi đối ngoại song hành với Bắc Kinh tại một số khu vực và quốc gia thứ ba (Châu Âu, Trung Đông và Tiểu lục địa Ấn Độ, Nhật Bản, và—hy vọng là—cả vấn đề Triều Tiên và Đông Nam Á).

—Nên nhấn mạnh những chủ đề đàm phán nào? Khi xem xét quá trình đàm phán với Bắc Kinh về vấn đề bình thường hóa quan hệ, chúng tôi lo ngại về cách phía Trung Quốc cố gắng trói buộc chúng ta vào các chủ đề như "mô hình Nhật Bản" và "ba nguyên tắc" của Đặng Tiểu Bình. Rõ ràng đây là một chiến thuật khôn ngoan từ góc độ của Bắc Kinh; tuy nhiên, chúng tôi cũng tin rằng họ đã mở ra một hướng tiếp cận linh hoạt hơn—một chủ đề chung có thể được tận dụng để định hình giai đoạn đàm phán cuối cùng. Trong Thông cáo chung tháng 11 năm 1973, Thủ tướng Chu Ân Lai đã nêu rõ một "điều kiện" có vẻ linh hoạt hơn cho việc bình thường hóa toàn diện—dựa trên cơ sở "xác nhận nguyên tắc một nước Tầu cộng ". Chúng ta chưa thực sự phản hồi đề xuất này của ông Chu. Đáng chú ý là Thủ tướng đã nhắc lại cách diễn đạt này—coi đó là điều kiện duy nhất mà Chủ tịch Mao đặt ra cho việc bình thường hóa—trong bản chưa công bố bài phát biểu của ông trước các đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc vào tháng 1 năm nay. Có khả năng là Thủ tướng (và có thể cả Chủ tịch), khi sử dụng cụm từ này cả công khai lẫn riêng tư, đang ám chỉ cơ sở mà họ sẽ dùng để thuyết phục đội ngũ cán bộ trong nước chấp nhận một thỏa thuận bình thường hóa mang tính thỏa hiệp. Để chuẩn bị cho vòng đàm phán tiếp theo tại Bắc Kinh, ông có thể xây dựng nội dung thảo luận về vấn đề bình thường hóa xoay quanh chủ đề này, qua đó tránh bị trói buộc vào câu hỏi liệu các điều khoản của chúng ta có đáp ứng chính xác "mô hình Nhật Bản" hay "ba nguyên tắc" của Đặng Tiểu Bình hay không—mặc dù rõ ràng là ở giai đoạn này, chúng ta vẫn cần tính đến các khía cạnh trong lập trường đàm phán riêng của Bắc Kinh.

Tương tự, có thể sẽ có lợi cho chúng ta nếu gây sức ép buộc phía Trung Quốc phải thực hiện đúng tinh thần nhận định mà Chủ tịch Mao từng nói với ông: không cần thiết phải kiểm soát trực tiếp Đài Loan trong vòng "một trăm năm". Mặc dù tuyên bố này có thể chỉ mang tính biểu tượng trong ý định của Chủ tịch Mao, nhưng đây là một trong số ít những điểm mà chúng ta có thể tận dụng để "trói buộc" phía Tầu cộng bằng chính những lời lẽ thiêng liêng của nhà lãnh đạo tối cao của họ. Tương tự, những tuyên bố trước đây—cả công khai lẫn riêng tư—của Thủ tướng Chu Ân Lai về thiện chí nỗ lực đạt được giải pháp hòa bình cho vấn đề Đài Loan cần được viện dẫn làm tiền đề cho một tuyên bố đơn phương sắp tới của phía Tầu cộng về vấn đề an ninh của hòn đảo này.

—Ai sợ "Gấu lớn hung dữ"? Mặc dù yếu tố Liên Xô rõ ràng đóng vai trò trung tâm trong quá trình phát triển quan hệ giữa chúng ta và Bắc Kinh suốt năm năm qua, chúng ta vẫn lo ngại trước những dấu hiệu cho thấy phía Tầu cộng cảm thấy họ đang bị chúng ta thao túng thông qua việc sử dụng "mối đe dọa từ Liên Xô". Trong năm 1974, Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình và Ngoại trưởng Kiều Quán Hoa đã đưa ra một số tuyên bố thể hiện sự hoài nghi về việc liệu thông tin mà Mỹ cung cấp cho họ về phía Nga có hoàn toàn trung thực hay không; đồng thời, ngay từ mùa đông năm 1973, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã chuyển từ quan điểm nhấn mạnh mối đe dọa của Liên Xô đối với Tầu cộng sang quan điểm cho rằng phía Nga chỉ bố trí một triệu quân dọc biên giới (số lượng không đủ để phòng thủ chứ chưa nói đến tấn công) và rằng Moscow đang thực hiện chiến thuật "giương đông kích tây" (nghi binh ở phía Đông nhưng thực chất lại có ý định tấn công ở phía Tây). Điều này dẫn đến những cuộc trao đổi kém hiệu quả với Ngoại trưởng Tầu cộng về việc liệu Tầu cộng hay Mỹ mới là bên chịu nhiều đe dọa hơn từ Liên Xô. Rõ ràng, phía Trung Quốc đã cố gắng tạo ra ấn tượng rằng lợi thế gây ảnh hưởng của chúng ta đối với họ—vốn dựa trên giả định rằng họ lo sợ người Nga—không lớn như chúng ta mong muốn.

Bất kể thực tế về mối đe dọa từ Nga đối với Trung Quốc là như thế nào, việc chúng ta khai thác vấn đề Liên Xô vẫn tiềm ẩn nhiều khía cạnh tâm lý phức tạp. Nếu chúng ta tỏ ra quá chú trọng vào mối đe dọa từ Nga nhằm mục đích "dọa" Bắc Kinh, phía Trung Quốc sẽ cảm thấy họ đang bị thao túng, và do đó làm xói mòn uy tín mà chúng ta đã dày công xây dựng với họ. Hơn nữa, một điều trớ trêu là chúng ta có thể đang vô tình gia tăng áp lực buộc Mao Trạch Đông phải linh hoạt hơn trong cách ứng xử của Tầu cộng với Moscow. Chúng ta biết rằng sau thỏa thuận năm 1973 giữa Mỹ và Liên Xô về việc ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, ông Chương Văn Tấn (Chang Wen-chin) – một trong những người đã cùng phía Mỹ soạn thảo Thông cáo Thượng Hải và hiện là Đại sứ Tầu cộng tại Canada – đã viết một văn bản nội bộ Bộ Ngoại giao đặt vấn đề về giá trị trong quan hệ Trung - Mỹ, xét trong bối cảnh Mỹ ngày càng gia tăng các hoạt động tiếp xúc với Liên Xô. Sự nghi ngại rằng Mỹ đang lợi dụng "mối đe dọa từ Liên Xô" để thao túng Tầu cộng hẳn cũng đã thúc đẩy các chính trị gia theo trường phái "thực dụng" như Đặng Tiểu Bình (và có thể cả Thủ tướng) muốn tạo thêm sự linh hoạt cho chính sách đối ngoại của nước này thông qua việc nhượng bộ có chừng mực đối với phía Nga (đồng thời làm giảm bớt dư địa hành động của chính phía Mỹ).

Việc làm thế nào để thẳng thắn với Bắc Kinh về đánh giá của chúng ta đối với năng lực và ý đồ của Liên Xô mà không tạo cảm giác đang lợi dụng yếu tố này để thao túng là một bài toán khó trong chiến thuật đàm phán.

Hơn nữa, nếu phía Tầu cộng cho rằng quan hệ của chúng ta với họ chủ yếu nhằm mục đích tạo lợi thế trước người Nga, họ càng dễ tin rằng chúng ta sẽ nhượng bộ họ trong các vấn đề song phương để duy trì vị thế của mình đối với Moscow. Chúng tôi tin rằng tình trạng này sẽ gây ra những vấn đề lớn cho sự phát triển quan hệ Mỹ - Trung. Nó không chỉ khiến Bắc Kinh nảy sinh thái độ hoài nghi về quan hệ với chúng ta, mà còn ngày càng cám dỗ họ đặt chúng ta vào những lựa chọn khó khăn: hoặc phải đáp ứng lợi ích của họ trong các vấn đề song phương cụ thể, hoặc chấp nhận rủi ro làm tổn hại rõ rệt đến quan hệ Mỹ - Trung – và hệ quả là làm suy giảm lợi thế của chúng ta trước Moscow. Ngoài ra, nếu các quyết định của chúng ta khiến báo chí, Quốc hội và giới học thuật tin rằng chúng ta đang tỏ ra "nhún nhường" Trung Quốc, chúng ta sẽ làm xói mòn sự ủng hộ dành cho chính sách Tầu cộng của mình trong giới tinh hoa có tiếng nói – những người vốn đã dần mất kiên nhẫn với các chiêu trò của Bắc Kinh. (Chính vì lý do này, cùng với những lý do khác, chúng tôi đã thúc đẩy việc giữ lập trường cứng rắn đối với vấn đề bài hát về "giải phóng" Đài Loan.)

Tóm lại, dù chỉ xét trên khía cạnh chiến thuật, chúng ta cũng cần tiếp cận Bắc Kinh với sự quan tâm sâu sắc hơn đến diễn biến của mối quan hệ song phương. Nếu chúng ta không thực sự coi trọng Tầu cộng dựa trên chính những lợi ích và quan điểm của họ, chúng ta khó có thể xây dựng được một mối quan hệ với nước này mà nhận được sự ủng hộ bền vững từ cả Bắc Kinh lẫn phía Mỹ.

—Gắn việc bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung với sự hợp tác trong các vấn đề liên quan đến nước thứ ba. Mặc dù Thông cáo Thượng Hải đã gắn việc rút quân sự khỏi Đài Loan với việc giảm căng thẳng tại Đông Dương, nhưng nhìn chung, quan hệ của chúng ta với Bắc Kinh đã phát triển mà không có nhiều nỗ lực nhằm trực tiếp liên kết các bước tiến xa hơn trong quan hệ song phương với sự hợp tác trong các vấn đề quốc tế. Diễn biến này là hợp lý, bởi lẽ việc gây sức ép buộc Bắc Kinh phải hợp tác công khai với chúng ta trong những lĩnh vực mà lợi ích an ninh của chính Tầu cộng bị đe dọa (như ở Đông Dương) rất có thể sẽ gây quá tải cho tiến trình bình thường hóa vốn còn non trẻ và mong manh. Hơn nữa, nhìn lại thái độ của Bắc Kinh đối với vấn đề Việt Nam và Campuchia trong bốn năm qua, có thể thấy rằng dù phía Trung Quốc không thực sự hợp tác tích cực, họ cũng không chủ động gây cản trở. Điều này diễn ra trong bối cảnh cục diện sự kiện rõ ràng đang nghiêng về phía các đồng minh của họ, khả năng hành động của chúng ta ngày càng bị hạn chế bởi các yếu tố nội bộ, và việc chủ động chống lại xu thế đó sẽ khiến họ phải đối mặt với áp lực chính trị nặng nề từ phía Liên Xô—nước luôn tìm cách làm họ bẽ mặt thông qua nhóm các nước "Thế giới thứ ba" vốn ủng hộ quan điểm của Moscow. Ngoài ra, Bắc Kinh từng hỗ trợ chúng ta trong vấn đề Triều Tiên vào mùa thu năm 1973, nhưng lại rút lui khỏi sự "thông đồng" đó ngay khi Moscow tìm cách làm suy yếu vị thế của họ tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, lấy lý do là sự hợp tác của họ với Hoa Kỳ. [Trang 696]

Đồng thời, thái độ gần đây của Trung Quốc đối với hàng loạt vấn đề quốc tế—như vấn đề Triều Tiên và Bộ chỉ huy Liên Hợp Quốc, Đông Dương, hay các hội nghị về lương thực và năng lượng—cho thấy rất ít triển vọng về việc chúng ta có thể hợp tác tích cực với Bắc Kinh sau khi bình thường hóa quan hệ để giải quyết các vấn đề liên quan đến nước thứ ba. Hiện nay, cả trong nội bộ chính quyền Hoa Kỳ lẫn dư luận đều xuất hiện những lời phàn nàn cho rằng chúng ta thực sự thu được rất ít lợi ích từ mối quan hệ với Bắc Kinh.

Có những hạn chế đáng kể đối với khả năng tạo ra đòn bẩy tác động lên phía Tầu cộng nhằm thúc đẩy họ hợp tác trong các vấn đề quốc tế (với vấn đề Triều Tiên là một ví dụ điển hình); tuy nhiên, đồng thời, Ngài cũng có thể cân nhắc việc đặt nền móng cho sự gắn kết giữa các bước tiến tiếp theo hướng tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ và việc tăng cường hợp tác trong các vấn đề liên quan đến nước thứ ba. Cũng như việc các nhóm lãnh đạo chủ chốt trong nước sẽ đặt câu hỏi về những gì chúng ta nhận được từ Bắc Kinh trong quan hệ song phương để đổi lấy các nhượng bộ của chúng ta về vấn đề Đài Loan, chắc chắn sẽ có những chất vấn về tiến trình "bình thường hóa" nếu chúng ta không thể chỉ ra được sự hợp tác nhất định từ phía Tầu cộng đối với các vấn đề quốc tế.

Kiến nghị:

Ngài nên sớm triệu tập một cuộc họp với chúng tôi để thảo luận về các vấn đề được đề cập trong tài liệu này, cũng như đưa ra chỉ đạo về cách thức triển khai công tác chuẩn bị cho chuyến đi tiền trạm của Ngài tới Bắc Kinh.

1.   Nguồn: Thư viện Ford, Cố vấn An ninh Quốc gia, Ban Tham mưu NSC phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, Hồ sơ Tham khảo, Hồ sơ Theo trình tự thời gian của Solomon, Hộp 40, ngày 1–3 tháng 7 năm 1975. Tuyệt mật; Nhạy cảm; Hoàn toàn nằm ngoài hệ thống thông thường. Được gửi đi để xử lý. Bản ghi nhớ được soạn thảo trên giấy tờ của Hội đồng An ninh Quốc gia. Tất cả các phần nằm trong ngoặc vuông đều có trong văn bản gốc.↩

2.   Xem chú thích số 3, Tài liệu 106.↩

3.   Xem Tài liệu 109.↩

4.   Lời thách thức của Goldwater là: "Nếu họ muốn thay đổi mối quan hệ của chúng ta với Đài Bắc, thì như tôi đã nói với Tổng thống và Kissinger, họ sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến vô cùng cam go." Trích dẫn theo Lou Cannon, bài "Goldwater cảnh báo Tổng thống không được từ bỏ Đài Loan" (Goldwater Warns President Against Abandoning Taiwan), báo *The Washington Post*, ngày 15 tháng 4 năm 1975, trang A2.↩

5.   Mục A, "Thái độ hiện nay của Bắc Kinh đối với việc bình thường hóa quan hệ," được đính kèm nhưng không in ra trong tài liệu này.↩

6.   Tuy nhiên, ngày càng có nhiều sự không chắc chắn về sức khỏe thể chất cũng như vị thế chính trị của cả Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Vẫn có những dấu hiệu cho thấy mối quan hệ giữa Chủ tịch với các nhà lãnh đạo cấp cao khác, đặc biệt là trong quân đội, có phần căng thẳng; tuy nhiên, kể từ khi trở lại Bắc Kinh vào giữa tháng 4 sau mười tháng vắng mặt, Mao đã tiếp tục đóng vai trò tích cực rõ rệt trong các công việc chính trị, chẳng hạn như việc tiếp đón các đoàn khách nước ngoài. Đồng thời, sức khỏe của Chủ tịch (như thường lệ) dường như đang ngày càng sa sút. Sức khỏe và vai trò của Chu Ân Lai cũng là những yếu tố chưa rõ ràng. Chúng tôi thấy rất khó để đưa ra bất kỳ kết luận chắc chắn nào về tác động của tình hình lãnh đạo hiện tại đối với quan hệ song phương giữa chúng ta và Bắc Kinh, mặc dù chúng tôi có cảm nhận chung rằng vai trò của Mao và Chu đang dần mờ nhạt. Các công việc thường nhật ngày càng được nắm giữ chắc chắn hơn bởi một nhóm "người kế nhiệm" do Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình và Trương Xuân Kiều (đại diện phía Đảng) lãnh đạo. Tuy nhiên, chúng tôi không thấy có bằng chứng nào cho thấy Mao và Chu sẽ không tiếp tục gây ảnh hưởng đến các quyết định lớn về chính sách đối ngoại, hay cho thấy đường lối đối ngoại mà họ theo đuổi trong năm năm qua đang bị thay đổi. [Chú thích có trong văn bản gốc.]↩

7.   Xem danh mục chi tiết hơn về các lĩnh vực có thể đạt được thỏa thuận nhằm duy trì hoặc mở rộng mối quan hệ tại Mục B. [Chú thích có trong văn bản gốc. Mục B, “Danh mục các lĩnh vực có thể đạt được thỏa thuận song phương nhằm tăng cường quan hệ Hoa Kỳ – CHND Trung Hoa,” được đính kèm nhưng không được in ra.]↩

8.   Xem Tài liệu số 8.↩

9.   Mục C, “Các vấn đề thực thi liên quan đến thỏa thuận bình thường hóa quan hệ,” được đính kèm nhưng không được in ra.↩

10.                 Không tìm thấy bản phân tích này.↩

11.                 Xem Tài liệu số 98.↩

12.                 Mục D, “Các cách tiếp cận về mặt khái niệm để soạn thảo tuyên bố của Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa về an ninh của Đài Loan,” được đính kèm nhưng không được in ra.↩

13.                 Vào ngày 23 tháng 5, các nhân viên Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) đã gửi cho Kissinger một bản ghi nhớ về việc cắt giảm lực lượng Hoa Kỳ và hỗ trợ quân sự trong tương lai của Hoa Kỳ dành cho Đài Loan. (Bản ghi nhớ từ Solomon, Granger và Froebe gửi Kissinger, ngày 23 tháng 5; Thư viện Ford, Hồ sơ Thể chế NSC (H–Files), Hộp H–32, NSSM 212) [văn bản chưa được giải mật] Bộ Quốc phòng cũng đã thực hiện một nghiên cứu về các phương án thay đổi quy mô lực lượng Hoa Kỳ tại Đài Loan. (Bản ghi nhớ từ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng William P. Clements gửi Scowcroft, ngày 20 tháng 11 năm 1974; Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Washington, Hồ sơ OASD/ISA: FRC 330–77–0063, Hộp 3, Trung Quốc (Cộng hòa Trung Hoa), 1974, 0001–320.2)↩

14.                 Tham chiếu đến các đoạn văn ở cuối tài liệu, ngay trước phần Kiến nghị.↩

15.                 Điện tín số 29717 gửi Bắc Kinh ngày 10 tháng 2 đã tóm tắt cuộc họp này. (Thư viện Ford, Cố vấn An ninh Quốc gia, Hồ sơ Quốc gia của Tổng thống, Đông Á, Hộp 14, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, điện tín của Bộ Ngoại giao từ SECSTATE–NODIS (5))↩

16.                 Xem Tài liệu số 90.↩

17.                 Không được in ra. Xem chú thích 13 ở trên.↩

18.                 Những bình luận của Đặng Tiểu Bình vào ngày 2 tháng 6 với các biên tập viên báo chí Mỹ đã góp phần làm giảm bớt kỳ vọng rằng chuyến đi sẽ mang lại kết quả lớn. Chúng tôi tin rằng Đặng đưa ra những nhận định này chính vì các nhà lãnh đạo CHND Trung Hoa lo ngại Tổng thống có thể hủy bỏ chuyến đi. Họ nhận thức rõ những áp lực mà Tổng thống đang đối mặt, khiến việc tạo ra thêm những thay đổi trong mối quan hệ trở nên khó khăn. (Cách lý giải này được củng cố bởi các báo cáo bổ sung từ CAS.) Chúng tôi cũng nhận được các dấu hiệu gần đây cho thấy giới chức Trung Quốc tại Văn phòng Liên lạc CHND Trung Hoa (PRCLO) và Hồng Kông vẫn duy trì thái độ cởi mở của Đặng về vấn đề tiến triển trong quan hệ với Đài Loan, cũng như mong muốn Tổng thống thực hiện chuyến thăm bất kể hoàn cảnh nào. [Chú thích có trong văn bản gốc.]↩

19.                 Xem chú thích 7, Tài liệu 60.↩

20.                 Xem Tài liệu 103.↩

21.                 Vào ngày 20 tháng 3, Habib thông báo với Hàn Tự rằng Hoa Kỳ “không thể cho phép chuyến lưu diễn [của một đoàn nghệ thuật CHND Trung Hoa] diễn ra chừng nào bài hát về việc [giải phóng] Đài Loan vẫn còn trong chương trình biểu diễn.” (Biên bản ghi chép cuộc trao đổi, ngày 20 tháng 3; Thư viện Ford, Hồ sơ Văn phòng Cố vấn An ninh Quốc gia - Cánh Tây, 1974–1977, Hộp 5, Các hoạt động trao đổi với Trung Quốc, không đánh số, 13/3/75–27/3/75) Kết quả là chuyến lưu diễn đã bị hủy bỏ. Xem bài “U.S. Bars Chinese Troupe” (Mỹ ngăn đoàn nghệ thuật Trung Quốc), báo *The Washington Post*, ngày 28 tháng 3 năm 1975, trang A1.↩

Historical Documents - Office of the Historian

1.    Document 112

Foreign Relations of the United States, 1969–1976, Volume XVIII, China, 1973–1976

112. Memorandum From the Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs (Habib), the Deputy Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs (Gleysteen), the Director of the Policy Planning Staff (Lord), and Richard H. Solomon of the National Security Council Staff to Secretary of State Kissinger1

Washington, July 3, 1975.

SUBJECT

·       U.S.–PRC Relations and Approaches to the President’s Peking Trip: Tasks for the Rest of 1975

Our China policy at present straddles two very contradictory trends: In one direction we are postured toward the objective established by the Shanghai Communiqué. The President, in his April 10 speech to the Congress, reaffirmed his interest in visiting Peking later this year in order to “accelerate” the normalization of relations.2 In your May 9 session with Huang Chen you raised questions about the timing and agenda of the Presidential trip, and expressed interest in Peking’s views on these issues.3 Thus, publicly and privately we have sustained the expectation both for Chinese leaders and our own public that there is still momentum in the normalization process.

In the other direction, however, there are domestic and international political forces enhanced by events in Indochina, and sustained by developments elsewhere abroad, which raise new obstacles to change in our relationship with the Republic of China on Taiwan. Senator Goldwater’s public challenge to the Administration at the time of the Chiang Kai-shek funeral4 is but the most visible indicator of a range of pressures on the President to avoid or delay the modification of our legal and security relations with Taiwan which are at the heart of “normalization” with Peking. As a reflection of these pressures, the President has now publicly (if inadvertently) reaffirmed our commitments to Taipei, and you have stated both privately (to the Japanese Foreign [Page 676]Minister) and publicly (in U.S. News and World Report) that the President’s trip to Peking will not necessarily lead to full normalization.

Underlying these contradictory trends, of course, is the continuing importance to the U.S. of normalization with the PRC for the longer term restructuring of great power political and military relationships. This objective is now in conflict, however, with the immediate need to reassure key allies (and warn possible adversaries) in the wake of our Indochina setbacks. It is further complicated by the domestic political factors the President must consider as he faces re-election in 1976.

This memorandum seeks to give you a sense of several very different ways we might proceed in our relationship with Peking during the remainder of this year. We assume that the actual decisions the President will make on China policy this fall will be shaped by a combination of international developments during the next several months (particularly those associated with Middle Eastern diplomacy and Soviet-American relations) and his own judgment about the impact of possible further moves with Peking on both his foreign policy and domestic political future.

In order to give you a range of approaches to our dealings with the PRC during the remainder of 1975, we explore in the following sections of this paper the problems and issues associated with three ways of handling the Peking summit:

  • —An indefinite postponement.
  • —A “sustaining” visit.
  • —Full normalization.

•

In addition, we review the issues which must be addressed if you wish to at least explore with Chinese leaders the terms for a comprehensive normalization agreement.

•

We summarize the tasks which remain for this year in our dealing with the PRC irrespective of the type of summit you and the President wish to organize.

•

We suggest some problem areas and themes relating to our official dialogue with the Chinese, and their relationship to your forthcoming discussions in Peking.

•

In an appendix (Tab A) we review the PRC’s current orientation toward the normalization process.5

Our own judgment is not that there should be “normalization at any price,” but that long-term American foreign policy interests will be served by a consolidation of our present, if limited, relationship with Peking, and that we can avoid future problems with the PRC at a relatively low price as well as posture ourselves in Asia favorably for the [Page 677]future if an acceptable normalization deal can be worked out now. We believe that at minimum there are important reasons for making a serious attempt to explore with senior PRC leaders the terms for a comprehensive agreement on full normalization, even though the President will ultimately have to decide how far he can go. The Chinese—in the wake of Indochina developments—appear to be more anxious than ever to have a visible relationship with the U.S. for security reasons. Thus, they probably are as likely as they may ever be to accommodate our political needs; and while Mao and Chou still live there is the authority in Peking to strike a deal and implement it. The exact degree of Chinese flexibility on the most sensitive issue of Taiwan’s future security, however, will only be known through direct negotiations.

At the same time, senior PRC leaders in recent days have publicly indicated that they will accept a Presidential visit which does not lead to full normalization. This gives us greater flexibility in planning for the President’s trip, although there remain risks (primarily in China’s domestic political process) in trying to sustain our relationship with Peking at its present level for several more years. Thus, we believe that if you can get substantial assurances from the Chinese on the Taiwan security question, and if other political and economic elements of a package agreement on normalization are positive, that our interests will be served by consummating a deal in association with the President’s trip.

Three Approaches to the Peking Summit: Indefinite Postponement; a Sustaining Visit; or Full Normalization

We assume, without a review of all the arguments, that it is still a basic American foreign policy commitment to work toward the full normalization of U.S.–PRC relations, and to complete the process in as short a period of time as is politically feasible. The questions which remain are the precise terms for a normalization agreement, and the timing of their realization.

We also assume (as you indicated to Huang Chen on May 9) that whatever type of a Presidential trip you wish to organize will be preceded by an advance visit by yourself to negotiate the political issues. This advance could be scheduled either before or after the Brezhnev summit, although we feel there are political advantages to such a trip beforehand. A visit to Peking sometime after your July meeting with Gromyko (in August, or the second half of September) would presumably build additional heat on the Soviets in advance of the Brezhnev visit; and while the Chinese might be inclined to be less forthcoming on terms for normalization as a price for being played so obviously against the Russians, they would be concerned that a stalling of the U.S.–PRC relationship would incline us toward a closer relationship with Moscow.

[Page 678]

From another perspective, Chinese uncertainty about the exact outcome of the Soviet summit (as will be the case prior to Brezhnev’s visit to Washington) could provide a better context for your discussions in Peking than a post-summit situation where we might appear to PRC leaders to have moved toward greater “collusion” with Moscow. All the same, however, it can be argued that even substantial movement in Soviet-American relations will just motivate Peking to want to “keep up” with us rather than back away (as appeared to be the case last November after the Vladivostok summit meeting).

Our summary judgment of these considerations is that an advance visit to Peking by yourself before the Brezhnev summit would be most useful and timely. If you were to go to Peking in October or early November there would be the additional disadvantages of having minimal lead time before the President’s visit to permit technical planning and preparations related to possible political developments. Such a late advance might force a delay in the President’s trip until December or the early winter of 1976.

Indefinite Postponement of the Peking Summit

Inasmuch as we now have a fairly clear sense of the likely elements of a normalization agreement, you and the President may decide that the time is not ripe to consummate a fully normalized relationship with Peking, and that as a consequence the PRC summit should be postponed indefinitely. Such a determination presumably would be crystallized by the discussions you will hold during your advance trip, although if you do not wish to formalize the Chinese or American negotiation positions you might work out a postponement indirectly through contacts with the PRC Liaison Office.

The impact of an indefinite postponement of the Presidential trip would be substantial on both the future of the U.S.–PRC relationship and on our other international dealings. A major source of pressure on the Soviet Union would be called into question (although this might be of lessened short-term importance in the wake of a successful Brezhnev summit), and there would be a general sense abroad that the U.S.–PRC relationship was stalling out. Indeed, we assume that a decision on our part to postpone the President’s trip to Peking would effectively freeze any substantial movement in the relationship until after the elections in the fall of 1976, presumably well into 1977.

In such circumstances, while the leaders in Peking that we have been dealing with will—by all currently available evidence—seek to sustain the relationship in its present form, we would be gambling that a number of developments would not occur which could close off the prospects of attaining a stable, fully normalized relationship with the PRC: Mao and/or Chou are quite likely to die in the next two or three [Page 679]years. As a result there could well be a diffusion of the policy consensus and leadership coalition which now gives Peking’s politics a coherence unknown for two decades.6 Pressures which we have seen reflected in PRC media for a moderated policy toward the Soviet Union—a line which seems to emanate from the military—might find expression in a succession struggle. And the possibility of a change of Administration in Washington after 1976 could confront Peking with a new cast of characters they might well view without sympathy, and with whom they would have to build a dialogue de novo.

In short, delay risks the intervention of political forces which could substantially complicate efforts to normalize—a consideration which of course has to be weighed against the factors on the other side of the equation which should continue to make it in the national interests of both the PRC and U.S. to complete the process which you and President Nixon, Chairman Mao and Premier Chou initiated in 1970.

Based on the above considerations, we frankly assume that indefinite postponement of the Presidential trip is a non-option. The political rationale which led to the onset of the normalization process still holds true; and despite some cooling of the atmospherics in our dealings with the Chinese, the importance of a stable U.S.–PRC relationship for the larger structure of the Administration’s foreign policy would make the virtual termination of the political dialogue with Peking and the elimination of even the optical aspects of our relationship more costly than, for example, a cosmetic Presidential trip. Furthermore, the Chinese are now signalling to us—in Teng Hsiao-p’ing’s remarks to a group of American newspaper editors in early June, and in other official guidance which reaches us via CAS reporting—that they want the Presidential visit to be held whether or not it leads to full normalization.

[Page 680]

A “Sustaining” Summit

If you and the President were to decide that Peking’s terms for normalization are politically unacceptable, but that you wish to sustain a visible relationship with the Chinese, we believe that Peking would see its own interests served by an optical summit meeting which did not produce a major breakthrough to establishment of diplomatic relations. As senior Chinese leaders have repeatedly told you, while they wish to move on the Taiwan question, they are prepared to wait if the U.S. “needs Taiwan.” The world press carried Teng Hsiao-p’ing’s comment on June 3 that President Ford will be welcome in China even if there are no agreements on any major questions between the two countries [i.e., Taiwan].

We do not even totally rule out the interpretation that PRC leaders may not want to move on normalization at this time, either because they know our price is unacceptable to them in terms of their domestic politics or because they do not wish to induce further political changes in their region in the wake of Indochina developments which would give the Soviets additional openings that China might have to counter with limited assets. At least one can say that the present state of U.S.–PRC relations, and the American “holding” position on Taiwan, represent an acceptable minimum position in terms of PRC interests at this time.

We see two problems, however, with a cosmetic summit meeting designed just to sustain our relationship with Peking at its present level—each related to problems of constructing a meaningful agenda. There will be problems in formulating a significant outcome short of full normalization which would clearly justify a second Presidential visit to Peking. A trip merely to “exchange views on issues of common concern” could be criticized in the press as unworthy of the occupation of so much of Mr. Ford’s time and an unnecessary commitment of Presidential prestige to a second visit to the Chinese capital. It would encourage cynicism about the U.S.–PRC relationship.

What agreements might we reach with Peking short of full normalization which would justify to our public a second Presidential trip? Thus far the Chinese have been unwilling to move with us on certain economic and exchange issues (solution of the claims/assets problem, or a more active cultural exchange relationship) in the absence of progress on the key political issue of Taiwan. The Chinese would have to re-evaluate this posture and be willing to show more flexibility in solving secondary issues than they have done to date. Thus, we might seek a final resolution of the claims/assets problem. Maritime or air transport agreements, or a governmental trade agreement, might be worked out “in principle” (although considerable time will be needed to negotiate the details of such arrangements). Or certain visible [Page 681]cultural programs might be worked out, such as exchange of students or permanent press representation. In return, we might “give” Peking virtually full withdrawal of our military presence from the island (except for a residual intelligence and liaison cadre of a few hundred men), or a reduction of the level of our diplomatic representation.7

Based on Peking’s position up to now, however, we have limited expectation that the Chinese will agree to further increments of the above sort without some fairly specific commitments to progress on the Taiwan issue. The problem the President faces, of course, is that any commitment he might make on the political issues really requires implementation in conjunction with his trip to Peking or its immediate aftermath. It will be difficult, for domestic political reasons, to reveal or institute substantial changes in our relationship with Taiwan during the 1976 campaign season; and the President presumably would not want to offer (and the Chinese would probably not accept) a political deal which is contingent upon his re-election—or left to the discretion of his successor.

A related agenda problem is reaction on the PRC side to a second summit meeting that does not solve the Taiwan question. Even though we believe senior PRC leaders wish to have a Presidential visit which may not produce a breakthrough, they may be faced with growing domestic pressures for some visible benefit to China from the Washington connection. A case can be made from a Chinese perspective that Peking has made all the compromises thus far while receiving little in return. Not only has Taiwan not been “liberated,” but the U.S. has a new senior Ambassador there and the ROC has two additional consulates in the U.S. Trade is substantially in America’s favor, is weakening China’s “self-reliance,” and is inducing PRC scientists to “worship foreign things.” The cultural exchange program is exposing Chinese intellectuals to disturbing foreign ideas; while the American journalists and intellectuals who visit the PRC return to the U.S. to publicly criticize what they see in China, especially domestic political problems.

While the above sort of argument can be overdrawn, there is good evidence from CAS reporting that our bilateral contacts with the PRC have generated the above sorts of criticism, especially from China’s political left. The argument that China increases her security against the Soviets by dealing with the U.S. is a very sophisticated rationalization accepted by a limited few. Indeed, China’s military seems to be [Page 682]a continuing source of pressure for a less hostile attitude toward the Russians (although we have no direct evidence of their opposition to dealings with the U.S.).

Given these considerations, the strategy of a “sustaining” agenda should be to include developments which will enable PRC leaders to hold the commitment of the “left” and military to our present relationship. Unilateral security actions we might take (such as further troop reductions from Taiwan), or proposals in such areas as technology transfer or military cooperation which would enhance PRC defenses, will be helpful in minimizing resistance to the relationship from the Chinese military. Unfortunately some of the things we need in order to cope with conservative American opinion, such as future sales of military equipment to Taiwan, will probably antagonize the PLA. Similarly, the kinds of cultural and scientific exchanges which will hold the interest of our intellectuals and journalists in the China relationship are exactly the programs which are seen as threatening by China’s political radicals. Such contradictory factors will have to be balanced out in almost any trip agenda, but particularly in one which seeks to sustain the U.S.–PRC relationship in its present, semi-consummated condition.

A Normalization Summit

We believe that despite certain signs of a hardening in Peking’s foreign policy orientation (such as increasing unwillingness to be cooperative with us on certain third country issues, their pressuring Japan on terms for a peace treaty, and somewhat more visible support for certain Maoist insurgent movements abroad) that the Chinese continue to see U.S.–PRC normalization as in their own interest. Developments in Indochina have sharpened PRC concerns about the Soviets having new political openings on their periphery; and we interpret the heightened visibility of Chinese support for North Korea and the new government in Cambodia as an effort to preempt Soviet access by presenting themselves to these and other countries in the region as a more reliable political ally than the Soviet Union. CAS reporting in recent weeks has revealed active concern among Chinese officials that President Ford might cancel his trip to Peking. Evaluated solely from the perspective of Peking’s mood, the current context may be as favorable as we may have for some time (in terms of the motivation of the Chinese leadership, and the state of the PRC political system) for a move to full normalization.

If there is one crucial point of concern in Peking about their dealings with us, it is uncertainty about how far we will go with Moscow, and new doubts about how actively we can and will work to counter the Soviet presence in their region. While the Chinese will not be in a position to pressure us on our dealings with Moscow as they are now [Page 683]attempting to do with the Japanese, there is no question that developments in Soviet-American relations in the coming months will be a major factor affecting the mood of the Peking summit.

The Chinese cannot demand that we give up “détente” as a price for normalization with them; but to the degree that we appear to be casting our dealings with the PRC solely in terms of our Soviet policy, we will heighten their fears about being exposed on security and political issues by their relationship with us. As Chou En-lai indicated to you as early as February, 1973, there are high-level concerns in Peking that we are dealing with them merely to get at the Soviets “by standing on China’s shoulders.”8

The implication of the above line of reasoning for the President’s trip is that our approach to resolving the Taiwan question and finding terms for a fully normalized relationship—along with the outcome of the Brezhnev summit—will be an important test for the Chinese of how seriously we take our relationship with them. If we are correct in the assumption that the Chinese see normalization as much in their interest as ever, the effort to negotiate an agreement on your next advance trip should expose their maximum degree of flexibility, especially on the issue of Taiwan’s security. Even if you are unable to achieve terms acceptable to the President, you will at least have put on the record for discussion at some future time as accommodating a position as the Chinese are likely to find acceptable. Moreover, we will be able to say to our own people (as well as to the Chinese) that we made a determined effort to reach agreement, and that we expect peaceful assurances on the Taiwan question before any future normalization deal can be made. In sum, we believe a serious effort should be made now to determine if agreement is possible.

Where do we now stand on the specific issues which must be addressed in negotiating a package normalization deal? Without reviewing in detail all the elements of such an agreement (which are discussed in the October, 1974 analysis, at Tab C),9 following are the major points which remain at issue:

·       —Recognizing the PRC as the “sole legal government”of China, exchanging ambassadors, and upgrading our liaison offices to embassies. These developments will require working out arrangements to the following associated problems:

•

Agreeing with Peking on some verbal formula by which we go beyond the Shanghai Communiqué statement that the U.S. “does not [Page 684]challenge” the assertion of “all Chinese on either side of the Taiwan Strait” that Taiwan is part of China to a more direct formulation implying or expressing support for the principle of the unity of China. This could be an indirect approach stressing continuity with past American policy by reaffirming our commitment that Taiwan be returned to Chinese control as was expressed in the Cairo and Potsdam declarations, or it could draw on the precedents of other recent recognition formulas in which various states have “taken note of,” “acknowledged,” “recognized” or expressed “understanding and respect for” Peking’s assertion that Taiwan is an inalienable part of China. (Our specific position on this issue might be linked in negotiations to the degree of Peking’s assurances on the future security of the island.)

•

We will have to develop an understanding with Peking about a residual (official or semi-official) presence on the island to replace the withdrawal of our embassy. Peking has now rejected the notion of such a presence being called a “liaison office” or a consulate. We will presumably have to find some new verbal formulation (possibilities range from a broad formulation such as a “U.S. Representative’s Office” or “Sino-American relations society” to a more narrowly conceived “trade office”) and institutional arrangements which will make it possible for seconded State Department and other governmental personnel to handle our contacts with the authorities on Taiwan.

Undoubtedly Peking would prefer that our remnant presence in Taipei be formally unofficial—on the Japanese pattern. Such an arrangement, however, will be undesirable with regard to its impact on Taiwan and here at home. Furthermore, a preliminary analysis of such a non-governmental arrangement indicates there would be significant problems related to USG funding, the handling of consular matters, and management of a military sales program, if our Taipei embassy operation were to be taken over by a private American association. In addition, unless we maintain a government consulate in Taipei (by whatever name), the need for Congressional legislation to enable us to fund and conduct USG business through a private association would open up the Administration to the complicating political effects of legislators on the Hill shaping the process of institutionalizing a normalized China policy. These aspects of the situation are being thought through in a separate analysis which will give you options on how to retain a USG presence in Taipei.10

•

We will have to negotiate with Peking an understanding that the U.S. will maintain its present economic and social ties to the island, including the ability to sustain investment in the island’s economy and [Page 685]physical access to Taiwan via air and sea communications. (In this regard, the playing out of the negotiations between Peking and Tokyo in 1973 on Japan’s air service with the PRC, in which the Japanese acceded to the Chinese demand that they cease treating the Republic of China’s flag airlines as a national airline, has set a difficult precedent for Taipei, and for us.)

·       —The future security of Taiwanremains the core issue to be negotiated. The Chinese may ask us for an explicit, public declaration that we are abrogating the U.S.–ROC Mutual Defense Treaty. They also will probably want a constricting limit—and perhaps a rapid cut-off—in sales of American arms to the island. (Their counter concern will be that too-rapid a removal of the entire American security relationship with Taiwan might stimulate the ROC to turn elsewhere for weapons and political support. CAS reporting indicates that PRC officials see such a possibility enhanced now that Chiang Kai-shek has passed from the scene.) Chinese leaders also have not encouraged us to believe that they might make a public commitment of some sort expressing the intention to “liberate” the island by peaceful means only. Not only has Teng Hsiao-p’ing repeatedly emphasized to you privately that the PRC will permit no foreign interference in the process of Taiwan’s eventual reincorporation into the mainland, but in his June 2 interview with American editors he implied that force might have to be used, “as in removing dust from a floor with the aid of a broom” (a Mao quote). While past public and private statements to you by Chou En-lai suggest some hope for a Chinese statement of peaceful intentions regarding Taiwan, we are not overly optimistic that an acceptable unilateral formulation will be forthcoming.

State Department lawyers, in contrast, have urged that you seek from Peking a joint statement expressing a mutual commitment not to use force in settling the Taiwan question. Such a statement, they say, would at least enable us to plausibly claim that the U.S. retained a legal basis for assisting Taiwan in its defense if it were ever attacked from the mainland. We have no expectation, however, that Peking would agree to such a joint statement; indeed, the Chinese would very likely see a proposal for such an arrangement as a provocation or an unacceptable demand designed to stall negotiations. Other proposals for dealing with the security question (which we have not explored as they seem impractical) include an agreement between the U.S. and PRC to treat Taiwan and the Strait as a demilitarized zone, or to encourage Peking and Taipei to negotiate a mutual renunciation-of-force agreement.

Your own approach to this problem, since you first raised the idea during your October, 1971 trip to Peking, has been to seek from Peking a unilateral and general statement of intention—presumably to be included in a normalization communiqué—expressing the willingness to [Page 686]strive for a peaceful settlement of the Taiwan question. Last fall you had us draft parallel, unilateral American statements (which could be either included “back-to-back” with a Chinese statement in a communiqué, issued separately in a press conference, or embodied in a Congressional resolution) expressing a residual interest in Taiwan’s security, the desire that the island’s future be resolved peacefully, and perhaps linking the maintenance of our fully normal relationship with Peking to the assumption that force will not be used against Taiwan.

Teng Hsiao-p’ing hinted to you on the last day of your November, 1974 talks that he assumes he will be discussing some arrangement of this type with you at a later date.11 Exactly how far Peking will go in this direction will not be known in the absence of direct negotiations. We believe you should negotiate for a unilateral statement by Peking expressing the idea that the PRC does not contemplate the use of force in resolving the Taiwan question. We assume that we will have to accept language which qualifies the circumstances under which Peking would exercise restraint (see suggestive alternative formulations which were drafted for your November, 1974 trip, at Tab D).12 We also assume we will parallel Peking’s statement with a unilateral statement of our own, as is noted above.

A less favorable alternative would be a statement by Peking which merely expresses the “hope for” and a willingness to strive for a peaceful settlement of the Taiwan issue. A further fall-back would be a statement from the PRC side expressing a willingness to exercise patience and restraint in seeking settlement of the island’s future (see alternative formulations at Tab D).

We assume that the exact content of the parallel, unilateral statements which we and Peking might make about the future security of Taiwan will be linked in the negotiating process to agreement on a residual program of sales of American military equipment to the island (i.e., the more forthcoming a statement from the Chinese, the more limited our sales program might be). As noted above, the PRC will probably see its own interests served by having a gradual trail-off in U.S. arms sales; but you may wish to relate an understanding with Peking about the level and duration of such sales to the specific language of restraint that the PRC is willing to agree to, as part of a package agreement on normalization.

(An additional aspect of the modification of our security relationship with Taiwan will be further withdrawals of our residual military [Page 687](and intelligence) presence on the island. While this will not be an issue you would negotiate with Peking, it will constitute one element of your discussions with PRC leaders. As such, further troop withdrawals directly relate to the consummation of a normalization agreement. You have been sent, via NSC channels, two options papers on reduction schedules for our remaining troop and signal intelligence presence on the island, and a residual program of military sales.)13

—Thus far in your approach to a normalization agreement, you have not linked third-country issues to consummation of the process—except for the matter of troop withdrawals from Taiwan being related to “reduction of tensions in the area.” For reasons that we detail on pages 25 and 26 below, you may want to consider relating increased PRC cooperation on issues like Korea to the evolution of a fully normal bilateral relationship.14

If the above issues are the key bilateral questions to be resolved through negotiation, it must be said that at this point in the evolution of your discussions with PRC leaders the room for maneuver on a normalization agreement does not seem great. If there is to be full normalization, we will have to recognize Peking as the sole legal government of China, and imply or express in some verbal formulation acceptance of the view that Taiwan is part of China. We will maintain some type of “private-but-governmental” office in Taipei staffed by seconded State Department personnel, and—on the Japanese pattern—we will maintain our trade and social contact with the island. At the time of normalization we will indicate tacitly or explicitly that the U.S.–ROC Mutual Defense Treaty is no longer operative, but that the end of this formal relationship will be compensated for by a Chinese statement of peaceful intent, by our own unilateral expression of concern (perhaps expressed in a Congressional resolution) for the future security of Taiwan and the expectation that its differences with the mainland will be resolved peacefully, and by a residual program of American arms sales to the island.

[If Peking proves unwilling to agree to any package of arrangements relating to the future security of Taiwan (including such elements as parallel public statements, a residual American arms supply [Page 688]arrangement, and a paced withdrawal of our remaining military presence) it seems likely that the President would find it impossible to reach a normalization agreement. Indeed, we would recommend against a deal on such a basis.]

We will have to answer those who criticize a normalization agreement on the grounds that we denied the people of Taiwan the option of self-determination with the argument that self-determination has never been an element at issue in America’s China policy, and that those Taiwanese intellectuals who have advocated independence (primarily as residents of the U.S. or Japan) have been unable to evoke a substantial response from the people or authorities on the island.

For those who would criticize normalization on the grounds of our having sold out an old ally, we will have to respond that even our recently deceased “old ally” maintained that Taiwan was part of China, and that our national interests require recognizing—belatedly in comparison with the rest of the world—the enduring reality of Peking’s control over the preponderance of Chinese territory. We will point to those aspects of the Asian political and military balance which are likely to stay Peking’s hand from a direct military effort to gain control over the island, and mention our continuing economic ties and program of military sales as a way of helping to preserve for Taiwan the reality of its present status. And we will presumably have a sufficiently direct statement of peaceful intent from Peking to reaffirm our own concern that the people of the island be able to work out in a peaceful manner the nature of their future relations with the mainland.

And for some, there will be the question of what, if anything, the U.S. has gained from Peking in return for normalizing on the PRC’s terms. This is a question that can only be answered in terms of the strategic value to us of a non-confrontation posture with the PRC, the impetus it has given the diplomacy of “détente” with the Soviets, and the long-term benefits to the U.S. of having eliminated one front of the Cold War battle lines of the 1950s and ’60s. (One additional reason for seeking greater PRC cooperation on third-country issues, of course, is to be able to justify normalization on broader international grounds than just gaining leverage over the Soviets.)

Tasks for the Remainder of 1975

In view of the above discussion and analysis, the following tasks remain for 1975 if you are to at least explore with PRC leaders the possibilities for further steps toward a fully normalized relationship:

·       —Preparing a negotiating package. If you will give us guidance on your preferred approaches to further negotiations with the Chinese on the question of normalization, we will prepare a negotiating package for use during your advance trip to Peking later in the year. In addition to the bilateral questions which must be considered in such a package, [Page 689]there is the related issue of how you might wish to coordinate negotiations with the PRC with the evolution of our contacts with the Soviets during the year—specifically whether you want to schedule an advance trip to Peking before or after the Brezhnev summit. As well, there is the question of whether you want to begin to link [lack of]PRC cooperation on third-country issues (such as Korea) and perhaps international questions (food, energy, etc.) to further steps in our bilateral relations.

·    —Planning further force withdrawals from Taiwan. On February 8, Mr. Habib informed PRCLO that by mid-1975 we will have drawn down our military manpower level on Taiwan to about 2,800 men, put Taiwan airbase on caretaker status by mid-year and Ching Chuan Kang airbase on caretaker status by the end of the year. the PRC was also told that they would be informed later about an even lower manpower level to be reached by the end of 1975.15

Two major inter-agency studies relating to the U.S. military manpower presence on Taiwan and our military sales program have just been completed and sent to you and the President for decision via NSC channels. the NSSM 212 response provides you options on general policy guidelines for future sales of military equipment to—and U.S. force levels in—the ROC.16 The second study is an Intelligence Community staff analysis of our signal intelligence presence on Taiwan (which is oriented largely toward the PRC). This study presents options for further reduction of the approximately 715 military SIGINT personnel who will remain on the island after July 1975.17

·    —Preparing our public. Thus far our relations with Peking have evolved with the government shaping public opinion through various official initiatives. You or the President have acted; the public has responded—with a substantial degree of support. We are now at a point in the evolution of U.S.–PRC relations, however, where difficult decisions are less likely to evoke a generally favorable public response. If there is progress toward a fully normalized relationship, certain issues (particularly those related to Taiwan) are likely to provoke a negative reaction from some members of Congress, the media, and private citizens. And if there is no progress, there are likely to be questions about why not. “Why has the relationship stalled” may become an issue in the 1976 campaign.

The PRC in recent months has initiated more active efforts to shape opinion on the normalization question. These include the encouragement and covert funding of the “U.S.–China People’s Friendship [Page 690]Association” to tout PRC political views, cultivation of the Chinese-American community through the cultural exchange program and trips to the PRC, and various efforts to stimulate sympathetic Congressmen and the American press on the normalization issue. The Nationalist Chinese, for opposite reasons, have similarly sought to project their views on the growing U.S.–PRC connection in the Congress and the media. In the early months of this year Taipei’s diplomats embarked on an active effort to convince important opinion groups in the U.S. that normalization has proceeded as far as necessary to serve American interests, particularly by calling on the support of influential Americans like Senator Goldwater. Since the Gimo’s passing ROC public relations efforts have flagged, but we can anticipate more activity as the President’s trip to Peking approaches.

The question we now face is how to try to shape with greater purpose from the Administration’s perspective public attitudes on the remaining issues associated with U.S.–PRC normalization.

There is a basic problem to such an effort. Until you have made your advance trip to Peking and sounded out PRC leaders on the prospects for an agreement, it is obviously in our interest to prevent the build-up of a positive mood of anticipation about the Ford trip.18 This would only constrain your room for maneuver in negotiations with Peking, and might also mobilize groups hostile to further progress. At present we should project an attitude of “we would like to see further progress, but we have significant problems which have to be resolved—and which will require PRC accommodation—before further progress can be made.”

Depending on the results of your advance trip, our public relations effort could go in several directions: If you see a strong possibility of full normalization associated with the President’s trip, you will have to build support for the terms of an agreement with the Congress (which may have to assist by passing a supporting resolution, or enabling legislation as we move to a “private” relationship with Taiwan) and prepare public opinion for anticipated developments. If your advance trip implies limited prospect for further progress, or perhaps a postponing of the President’s trip, we will be faced with the task of explaining [Page 691]to the Congress and public why the relationship has “stabilized” at its present level.

At this point we will not go any further into the public relations aspects of our dealings with Peking other than to flag the issue as one which will have to be considered in greater detail as the year progresses.

·    —Preparing Taiwan for normalization. Should the results of your advance trip imply strong prospects for a normalization agreement, there will also be the need to begin more active measures to prepare the authorities on Taiwan for the further evolution of our relations with both Taipei and Peking. There is obviously some danger in giving ROC authorities the kind of advance notification which might enable them to work against further progress with the PRC. At the same time, there are dangers in being totally passive about preparing the leadership in Taipei for moves on our part which will affect their basic interests (although they clearly anticipate that sooner or later we will recognize Peking and break with them).

The recent passing of Chiang Kai-shek has removed one major constraining, and stabilizing, factor which has held Taiwan to a “one China” course for more than a quarter-century. There is no evidence as yet that the elder Chiang’s death has destabilized the situation on the island, or is inclining the Nationalists in some other direction. But as Peking, Taipei, and Washington adjust their policies to the new political and international context in the months ahead, we should be sensitive to new possibilities in the Taiwan factor, and seek to actively influence the evolution of the island’s policies consonant with America’s larger interests. (We are now preparing a separate paper for you on the Taiwan situation.)

·    —Preparing Japan. While the Japanese, at some level of perception, assume we will eventually normalize with Peking, there still lingers the hope (particularly in the business community, and among Foreign Ministry officials) that the U.S. will sustain its present “two China” position. Our enduring relations with Taiwan give the Japanese a sense that their interests on the island are protected; and the measured pace of our diplomacy with Peking has given Tokyo greater freedom of action in dealings with the Chinese. Should we recognize Peking this fall, for example, the Japanese would feel under greater pressure to conclude a peace and friendship treaty with the PRC on Peking’s “antihegemony” terms.

For these reasons, as well as to avoid recriminations on the basis that the U.S. never learned the lessons of the first “Nixon shocks,” we should make an effort to at least inform the Japanese in good time of any further developments in our relations with the PRC.

·       —Preparing the PRC. While your advance trip to Peking will be the primary vehicle for developing the basis for further developments in U.S.–PRC relations, you may also want to take certain unilateral steps in advance of the President’s trip to generate an appropriate mood in Peking. These might include symbolic measures (such as having the President, or yourself, give a major speech on China in the fall, or having Mr. Ford receive at the White House the major PRC trade and scientific delegations which will visit Washington in September), or certain unilateral actions such as communicating to Peking further U.S. troop reductions from Taiwan, or perhaps an initiative in the economic area.

Some Final Thoughts on a Negotiating Posture

By way of conclusion, let us suggest several problem areas relating to the pace and orientation of our negotiations with Peking on the normalization issue which could significantly affect the future evolution of U.S.–PRC relations:

·       —To Move or Not to Move to Full Normalization?As noted in the above analysis, the short-run costs of moving to establish diplomatic relations with Peking are substantial for the President, particularly in the wake of developments in Indochina and in the context of the approaching 1976 election campaign. All the same, we remain convinced that there are strong reasons for attempting to negotiate a normalization agreement within the coming five months which would help to stabilize a non-confrontation relationship with PRC. Without reviewing all of the arguments about the long-term value to us of such a development, we would like to emphasize three arguments for such an effort:

o   First, by following through on the diplomatic momentum we have established since 1971 we would complete normalization at our own initiativeand on the basis of a relatively cooperative relationship with Peking. If we let this momentum lapse, however, our relations with the PRC could deteriorate as internal pressures in Peking about being strung along by the Americans intensify. This could then mean that Peking would revert to pressure tactics to get us out of Taiwan and recognize the PRC as the sole legal government of China. Obviously in such a situation “normalization” would be much more costly for an Administration to carry out, for we would be doing it in a reactive way. Recall that in 1969 the Administration was concerned about the PRC playing on our domestic politics. This could become a problem again.

o   Secondly, the other side of the first argument is that if the Mao/Chou initiative toward the U.S. appears to have been successful from China’s perspective, we will have maximized the possibilities of the Chairman sustaining an anti-Soviet foreign policy line within China—with all its obvious benefits for our own foreign policy.

o   Thirdly, there remains the complex of international factors which make normalization basic to stabilizing the structure of the Administration’s foreign policy: maintaining one of our primary levers over the Soviet Union; preventing American isolation on the China issue in multilateral forums (such as the U.N.) and in our bilateral diplomacy; and maximizing the possibility of sustaining if not enhancing parallel foreign policy moves with Peking in a number of third-country areas (Europe, the Middle East and Subcontinent, Japan, and—hopefully—regarding Korea and Southeast Asia).

·    —What Negotiating Themes to Emphasize?In reviewing the evolution of our negotiations with Peking on the normalization issue, we are concerned about the manner in which the Chinese have attempted to box us in on the themes of the “Japanese model” and Teng Hsiao-p’ing’s “three principles.” This is obviously a good tactic from Peking’s perspective; but at the same time we believe the Chinese have given us an opening on a more flexible general theme which could be used to structure the final phase of negotiations. In the November, 1973 Communiqué,19 Premier Chou En-lai explicitly gave you an apparently more flexible “condition” for full normalization—on the basis of “confirming the principle of one China.” We never really responded to Chou’s opening. It seems notable that the Premier repeated this formulation as the only condition which Chairman Mao had set for normalizationin the unpublished version of his speech to National People’s Congress delegates in January of this year.20 It is possible that the Premier (and perhaps the Chairman), in using this phrase both publicly and privately, are indicating the basis upon which they would attempt to sell a compromise normalization agreement to their own cadre. In preparing for your next round of talks in Peking, you could structure your discussion of the normalization issue around this theme and avoid being boxed in on the question of whether or not our terms strictly meet the “Japanese model” or Teng’s “three principles”—although obviously at this point in the discussions we will have to take these aspects of Peking’s private negotiating position into account.

Similarly, we may find it in our interest to press the Chinese to make good on Mao’s comment to you about not needing direct control of Taiwan for “a hundred years.” While this statement may very well have been intended by the Chairman only as a symbolic formulation, it is one of the few points on which we can seek to box in the Chinese with the sacred words of their own leader. Similarly, past public and private statements by Premier Chou about a willingness to strive for a peaceful settlement of the Taiwan situation should be cited as [Page 694]precedents for a forthcoming unilateral statement by the Chinese on the issue of the island’s security.

·    —Who’s Afraid of the Big Bad Bear?While the Soviet factor has obviously been central to the evolution of our relations with Peking over the past five years, we are disturbed by signs that the Chinese feel they are being manipulated by us with the Soviet threat. There were a number of statements in 1974 by Vice Premier Teng and Foreign Minister Ch’iao to the effect that they were not certain they were getting the straight story on the Russians from the U.S.; and beginning as far back as the winter of 1973 Mao and Chou shifted from a posture of emphasizing the Soviet threat to China to the view that the Russians had only a million men on their border (which was not enough for defense, much less an attack) and that Moscow was “feinting toward the East while intending to attack in the West.” This led to some rather unproductive exchanges with the Foreign Minister over whether China or the U.S. was the party more threatened by the Soviet Union. Obviously the Chinese have attempted to create the impression that our leverage over them because of what we presume to be their fear of the Russians was not as great as we might wish it to be.

Whatever the realities of the Russian threat to China, there are several difficult psychological dimensions to the way we might play the Soviet issue. To the degree that we appear to be emphasizing the Russian threat to “scare” Peking, we make the Chinese feel they are being manipulated, and thus erode whatever credibility we have built up with them. Moreover, in an ironic way we may be increasing the pressure on Mao to be more flexible in China’s dealing with Moscow. We know that in the wake of the 1973 U.S.–Soviet agreement on preventing nuclear war that Chang Wen-chin, one of your interlocutors in drafting the Shanghai Communique, and now PRC Ambassador to Canada, wrote a paper in the Foreign Ministry calling into question the value of China’s relationship with the U.S. in the context of our increasingly active dealings with the Soviets. The suspicion that we are manipulating them with the Soviet threat must also increase the inclination of “pragmatic” politicians like Teng Hsiao-p’ing (and perhaps even the Premier) to give greater flexibility to China’s foreign policy by a limited accommodation with the Russians (and to concurrently reduce our own maneuverability).

How to be straightforward with Peking about our assessment of Soviet capabilities and intentions while not appearing manipulative in our use of this factor is a difficult problem in negotiating tactics.

Furthermore, to the degree that the Chinese assume that our dealings with them are largely a function of our efforts to gain leverage over the Russians, the more they will probably assume that we will accommodate them on bilateral issues in order to sustain our position [Page 695]vis-à-vis Moscow. We believe such a situation would create substantial problems for the evolution of U.S.–PRC relations. Not only would it engender cynicism in Peking about their dealing with us, but it would increasingly tempt the Chinese to pose us with difficult choices about whether to accommodate their interests on particular bilateral issues or risk visibly damaging the Sino-American relationship—and by extrapolation, our leverage over Moscow. And to the degree that decisions on our part begin to convince our press, the Congress, and academic community that we are being “soft” on the Chinese, we will erode support for our China policy among important vocal elites whose patience with PRC game-playing is already wearing thin. (It was precisely for this reason, among others, that we urged a firm position on the Taiwan “liberation” song issue.21)

In short, for tactical reasons if nothing else, we should approach Peking with a greater sense of concern about the evolution of our bilateral relationship. If we do not appear to take the Chinese seriously on their own grounds, we are unlikely to build a relationship with the PRC that will gain sustained support in Peking and the U.S.

·       —Link U.S.–PRC Normalization to Cooperation on Third Country Issues. While the Shanghai Communiqué linked our military withdrawal from Taiwan to the reduction of tensions in Indochina, in general our relationship with Peking has evolved without much effort to directly relate further progress on bilateral issues to cooperation in international affairs. This is as it should have been, inasmuch as to press Peking for visible cooperation with us in areas where China’s own security interests would have been compromised (as in Indochina) very likely would have overburdened the fragile beginnings of normalization. Moreover, a review of Peking’s behavior on Vietnam and Cambodia over the past four years indicates that while the Chinese have not been positively cooperative, neither were they actively obstructionist in a situation where the trend of events was clearly in the direction of their allies, where our own ability to act was increasingly constrained by domestic factors, and where to actively resist the trend would have exposed them to serious political pressures from the Russians, who would have tried to embarrass them with their “third world” claque. Moreover, Peking was helpful to us on an issue like Korea as late as the fall of 1973—but pulled back from such “collusion” precisely when Moscow undercut their position at the UN GA on the basis of their cooperation with the U.S.

[Page 696]

At the same time, more recent PRC behavior on a range of international issues—Korea and the U.N. Command, Indochina, the food and energy conferences—has been such as to give us little prospect that after normalization we might expect to work positively with Peking in coping with a range of third country questions. There is now some grumbling both within the USG and in public to the effect that we are really getting very little out of our relationship with Peking.

There are major limitations on the leverage we might develop with the Chinese which might induce them to be cooperative on a range of international issues (Korea being a prime example); but at the same time you may wish to consider laying the groundwork for some linkage between further steps toward full normalization and more cooperation on third country questions. Just as important leadership groups in this country will ask what we are getting from Peking in bilateral affairs in return for our concessions on Taiwan, there will also be questioning about “normalization” if we cannot point to some degree of Chinese cooperation on international problems.

Recommendation:

That you convene a meeting with us at an early date to discuss the issues explored in this paper, and to give us instructions on how we should proceed in preparing for your advance trip to Peking.

1.    Source: Ford Library, National Security Adviser, NSC Staff for East Asia and Pacific Affairs, Convenience File, Solomon Chron File, Box 40, July 1–3, 1975. Top Secret; Sensitive; Completely Outside the System. Sent for action. The memorandum is on National Security Council stationery. All brackets are in the original.↩

2.    See footnote 3, Document 106.↩

3.    See Document 109.↩

4.    Goldwater’s challenge was, “If they want to change our relationships with Taipei, as I told the President and I told Kissinger, they’ve got a helluva fight on their hands.” As quoted in Lou Cannon, “Goldwater Warns President Against Abandoning Taiwan,”The Washington Post, April 15, 1975, p. A2.↩

5.    Tab A, “Peking’s Current Posture Towards Normalization,” is attached but not printed.↩

6.                        There is increasing uncertainty, however, about the physical health and political standing of both Mao and Chou. Indications persist that the Chairman’s relations with other senior leaders, particularly in the military, are somewhat strained; however, since his return to Peking in mid-April after a ten month absence, Mao has resumed an overtly active role in political affairs, as by receiving foreign visitors. At the same time, the Chairman’s health (as always) appears to be deteriorating. Chou’s health and role are also uncertain factors.

We find it very difficult to draw any firm conclusions about the impact of the current leadership situation on our bilateral relations with Peking, although we do have a general sense of Mao and Chou fading from the scene. Day-to-day affairs are ever-more firmly grasped by a “successor” group led by Vice Premier Teng Hsiao-p’ing and Chang Ch’un-ch’iao (on the Party side). We see no evidence, however, which would indicate that Mao and Chou will not continue to influence major foreign policy decisions, or that their foreign policy line of the past five years is being modified. [Footnote is in the original.]

↩

7.    See a more extensive check-list of possible areas for agreements which would sustain or broaden the relationship at Tab B. [Footnote is in the original. Tab B, a “Checklist of Possible Areas for Bilateral Agreements Which Would Strengthen U.S.–PRC Relations,” is attached but not printed.]↩

8.    See Document 8.↩

9.    Tab C, “The Operational Issues Associated With a Normalization Agreement,” is attached but not printed.↩

10.      This analysis was not found.↩

11.      See Document 98.↩

12.      Tab D, “Conceptual Approaches to Formulating U.S. and PRC Statements on the Security of Taiwan,” is attached but not printed.↩

13.      On May 23, the NSC staff sent Kissinger a memorandum on U.S. force reductions and future U.S. military assistance for Taiwan. (Memorandum from Solomon, Granger, and Froebe to Kissinger, May 23; Ford Library, NSC Institutional Files (H–Files), Box H–32, NSSM 212) [text not declassified] The Department of Defense also produced a study of options for changing U.S. force levels on Taiwan. (Memorandum from Deputy Secretary of Defense William P. Clements to Scowcroft, November 20, 1974; Washington National Records Center, OASD/ISA Files:FRC 330–77–0063, Box 3, China, Rep. of, 1974, 0001–320.2)↩

14.      Reference is to the paragraphs at the end of the paper immediately preceding the Recommendation.↩

15.      Telegram 29717 to Beijing, February 10, summarized this meeting. (Ford Library, National Security Adviser, Presidential Country Files, East Asia, Box 14, People’s Republic of China, DOS telegrams from SECSTATE–NODIS (5))↩

16.      See Document 90.↩

17.      Not printed. See footnote 13 above.↩

18.      Teng Hsiao-p’ing’s comments of June 2 to the American newspaper editors has already helped to deflate expectations that there must be a major outcome from the trip. We believe Teng made his remarks precisely because PRC leaders are concerned that the President might back out of the trip. They are well aware of pressures on him which make it difficult to bring about further change in the relationship. (This interpretation is supported by collateral CAS reporting.) We are also receiving indications of recent date that Chinese officials at PRCLO and in Hong Kong are sustaining Teng’s relaxed attitude about the need for progress on Taiwan, and their desire for a Presidential visit under any circumstances. [Footnote is in the original.]↩

19.      See footnote 7, Document 60.↩

20.      See Document 103.↩

21.      On March 20, Habib informed Han Xu that the United States “cannot allow the tour [of a PRC performing arts troupe] as long as the song about [liberating] Taiwan remains in the program.” (Memorandum of conversation, March 20; Ford Library, National Security Adviser, West Wing Office Files, 1974–1977, Box 5, China Exchanges, unnumbered, 3/13/75–3/27/75) As a result, the tour was cancelled. See “U.S. Bars Chinese Troupe,” The Washington Post, March 28, 1975, p. A1.↩

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d112

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_676

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_677

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_678

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_679

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_680

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_681

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_682

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_683

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_684

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_685

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_686

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_687

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_688

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_689

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_690

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_691

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_692

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_693

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_694

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_695

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_696

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d106fn3

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d109

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d8

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d98

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d90

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d60fn7

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d103

Thân thế (các) nhân vật

Brezhnev Leonid,

General Secretary of the Communist Party of the Soviet Union

https://en.wikipedia.org/wiki/Leonid_Brezhnev

https://www.britannica.com/biography/Leonid-Ilich-Brezhnev

https://en.wikipedia.org/wiki/General_Secretary_of_the_Communist_Party_of_the_Soviet_Union

https://www.britannica.com/place/Soviet-Union/The-Brezhnev-era

Zhang Chunqiao (Chang Chun-chiao),

Politburo member until 1976, Vice Premier from January 1975 until October 1976

https://en.wikipedia.org/wiki/Zhang_Chunqiao

https://historica.fandom.com/wiki/Zhang_Chunqiao

https://alphahistory.com/chineserevolution/zhang-chunqiao/

https://chineseposters.net/themes/zhangchunqiao

https://www.cmcarchive.org/figures/zhang-chunqiao

https://liberationschool.org/05-06-01-zhang-chunqiao-communist-leader-html/

Zhang Wenjin (Chang Wen-chin),

Assistant to the PRC Foreign Minister until September 1973

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons

https://2001-2009.state.gov/documents/organization/70142.pdf

https://nehruarchive.in/people/chang-wen-chin

https://www.fmprc.gov.cn/eng/zy/wjrw/lrfbzjbzzl_665553/202405/t20240531_11367634.html

https://en.wikipedia.org/wiki/Zhang_Wenjin

Jiang Jieshi, Madame (Madame Chiang Kai-shek),

wife of Jiang Jieshi; born Song Meiling (Soong Mayling)

https://en.wikipedia.org/wiki/Soong_Mei-ling

https://www.bdcconline.net/en/stories/madame-chiang-kai-shek

https://www.britannica.com/biography/Soong-Mei-ling

https://www1.wellesley.edu/ealc/alum-corner/chinese-alumnae-corner/soong-mayling-1917-

https://www.ebsco.com/research-starters/biography/chiang-soong-mei-ling

https://www.phcmontreat.org/history-archive/soong-mei-ling-and-soong-ching-ling/

Chou En-lai, (Zhou Enlai)

Premier of the People’s Republic of China; member, Standing Committee of the Chinese Communist Party’s Political Bureau

https://en.wikipedia.org/wiki/Zhou_Enlai

https://en.wikipedia.org/wiki/Premier_of_the_People%27s_Republic_of_China

https://en.wikipedia.org/wiki/Minister_of_Foreign_Affairs_of_the_People%27s_Republic_of_China

https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party

https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party

https://en.wikipedia.org/wiki/Chairman_of_the_Chinese_People%27s_Political_Consultative_Conference

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d139

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/memorandum-conversation-between-mao-zedong-zhou-enlai-and-henry-kissinger

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/zhou-enlai-talking-ho-chi-minh

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?f[0]=topics:86538&fo[0]=86538

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?search_api_fulltext=&items_per_page=100&sort_bef_combine=created_DESC&f%5B0%5D=topics%3A86538&fo%5B0%5D=86538

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?search_api_fulltext=&items_per_page=100&sort_bef_combine=created_DESC&f%5B0%5D=topics%3A86538&fo%5B0%5D=86538&page=1

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?search_api_fulltext=&items_per_page=100&sort_bef_combine=created_DESC&f%5B0%5D=topics%3A86538&fo%5B0%5D=86538&page=2

Tài liệu Chu Ân Lai yêu cầu Hoa Kỳ loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và dùng Dương Văn Minh để lật đổ hai nền Đệ I và Đệ II VNCH.

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?search_api_fulltext=&items_per_page=100&sort_bef_combine=created_DESC&f%5B0%5D=people%3A84942&fo%5B0%5D=84942

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/discussion-between-zhou-enlai-and-le-duc-tho

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/89367/download

Deng Xiaoping (Teng Hsiao-p’ing),

Vice Premier of State Council after 1973

https://en.wikipedia.org/wiki/Deng_Xiaoping

https://www.britannica.com/biography/Deng-Xiaoping

https://www.britannica.com/summary/Deng-Xiaoping

https://www.ebsco.com/research-starters/history/deng-xiaoping

http://www.cppcc.gov.cn/zxww/2012/07/03/ARTI1341300716750109.shtml

https://www.encyclopedia.com/people/history/chinese-and-taiwanese-history-biographies/deng-xiaoping

https://simple.wikipedia.org/wiki/Deng_Xiaoping

Ford, Gerald R.,

Republican Representative from Michigan until October 13, 1973; House Minority Leader until October 13, 1973; Vice President of the United States from October 13, 1973, until August 8, 1974; President of the United States from August 8, 1974

https://en.wikipedia.org/wiki/Gerald_Ford

https://en.wikipedia.org/wiki/President_of_the_United_States

https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_President_of_the_United_States

https://en.wikipedia.org/wiki/House_Minority_Leader

https://en.wikipedia.org/wiki/Leader_of_the_House_Republican_Conference

https://en.wikipedia.org/wiki/Chair_of_the_House_Republican_Conference

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_House_of_Representatives

https://www.whitehouse.gov/about-the-white-house/presidents/gerald-r-ford/

https://www.whitehouse.gov/administration/

https://geraldrfordfoundation.org/gerald-r-ford-biography/

https://www.fordlibrarymuseum.gov/grf/timeline.asp

https://en.wikipedia.org/wiki/Presidency_of_Gerald_Ford

https://www.history.navy.mil/research/library/research-guides/modern-biographical-files-ndl/modern-bios-f/ford-gerald.html

https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/guides/findingaid/ford_vp_papers.asp

Froebe, John A., Jr.,

assigned to the Australia, New Zealand and Pacific Island Desk, Bureau of East Asian Affairs, Department of State, but actually on the NSC staff beginning in 1971; formally detailed to the NSC in January 1974; left NSC staff in August 1975

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d18

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d339

https://www.mekong.net/cambodia/download/foreign_relations_vietnam_73-75.pdf

https://adst.org/OH%20TOCs/Holdridge,%20John.%201995%20toc.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d251

https://ia802805.us.archive.org/11/items/investigationofk00unit/investigationofk00unit.pdf

Gleysteen, William H., Jr.,

Deputy Director, Office of United Nations Political Affairs, Bureau of International Organization Affairs, Department of State, from August 1966

https://en.wikipedia.org/wiki/William_H._Gleysteen

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_South_Korea

https://adst.org/OH%20TOCs/Gleysteen,%20William%20H.,%20Jr.toc.pdf

Granger, Clinton E.,

member, National Security Council staff from August 1974

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-2

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-3

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-4

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24#fnref:1.7.4.4.8.92.8.10

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24#fnref:1.7.4.4.8.92.8.12

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v38p2/ch5

https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP79-00957A000100020012-5.pdf

https://www.docsteach.org/documents/document/granger-scowcroft

https://www.docsteach.org/index.php?option=com_ml_documents&task=createZipFile&docid=7299

https://2001-2009.state.gov/r/pa/ho/frus/nixon/e6/66769.htm

https://georgewbush-whitehouse.archives.gov/nsc/history.html

https://www.nixonlibrary.gov/finding-aids/national-security-council-files

Gromyko, Andrei A.,

Soviet Foreign Minister

https://en.wikipedia.org/wiki/Andrei_Gromyko

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_heads_of_state_of_the_Soviet_Union

https://en.wikipedia.org/wiki/27th_Politburo_of_the_Communist_Party_of_the_Soviet_Union

https://en.wikipedia.org/wiki/Ministry_of_Foreign_Affairs_(Soviet_Union)

https://en.wikipedia.org/wiki/Permanent_Representative_of_the_Soviet_Union_to_the_United_Nations

https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?f[0]=people:81473&fo[0]=81473

https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/exhibits/vladivostok/gromyko.pdf

Habib, Philip C.,

member, U.S. Delegation to the Paris Peace Talks from May 1968 until October 1971; Ambassador to Korea from September 30, 1971, until August 19, 1974; Assistant Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs from September 27, 1974

https://en.wikipedia.org/wiki/Philip_C._Habib

https://en.wikipedia.org/wiki/Under_Secretary_of_State_for_Political_Affairs

https://en.wikipedia.org/wiki/Assistant_Secretary_of_State_for_East_Asian_and_Pacific_Affairs

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_Korea

https://diplomacy.state.gov/u-s-diplomact-philip-c-habib-presidential-medal-of-freedom-winner/

https://nsuworks.nova.edu/nsudigital_forums/13/

https://www.arabamerica.com/arabamericans/philip-habib-3/

https://www.britannica.com/biography/Philip-Charles-Habib

https://www.encyclopedia.com/humanities/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/habib-philip-charles

Han Xu (Han Hsu),

Deputy Head of the PRC Liaison Office in the United States from 1973

https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100323.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons

https://brill.com/edcollbook/title/58094

https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf

https://storage.googleapis.com/rua-uplo/files/books/934/416ef3c1-6c7a-4586-b2ec-709a41760bbf.pdf

https://apps.dtic.mil/sti/pdfs/ADA279207.pdf

https://www.aei.org/wp-content/uploads/2023/07/ForeignPolicyRev603.pdf?x97961

Huang Zhen (Huang Chen),

PRC Ambassador to France until March 1973; Chief of the PRC Liaison Office in the United States from March 1973

https://en.wikipedia.org/wiki/Huang_Zhen

https://en.wikisource.org/wiki/Author:Huang_Zhen

https://2001-2009.state.gov/documents/organization/72591.pdf

https://mediaclip.ina.fr/en/i24024268-huang-chen-the-traditional-friendship-of-the-french-and-chinese-peoples.html

https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB79/BEBB23.pdf

https://www.facebook.com/NixonPresidentialLibrary/posts/otd-5301973-president-nixon-met-to-discuss-us-china-relations-with-dr-henry-kiss/1102544875230224/

https://www.fordlibrarymuseum.gov/sites/default/files/2024-06/1552743.pdf

https://www.britishpathe.com/asset/236303/

https://cutt.ly/3tezOe3t

https://mediaclip.ina.fr/en/caf97507056-credentials-huang-chen-at-the-elysee.html

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/d12

Henry A Kissinger

Assistant to the President for National Security Affairs until November 3, 1975; also Secretary of State from September 21, 1973

https://www.theguardian.com/world/2023/may/20/bilderberg-meeting-group-lisbon-kissinger

https://www.theguardian.com/world/bilderberg

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/summary

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip

https://china.usc.edu/sites/default/files/styles/article_node_featured/public/article/featured-image/kissinger-zhou-sm_0.jpg?itok=qDjPx2_m

https://china.usc.edu/catalog/documents/us-china

http://www.archives.gov/press/press-releases/2001/nr01-47.html

https://china.usc.edu/talking-points-july-22-august-3-2011

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#meetings

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#nixon-announcement

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#chinese-accept

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#signals

https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#the_aim

http://www.foreignaffairs.com/articles/23927/richard-m-nixon/asia-after-viet-nam

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d4

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d12

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d13

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d141

https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf

https://en.wikipedia.org/wiki/Henry_Kissinger_and_the_Vietnam_War

Lesson in Vietnam from Kissinger to Nixon: “when we made it “our war” we would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war”, we would not help them fight it.”

(We also had trouble with excesses here: when we made it “our war” we would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war,” we would not help them fight it. Ironically, we prepared the South Vietnamese for main force warfare after 1954 (anticipating another Korean-type attack), and they faced a political war; they had prepared themselves for political warfare after 1973 only to be faced with a main force invasion 20 years after it had been expected.)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/d280

Lesson of Vietnam May 12 1975 by Henry A. Kissinger

https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/exhibits/vietnam/032400091-002.pdf

https://thebattleofkontum.com/extras/kissinger.html

“Richard M. Nixon and Kissinger on 3 August 1972,” Conversation 760-006, Presidential Recordings Digital Edition [Fatal Politics, ed. Ken Huges] (Charlottesville: University of Virginia Press, 2014-). URL:https://prde.upress.virginia.edu/conversations/4006748 

https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0

https://millercenter.org/the-presidency/educational-resources/nixon-kissinger-and-the-decent-interval

https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0

Discover the Truth at:

http://www.theblackvault.com

https://www.theblackvault.com/documentarchive/the-cias-vietnam-document-cd-rom/

The secret life of Henry Kissinger minutes of a 1975 meeting with Lawrence Eagleburger

https://etan.org/news/kissinger/secret.htm

Henry Kissinger and the Truth About Negotiations In Vietnam

https://www.youtube.com/watch?v=Z5fxxKVfX5g

Henry Kissinger - Secrets of a superpower | DW Documentary

https://www.youtube.com/watch?v=bWVMTKeAwlA

The Untold Truth of Henry Kissinger

https://www.youtube.com/watch?v=0iheZdvWdbI&t=1s

Was Henry Kissinger a War Criminal?

https://www.youtube.com/watch?v=COqq7862wcU&t=25s

Lord, Winston,

member, National Security Council staff until 1973; Director of the Policy Planning Staff, Department of State from October 1973 until January 1977

https://en.wikipedia.org/wiki/Winston_Lord

https://en.wikipedia.org/wiki/Assistant_Secretary_of_State_for_East_Asian_and_Pacific_Affairs

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_ambassadors_of_the_United_States_to_China

https://en.wikipedia.org/wiki/Council_on_Foreign_Relations

https://en.wikipedia.org/wiki/Director_of_Policy_Planning

https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/07/19981208.pdf

https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/07/19991104.pdf

https://nsarchive.gwu.edu/document/22669-document-04-winston-lord-director-policy

https://www.ncafp.org/about-us/faps-board-of-advisors/ambassador-winston-lord/

Nixon Richard M.,

Vice President of the United States

https://www.history.com/topics/us-presidents/richard-m-nixon

https://www.britannica.com/event/Watergate-Scandal

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/14-nov-68-lbj-and-nixon

https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/sets/14-november-1968-president-lyndon-johnson-and-president-elect-richard-nixon

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva

https://www.britannica.com/event/Vietnam-War

https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon

https://www.smithsonianmag.com/smart-news/notes-indicate-nixon-interfered-1968-peace-talks-180961627/

https://th-thumbnailer.cdn-si-edu.com/26l17xNsW8a8pOyGibbKE-32dgE=/1000x750/filters:no_upscale()/https://tf-cmsv2-smithsonianmag-media.s3.amazonaws.com/filer/f4/cb/f4cb92c9-4131-4e0f-ae4a-307144393214/nixoncampaigns.jpg

http://www.pbs.org/wgbh/amex/honor/peopleevents/e_paris.html

https://www.britannica.com/event/Vietnam-War

http://www.smithsonianmag.com/smart-news/nixon-prolonged-vietnam-war-for-political-gainand-johnson-knew-about-it-newly-unclassified-tapes-suggest-3595441/

http://www.nytimes.com/2016/12/31/opinion/sunday/nixons-vietnam-treachery.html

http://www.nytimes.com/interactive/2016/12/31/opinion/sunday/haldeman-notes.html

http://www.bbc.com/news/magazine-21768668

https://www.nixonlibrary.gov/index.php

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v07/ch5

http://www.realclearpolitics.com/articles/2015/08/09/dont_blame_nixon_for_scuttled_peace_overture_127667.html

https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/bundy.htm

https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/toc.htm

Nixon, Richard M.,

President of the United States

https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf

https://www.history.com/topics/us-presidents/richard-m-nixon

https://www.britannica.com/event/Watergate-Scandal

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/14-nov-68-lbj-and-nixon

https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/sets/14-november-1968-president-lyndon-johnson-and-president-elect-richard-nixon

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva

https://www.britannica.com/event/Vietnam-War

https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon

https://www.smithsonianmag.com/smart-news/notes-indicate-nixon-interfered-1968-peace-talks-180961627/

https://th-thumbnailer.cdn-si-edu.com/26l17xNsW8a8pOyGibbKE-32dgE=/1000x750/filters:no_upscale()/https://tf-cmsv2-smithsonianmag-media.s3.amazonaws.com/filer/f4/cb/f4cb92c9-4131-4e0f-ae4a-307144393214/nixoncampaigns.jpg

http://www.pbs.org/wgbh/amex/honor/peopleevents/e_paris.html

https://www.britannica.com/event/Vietnam-War

http://www.smithsonianmag.com/smart-news/nixon-prolonged-vietnam-war-for-political-gainand-johnson-knew-about-it-newly-unclassified-tapes-suggest-3595441/

http://www.nytimes.com/2016/12/31/opinion/sunday/nixons-vietnam-treachery.html

http://www.nytimes.com/interactive/2016/12/31/opinion/sunday/haldeman-notes.html

http://www.bbc.com/news/magazine-21768668

https://www.nixonlibrary.gov/index.php

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v07/ch5

http://www.realclearpolitics.com/articles/2015/08/09/dont_blame_nixon_for_scuttled_peace_overture_127667.html

https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/bundy.htm

https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/toc.htm

Nixon had a Trip to China from February 21 to 28 1972,

https://www.nixonlibrary.gov/nixons-trip-china

http://www.presidentialtimeline.org/

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10a.pdf

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10b.pdf

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1a.pdf

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1b.pdf

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-21-56.pdf

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10a.mp3

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10b.mp3

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1a.mp3

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1b.mp3

https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-21-56.mp3

https://nsarchive.gwu.edu/briefing-book/nuclear-vault-vietnam/2023-03-24/movement-and-madman

The Vietnam War Johnson and Nixon Administrations Videos

March 2, 2016 Last Aired May 5, 2016

Reflections on Richard Nixon

https://www.c-span.org/program/the-presidency/reflections-on-richard-nixon/431130

July 16, 1973 Last Aired July 22, 2013

Senate Watergate Committee Testimony

https://www.c-span.org/program/vignette/senate-watergate-committee-testimony/316346

April 26, 2016 Last Aired June 5, 2016

Vietnam War Commander in Chief

https://www.c-span.org/program/american-history-tv/vietnam-war-commanders-in-chief/439971

June 12, 2008 Last Aired July 22, 2013

Alexander Butterfield Oral History Interview, Part 2

https://www.c-span.org/program/american-history-tv/alexander-butterfield-oral-history-interview-part-2/258425

June 12, 2008 Last Aired July 15, 2013

Alexander Butterfield Oral History Interview, Part 1

https://www.c-span.org/program/american-history-tv/alexander-butterfield-oral-history-interview-part-1/257651

January 27, 2012 Last Aired June 11, 2012

President Nixon's Secret White House Tapes

https://www.c-span.org/program/american-history-tv/president-nixons-secret-white-house-tapes/277123

July 25, 1994 Last Aired June 20, 2008

Watergate: Corruption of American Politics

https://www.c-span.org/program/public-affairs-event/watergate-corruption-of-american-politics/119480

February 16, 2003 Last Aired December 25, 2003

Presidential Tapes: Taping Systems History

https://www.c-span.org/program/public-affairs-event/presidential-tapes-taping-systems-history/122572

Alexander Butterfield: The 60 Minutes Watergate Interview (1975)

https://www.youtube.com/watch?v=ss9AkLUmM4g

Watergate Hearing: Alexander Butterfield Testimony

https://www.c-span.org/clip/congress-investigates/watergate-hearing-alexander-butterfield-testimony/5118203

Alexander Butterfield Was ‘Worried To Death’ Testifying Against Nixon

https://www.youtube.com/watch?v=c52oIe3Gj6w

How Nixon’s Invasion of Cambodia Triggered a Check on Presidential Power

Vietnam War Cambodia and Laos

https://www.history.com/articles/nixon-war-powers-act-vietnam-war-cambodia

Nixon's Vietnam Visit 1965, Rare Film Unearthed

https://www.youtube.com/watch?v=RaTi8OEpINI

Nixon on LBJ and Vietnam: Where Did It All Go Wrong?

https://www.youtube.com/watch?v=-n-4o3vOYD4

1969 July 30_Tổng Thống Hoa Kỳ 🇺🇸 Richard M. Nixon Thăm Việt Nam Cộng Hoà.

https://www.youtube.com/watch?v=ZRp4v6M6YJw&t=19s

Scowcroft, Brent,

General, USAF, Military Assistant to the President until 1973; Deputy Assistant to the President for National Security Affairs from August 1973 until 1975

https://warontherocks.com/2020/08/brent-scowcroft-and-american-military-intervention/

https://warontherocks.com/2020/08/blame-it-on-the-blob-how-to-evaluate-american-grand-strategy/

https://www.aspeninstitute.org/programs/aspen-strategy-group/about-asg/

https://www.whitehouse.gov/piab/

https://www.publicaffairsbooks.com/titles/bartholomew-sparrow/the-strategist/9781586489632/

http://web1.millercenter.org/poh/transcripts/ohp_1999_1112_scowcroft.pdf

https://www.nytimes.com/2020/08/12/us/politics/brent-scowcroft.html

https://www.thecipherbrief.com/column_article/remembering-brent-scowcrofts-accomplishments-on-arms-control

https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2020-08-13/scowcroft-model

https://archive.org/stream/towercommission00unit?ref=ol#mode/2up

https://www.penguinrandomhouse.ca/books/253135/the-man-who-ran-washington-by-peter-baker-and-susan-glasser/9780385540551

https://www.twelvebooks.com/titles/philip-zelikow/to-build-a-better-world/9781538764688/

https://toda.org/assets/files/resources/policy-briefs/t-pb-23_susan-koch_presidential-nuclear-initiatives-1991-92.pdf

https://www.penguinrandomhouse.ca/books/617544/margaret-thatcher-volume-3-by-charles-moore/9780241324745

https://yalebooks.yale.edu/book/9780300233827/post-wall-post-square

https://www.amazon.com/When-World-Seemed-New-George-dp-1328511650/dp/1328511650/ref=mt_other?_encoding=UTF8&me=&qid=

https://www.penguinrandomhouse.com/books/22029/a-world-transformed-by-george-hw--bush-and-brent-scowcroft/

https://yalebooks.yale.edu/book/9780300233827/post-wall-post-square

https://www.simonandschuster.com/books/War-in-a-Time-of-Peace/David-Halberstam/9781501141508

https://www.adst.org/OH%20TOCs/Inderfurth,Karl%20F.toc.pdf

https://www.wsj.com/articles/SB1029371773228069195

https://www.nytimes.com/2002/08/25/opinion/the-right-way-to-change-a-regime.html

https://www.penguinrandomhouse.com/books/592622/to-start-a-war-by-robert-draper/

https://pdfs.semanticscholar.org/de9b/be3fa428073b76a05fbb58739bf3279c3664.pdf

https://www.ft.com/content/de843f6e-0be1-4667-8a9f-f397cf840e72

https://www.houseofnames.com/brent-family-crest

https://www.houseofnames.com/dpreview/BRENT/EN/Brent/family-crest-coat-of-arms.png

https://www.houseofnames.com/cdn/webp/i/prod/520x520/surnamecomplete_gold.webp

https://www.aspeninstitute.org/programs/aspen-strategy-group/lt-general-brent-scowcroft/

https://dpaa-mil.sites.crmforce.mil/dpaaProfile?id=a0Jt000000sxxIFEAY

https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/document/0204/7505562.pdf

https://news.virginia.edu/content/uvas-miller-center-releases-secret-brent-scowcroft-oral-history

https://www.newstatesman.com/politics/2020/08/the-quiet-mastermind-how-brent-scowcroft-redefined-the-art-of-grand-strategy

Solomon, Richard H.,

member, National Security Council staff

https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_H._Solomon

https://www.academyofdiplomacy.org/members-1/solomon/richard-h.

https://carnegiecouncil.org/people/richard-h-solomon

https://www.c-span.org/person/richard-h-solomon/9004/

https://www.chinafile.com/contributors/richard-h-solomon

https://findingaids.lib.umich.edu/catalog/umich-bhl-2008034

https://www.presidency.ucsb.edu/documents/nomination-richard-h-solomon-be-assistant-secretary-state

No comments:

Post a Comment