20261020 CDTL NRM D112 3 July 1975 112. Bản ghi nhớ của
các Phụ tá Ngoại trưởng Habib, Gleysteen, Lord và Richard H. Solomon gủi Ngoại
trưởng Kissinger.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d112
Google Translated
Tài liệu số 112
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập
XVIII, Trung Quốc, 1973–1976
112. Bản ghi nhớ của Trợ lý Ngoại trưởng
phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương (Habib), Phó Trợ lý Ngoại trưởng
phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương (Gleysteen), Giám đốc Ban Hoạch
định Chính sách (Lord) và Richard H. Solomon thuộc Ban tham mưu Hội đồng An
ninh Quốc gia gửi Ngoại trưởng Kissinger
Washington, ngày 3 tháng 7 năm 1975.
CHỦ ĐỀ
Quan hệ Mỹ–Tầu cộng (CHND Tầu cộng)
và các phương án tiếp cận chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống:
Các nhiệm vụ trong thời gian còn lại của năm 1975
Chính sách của chúng ta đối với Trung Quốc
hiện đang ở thế giằng co giữa hai xu hướng rất mâu thuẫn: Một mặt, chúng ta
đang định hướng theo mục tiêu đã được xác lập trong Thông cáo Thượng Hải.
Trong bài phát biểu trước Quốc hội ngày 10 tháng 4, Tổng thống đã tái khẳng
định mong muốn thăm Bắc Kinh vào cuối năm nay nhằm "đẩy
nhanh" tiến trình bình thường hóa quan hệ. Trong cuộc gặp với Hoàng
Trấn (Huang Chen) vào ngày 9 tháng 5, ông đã đặt vấn đề về thời điểm và
chương trình nghị sự cho chuyến thăm của Tổng thống, đồng thời bày tỏ sự
quan tâm đến quan điểm của Bắc Kinh về các vấn đề này. Như vậy, cả
trên phương diện công khai lẫn riêng tư, chúng ta vẫn duy trì kỳ vọng nơi giới
lãnh đạo Tầu cộng cũng như công chúng trong nước rằng tiến trình
bình thường hóa vẫn đang tiếp diễn.
Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, các lực lượng chính trị
trong nước và quốc tế—được củng cố bởi những sự kiện tại Đông Dương và duy trì
bởi các diễn biến ở những nơi khác trên thế giới—đang tạo ra những trở ngại mới
đối với việc thay đổi mối quan hệ của chúng ta với Trung Hoa Dân Quốc
(Đài Loan). Việc Thượng nghị sĩ Goldwater công khai chất
vấn Chính quyền vào thời điểm diễn ra tang lễ Tưởng Giới Thạch chỉ
là biểu hiện rõ nét nhất cho hàng loạt áp lực đè nặng lên Tổng thống, buộc
ông phải tránh hoặc trì hoãn việc điều chỉnh các mối quan hệ pháp lý và an ninh
với Đài Loan—vốn là trọng tâm của tiến trình "bình thường
hóa" quan hệ với Bắc Kinh. Phản ánh những áp lực này, Tổng
thống hiện đã công khai (dù có thể là vô tình) tái khẳng định các cam kết của
chúng ta đối với Đài Bắc; đồng thời, ông cũng đã tuyên bố—cả trong các cuộc
trao đổi riêng (với Ngoại trưởng Nhật Bản) lẫn công khai (trên tạp chí *U.S.
News and World Report*)—rằng chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng
thống sẽ không nhất thiết dẫn đến việc bình thường hóa quan hệ hoàn toàn.
Tất nhiên, ẩn sau những xu hướng mâu thuẫn này là tầm
quan trọng lâu dài đối với Hoa Kỳ trong việc bình thường hóa quan hệ với
CHND Tầu cộng, nhằm tái cấu trúc các mối quan hệ chính trị và
quân sự giữa các cường quốc. Tuy nhiên, mục tiêu này hiện đang xung đột với nhu
cầu cấp bách là phải trấn an các đồng minh chủ chốt (và cảnh báo các đối thủ tiềm
tàng) sau những thất bại của chúng ta tại Đông Dương. Tình hình càng trở
nên phức tạp hơn bởi các yếu tố chính trị trong nước mà Tổng thống phải
cân nhắc khi đối mặt với cuộc bầu cử lại vào năm 1976.
Bản ghi nhớ này nhằm cung cấp cho ông cái nhìn tổng
quan về một số phương án rất khác nhau mà chúng ta có thể áp dụng trong quan hệ
với Bắc Kinh trong thời gian còn lại của năm nay. Chúng tôi cho rằng
các quyết định cụ thể mà Tổng thống sẽ đưa ra về chính sách đối với Tầu cộng
vào mùa thu này sẽ được định hình bởi sự kết hợp giữa các diễn biến quốc tế
trong vài tháng tới (đặc biệt là những vấn đề liên quan đến ngoại giao Trung
Đông và quan hệ Xô-Mỹ) và nhận định của chính ông về tác động của các bước
đi tiếp theo với Bắc Kinh đối với cả chính sách đối ngoại lẫn
tương lai chính trị trong nước của mình.
Để mang đến cho ông các phương án tiếp cận đa dạng
trong việc xử lý quan hệ với CHND Tầu cộng trong phần còn lại của
năm 1975, các phần tiếp theo của tài liệu này sẽ phân tích những vấn đề và khía
cạnh liên quan đến ba cách thức xử lý hội nghị thượng đỉnh tại Bắc Kinh:
—Hoãn vô thời hạn.
—Một chuyến thăm mang tính "duy trì" quan hệ.
—Bình thường hóa hoàn toàn.
• Ngoài ra, chúng tôi xem xét các vấn đề cần được giải
quyết nếu ông muốn, ít nhất là, thảo luận với các nhà lãnh đạo Tầu cộng
về các điều khoản cho một thỏa thuận bình thường hóa toàn diện.
• Chúng tôi tóm tắt những nhiệm vụ còn lại trong năm
nay liên quan đến việc xử lý quan hệ với CHND Tầu cộng, bất kể loại
hình hội nghị thượng đỉnh nào mà ông và Tổng thống muốn tổ chức.
• Chúng tôi đề xuất một số lĩnh vực vấn đề và chủ đề
liên quan đến cuộc đối thoại chính thức của chúng ta với phía Tầu cộng,
cũng như mối liên hệ của chúng với các cuộc thảo luận sắp tới của ông tại Bắc
Kinh.
• Trong phần phụ lục (Mục A), chúng tôi xem xét định
hướng hiện tại của CHND Tầu cộng đối với tiến trình bình thường
hóa.
Quan điểm của chúng tôi không phải là theo đuổi
"bình thường hóa bằng mọi giá", mà là lợi ích chính sách đối ngoại
lâu dài của Hoa Kỳ sẽ được củng cố thông qua việc tăng cường mối quan hệ hiện tại
(dù còn hạn chế) với Bắc Kinh; đồng thời, nếu đạt được một thỏa thuận bình thường
hóa chấp nhận được ngay lúc này, chúng ta có thể tránh được các vấn đề rắc rối
với CHND Tầu cộng trong tương lai với cái giá tương đối thấp,
cũng như tạo dựng được vị thế thuận lợi tại châu Á cho [Trang 677] tương lai.
Chúng tôi tin rằng, ít nhất thì cũng có những lý do quan trọng để nỗ lực một
cách nghiêm túc nhằm thảo luận với các nhà lãnh đạo cấp cao của CHND
Tầu cộng về các điều khoản cho một thỏa thuận toàn diện về bình
thường hóa hoàn toàn, mặc dù cuối cùng chính Tổng thống sẽ là người quyết định
mức độ tiến triển của tiến trình này. Phía Tầu cộng —sau những diễn
biến tại Đông Dương—dường như đang mong muốn hơn bao giờ hết có một mối
quan hệ công khai với Hoa Kỳ vì lý do an ninh. Do đó, đây có lẽ là thời
điểm thuận lợi nhất để họ đáp ứng các nhu cầu chính trị của chúng ta; và chừng
nào Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai còn tại vị, thì Bắc Kinh
vẫn có đủ thẩm quyền để đạt được thỏa thuận và triển khai thực hiện nó. Tuy
nhiên, mức độ linh hoạt cụ thể của Tầu cộng đối với vấn đề nhạy cảm
nhất—an ninh tương lai của Đài Loan—sẽ chỉ được làm rõ thông qua
các cuộc đàm phán trực tiếp.
Đồng thời, trong những ngày gần đây, các nhà lãnh đạo
cấp cao của CHND Tầu cộng đã công khai cho thấy họ sẽ chấp nhận một
chuyến thăm của Tổng thống ngay cả khi chuyến thăm đó không dẫn đến việc bình
thường hóa hoàn toàn. Điều này mang lại cho chúng ta sự linh hoạt cao hơn trong
việc lên kế hoạch cho chuyến thăm của Tổng thống, mặc dù vẫn còn đó những rủi
ro (chủ yếu liên quan đến tiến trình chính trị nội bộ của Tầu cộng)
khi cố gắng duy trì quan hệ với Bắc Kinh ở mức độ hiện tại thêm vài năm nữa. Do
đó, chúng tôi tin rằng nếu Ngài có thể đạt được những cam kết chắc chắn từ phía
Tầu cộng về vấn đề an ninh Đài Loan, đồng thời các
khía cạnh chính trị và kinh tế khác trong thỏa thuận tổng thể về bình thường
hóa quan hệ đều khả quan, thì việc hoàn tất thỏa thuận gắn liền với chuyến thăm
của Tổng thống sẽ mang lại lợi ích cho chúng ta.
Ba phương án tiếp cận Hội nghị thượng đỉnh
Bắc Kinh: Hoãn vô thời hạn; Chuyến thăm duy trì quan hệ; hoặc Bình thường hóa
hoàn toàn.
Chúng tôi cho rằng—mà không cần xem xét lại toàn bộ
các lập luận—việc hướng tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ Mỹ-Trung
(PRC) và hoàn tất tiến trình này trong thời gian ngắn nhất có thể về mặt
chính trị vẫn là một cam kết cơ bản trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ.
Những vấn đề còn lại cần giải quyết là các điều khoản cụ thể cho thỏa thuận
bình thường hóa và thời điểm thực hiện chúng.
Chúng tôi cũng cho rằng (như ông đã đề cập với Hoàng
Trấn vào ngày 9 tháng 5) bất kể hình thức chuyến thăm nào của Tổng
thống mà ông muốn tổ chức, thì trước đó ông cần thực hiện một chuyến đi tiền
trạm để đàm phán về các vấn đề chính trị. Chuyến đi tiền trạm này có thể được sắp
xếp trước hoặc sau hội nghị thượng đỉnh với Brezhnev, mặc dù
chúng tôi nhận thấy việc thực hiện chuyến đi trước hội nghị sẽ mang lại những lợi
thế nhất định về mặt chính trị. Một chuyến thăm Bắc Kinh vào thời điểm sau cuộc
gặp của ông với Gromyko vào tháng 7 (có thể là tháng 8 hoặc nửa
sau tháng 9) được cho là sẽ tạo thêm áp lực lên phía Liên Xô trước
chuyến thăm của Brezhnev; và mặc dù phía Tầu cộng có
thể tỏ ra dè dặt hơn về các điều khoản bình thường hóa—như một cái giá phải trả
cho việc bị Mỹ công khai sử dụng làm quân bài đối trọng với Nga—họ
cũng sẽ lo ngại rằng sự trì trệ trong quan hệ Mỹ-Trung có
thể khiến chúng ta ngả về phía một mối quan hệ gần gũi hơn với Moscow.
[Trang 678]
Xét từ một góc độ khác, sự thiếu chắc chắn của Tầu
cộng về kết quả cụ thể của hội nghị thượng đỉnh với Liên Xô
(tương tự như tình trạng trước chuyến thăm Washington của Brezhnev)
có thể tạo ra bối cảnh thuận lợi hơn cho các cuộc thảo luận của ông tại Bắc
Kinh so với tình huống sau hội nghị, khi mà các nhà lãnh đạo Tầu
cộng có thể cho rằng chúng ta đang tiến tới sự "thông đồng"
chặt chẽ hơn với Moscow. Tuy nhiên, cũng có thể lập luận rằng
ngay cả những bước tiến đáng kể trong quan hệ Xô-Mỹ cũng sẽ chỉ thúc đẩy Bắc
Kinh muốn "theo kịp" chúng ta thay vì rút lui (như trường hợp
đã xảy ra vào tháng 11 năm ngoái sau hội nghị thượng đỉnh Vladivostok).
Nhận định tổng quát của chúng tôi về những yếu tố này
là việc ông thực hiện chuyến thăm tiền trạm tới Bắc Kinh trước hội nghị thượng
đỉnh với Brezhnev sẽ là hành động hữu ích và kịp thời nhất. Nếu
ông đến Bắc Kinh vào tháng 10 hoặc đầu tháng 11, sẽ phát sinh
thêm những bất lợi do thời gian chuẩn bị quá ngắn trước chuyến thăm của Tổng
thống, gây khó khăn cho công tác lập kế hoạch kỹ thuật và các khâu chuẩn bị
liên quan đến những diễn biến chính trị có thể xảy ra. Những bước tiến triển muộn
màng như vậy có thể buộc phải hoãn chuyến đi của Tổng thống sang tháng
12 hoặc đầu mùa đông năm 1976.
Hoãn vô thời hạn Hội nghị thượng đỉnh Bắc
Kinh
Xét thấy hiện nay chúng ta đã có hình dung khá rõ ràng
về các yếu tố có thể có trong một thỏa thuận bình thường hóa quan hệ, ông và Tổng
thống có thể quyết định rằng thời điểm chưa chín muồi để hoàn tất việc bình thường
hóa hoàn toàn quan hệ với Bắc Kinh, và do đó, hội nghị thượng đỉnh
với CHND Tầu cộng nên bị hoãn vô thời hạn. Quyết định này có lẽ sẽ
được định hình rõ nét hơn qua các cuộc thảo luận mà ông sẽ tiến hành trong chuyến
đi tiền trạm; tuy nhiên, nếu không muốn chính thức hóa lập trường đàm phán của
phía Tầu cộng hay Hoa Kỳ, ông có thể dàn xếp việc hoãn
chuyến đi một cách gián tiếp thông qua các kênh liên lạc với Văn phòng Liên lạc
của CHND Tầu cộng.
Việc hoãn vô thời hạn chuyến thăm của Tổng thống sẽ
gây tác động lớn đến cả tương lai quan hệ Mỹ–Trung lẫn các hoạt động đối ngoại
khác của chúng ta. Một nguồn áp lực quan trọng lên Liên Xô sẽ bị
đặt dấu hỏi (mặc dù tầm quan trọng trong ngắn hạn của yếu tố này có thể giảm bớt
sau hội nghị thượng đỉnh thành công với Brezhnev), đồng thời dư luận quốc tế sẽ
có cảm giác chung rằng quan hệ Mỹ–Trung đang bị đình trệ.
Thực tế, chúng tôi cho rằng nếu phía Mỹ quyết định hoãn chuyến thăm Bắc
Kinh của Tổng thống, điều này sẽ làm đóng băng mọi bước tiến
đáng kể trong quan hệ song phương cho đến sau cuộc bầu cử mùa thu năm 1976, và
có lẽ kéo dài sang tận năm 1977.
Trong bối cảnh đó, mặc dù các nhà lãnh đạo Bắc
Kinh mà chúng ta đang làm việc cùng—theo mọi bằng chứng hiện có—sẽ tìm
cách duy trì mối quan hệ ở trạng thái hiện tại, nhưng chúng ta sẽ phải chấp nhận
rủi ro rằng một số diễn biến có thể xảy ra và làm mất đi triển vọng đạt được một
mối quan hệ ổn định, bình thường hóa hoàn toàn với CHND Tầu cộng:
Mao Trạch Đông và/hoặc Chu Ân Lai rất có thể sẽ qua
đời trong vòng hai hoặc ba năm tới. Hệ quả là, sự đồng thuận về chính sách và
liên minh lãnh đạo—những yếu tố đang mang lại sự nhất quán hiếm thấy cho nền
chính trị Bắc Kinh suốt hai thập kỷ qua—có nguy cơ bị phân rã. Những
áp lực đòi hỏi một chính sách ôn hòa hơn đối với Liên Xô (một
quan điểm dường như xuất phát từ giới quân sự) mà chúng ta từng thấy thể hiện
trên các phương tiện truyền thông Tầu cộng, có thể sẽ bùng phát
thành một cuộc tranh giành quyền lực kế nhiệm. Ngoài ra, khả năng thay đổi
chính quyền tại Washington sau năm 1976 có thể đặt Bắc Kinh
trước một dàn nhân sự mới—những người mà họ có thể sẽ không có thiện cảm và buộc
phải xây dựng lại các kênh đối thoại từ đầu.
Tóm lại, sự trì hoãn tiềm ẩn nguy cơ can thiệp từ các
lực lượng chính trị có thể gây phức tạp đáng kể cho nỗ lực bình thường hóa quan
hệ. Tất nhiên, yếu tố này cần được cân nhắc kỹ lưỡng bên cạnh những khía cạnh
khác—vốn vẫn khẳng định rằng việc hoàn tất tiến trình do ông cùng Tổng thống
Nixon, Chủ tịch Mao và Thủ tướng Chu khởi xướng
từ năm 1970 là vì lợi ích quốc gia của cả Tầu cộng lẫn Hoa Kỳ.
Dựa trên những cân nhắc nêu trên, chúng tôi thẳng thắn
cho rằng việc hoãn vô thời hạn chuyến thăm của Tổng thống là điều không thể chấp
nhận được. Cơ sở chính trị dẫn đến việc khởi động tiến trình bình thường hóa vẫn
còn nguyên giá trị; và bất chấp bầu không khí trong quan hệ với phía Tầu
cộng có phần trầm lắng, tầm quan trọng của một mối quan hệ ổn định giữa
Hoa Kỳ và Tầu cộng đối với tổng thể chính sách đối ngoại của
Chính quyền khiến cho việc chấm dứt thực tế các cuộc đối thoại chính trị với Bắc
Kinh—hay thậm chí là loại bỏ cả những biểu hiện mang tính hình thức
trong quan hệ hai bên—sẽ gây ra cái giá phải trả đắt hơn nhiều so với, chẳng hạn
như, một chuyến thăm của Tổng thống chỉ mang tính chất tượng trưng. Hơn nữa,
phía Tầu cộng hiện đang phát đi tín hiệu—thông qua những phát biểu
của Đặng Tiểu Bình với một nhóm biên tập viên báo chí Mỹ vào đầu
tháng Sáu, cũng như qua các chỉ đạo chính thức khác mà chúng tôi nắm được từ các
báo cáo của CAS—rằng họ mong muốn chuyến thăm của Tổng thống vẫn diễn
ra, bất kể chuyến thăm đó có dẫn đến việc bình thường hóa hoàn toàn hay không. [Trang
680]
Một Hội nghị Thượng đỉnh nhằm "Duy
trì Quan hệ"
Nếu ông và Tổng thống quyết định rằng các điều kiện của
Bắc Kinh về bình thường hóa quan hệ là không thể chấp nhận được về
mặt chính trị, nhưng vẫn muốn duy trì một mối quan hệ công khai với phía Tầu
cộng, chúng tôi tin rằng Bắc Kinh sẽ thấy có lợi khi tổ chức một hội
nghị thượng đỉnh mang tính hình thức—ngay cả khi hội nghị đó không tạo ra bước
đột phá lớn nào hướng tới việc thiết lập quan hệ ngoại giao. Như các nhà lãnh đạo
cấp cao Tầu cộng đã nhiều lần nói với ông, mặc dù họ muốn giải
quyết vấn đề Đài Loan, họ sẵn sàng chờ đợi nếu Mỹ "cần
Đài Loan". Báo chí thế giới đã đưa tin về phát biểu của Đặng
Tiểu Bình vào ngày 3 tháng 6, khẳng định rằng Tổng thống Ford sẽ
được chào đón tại Tầu cộng ngay cả khi không đạt được thỏa thuận
nào về các vấn đề lớn giữa hai nước [tức là vấn đề Đài Loan].
Chúng tôi thậm chí không hoàn toàn loại trừ khả năng
các nhà lãnh đạo CHND Tầu cộng không muốn tiến hành bình thường
hóa vào thời điểm này; có thể vì họ biết cái giá mà Mỹ đưa ra là không thể chấp
nhận được xét về mặt chính trị nội bộ của họ, hoặc vì họ không muốn gây ra thêm
những thay đổi chính trị trong khu vực sau các sự kiện tại Đông Dương—những
thay đổi có thể tạo thêm cơ hội cho Tầu cộng mà Tầu cộng
có thể buộc phải đối phó với nguồn lực hạn chế. Ít nhất có thể nói rằng tình trạng
quan hệ Mỹ - Tầu hiện nay, cùng với lập trường "giữ nguyên
trạng" của Mỹ đối với vấn đề Đài Loan, là mức tối thiểu có
thể chấp nhận được xét theo lợi ích của Tầu cộng vào lúc này.
Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy hai vấn đề nảy sinh từ
một hội nghị thượng đỉnh mang tính hình thức—chỉ nhằm duy trì quan hệ với Bắc
Kinh ở mức hiện tại—và cả hai đều liên quan đến việc xây dựng một
chương trình nghị sự thực chất. Sẽ rất khó để xác định một kết quả quan trọng
nào đó (dù chưa đạt đến mức bình thường hóa hoàn toàn) nhưng đủ sức thuyết phục
để biện minh cho chuyến thăm Bắc Kinh lần thứ hai của Tổng thống.
Một chuyến đi chỉ nhằm mục đích "trao đổi quan điểm về các vấn đề cùng
quan tâm" có thể bị báo chí chỉ trích là không xứng đáng với quỹ thời gian
quý báu của ông Ford, cũng như là sự huy động uy tín Tổng thống không cần
thiết cho chuyến thăm thứ hai tới thủ đô Tầu cộng. Điều này có thể
làm gia tăng thái độ hoài nghi về mối quan hệ Mỹ - Tầu.
Liệu chúng ta có thể đạt được những thỏa thuận nào với
Bắc Kinh—dù chưa phải là bình thường hóa hoàn toàn—đủ để thuyết
phục công chúng Mỹ về sự cần thiết của chuyến thăm thứ hai của Tổng thống hay
không? Cho đến nay, phía Tầu cộng vẫn chưa sẵn sàng hợp tác với
chúng ta về một số vấn đề kinh tế và trao đổi (như giải quyết vấn đề yêu
sách/tài sản, hay thúc đẩy quan hệ giao lưu văn hóa tích cực hơn) chừng nào
chưa có tiến triển về vấn đề chính trị then chốt là Đài Loan. Tầu cộng
sẽ cần xem xét lại lập trường này và tỏ ra linh hoạt hơn trong việc giải quyết
các vấn đề thứ yếu so với trước đây. Theo đó, chúng ta có thể tìm cách giải quyết
dứt điểm vấn đề yêu sách/tài sản. Các hiệp định về vận tải biển hoặc hàng
không, hay một hiệp định thương mại cấp chính phủ, có thể được thống nhất
"về mặt nguyên tắc" (mặc dù sẽ cần nhiều thời gian để đàm phán chi tiết).
Hoặc có thể triển khai một số chương trình văn hóa dễ thấy, chẳng hạn như trao
đổi sinh viên hay thiết lập văn phòng đại diện thường trú cho báo chí. Đổi lại,
chúng ta có thể "nhượng bộ" Bắc Kinh bằng cách rút gần như toàn bộ lực
lượng quân sự khỏi hòn đảo này (ngoại trừ một bộ phận nhỏ gồm vài trăm nhân sự
làm công tác tình báo và liên lạc), hoặc hạ thấp cấp độ đại diện ngoại giao.
Tuy nhiên, dựa trên lập trường của Bắc Kinh từ trước đến
nay, chúng ta không kỳ vọng nhiều vào việc họ sẽ đồng ý với các bước tiến triển
bổ sung như trên nếu không có những cam kết khá cụ thể về việc giải quyết vấn đề
Đài Loan. Tất nhiên, vấn đề mà Tổng thống phải đối mặt là bất kỳ
cam kết nào về các vấn đề chính trị cũng cần được thực hiện ngay trong chuyến
thăm Bắc Kinh hoặc ngay sau đó. Sẽ rất khó để công bố hoặc thực hiện những thay
đổi đáng kể trong quan hệ với Đài Loan vào đúng mùa vận động tranh cử năm 1976
vì các lý do chính trị trong nước; và có lẽ Tổng thống cũng không muốn đưa ra
(và phía Tầu cộng cũng khó chấp nhận) một thỏa thuận chính trị phụ
thuộc vào việc ông có tái đắc cử hay không—hoặc để mặc cho người kế nhiệm quyết
định.
Một vấn đề liên quan đến chương trình nghị sự là phản ứng
từ phía Cộng hòa Nhân dân Tầu cộng (PRC) đối với một
hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai mà không giải quyết được vấn đề Đài Loan. Mặc
dù chúng tôi tin rằng các nhà lãnh đạo cấp cao của PRC mong muốn một chuyến
thăm của Tổng thống ngay cả khi không đạt được đột phá, họ có thể phải đối mặt
với áp lực ngày càng tăng trong nước đòi hỏi phải có những lợi ích hữu hình cho
Tầu cộng từ mối quan hệ với Washington. Từ góc độ Tầu cộng,
có thể lập luận rằng Bắc Kinh đã thực hiện mọi sự nhượng bộ cho đến nay mà nhận
lại rất ít. Không những Đài Loan chưa được "giải
phóng", mà Mỹ còn bổ nhiệm một đại sứ cấp cao mới tại đó và Trung
Hoa Dân Quốc (ROC) có thêm hai lãnh sự quán tại Mỹ. Cán cân thương mại
nghiêng hẳn về phía Mỹ, làm suy yếu khả năng "tự lực" của Tầu cộng
và khiến các nhà khoa học PRC nảy sinh tâm lý "sùng bái ngoại
bang". Chương trình giao lưu văn hóa đang khiến giới trí thức Tầu cộng
tiếp xúc với những tư tưởng nước ngoài gây bất an; trong khi đó, các nhà báo và
trí thức Mỹ đến thăm PRC lại trở về nước và công khai chỉ trích
những gì họ chứng kiến tại Tầu cộng, đặc biệt là các vấn đề chính
trị nội bộ.
Mặc dù những lập luận kiểu trên có thể bị thổi phồng,
nhưng có bằng chứng xác thực từ các báo cáo của CAS cho thấy các cuộc tiếp xúc
song phương của chúng ta với PRC đã làm nảy sinh những chỉ trích
như vậy, đặc biệt là từ phe cánh tả trong chính trường Tầu cộng.
Lập luận cho rằng Tầu cộng tăng cường an ninh trước Liên Xô thông
qua việc giao thiệp với Mỹ là một lý giải rất tinh vi nhưng chỉ được một số ít
người chấp nhận. Thực tế, quân đội Tầu cộng dường như vẫn là nguồn
gây áp lực liên tục đòi hỏi thái độ bớt thù địch hơn đối với người Nga (mặc dù
chúng ta không có bằng chứng trực tiếp về việc họ phản đối quan hệ với Mỹ).
Xét đến những yếu tố này, chiến lược cho một chương
trình nghị sự mang tính "duy trì" cần bao gồm các bước đi giúp các
nhà lãnh đạo PRC giữ được sự ủng hộ của phe "cánh tả"
và quân đội đối với mối quan hệ hiện tại của chúng ta. Các hành động an ninh
đơn phương mà chúng ta có thể thực hiện (như tiếp tục cắt giảm quân số tại Đài
Loan), hoặc các đề xuất trong những lĩnh vực như chuyển giao công nghệ
hay hợp tác quân sự nhằm tăng cường khả năng phòng thủ của PRC, sẽ
giúp giảm thiểu sự phản đối từ quân đội Tầu cộng đối với mối quan
hệ này. Thật không may, một số biện pháp cần thiết để xoa dịu dư luận bảo thủ tại
Mỹ, chẳng hạn như việc bán thiết bị quân sự cho Đài Loan trong tương lai, có thể
sẽ gây bất bình cho Quân Giải phóng Nhân dân (PLA). Tương tự, những
hình thức giao lưu văn hóa và khoa học thu hút sự quan tâm của giới trí thức và
nhà báo chúng ta trong mối quan hệ với Tầu cộng lại chính là những
chương trình bị các phần tử chính trị cực đoan tại nước này coi là mối đe dọa.
Những yếu tố mâu thuẫn như vậy cần được cân bằng trong hầu hết các chương trình
nghị sự của các chuyến thăm, đặc biệt là đối với chuyến thăm nhằm duy trì mối
quan hệ Mỹ - Trung trong trạng thái hiện tại – một mối quan hệ mới chỉ đạt được
những kết quả bước đầu.
Hội nghị Thượng đỉnh Bình thường hóa
Chúng tôi tin rằng, bất chấp một số dấu hiệu cho thấy
sự cứng rắn hơn trong định hướng chính sách đối ngoại của Bắc Kinh (như việc
ngày càng thiếu thiện chí hợp tác với chúng ta về các vấn đề liên quan đến nước
thứ ba, gây sức ép lên Nhật Bản về các điều khoản hiệp ước hòa bình, và sự ủng
hộ công khai hơn đối với một số phong trào nổi dậy theo đường lối Mao Trạch
Đông ở nước ngoài), phía Tầu cộng vẫn coi việc bình thường hóa
quan hệ Mỹ-Trung là phù hợp với lợi ích của chính họ. Các diễn biến tại Đông
Dương đã làm gia tăng lo ngại của Tầu cộng về việc Liên Xô có thể
mở rộng ảnh hưởng chính trị tại khu vực lân cận họ; và chúng tôi nhận định rằng
việc Trung Quốc tăng cường thể hiện sự ủng hộ đối với Triều Tiên và chính quyền
mới tại Campuchia là nỗ lực nhằm ngăn chặn sự thâm nhập của Liên Xô, qua đó khẳng
định với các nước này cũng như các quốc gia khác trong khu vực rằng Tầu cộng
là một đồng minh chính trị đáng tin cậy hơn so với Liên Xô. Các báo cáo của CAS
trong những tuần gần đây cho thấy giới chức Tầu cộng đang thực sự
lo ngại rằng Tổng thống Ford có thể hủy chuyến thăm Bắc Kinh. Nếu
chỉ xét riêng khía cạnh tâm thế của Bắc Kinh, bối cảnh hiện tại
có thể là thời điểm thuận lợi nhất mà chúng ta có được trong một thời gian dài
(xét về động lực của giới lãnh đạo Tầu cộng cũng như tình trạng hệ
thống chính trị nước này) để tiến tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ.
Nếu có một điểm mấu chốt khiến Bắc Kinh
lo ngại trong quan hệ với chúng ta, thì đó chính là sự bất định về mức độ tiến
xa trong quan hệ giữa chúng ta và Moscow, cũng như những nghi ngại mới về việc
chúng ta có thể và sẽ hành động tích cực đến mức nào để đối phó với sự hiện diện
của Liên Xô tại khu vực của họ. Mặc dù Tầu cộng không
ở vị thế có thể gây sức ép lên chúng ta về quan hệ với Moscow như
cách họ đang làm với Nhật Bản, nhưng chắc chắn rằng những diễn biến trong quan
hệ Mỹ-Xô những tháng tới sẽ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến bầu không khí của
hội nghị thượng đỉnh tại Bắc Kinh.
Tầu cộng không
thể đòi hỏi chúng ta từ bỏ chính sách "giảm căng thẳng" (détente) như
một điều kiện tiên quyết để bình thường hóa quan hệ; tuy nhiên, nếu chúng ta tỏ
ra chỉ nhìn nhận quan hệ với Tầu cộng thuần túy qua lăng kính
chính sách đối với Liên Xô, chúng ta sẽ làm gia tăng nỗi lo sợ của
họ về việc bị tổn thương trên các phương diện an ninh và chính trị do mối quan
hệ với chúng ta mang lại. Như Chu Ân Lai đã chỉ ra với ông ngay từ
tháng 2 năm 1973, giới lãnh đạo cấp cao tại Bắc Kinh lo ngại rằng
chúng ta tiếp cận họ chỉ nhằm mục đích đối phó với Liên Xô bằng
cách "đứng trên vai Tầu cộng ".
Hệ quả của lập luận trên đối với chuyến thăm của Tổng
thống là: cách tiếp cận của chúng ta trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan và
tìm kiếm các điều khoản để bình thường hóa hoàn toàn quan hệ—cùng với kết quả của
hội nghị thượng đỉnh với Brezhnev—sẽ là phép thử quan trọng để
phía Trung Quốc đánh giá mức độ nghiêm túc của chúng ta đối với mối quan hệ
song phương. Nếu giả định của chúng ta là đúng—rằng Trung Quốc vẫn
coi việc bình thường hóa quan hệ mang lại lợi ích to lớn cho họ—thì nỗ lực đàm
phán cho chuyến đi tiền trạm sắp tới của ông sẽ bộc lộ mức độ linh hoạt tối đa
của họ, đặc biệt là về vấn đề an ninh của Đài Loan. Ngay cả khi
ông không đạt được các điều khoản mà Tổng thống có thể chấp nhận, thì ít nhất
ông cũng đã đưa ra được một lập trường mang tính thiện chí—mức độ mà phía Tầu
cộng có khả năng chấp nhận được—để làm cơ sở thảo luận trong tương lai.
Hơn nữa, chúng ta có thể khẳng định với người dân trong nước (cũng như với phía
Tầu cộng) rằng chúng ta đã nỗ lực hết mình để đạt được thỏa thuận,
đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phải có những cam kết hòa bình về vấn đề Đài Loan trước
khi bất kỳ thỏa thuận bình thường hóa nào có thể được ký kết trong tương lai.
Tóm lại, chúng tôi tin rằng cần phải thực hiện một nỗ lực nghiêm túc ngay lúc
này để xác định xem liệu có thể đạt được thỏa thuận hay không.
Hiện nay, tình hình ra sao đối với các vấn đề cụ thể cần
được giải quyết trong quá trình đàm phán một thỏa thuận bình thường hóa toàn diện?
Không cần đi sâu vào chi tiết tất cả các yếu tố của một thỏa thuận như vậy (vốn
đã được thảo luận trong bản phân tích tháng 10 năm 1974 tại Mục C),9 dưới đây
là những điểm chính vẫn còn là vấn đề cần giải quyết:
—Công nhận CHND Tầu cộng là “chính phủ hợp
pháp duy nhất” của Tầu cộng, trao đổi đại sứ và nâng cấp các văn
phòng liên lạc thành đại sứ quán. Những bước tiến này đòi hỏi phải xây dựng các
thỏa thuận giải quyết những vấn đề liên quan sau đây:
• Thống nhất với Bắc Kinh về một cách diễn
đạt vượt ra ngoài tuyên bố trong Thông cáo Thượng Hải—vốn chỉ nêu rằng
Hoa Kỳ “không thách thức” khẳng định của “tất cả người Tầu cộng ở
hai bên eo biển Đài Loan” rằng Đài Loan là một phần của Tầu
cộng —để chuyển sang một cách diễn đạt trực tiếp hơn, ngụ ý hoặc thể hiện
sự ủng hộ đối với nguyên tắc thống nhất của Tầu cộng. Điều này có
thể được thực hiện thông qua cách tiếp cận gián tiếp—nhấn mạnh tính kế thừa
chính sách trước đây của Hoa Kỳ bằng cách tái khẳng định cam kết trả Đài
Loan về dưới quyền kiểm soát của Tầu cộng như đã nêu
trong Tuyên bố Cairo và Potsdam—hoặc dựa trên các tiền lệ về công
thức công nhận gần đây của các quốc gia khác (như “ghi nhận”, “thừa nhận”,
“công nhận” hay bày tỏ “sự thấu hiểu và tôn trọng” đối với khẳng định của Bắc
Kinh rằng Đài Loan là một phần không thể tách rời của Tầu
cộng). (Lập trường cụ thể của chúng ta về vấn đề này trong quá trình
đàm phán có thể gắn liền với mức độ đảm bảo mà Bắc Kinh đưa ra về
an ninh tương lai của hòn đảo.)
• Chúng ta sẽ cần đạt được sự hiểu biết chung với Bắc
Kinh về việc duy trì một sự hiện diện còn lại (dưới hình thức chính thức
hoặc bán chính thức) trên hòn đảo để thay thế cho việc rút đại sứ quán. Hiện tại,
Bắc Kinh đã bác bỏ ý tưởng gọi sự hiện diện đó là “văn phòng liên
lạc” hay lãnh sự quán. Có lẽ chúng ta sẽ phải tìm ra một cách diễn đạt mới (có
thể là những tên gọi chung chung như “Văn phòng Đại diện Hoa Kỳ” hay “Hiệp hội
Quan hệ Trung-Mỹ”, hoặc cụ thể hơn là “văn phòng thương mại”) cùng các cơ chế tổ
chức cho phép nhân viên Bộ Ngoại giao và các cơ quan chính phủ khác được
cử đến đây có thể duy trì liên lạc với chính quyền Đài Loan.
Chắc chắn Bắc Kinh sẽ muốn sự hiện diện
còn lại của chúng ta tại Đài Bắc mang tính chất chính thức là phi
chính thức—theo mô hình của Nhật Bản. Tuy nhiên, một sự sắp xếp như vậy sẽ
không phù hợp xét đến tác động của nó đối với Đài Loan cũng như
dư luận trong nước. Hơn nữa, một phân tích sơ bộ về mô hình phi chính phủ như vậy
cho thấy sẽ nảy sinh những vấn đề đáng kể liên quan đến nguồn vốn của Chính phủ
Hoa Kỳ, việc xử lý các công việc lãnh sự và quản lý chương trình bán vũ khí, nếu
hoạt động của đại sứ quán chúng ta tại Đài Bắc được chuyển giao cho một hiệp hội
tư nhân của Mỹ. Ngoài ra, trừ khi chúng ta duy trì một cơ quan lãnh sự chính thức
tại Đài Bắc (dưới bất kỳ tên gọi nào), việc cần đến luật của Quốc
hội để cho phép chúng ta cấp kinh phí và thực hiện các hoạt động của Chính phủ
Hoa Kỳ thông qua một hiệp hội tư nhân sẽ khiến Chính quyền phải đối mặt với những
tác động chính trị phức tạp; cụ thể là các nhà lập pháp tại Quốc hội sẽ can thiệp
vào quá trình thể chế hóa chính sách bình thường hóa quan hệ với Tầu cộng.
Những khía cạnh này đang được xem xét kỹ lưỡng trong một bản phân tích riêng,
trong đó sẽ đưa ra các phương án để duy trì sự hiện diện của Chính phủ Hoa Kỳ tại
Đài Bắc.
• Chúng ta sẽ phải đàm phán với Bắc Kinh để đạt được
thỏa thuận rằng Hoa Kỳ vẫn duy trì các mối quan hệ kinh tế và xã hội hiện có với
hòn đảo này, bao gồm khả năng tiếp tục đầu tư vào nền kinh tế của hòn đảo và
[Trang 685] duy trì kết nối vật lý với Đài Loan thông qua đường hàng không và
đường biển. (Về vấn đề này, diễn biến cuộc đàm phán năm 1973 giữa Bắc
Kinh và Tokyo liên quan đến dịch vụ hàng không của Nhật Bản với CHND
Tầu cộng —trong đó Nhật Bản đã nhượng bộ yêu cầu của Trung Quốc
về việc ngừng công nhận hãng hàng không mang cờ của Trung Hoa Dân Quốc
là hãng hàng không quốc gia—đã tạo ra một tiền lệ khó khăn cho cả Đài Bắc và
chúng ta.)
—An ninh tương lai của Đài Loan vẫn là vấn đề cốt lõi
cần đàm phán. Phía Trung Quốc có thể yêu cầu chúng ta đưa ra
tuyên bố công khai, dứt khoát về việc hủy bỏ Hiệp ước Phòng thủ Chung Mỹ - Trung
Hoa Dân Quốc (ROC). Họ cũng có thể sẽ muốn áp đặt những hạn chế ngặt
nghèo—và thậm chí là cắt giảm nhanh chóng—việc bán vũ khí của Mỹ cho hòn đảo
này. (Mối lo ngại ngược lại của họ là việc chấm dứt quá nhanh toàn bộ quan hệ
an ninh Mỹ - Đài Loan có thể thúc đẩy ROC tìm kiếm vũ khí và sự ủng
hộ chính trị từ nơi khác. Các báo cáo của CAS cho thấy giới chức CHND Trung Hoa
(PRC) nhận định khả năng này đang gia tăng sau khi Tưởng Giới Thạch
qua đời.) Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng không hề tạo cho chúng
ta niềm tin rằng họ sẽ đưa ra cam kết công khai nào đó về ý định "giải
phóng" hòn đảo chỉ bằng các biện pháp hòa bình. Đặng Tiểu Bình
không chỉ nhiều lần nhấn mạnh riêng với ông rằng PRC sẽ không cho
phép bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài vào quá trình tái sáp nhập Đài
Loan vào đại lục trong tương lai, mà trong cuộc phỏng vấn ngày 2 tháng
6 với các biên tập viên Mỹ, ông còn ám chỉ rằng có thể phải sử dụng vũ lực, ví
như "việc quét bụi trên sàn nhà bằng chổi" (một câu nói của Mao
Trạch Đông). Mặc dù những tuyên bố trước đây của Chu Ân Lai—cả
công khai lẫn riêng tư với ông—từng gợi mở đôi chút hy vọng về một tuyên bố của
Tầu cộng thể hiện thiện chí hòa bình đối với Đài Loan,
chúng tôi không quá lạc quan rằng sẽ có một tuyên bố đơn phương nào đó với nội
dung chấp nhận được được đưa ra.
Ngược lại, các luật sư của Bộ Ngoại giao lại hối thúc
ông đề nghị Bắc Kinh đưa ra một tuyên bố chung thể hiện cam kết
không sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề Đài Loan. Họ cho rằng một tuyên bố
như vậy ít nhất sẽ cho phép chúng ta khẳng định một cách có cơ sở pháp lý rằng
Mỹ vẫn giữ quyền hỗ trợ Đài Loan phòng thủ nếu hòn đảo này bị tấn công từ đại lục.
Tuy nhiên, chúng tôi không kỳ vọng Bắc Kinh sẽ đồng ý với một
tuyên bố chung như vậy; thực tế, phía Trung Quốc rất có thể sẽ coi đề xuất này
là một hành động khiêu khích hoặc một yêu sách không thể chấp nhận được nhằm mục
đích trì hoãn đàm phán. Các đề xuất khác nhằm giải quyết vấn đề an ninh (những
đề xuất mà chúng tôi chưa xem xét kỹ do tính thiếu khả thi) bao gồm việc đạt được
thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và CHND Tầu cộng về việc coi Đài Loan và
eo biển Đài Loan là khu phi quân sự, hoặc khuyến khích Bắc Kinh
và Đài Bắc đàm phán một thỏa thuận song phương về việc từ bỏ sử dụng vũ lực.
Cách tiếp cận của ông đối với vấn đề này—kể từ khi ông
lần đầu nêu ý tưởng trong chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 10 năm
1971—là tìm kiếm một tuyên bố đơn phương và mang tính tổng quát từ phía Bắc
Kinh về ý định (nhiều khả năng sẽ được đưa vào thông cáo chung về bình thường
hóa quan hệ) thể hiện thiện chí nỗ lực giải quyết hòa bình vấn đề Đài Loan. Mùa
thu năm ngoái, ông đã chỉ đạo chúng tôi soạn thảo các tuyên bố đơn phương song
song của phía Mỹ (có thể được đưa vào thông cáo chung ngay sau tuyên bố của Tầu
cộng, được công bố riêng tại họp báo, hoặc được thể hiện trong một nghị
quyết của Quốc hội). Các tuyên bố này nhằm thể hiện sự quan tâm của Mỹ đối với
an ninh Đài Loan, mong muốn giải quyết hòa bình tương lai của hòn đảo này, và
có thể là gắn việc duy trì quan hệ hoàn toàn bình thường với Bắc Kinh với điều
kiện tiên quyết là không sử dụng vũ lực chống lại Đài Loan.
Trong ngày cuối cùng của cuộc đàm phán vào tháng 11
năm 1974, Đặng Tiểu Bình đã ám chỉ với ông rằng ông ấy cho rằng
mình sẽ thảo luận về một thỏa thuận dạng này với ông vào một thời điểm sau
đó.11 Nếu không có đàm phán trực tiếp, chúng ta sẽ không thể biết chính xác Bắc
Kinh sẵn sàng đi xa đến đâu theo hướng này. Chúng tôi tin rằng ông nên đàm phán
để đạt được một tuyên bố đơn phương từ phía Bắc Kinh, trong đó
nêu rõ rằng CHND Tầu cộng không có ý định sử dụng vũ lực để giải
quyết vấn đề Đài Loan. Chúng tôi dự đoán rằng mình sẽ phải chấp
nhận cách diễn đạt có kèm theo các điều kiện cụ thể về những tình huống mà Bắc
Kinh sẽ kiềm chế hành động (xem các phương án diễn đạt thay thế mang
tính gợi ý đã được soạn thảo cho chuyến thăm tháng 11 năm 1974 của ông tại Mục
D). Chúng tôi cũng dự kiến sẽ đưa ra một tuyên bố đơn phương của phía Mỹ song
song với tuyên bố của Bắc Kinh, như đã nêu ở trên.
Một phương án ít thuận lợi hơn là một tuyên bố từ phía
Bắc Kinh chỉ đơn thuần bày tỏ "hy vọng" và thiện chí nỗ lực giải quyết
hòa bình vấn đề Đài Loan. Một phương án dự phòng khác là một tuyên bố từ phía CHND
Tầu cộng, thể hiện thiện chí kiên nhẫn và kiềm chế trong việc tìm kiếm
giải pháp cho tương lai của hòn đảo này (xem các cách diễn đạt thay thế tại Mục
D).
Chúng tôi cho rằng nội dung cụ thể của các tuyên bố
song song và đơn phương mà cả chúng ta và Bắc Kinh có thể đưa ra
về an ninh tương lai của Đài Loan sẽ gắn liền—trong quá trình đàm phán—với thỏa
thuận về chương trình duy trì bán trang thiết bị quân sự của Mỹ cho hòn đảo này
(nghĩa là, tuyên bố của phía Tầu cộng càng cởi mở thì chương
trình bán vũ khí của chúng ta có thể càng hạn chế). Như đã đề cập ở trên, CHND
Tầu cộng có lẽ sẽ thấy lợi ích của mình được đảm bảo nếu việc Mỹ bán vũ
khí giảm dần theo lộ trình; tuy nhiên, ông có thể muốn gắn kết sự hiểu biết với
Bắc Kinh về quy mô và thời hạn của việc bán vũ khí như vậy với những cam kết cụ
thể về sự kiềm chế mà phía Tầu cộng sẵn sàng chấp thuận, như một
phần của thỏa thuận tổng thể về bình thường hóa quan hệ.
(Một khía cạnh khác trong việc điều chỉnh quan hệ an
ninh của chúng ta với Đài Loan sẽ là việc tiếp tục rút lực lượng quân sự [và
tình báo] còn lại của chúng ta khỏi hòn đảo này. Mặc dù đây không phải là vấn đề
ông sẽ đàm phán trực tiếp với Bắc Kinh, nhưng nó sẽ là một yếu tố
trong các cuộc thảo luận của ông với các nhà lãnh đạo Tầu cộng.
Theo đó, việc tiếp tục rút quân có liên quan trực tiếp đến việc hoàn tất thỏa
thuận bình thường hóa. Ông đã nhận được, thông qua các kênh của Hội đồng An
ninh Quốc gia (NSC), hai văn bản trình bày các phương án về lộ trình cắt giảm
lực lượng quân sự và nhân sự tình báo tín hiệu còn lại của chúng ta trên đảo,
cũng như chương trình duy trì bán thiết bị quân sự.)
—Cho đến nay, trong cách tiếp cận thỏa thuận bình thường
hóa, ông chưa gắn các vấn đề liên quan đến nước thứ ba với việc hoàn tất quy
trình này—ngoại trừ việc rút quân khỏi Đài Loan có liên quan đến "giảm
căng thẳng trong khu vực". Vì những lý do được chúng tôi trình bày chi tiết
ở trang 25 và 26 dưới đây, ông có thể cân nhắc việc gắn kết sự hợp tác gia tăng
của Tầu cộng trong các vấn đề như Triều Tiên với tiến trình phát
triển một mối quan hệ song phương hoàn toàn bình thường.
Nếu các vấn đề nêu trên là những câu hỏi song phương
then chốt cần giải quyết thông qua đàm phán, thì phải nói rằng ở giai đoạn hiện
tại của các cuộc thảo luận với lãnh đạo Tầu cộng, dư địa để
thương lượng về thỏa thuận bình thường hóa dường như không còn nhiều. Nếu muốn
đạt được sự bình thường hóa hoàn toàn, chúng ta sẽ phải công nhận Bắc Kinh là
chính phủ hợp pháp duy nhất của Tầu cộng, đồng thời ngầm hiểu hoặc
thể hiện—thông qua một cách diễn đạt nào đó—sự chấp thuận quan điểm cho rằng
Đài Loan là một phần của Tầu cộng. Chúng ta sẽ duy trì một văn
phòng mang tính chất "tư nhân nhưng thuộc chính phủ" tại Đài Bắc với
nhân sự do Bộ Ngoại giao biệt phái sang, đồng thời—theo mô hình của Nhật Bản—chúng
ta sẽ duy trì các mối quan hệ thương mại và giao lưu xã hội với hòn đảo này.
Vào thời điểm bình thường hóa quan hệ, chúng ta sẽ tuyên bố (một cách ngầm định
hoặc công khai) rằng Hiệp ước Phòng thủ Chung Mỹ-Trung Hoa Dân Quốc
không còn hiệu lực; tuy nhiên, việc chấm dứt mối quan hệ chính thức này sẽ được
bù đắp bằng tuyên bố của phía Tầu cộng về thiện chí hòa bình, bằng
việc chúng ta đơn phương bày tỏ sự quan tâm (có thể thông qua một nghị quyết của
Quốc hội) đối với an ninh tương lai của Đài Loan cũng như kỳ vọng rằng những bất
đồng giữa Đài Loan và đại lục sẽ được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, và bằng
việc duy trì chương trình bán vũ khí của Mỹ cho hòn đảo này.
[Nếu Bắc Kinh tỏ ra không sẵn lòng chấp thuận bất kỳ
gói thỏa thuận nào liên quan đến an ninh tương lai của Đài Loan (bao gồm các yếu
tố như các tuyên bố công khai song song, thỏa thuận duy trì nguồn cung cấp vũ
khí của Mỹ, và việc rút dần sự hiện diện quân sự còn lại của chúng ta), thì nhiều
khả năng Tổng thống sẽ thấy không thể đạt được thỏa thuận bình thường hóa quan
hệ. Thực tế, chúng tôi sẽ khuyến nghị không nên thực hiện một thỏa thuận dựa
trên cơ sở như vậy.]
Chúng ta sẽ phải phản hồi những người chỉ trích thỏa
thuận bình thường hóa với lý do rằng chúng ta đã tước bỏ quyền tự quyết của người
dân Đài Loan, bằng lập luận rằng quyền tự quyết chưa bao giờ là vấn đề trọng
tâm trong chính sách của Mỹ đối với Tầu cộng, và rằng những trí
thức Đài Loan ủng hộ độc lập (chủ yếu là những người đang cư trú tại Mỹ hoặc Nhật
Bản) đã không thể khơi dậy sự hưởng ứng đáng kể từ người dân hay chính quyền
trên hòn đảo này.
Đối với những người chỉ trích việc bình thường hóa vì
cho rằng chúng ta đã "bán đứng" một đồng minh lâu năm, chúng ta sẽ phải
đáp lại rằng ngay cả vị "đồng minh lâu năm" vừa qua đời của chúng ta
cũng từng khẳng định Đài Loan là một phần của Tầu cộng, và lợi
ích quốc gia đòi hỏi chúng ta phải công nhận—dù có phần muộn màng so với phần
còn lại của thế giới—thực tế bền vững về việc Bắc Kinh kiểm soát phần lớn lãnh
thổ Tầu cộng. Chúng ta sẽ chỉ ra các khía cạnh trong cán cân
chính trị và quân sự tại châu Á có khả năng ngăn Bắc Kinh thực hiện hành động
quân sự trực tiếp nhằm kiểm soát hòn đảo, đồng thời đề cập đến các mối quan hệ
kinh tế và chương trình bán vũ khí đang được duy trì như một cách giúp bảo toàn
thực trạng hiện tại của Đài Loan. Và có lẽ chúng ta sẽ nhận được tuyên bố đủ rõ
ràng về ý định hòa bình từ phía Bắc Kinh để tái khẳng định mối quan tâm của
chính chúng ta: mong muốn người dân trên đảo có thể tự định đoạt bản chất mối
quan hệ tương lai của họ với đại lục theo phương thức hòa bình.
Và đối với một số người, sẽ nảy sinh câu hỏi rằng liệu
Mỹ có đạt được điều gì từ Bắc Kinh để đổi lấy việc bình thường hóa quan hệ theo
các điều kiện do CHND Trung Hoa đặt ra hay không. Đây là vấn đề chỉ có thể được
giải đáp khi xét đến giá trị chiến lược đối với chúng ta của một thái độ không
đối đầu với CHND Tầu cộng, động lực mà thái độ này mang lại cho
chính sách ngoại giao "giảm căng thẳng" với Liên Xô,
cũng như những lợi ích lâu dài cho Hoa Kỳ khi loại bỏ được một mặt trận trong cục
diện Chiến tranh Lạnh của thập niên 1950 và 1960. (Tất nhiên, một lý do khác nữa
để tìm kiếm sự hợp tác sâu rộng hơn từ phía Tầu cộng trong các vấn
đề liên quan đến nước thứ ba là nhằm biện minh cho việc bình thường hóa quan hệ
dựa trên những cơ sở quốc tế rộng lớn hơn, thay vì chỉ đơn thuần là tạo lợi thế
gây sức ép lên Liên Xô.)
Các nhiệm vụ trong thời gian còn lại của
năm 1975
Dựa trên những thảo luận và phân tích nêu trên, dưới
đây là các nhiệm vụ cần thực hiện trong năm 1975 nếu ông muốn ít nhất là thăm
dò với các nhà lãnh đạo CHND Tầu cộng về khả năng
tiến thêm các bước hướng tới bình quan hóa hoàn toàn quan hệ:
—Chuẩn bị một gói đàm phán. Nếu ông đưa ra chỉ đạo về
phương thức mà ông muốn áp dụng cho các cuộc đàm phán tiếp theo với phía Trung
Quốc về vấn đề bình thường hóa, chúng tôi sẽ soạn thảo một gói đàm phán để sử dụng
trong chuyến đi tiền trạm của ông tới Bắc Kinh vào cuối năm nay. Ngoài các vấn
đề song phương cần được xem xét trong gói đàm phán này, còn có vấn đề liên quan
đến việc ông muốn phối hợp đàm phán với CHND Tầu cộng như thế nào
trong bối cảnh diễn biến các cuộc tiếp xúc của chúng ta với Liên Xô
trong năm—cụ thể là liệu ông muốn sắp xếp chuyến đi tiền trạm tới Bắc Kinh trước
hay sau hội nghị thượng đỉnh với Brezhnev. Bên cạnh đó, còn có vấn
đề liệu ông có muốn bắt đầu gắn việc [thiếu] sự hợp tác của CHND Tầu cộng
đối với các vấn đề liên quan đến nước thứ ba (như Triều Tiên) và có thể là các
vấn đề quốc tế (lương thực, năng lượng, v.v.) với các bước tiến tiếp theo trong
quan hệ song phương của chúng ta hay không.
—Lên kế hoạch tiếp tục rút lực lượng khỏi Đài
Loan. Vào ngày 8 tháng 2, ông Habib đã thông báo cho Văn phòng
Liên lạc CHND Tầu cộng (PRCLO) rằng đến giữa năm
1975, chúng ta sẽ cắt giảm quân số tại Đài Loan xuống còn khoảng
2.800 người, chuyển căn cứ không quân Đài Loan sang chế độ bảo dưỡng tối thiểu
(caretaker status) vào giữa năm và căn cứ không quân Ching Chuan Kang
sang chế độ tương tự vào cuối năm. Phía CHND Tầu cộng cũng được
thông báo rằng họ sẽ được cập nhật sau về mức quân số thấp hơn nữa dự kiến đạt
được vào cuối năm 1975.
Hai nghiên cứu lớn mang tính liên cơ quan, liên quan đến
sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Đài Loan và chương
trình bán vũ khí của chúng ta, vừa được hoàn tất và gửi tới ông cùng Tổng thống
để đưa ra quyết định thông qua các kênh của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC).
Báo cáo phản hồi NSSM 212 cung cấp cho ông các lựa chọn về định hướng
chính sách chung đối với việc bán trang thiết bị quân sự trong tương lai cho—và
duy trì mức lực lượng Hoa Kỳ tại—Trung Hoa Dân Quốc (ROC).
Nghiên cứu thứ hai là bản phân tích của đội ngũ chuyên trách thuộc Cộng đồng
Tình báo về sự hiện diện của hệ thống tình báo tín hiệu (SIGINT) của
chúng ta tại Đài Loan (vốn chủ yếu tập trung vào CHND Tầu cộng).
Nghiên cứu này trình bày các phương án nhằm tiếp tục cắt giảm số lượng nhân sự
tình báo tín hiệu (SIGINT) quân sự—ước tính khoảng 715 người—sẽ vẫn
hiện diện trên đảo sau tháng 7 năm 1975.17
—Chuẩn bị tâm thế cho công chúng. Cho đến nay, quan hệ
của chúng ta với Bắc Kinh đã phát triển theo hướng chính phủ định hình dư luận
thông qua nhiều sáng kiến chính thức khác nhau. Ngài hoặc Tổng thống đã hành
động, và công chúng đã phản hồi—với mức độ ủng hộ đáng kể. Tuy nhiên, chúng ta
đang ở giai đoạn mà các quyết định khó khăn trong quan hệ Mỹ–Trung Quốc
(PRC) ít có khả năng nhận được sự hưởng ứng tích cực từ công chúng. Nếu
có tiến triển hướng tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ, một số vấn đề nhất định
(đặc biệt là các vấn đề liên quan đến Đài Loan) có thể vấp phải phản ứng tiêu cực
từ một bộ phận nghị sĩ Quốc hội, giới truyền thông và người dân. Ngược lại, nếu
không có tiến triển, chắc chắn sẽ nảy sinh những câu hỏi về lý do tại sao. Câu
hỏi "Tại sao quan hệ lại bị đình trệ" có thể trở thành một vấn đề được
tranh luận trong chiến dịch tranh cử năm 1976.
Trong những tháng gần đây, Tầu cộng đã
chủ động hơn trong việc định hướng dư luận về vấn đề bình thường hóa quan hệ.
Các động thái này bao gồm việc khuyến khích và bí mật tài trợ cho "Hiệp hội
Hữu nghị Nhân dân Mỹ–Trung" nhằm tuyên truyền quan điểm chính trị của Tầu
cộng; vun đắp mối quan hệ với cộng đồng người Mỹ gốc Hoa thông qua các
chương trình giao lưu văn hóa và các chuyến thăm Tầu cộng; cũng
như nỗ lực tác động đến các nghị sĩ và báo chí Mỹ có thiện cảm với vấn đề bình
thường hóa. Vì những lý do trái ngược, phía Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan)
cũng tìm cách truyền tải quan điểm của họ về mối quan hệ Mỹ–Trung đang ngày
càng phát triển tới Quốc hội và giới truyền thông Mỹ. Đầu năm nay, các nhà ngoại
giao Đài Bắc đã tích cực thuyết phục những nhóm có ảnh hưởng đến dư luận tại Mỹ
rằng tiến trình bình thường hóa đã đạt đến mức cần thiết để phục vụ lợi ích của
Mỹ, đặc biệt là thông qua việc tranh thủ sự ủng hộ từ các nhân vật có tầm ảnh
hưởng như Thượng nghị sĩ Goldwater. Kể từ khi Tưởng Giới Thạch
qua đời, các hoạt động quan hệ công chúng của Đài Loan đã chững lại, nhưng
chúng ta có thể dự báo sự gia tăng các hoạt động này khi chuyến thăm Bắc Kinh của
Tổng thống đến gần.
Vấn đề mà chúng ta hiện phải đối mặt là làm thế nào để
định hình thái độ của công chúng—một cách có chủ đích hơn và từ góc nhìn của
Chính quyền—đối với các vấn đề còn tồn tại liên quan đến việc bình thường hóa
quan hệ Mỹ–Trung.
Một nỗ lực như vậy vấp phải một vấn đề cơ bản. Cho đến
khi ông thực hiện chuyến đi tiền trạm tới Bắc Kinh và thăm dò ý kiến các nhà
lãnh đạo CHND Tầu cộng về triển vọng đạt được thỏa thuận, rõ ràng
là việc ngăn chặn sự hình thành tâm lý kỳ vọng tích cực về chuyến thăm của Tổng
thống Ford là có lợi cho chúng ta.18 Nếu không, điều này sẽ chỉ hạn chế dư
địa hành động của ông trong các cuộc đàm phán với Bắc Kinh, đồng
thời có thể huy động các nhóm chống đối những bước tiến xa hơn. Hiện tại, chúng
ta nên thể hiện thái độ rằng: "Chúng tôi mong muốn thấy những bước tiến xa
hơn, nhưng đang tồn tại những vấn đề quan trọng cần giải quyết—và đòi hỏi sự
nhượng bộ từ phía CHND Tầu cộng —trước khi có thể đạt được thêm
tiến triển."
Tùy thuộc vào kết quả chuyến đi tiền trạm của ông,
công tác truyền thông của chúng ta có thể đi theo một số hướng: Nếu ông nhận thấy
khả năng cao về việc bình thường hóa hoàn toàn gắn liền với chuyến thăm của Tổng
thống, ông sẽ phải vận động sự ủng hộ của Quốc hội đối với các điều khoản của
thỏa thuận (Quốc hội có thể cần hỗ trợ thông qua một nghị quyết ủng hộ hoặc ban
hành luật cần thiết khi chúng ta chuyển sang mối quan hệ "phi chính thức"
với Đài Loan) và chuẩn bị dư luận cho những diễn biến dự kiến. Nếu chuyến đi tiền
trạm cho thấy triển vọng hạn chế về việc đạt thêm tiến triển, hoặc có thể dẫn đến
việc hoãn chuyến thăm của Tổng thống, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiệm vụ giải
thích [Trang 691] cho Quốc hội và công chúng lý do tại sao mối quan hệ lại
"ổn định" ở mức hiện tại.
Tại thời điểm này, chúng ta sẽ không đi sâu hơn vào
các khía cạnh truyền thông trong quan hệ với Bắc Kinh, ngoại trừ việc lưu ý rằng
đây là vấn đề cần được xem xét chi tiết hơn trong quá trình triển khai công việc
trong năm.
—Chuẩn bị cho Đài Loan về việc bình thường hóa. Nếu kết
quả chuyến đi tiền trạm cho thấy triển vọng lớn về một thỏa thuận bình thường
hóa, cũng sẽ cần bắt đầu các biện pháp tích cực hơn để chuẩn bị cho chính quyền
Đài Loan trước những bước phát triển tiếp theo trong quan hệ của chúng ta với cả
Đài Bắc và Bắc Kinh. Rõ ràng có những rủi ro nhất định khi thông báo trước cho
chính quyền Trung Hoa Dân Quốc (ROC), vì điều đó có thể tạo điều
kiện cho họ tìm cách ngăn cản những bước tiến xa hơn với CHND Tầu cộng.
Đồng thời, cũng có những rủi ro nếu hoàn toàn thụ động trong việc chuẩn bị cho
giới lãnh đạo tại Đài Bắc về những động thái của chúng ta có ảnh hưởng đến lợi
ích cốt lõi của họ (mặc dù họ thừa hiểu rằng sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ công
nhận Bắc Kinh và cắt đứt quan hệ với họ). Việc Tưởng Giới Thạch mới
qua đời đã loại bỏ một yếu tố quan trọng vừa đóng vai trò kìm hãm, vừa mang
tính ổn định, vốn đã giữ Đài Loan đi theo lộ trình "một nước Trung
Hoa" trong hơn một phần tư thế kỷ qua. Hiện chưa có bằng chứng nào cho thấy
cái chết của ông Tưởng đã gây bất ổn tình hình trên đảo hay đang khiến phe Quốc
dân đảng chuyển hướng sang một con đường khác. Tuy nhiên, khi Bắc Kinh, Đài Bắc
và Washington điều chỉnh chính sách cho phù hợp với bối cảnh chính trị và quốc
tế mới trong những tháng tới, chúng ta cần nhạy bén trước những khả năng mới
liên quan đến vấn đề Đài Loan, đồng thời chủ động tác động để các chính sách của
hòn đảo này phát triển theo hướng phù hợp với lợi ích lớn hơn của Hoa Kỳ.
(Chúng tôi hiện đang soạn thảo một văn bản riêng về tình hình Đài Loan để gửi tới
ngài.)
—Công tác chuẩn bị đối với Nhật Bản. Mặc dù ở một mức
độ nhận thức nào đó, người Nhật cho rằng sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ bình thường
hóa quan hệ với Bắc Kinh, nhưng vẫn còn đó niềm hy vọng (đặc biệt là trong giới
doanh nghiệp và các quan chức Bộ Ngoại giao Nhật Bản) rằng Hoa Kỳ sẽ duy trì lập
trường "hai nước Trung Hoa" như hiện nay. Mối quan hệ bền
chặt của chúng ta với Đài Loan mang lại cho người Nhật cảm giác rằng lợi ích của
họ trên hòn đảo này được bảo đảm; đồng thời, nhịp độ ngoại giao có chừng mực của
chúng ta với Bắc Kinh đã tạo điều kiện cho Tokyo linh hoạt hơn
trong các hoạt động giao thiệp với phía Tầu cộng. Chẳng hạn, nếu
chúng ta công nhận Bắc Kinh vào mùa thu này, phía Nhật Bản sẽ chịu áp lực lớn
hơn trong việc phải ký kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị với CHND
Tầu cộng theo các điều khoản về "chống bá quyền" mà Bắc
Kinh đưa ra.
Vì những lý do này, cũng như để tránh bị chỉ trích rằng
Hoa Kỳ đã không rút ra được bài học từ những "cú sốc Nixon" (Nixon
shocks) trước đây, chúng ta cần nỗ lực thông báo kịp thời cho phía Nhật Bản về
bất kỳ diễn biến mới nào trong quan hệ giữa chúng ta và CHND Tầu cộng.
—Công tác chuẩn bị đối với CHND Trung Hoa. Mặc dù chuyến
đi tiền trạm của ông tới Bắc Kinh sẽ là phương thức chủ yếu để xây dựng nền tảng
cho những bước phát triển tiếp theo trong quan hệ Mỹ - Trung, ông cũng có thể
cân nhắc thực hiện một số bước đi đơn phương trước chuyến thăm của Tổng thống
nhằm tạo ra bầu không khí thuận lợi tại Bắc Kinh. Các bước đi này có thể bao gồm
những biện pháp mang tính biểu tượng (như việc Tổng thống hoặc chính ông có bài
phát biểu quan trọng về Tầu cộng vào mùa thu, hay việc ông Ford
tiếp đón tại Nhà Trắng các phái đoàn thương mại và khoa học cấp cao của Tầu
cộng sẽ đến thăm Washington vào tháng Chín), hoặc một số hành động đơn
phương cụ thể như thông báo cho Bắc Kinh về việc Mỹ tiếp tục cắt giảm quân số tại
Đài Loan, hay có thể là một sáng kiến trong lĩnh vực kinh tế.
Một số suy nghĩ cuối cùng về lập trường đàm phán
Để kết luận, chúng tôi xin nêu ra một số vấn đề liên
quan đến tốc độ và định hướng đàm phán với Bắc Kinh về vấn đề bình thường hóa
quan hệ; những vấn đề này có thể ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển trong
tương lai của quan hệ Mỹ - Trung:
—Có nên tiến tới bình thường hóa hoàn toàn hay không?
Như đã đề cập trong phần phân tích trên, cái giá phải trả trong ngắn hạn khi tiến
hành thiết lập quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh là rất lớn đối với Tổng thống, đặc
biệt là sau những diễn biến tại Đông Dương và trong bối cảnh chiến dịch tranh cử
năm 1976 đang đến gần. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn tin rằng có những lý do xác
đáng để nỗ lực đàm phán một thỏa thuận bình thường hóa trong vòng năm tháng tới,
qua đó giúp ổn định mối quan hệ không đối đầu với CHND Trung Hoa. Không cần liệt
kê lại toàn bộ các lập luận về lợi ích lâu dài mà bước phát triển này mang lại
cho chúng ta, chúng tôi muốn nhấn mạnh ba lý do chính cho nỗ lực này:
Thứ nhất, bằng cách tiếp tục duy trì đà phát triển ngoại
giao đã được thiết lập từ năm 1971, chúng ta có thể hoàn tất việc bình thường
hóa theo chủ động của chính mình và trên cơ sở mối quan hệ tương đối hợp tác với
Bắc Kinh. Ngược lại, nếu để mất đà phát triển này, quan hệ của chúng ta với CHND
Tầu cộng có thể xấu đi khi những áp lực nội bộ tại Bắc Kinh gia tăng do
cảm giác bị phía Mỹ trì hoãn hoặc kéo dài thời gian. Điều này có thể dẫn đến việc
Bắc Kinh quay lại sử dụng các biện pháp gây sức ép nhằm buộc chúng ta phải rút
khỏi Đài Loan và công nhận CHND Tầu cộng là chính phủ hợp pháp
duy nhất của Tầu cộng. Rõ ràng là trong tình huống như vậy, việc
thực hiện "bình thường hóa" sẽ tốn kém hơn nhiều đối với Chính quyền,
bởi lẽ chúng ta sẽ phải hành động theo kiểu ứng phó bị động. Cần nhớ lại rằng
vào năm 1969, Chính quyền từng lo ngại về việc CHND Tầu cộng lợi
dụng tình hình chính trị nội bộ của Mỹ. Vấn đề này hoàn toàn có thể tái diễn.
Thứ hai, khía cạnh khác của lập luận trên là nếu sáng
kiến của Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai hướng tới Mỹ
được phía Tầu cộng coi là thành công, chúng ta sẽ tối đa hóa được
khả năng Chủ tịch duy trì đường lối đối ngoại chống Liên Xô ngay trong nội bộ Tầu
cộng —điều mang lại những lợi ích rõ ràng cho chính sách đối ngoại của
chính chúng ta.
Thứ ba, vẫn còn đó những yếu tố quốc tế phức tạp khiến
việc bình thường hóa trở thành nền tảng để ổn định cấu trúc chính sách đối ngoại
của Chính quyền: duy trì một trong những đòn bẩy quan trọng nhất của chúng ta đối
với Liên Xô; ngăn chặn nguy cơ Mỹ bị cô lập liên quan đến vấn đề Tầu cộng
tại các diễn đàn đa phương (như Liên Hợp Quốc) cũng như trong hoạt động ngoại
giao song phương; và tối đa hóa khả năng duy trì—hoặc thậm chí tăng cường—các
bước đi đối ngoại song hành với Bắc Kinh tại một số khu vực và quốc gia thứ ba
(Châu Âu, Trung Đông và Tiểu lục địa Ấn Độ, Nhật Bản, và—hy vọng là—cả vấn đề
Triều Tiên và Đông Nam Á).
—Nên nhấn mạnh những chủ đề đàm phán nào? Khi xem xét
quá trình đàm phán với Bắc Kinh về vấn đề bình thường hóa quan hệ, chúng tôi lo
ngại về cách phía Trung Quốc cố gắng trói buộc chúng ta vào các chủ đề như
"mô hình Nhật Bản" và "ba nguyên tắc" của Đặng Tiểu
Bình. Rõ ràng đây là một chiến thuật khôn ngoan từ góc độ của Bắc Kinh;
tuy nhiên, chúng tôi cũng tin rằng họ đã mở ra một hướng tiếp cận linh hoạt
hơn—một chủ đề chung có thể được tận dụng để định hình giai đoạn đàm phán cuối
cùng. Trong Thông cáo chung tháng 11 năm 1973, Thủ tướng Chu Ân Lai
đã nêu rõ một "điều kiện" có vẻ linh hoạt hơn cho việc bình thường
hóa toàn diện—dựa trên cơ sở "xác nhận nguyên tắc một nước Tầu cộng
". Chúng ta chưa thực sự phản hồi đề xuất này của ông Chu.
Đáng chú ý là Thủ tướng đã nhắc lại cách diễn đạt này—coi đó là điều kiện duy
nhất mà Chủ tịch Mao đặt ra cho việc bình thường hóa—trong bản
chưa công bố bài phát biểu của ông trước các đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân
Toàn quốc vào tháng 1 năm nay. Có khả năng là Thủ tướng (và có thể cả Chủ tịch),
khi sử dụng cụm từ này cả công khai lẫn riêng tư, đang ám chỉ cơ sở mà họ sẽ
dùng để thuyết phục đội ngũ cán bộ trong nước chấp nhận một thỏa thuận bình thường
hóa mang tính thỏa hiệp. Để chuẩn bị cho vòng đàm phán tiếp theo tại Bắc Kinh,
ông có thể xây dựng nội dung thảo luận về vấn đề bình thường hóa xoay quanh chủ
đề này, qua đó tránh bị trói buộc vào câu hỏi liệu các điều khoản của chúng ta
có đáp ứng chính xác "mô hình Nhật Bản" hay "ba nguyên tắc"
của Đặng Tiểu Bình hay không—mặc dù rõ ràng là ở giai đoạn này,
chúng ta vẫn cần tính đến các khía cạnh trong lập trường đàm phán riêng của Bắc
Kinh.
Tương tự, có thể sẽ có lợi cho chúng ta nếu gây sức ép
buộc phía Trung Quốc phải thực hiện đúng tinh thần nhận định mà Chủ
tịch Mao từng nói với ông: không cần thiết phải kiểm soát trực tiếp Đài
Loan trong vòng "một trăm năm". Mặc dù tuyên bố này có thể chỉ mang
tính biểu tượng trong ý định của Chủ tịch Mao, nhưng đây là một
trong số ít những điểm mà chúng ta có thể tận dụng để "trói buộc"
phía Tầu cộng bằng chính những lời lẽ thiêng liêng của nhà lãnh đạo
tối cao của họ. Tương tự, những tuyên bố trước đây—cả công khai lẫn riêng tư—của
Thủ tướng Chu Ân Lai về thiện chí nỗ lực đạt được giải pháp hòa bình cho
vấn đề Đài Loan cần được viện dẫn làm tiền đề cho một tuyên bố đơn phương sắp tới
của phía Tầu cộng về vấn đề an ninh của hòn đảo này.
—Ai sợ "Gấu lớn hung dữ"? Mặc dù yếu tố Liên
Xô rõ ràng đóng vai trò trung tâm trong quá trình phát triển quan hệ giữa chúng
ta và Bắc Kinh suốt năm năm qua, chúng ta vẫn lo ngại trước những dấu hiệu cho
thấy phía Tầu cộng cảm thấy họ đang bị chúng ta thao túng thông
qua việc sử dụng "mối đe dọa từ Liên Xô". Trong năm 1974, Phó
Thủ tướng Đặng Tiểu Bình và Ngoại trưởng Kiều Quán Hoa đã đưa ra một số
tuyên bố thể hiện sự hoài nghi về việc liệu thông tin mà Mỹ cung cấp cho họ về
phía Nga có hoàn toàn trung thực hay không; đồng thời, ngay từ mùa đông năm
1973, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã chuyển từ quan điểm nhấn mạnh
mối đe dọa của Liên Xô đối với Tầu cộng sang quan điểm cho rằng
phía Nga chỉ bố trí một triệu quân dọc biên giới (số lượng không đủ để phòng thủ
chứ chưa nói đến tấn công) và rằng Moscow đang thực hiện chiến thuật
"giương đông kích tây" (nghi binh ở phía Đông nhưng thực chất lại có
ý định tấn công ở phía Tây). Điều này dẫn đến những cuộc trao đổi kém hiệu quả
với Ngoại trưởng Tầu cộng về việc liệu Tầu cộng hay
Mỹ mới là bên chịu nhiều đe dọa hơn từ Liên Xô. Rõ ràng, phía Trung Quốc đã cố
gắng tạo ra ấn tượng rằng lợi thế gây ảnh hưởng của chúng ta đối với họ—vốn dựa
trên giả định rằng họ lo sợ người Nga—không lớn như chúng ta mong muốn.
Bất kể thực tế về mối đe dọa từ Nga đối với Trung Quốc
là như thế nào, việc chúng ta khai thác vấn đề Liên Xô vẫn tiềm ẩn nhiều khía cạnh
tâm lý phức tạp. Nếu chúng ta tỏ ra quá chú trọng vào mối đe dọa từ Nga nhằm mục
đích "dọa" Bắc Kinh, phía Trung Quốc sẽ cảm thấy họ đang bị thao
túng, và do đó làm xói mòn uy tín mà chúng ta đã dày công xây dựng với họ. Hơn
nữa, một điều trớ trêu là chúng ta có thể đang vô tình gia tăng áp lực buộc Mao
Trạch Đông phải linh hoạt hơn trong cách ứng xử của Tầu cộng với
Moscow. Chúng ta biết rằng sau thỏa thuận năm 1973 giữa Mỹ và Liên Xô về việc
ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, ông Chương Văn Tấn (Chang Wen-chin) – một trong
những người đã cùng phía Mỹ soạn thảo Thông cáo Thượng Hải và hiện là Đại sứ Tầu
cộng tại Canada – đã viết một văn bản nội bộ Bộ Ngoại giao đặt vấn đề về
giá trị trong quan hệ Trung - Mỹ, xét trong bối cảnh Mỹ ngày càng gia tăng các
hoạt động tiếp xúc với Liên Xô. Sự nghi ngại rằng Mỹ đang lợi dụng "mối đe
dọa từ Liên Xô" để thao túng Tầu cộng hẳn cũng đã thúc đẩy
các chính trị gia theo trường phái "thực dụng" như Đặng Tiểu
Bình (và có thể cả Thủ tướng) muốn tạo thêm sự linh hoạt cho chính sách
đối ngoại của nước này thông qua việc nhượng bộ có chừng mực đối với phía Nga
(đồng thời làm giảm bớt dư địa hành động của chính phía Mỹ).
Việc làm thế nào để thẳng thắn với Bắc Kinh về đánh
giá của chúng ta đối với năng lực và ý đồ của Liên Xô mà không tạo cảm giác
đang lợi dụng yếu tố này để thao túng là một bài toán khó trong chiến thuật đàm
phán.
Hơn nữa, nếu phía Tầu cộng cho rằng quan
hệ của chúng ta với họ chủ yếu nhằm mục đích tạo lợi thế trước người Nga, họ
càng dễ tin rằng chúng ta sẽ nhượng bộ họ trong các vấn đề song phương để duy
trì vị thế của mình đối với Moscow. Chúng tôi tin rằng tình trạng này sẽ gây ra
những vấn đề lớn cho sự phát triển quan hệ Mỹ - Trung. Nó không chỉ khiến Bắc
Kinh nảy sinh thái độ hoài nghi về quan hệ với chúng ta, mà còn ngày càng cám dỗ
họ đặt chúng ta vào những lựa chọn khó khăn: hoặc phải đáp ứng lợi ích của họ
trong các vấn đề song phương cụ thể, hoặc chấp nhận rủi ro làm tổn hại rõ rệt đến
quan hệ Mỹ - Trung – và hệ quả là làm suy giảm lợi thế của chúng ta trước
Moscow. Ngoài ra, nếu các quyết định của chúng ta khiến báo chí, Quốc hội và giới
học thuật tin rằng chúng ta đang tỏ ra "nhún nhường" Trung Quốc,
chúng ta sẽ làm xói mòn sự ủng hộ dành cho chính sách Tầu cộng của
mình trong giới tinh hoa có tiếng nói – những người vốn đã dần mất kiên nhẫn với
các chiêu trò của Bắc Kinh. (Chính vì lý do này, cùng với những lý do khác,
chúng tôi đã thúc đẩy việc giữ lập trường cứng rắn đối với vấn đề bài hát về
"giải phóng" Đài Loan.)
Tóm lại, dù chỉ xét trên khía cạnh chiến thuật, chúng
ta cũng cần tiếp cận Bắc Kinh với sự quan tâm sâu sắc hơn đến diễn biến của mối
quan hệ song phương. Nếu chúng ta không thực sự coi trọng Tầu cộng
dựa trên chính những lợi ích và quan điểm của họ, chúng ta khó có thể xây dựng
được một mối quan hệ với nước này mà nhận được sự ủng hộ bền vững từ cả Bắc
Kinh lẫn phía Mỹ.
—Gắn việc bình thường hóa quan hệ Mỹ - Trung với sự hợp
tác trong các vấn đề liên quan đến nước thứ ba. Mặc dù Thông cáo Thượng Hải đã
gắn việc rút quân sự khỏi Đài Loan với việc giảm căng thẳng tại Đông Dương,
nhưng nhìn chung, quan hệ của chúng ta với Bắc Kinh đã phát triển mà không có
nhiều nỗ lực nhằm trực tiếp liên kết các bước tiến xa hơn trong quan hệ song
phương với sự hợp tác trong các vấn đề quốc tế. Diễn biến này là hợp lý, bởi lẽ
việc gây sức ép buộc Bắc Kinh phải hợp tác công khai với chúng ta trong những
lĩnh vực mà lợi ích an ninh của chính Tầu cộng bị đe dọa (như ở
Đông Dương) rất có thể sẽ gây quá tải cho tiến trình bình thường hóa vốn còn
non trẻ và mong manh. Hơn nữa, nhìn lại thái độ của Bắc Kinh đối với vấn đề Việt
Nam và Campuchia trong bốn năm qua, có thể thấy rằng dù phía Trung Quốc không
thực sự hợp tác tích cực, họ cũng không chủ động gây cản trở. Điều này diễn ra
trong bối cảnh cục diện sự kiện rõ ràng đang nghiêng về phía các đồng minh của
họ, khả năng hành động của chúng ta ngày càng bị hạn chế bởi các yếu tố nội bộ,
và việc chủ động chống lại xu thế đó sẽ khiến họ phải đối mặt với áp lực chính
trị nặng nề từ phía Liên Xô—nước luôn tìm cách làm họ bẽ mặt thông qua nhóm các
nước "Thế giới thứ ba" vốn ủng hộ quan điểm của Moscow. Ngoài ra, Bắc
Kinh từng hỗ trợ chúng ta trong vấn đề Triều Tiên vào mùa thu năm 1973, nhưng lại
rút lui khỏi sự "thông đồng" đó ngay khi Moscow tìm cách làm suy yếu
vị thế của họ tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, lấy lý do là sự hợp tác của họ với
Hoa Kỳ. [Trang 696]
Đồng thời, thái độ gần đây của Trung Quốc đối với hàng
loạt vấn đề quốc tế—như vấn đề Triều Tiên và Bộ chỉ huy Liên Hợp Quốc, Đông
Dương, hay các hội nghị về lương thực và năng lượng—cho thấy rất ít triển vọng
về việc chúng ta có thể hợp tác tích cực với Bắc Kinh sau khi bình thường hóa
quan hệ để giải quyết các vấn đề liên quan đến nước thứ ba. Hiện nay, cả trong
nội bộ chính quyền Hoa Kỳ lẫn dư luận đều xuất hiện những lời phàn nàn cho rằng
chúng ta thực sự thu được rất ít lợi ích từ mối quan hệ với Bắc Kinh.
Có những hạn chế đáng kể đối với khả năng tạo ra đòn bẩy
tác động lên phía Tầu cộng nhằm thúc đẩy họ hợp tác trong các vấn
đề quốc tế (với vấn đề Triều Tiên là một ví dụ điển hình); tuy nhiên, đồng thời,
Ngài cũng có thể cân nhắc việc đặt nền móng cho sự gắn kết giữa các bước tiến
tiếp theo hướng tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ và việc tăng cường hợp
tác trong các vấn đề liên quan đến nước thứ ba. Cũng như việc các nhóm lãnh đạo
chủ chốt trong nước sẽ đặt câu hỏi về những gì chúng ta nhận được từ Bắc Kinh
trong quan hệ song phương để đổi lấy các nhượng bộ của chúng ta về vấn đề Đài
Loan, chắc chắn sẽ có những chất vấn về tiến trình "bình thường hóa"
nếu chúng ta không thể chỉ ra được sự hợp tác nhất định từ phía Tầu cộng
đối với các vấn đề quốc tế.
Kiến nghị:
Ngài nên sớm triệu tập một cuộc họp với chúng tôi để
thảo luận về các vấn đề được đề cập trong tài liệu này, cũng như đưa ra chỉ đạo
về cách thức triển khai công tác chuẩn bị cho chuyến đi tiền trạm của Ngài tới
Bắc Kinh.
1. Nguồn:
Thư viện Ford, Cố vấn An ninh Quốc gia, Ban Tham mưu NSC phụ trách các vấn đề
Đông Á và Thái Bình Dương, Hồ sơ Tham khảo, Hồ sơ Theo trình tự thời gian của
Solomon, Hộp 40, ngày 1–3 tháng 7 năm 1975. Tuyệt mật; Nhạy cảm; Hoàn toàn nằm
ngoài hệ thống thông thường. Được gửi đi để xử lý. Bản ghi nhớ được soạn thảo
trên giấy tờ của Hội đồng An ninh Quốc gia. Tất cả các phần nằm trong ngoặc
vuông đều có trong văn bản gốc.↩
2. Xem
chú thích số 3, Tài liệu 106.↩
3. Xem
Tài liệu 109.↩
4. Lời
thách thức của Goldwater là: "Nếu họ muốn thay đổi mối quan hệ của chúng
ta với Đài Bắc, thì như tôi đã nói với Tổng thống và Kissinger, họ sẽ phải đối
mặt với một cuộc chiến vô cùng cam go." Trích dẫn theo Lou Cannon, bài
"Goldwater cảnh báo Tổng thống không được từ bỏ Đài Loan" (Goldwater
Warns President Against Abandoning Taiwan), báo *The Washington Post*, ngày 15
tháng 4 năm 1975, trang A2.↩
5. Mục
A, "Thái độ hiện nay của Bắc Kinh đối với việc bình thường hóa quan hệ,"
được đính kèm nhưng không in ra trong tài liệu này.↩
6. Tuy
nhiên, ngày càng có nhiều sự không chắc chắn về sức khỏe thể chất cũng như vị
thế chính trị của cả Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Vẫn có những dấu hiệu cho thấy
mối quan hệ giữa Chủ tịch với các nhà lãnh đạo cấp cao khác, đặc biệt là trong
quân đội, có phần căng thẳng; tuy nhiên, kể từ khi trở lại Bắc Kinh vào giữa
tháng 4 sau mười tháng vắng mặt, Mao đã tiếp tục đóng vai trò tích cực rõ rệt
trong các công việc chính trị, chẳng hạn như việc tiếp đón các đoàn khách nước
ngoài. Đồng thời, sức khỏe của Chủ tịch (như thường lệ) dường như đang ngày
càng sa sút. Sức khỏe và vai trò của Chu Ân Lai cũng là những yếu tố chưa rõ
ràng. Chúng tôi thấy rất khó để đưa ra bất kỳ kết luận chắc chắn nào về tác động
của tình hình lãnh đạo hiện tại đối với quan hệ song phương giữa chúng ta và Bắc
Kinh, mặc dù chúng tôi có cảm nhận chung rằng vai trò của Mao và Chu đang dần mờ
nhạt. Các công việc thường nhật ngày càng được nắm giữ chắc chắn hơn bởi một
nhóm "người kế nhiệm" do Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình và Trương Xuân
Kiều (đại diện phía Đảng) lãnh đạo. Tuy nhiên, chúng tôi không thấy có bằng chứng
nào cho thấy Mao và Chu sẽ không tiếp tục gây ảnh hưởng đến các quyết định lớn
về chính sách đối ngoại, hay cho thấy đường lối đối ngoại mà họ theo đuổi trong
năm năm qua đang bị thay đổi. [Chú thích có trong văn bản gốc.]↩
7. Xem
danh mục chi tiết hơn về các lĩnh vực có thể đạt được thỏa thuận nhằm duy trì
hoặc mở rộng mối quan hệ tại Mục B. [Chú thích có trong văn bản gốc. Mục B,
“Danh mục các lĩnh vực có thể đạt được thỏa thuận song phương nhằm tăng cường
quan hệ Hoa Kỳ – CHND Trung Hoa,” được đính kèm nhưng không được in ra.]↩
8. Xem
Tài liệu số 8.↩
9. Mục
C, “Các vấn đề thực thi liên quan đến thỏa thuận bình thường hóa quan hệ,” được
đính kèm nhưng không được in ra.↩
10.
Không tìm thấy bản phân tích này.↩
11.
Xem Tài liệu số 98.↩
12.
Mục D, “Các cách tiếp cận về mặt khái niệm
để soạn thảo tuyên bố của Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa về an ninh của Đài Loan,” được
đính kèm nhưng không được in ra.↩
13.
Vào ngày 23 tháng 5, các nhân viên Hội đồng
An ninh Quốc gia (NSC) đã gửi cho Kissinger một bản ghi nhớ về việc cắt giảm lực
lượng Hoa Kỳ và hỗ trợ quân sự trong tương lai của Hoa Kỳ dành cho Đài Loan. (Bản
ghi nhớ từ Solomon, Granger và Froebe gửi Kissinger, ngày 23 tháng 5; Thư viện
Ford, Hồ sơ Thể chế NSC (H–Files), Hộp H–32, NSSM 212) [văn bản chưa được giải
mật] Bộ Quốc phòng cũng đã thực hiện một nghiên cứu về các phương án thay đổi
quy mô lực lượng Hoa Kỳ tại Đài Loan. (Bản ghi nhớ từ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng
William P. Clements gửi Scowcroft, ngày 20 tháng 11 năm 1974; Trung tâm Lưu trữ
Quốc gia Washington, Hồ sơ OASD/ISA: FRC 330–77–0063, Hộp 3, Trung Quốc (Cộng
hòa Trung Hoa), 1974, 0001–320.2)↩
14.
Tham chiếu đến các đoạn văn ở cuối tài liệu,
ngay trước phần Kiến nghị.↩
15.
Điện tín số 29717 gửi Bắc Kinh ngày 10
tháng 2 đã tóm tắt cuộc họp này. (Thư viện Ford, Cố vấn An ninh Quốc gia, Hồ sơ
Quốc gia của Tổng thống, Đông Á, Hộp 14, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, điện tín
của Bộ Ngoại giao từ SECSTATE–NODIS (5))↩
16.
Xem Tài liệu số 90.↩
17.
Không được in ra. Xem chú thích 13 ở trên.↩
18.
Những bình luận của Đặng Tiểu Bình vào
ngày 2 tháng 6 với các biên tập viên báo chí Mỹ đã góp phần làm giảm bớt kỳ vọng
rằng chuyến đi sẽ mang lại kết quả lớn. Chúng tôi tin rằng Đặng đưa ra những nhận
định này chính vì các nhà lãnh đạo CHND Trung Hoa lo ngại Tổng thống có thể hủy
bỏ chuyến đi. Họ nhận thức rõ những áp lực mà Tổng thống đang đối mặt, khiến việc
tạo ra thêm những thay đổi trong mối quan hệ trở nên khó khăn. (Cách lý giải
này được củng cố bởi các báo cáo bổ sung từ CAS.) Chúng tôi cũng nhận được các
dấu hiệu gần đây cho thấy giới chức Trung Quốc tại Văn phòng Liên lạc CHND
Trung Hoa (PRCLO) và Hồng Kông vẫn duy trì thái độ cởi mở của Đặng về vấn đề tiến
triển trong quan hệ với Đài Loan, cũng như mong muốn Tổng thống thực hiện chuyến
thăm bất kể hoàn cảnh nào. [Chú thích có trong văn bản gốc.]↩
19.
Xem chú thích 7, Tài liệu 60.↩
20.
Xem Tài liệu 103.↩
21.
Vào ngày 20 tháng 3, Habib thông báo với
Hàn Tự rằng Hoa Kỳ “không thể cho phép chuyến lưu diễn [của một đoàn nghệ thuật
CHND Trung Hoa] diễn ra chừng nào bài hát về việc [giải phóng] Đài Loan vẫn còn
trong chương trình biểu diễn.” (Biên bản ghi chép cuộc trao đổi, ngày 20 tháng
3; Thư viện Ford, Hồ sơ Văn phòng Cố vấn An ninh Quốc gia - Cánh Tây,
1974–1977, Hộp 5, Các hoạt động trao đổi với Trung Quốc, không đánh số,
13/3/75–27/3/75) Kết quả là chuyến lưu diễn đã bị hủy bỏ. Xem bài “U.S. Bars
Chinese Troupe” (Mỹ ngăn đoàn nghệ thuật Trung Quốc), báo *The Washington
Post*, ngày 28 tháng 3 năm 1975, trang A1.↩
Historical Documents -
Office of the Historian
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/sources
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/comp1
Move Toward Normalization of
Relations, October 1974–July 1975 (Documents 88–116)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/ch3
1.
Document 112
Foreign
Relations of the United States, 1969–1976, Volume XVIII, China, 1973–1976
112. Memorandum From the Assistant
Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs (Habib), the Deputy Assistant Secretary of
State for East Asian and Pacific Affairs (Gleysteen), the Director of the Policy Planning Staff (Lord), and Richard H. Solomon of the National Security Council
Staff to Secretary of State Kissinger1
Washington,
July 3, 1975.
SUBJECT
· U.S.–PRC Relations and Approaches to
the President’s Peking Trip: Tasks for the Rest of 1975
Our China policy at present straddles
two very contradictory trends: In one direction we are postured toward the
objective established by the Shanghai Communiqué. The President, in his April
10 speech to the Congress, reaffirmed his interest in visiting Peking later
this year in order to “accelerate” the normalization of relations.2 In your May 9 session with Huang Chen
you raised questions about the timing and agenda of the Presidential trip, and
expressed interest in Peking’s views on these issues.3 Thus, publicly and privately we have
sustained the expectation both for Chinese leaders and our own public that
there is still momentum in the normalization process.
In the other direction, however, there
are domestic and international political forces enhanced by events in
Indochina, and sustained by developments elsewhere abroad, which raise new
obstacles to change in our relationship with the Republic of China on Taiwan.
Senator Goldwater’s public challenge to the Administration at the time of the
Chiang Kai-shek funeral4 is but the most visible indicator of
a range of pressures on the President to avoid or delay the modification of our
legal and security relations with Taiwan which are at the heart of
“normalization” with Peking. As a reflection of these pressures, the President
has now publicly (if inadvertently) reaffirmed our commitments to Taipei, and
you have stated both privately (to the Japanese Foreign [Page 676]Minister) and publicly (in U.S.
News and World Report) that the President’s trip to Peking will not
necessarily lead to full normalization.
Underlying these contradictory trends,
of course, is the continuing importance to the U.S. of normalization with the
PRC for the longer term restructuring of great power political and military
relationships. This objective is now in conflict, however, with the immediate
need to reassure key allies (and warn possible adversaries) in the wake of our
Indochina setbacks. It is further complicated by the domestic political factors
the President must consider as he faces re-election in 1976.
This memorandum seeks to give you a
sense of several very different ways we might proceed in our relationship with
Peking during the remainder of this year. We assume that the actual decisions
the President will make on China policy this fall will be shaped by a
combination of international developments during the next several months
(particularly those associated with Middle Eastern diplomacy and
Soviet-American relations) and his own judgment about the impact of possible
further moves with Peking on both his foreign policy and domestic political
future.
In order to give you a range of
approaches to our dealings with the PRC during the remainder of 1975, we
explore in the following sections of this paper the problems and issues
associated with three ways of handling the Peking summit:
- —An indefinite postponement.
- —A “sustaining” visit.
- —Full normalization.
•
In addition, we review the issues which must be addressed
if you wish to at least explore with Chinese leaders the terms for a
comprehensive normalization agreement.
•
We summarize the tasks which remain for this year in our
dealing with the PRC irrespective of the type of summit you and the President
wish to organize.
•
We suggest some problem areas and themes relating to our
official dialogue with the Chinese, and their relationship to your forthcoming
discussions in Peking.
•
In an appendix (Tab A) we review the PRC’s
current orientation toward the normalization process.5
Our own judgment is not that there should be
“normalization at any price,” but that long-term American foreign policy
interests will be served by a consolidation of our present, if limited,
relationship with Peking, and that we can avoid future problems with the
PRC at a relatively low price as well as posture ourselves in Asia favorably
for the [Page 677]future if an acceptable normalization
deal can be worked out now. We believe that at minimum there are important
reasons for making a serious attempt to explore with senior PRC leaders the
terms for a comprehensive agreement on full normalization, even though the
President will ultimately have to decide how far he can go. The Chinese—in the
wake of Indochina developments—appear to be more anxious than ever to have a
visible relationship with the U.S. for security reasons. Thus, they probably
are as likely as they may ever be to accommodate our political needs; and while
Mao and Chou still live there is the authority in Peking to strike a deal and
implement it. The exact degree of Chinese flexibility on the most sensitive
issue of Taiwan’s future security, however, will only be known through direct
negotiations.
At the same time, senior PRC leaders in recent days have
publicly indicated that they will accept a Presidential visit which does not
lead to full normalization. This gives us greater flexibility in planning for
the President’s trip, although there remain risks (primarily in China’s
domestic political process) in trying to sustain our relationship with Peking
at its present level for several more years. Thus, we believe that if you can
get substantial assurances from the Chinese on the Taiwan security question,
and if other political and economic elements of a package agreement on
normalization are positive, that our interests will be served by consummating a
deal in association with the President’s trip.
Three Approaches to the Peking Summit:
Indefinite Postponement; a Sustaining Visit; or Full Normalization
We assume, without a review of all the arguments, that it
is still a basic American foreign policy commitment to work toward the full
normalization of U.S.–PRC relations, and to complete the process in as short a
period of time as is politically feasible. The questions which remain are the
precise terms for a normalization agreement, and the timing of their
realization.
We also assume (as you indicated to Huang Chen on May 9)
that whatever type of a Presidential trip you wish to organize will be preceded
by an advance visit by yourself to negotiate the political issues. This advance
could be scheduled either before or after the Brezhnev summit, although we feel
there are political advantages to such a trip beforehand. A visit to Peking
sometime after your July meeting with Gromyko (in August, or the second half of
September) would presumably build additional heat on the Soviets in advance of
the Brezhnev visit; and while the Chinese might be inclined to be less
forthcoming on terms for normalization as a price for being played so obviously
against the Russians, they would be concerned that a stalling of the U.S.–PRC
relationship would incline us toward a closer relationship with Moscow.
From another perspective, Chinese uncertainty about the
exact outcome of the Soviet summit (as will be the case prior to Brezhnev’s
visit to Washington) could provide a better context for your discussions in
Peking than a post-summit situation where we might appear to PRC leaders to
have moved toward greater “collusion” with Moscow. All the same, however, it
can be argued that even substantial movement in Soviet-American relations will
just motivate Peking to want to “keep up” with us rather than back away (as
appeared to be the case last November after the Vladivostok summit meeting).
Our summary judgment of these considerations is that an
advance visit to Peking by yourself before the Brezhnev summit would be most
useful and timely. If you were to go to Peking in October or early November
there would be the additional disadvantages of having minimal lead time before
the President’s visit to permit technical planning and preparations related to
possible political developments. Such a late advance might force a delay in the
President’s trip until December or the early winter of 1976.
Indefinite Postponement of the Peking
Summit
Inasmuch as we now have a fairly clear sense of the likely
elements of a normalization agreement, you and the President may decide that
the time is not ripe to consummate a fully normalized relationship with Peking,
and that as a consequence the PRC summit should be postponed indefinitely. Such
a determination presumably would be crystallized by the discussions you will
hold during your advance trip, although if you do not wish to formalize the
Chinese or American negotiation positions you might work out a postponement
indirectly through contacts with the PRC Liaison Office.
The impact of an indefinite postponement of the
Presidential trip would be substantial on both the future of the U.S.–PRC
relationship and on our other international dealings. A major source of
pressure on the Soviet Union would be called into question (although this might
be of lessened short-term importance in the wake of a successful Brezhnev
summit), and there would be a general sense abroad that the U.S.–PRC
relationship was stalling out. Indeed, we assume that a decision on our part to
postpone the President’s trip to Peking would effectively freeze any
substantial movement in the relationship until after the elections in the fall
of 1976, presumably well into 1977.
In such circumstances, while the leaders in Peking that we
have been dealing with will—by all currently available evidence—seek to sustain
the relationship in its present form, we would be gambling that a number of
developments would not occur which could close off the prospects of attaining a
stable, fully normalized relationship with the PRC: Mao and/or Chou are quite
likely to die in the next two or three [Page 679]years. As a result there could well be
a diffusion of the policy consensus and leadership coalition which now gives
Peking’s politics a coherence unknown for two decades.6 Pressures which we have seen
reflected in PRC media for a moderated policy toward the Soviet Union—a line
which seems to emanate from the military—might find expression in a succession
struggle. And the possibility of a change of Administration in Washington after
1976 could confront Peking with a new cast of characters they might well view
without sympathy, and with whom they would have to build a dialogue de novo.
In short, delay risks the intervention of political forces
which could substantially complicate efforts to normalize—a consideration which
of course has to be weighed against the factors on the other side of the
equation which should continue to make it in the national interests of both the
PRC and U.S. to complete the process which you and President Nixon, Chairman
Mao and Premier Chou initiated in 1970.
Based on the above considerations, we frankly assume that
indefinite postponement of the Presidential trip is a non-option. The political
rationale which led to the onset of the normalization process still holds true;
and despite some cooling of the atmospherics in our dealings with the Chinese,
the importance of a stable U.S.–PRC relationship for the larger structure of
the Administration’s foreign policy would make the virtual termination of the
political dialogue with Peking and the elimination of even the optical aspects
of our relationship more costly than, for example, a cosmetic Presidential
trip. Furthermore, the Chinese are now signalling to us—in Teng Hsiao-p’ing’s
remarks to a group of American newspaper editors in early June, and in other
official guidance which reaches us via CAS reporting—that they want the
Presidential visit to be held whether or not it leads to full normalization.
A “Sustaining” Summit
If you and the President were to decide that Peking’s terms
for normalization are politically unacceptable, but that you wish to sustain a
visible relationship with the Chinese, we believe that Peking would see its own
interests served by an optical summit meeting which did not produce a major
breakthrough to establishment of diplomatic relations. As senior Chinese
leaders have repeatedly told you, while they wish to move on the Taiwan
question, they are prepared to wait if the U.S. “needs Taiwan.” The world press
carried Teng Hsiao-p’ing’s comment on June 3 that President Ford will be
welcome in China even if there are no agreements on any major questions between
the two countries [i.e., Taiwan].
We do not even totally rule out the interpretation that PRC
leaders may not want to move on normalization at this time, either
because they know our price is unacceptable to them in terms of their domestic
politics or because they do not wish to induce further political changes in
their region in the wake of Indochina developments which would give the Soviets
additional openings that China might have to counter with limited assets. At
least one can say that the present state of U.S.–PRC relations, and the
American “holding” position on Taiwan, represent an acceptable minimum position
in terms of PRC interests at this time.
We see two problems, however, with a cosmetic summit
meeting designed just to sustain our relationship with Peking at its present
level—each related to problems of constructing a meaningful agenda. There will
be problems in formulating a significant outcome short of full normalization
which would clearly justify a second Presidential visit to Peking. A trip
merely to “exchange views on issues of common concern” could be criticized in
the press as unworthy of the occupation of so much of Mr. Ford’s time and an
unnecessary commitment of Presidential prestige to a second visit to the
Chinese capital. It would encourage cynicism about the U.S.–PRC relationship.
What agreements might we reach with Peking short of full
normalization which would justify to our public a second Presidential trip?
Thus far the Chinese have been unwilling to move with us on certain economic
and exchange issues (solution of the claims/assets problem, or a more active
cultural exchange relationship) in the absence of progress on the key political
issue of Taiwan. The Chinese would have to re-evaluate this posture and be
willing to show more flexibility in solving secondary issues than they have
done to date. Thus, we might seek a final resolution of the claims/assets
problem. Maritime or air transport agreements, or a governmental trade
agreement, might be worked out “in principle” (although considerable time will
be needed to negotiate the details of such arrangements). Or certain visible [Page 681]cultural programs might be worked out,
such as exchange of students or permanent press representation. In return, we
might “give” Peking virtually full withdrawal of our military presence from the
island (except for a residual intelligence and liaison cadre of a few hundred
men), or a reduction of the level of our diplomatic representation.7
Based on Peking’s position up to now, however, we have
limited expectation that the Chinese will agree to further increments of the
above sort without some fairly specific commitments to progress on the Taiwan
issue. The problem the President faces, of course, is that any commitment he
might make on the political issues really requires implementation in
conjunction with his trip to Peking or its immediate aftermath. It will be
difficult, for domestic political reasons, to reveal or institute substantial
changes in our relationship with Taiwan during the 1976 campaign season; and
the President presumably would not want to offer (and the Chinese would
probably not accept) a political deal which is contingent upon his
re-election—or left to the discretion of his successor.
A related agenda problem is reaction on the PRC side to a
second summit meeting that does not solve the Taiwan question. Even though we
believe senior PRC leaders wish to have a Presidential visit which may not
produce a breakthrough, they may be faced with growing domestic pressures for
some visible benefit to China from the Washington connection. A case can be
made from a Chinese perspective that Peking has made all the compromises thus
far while receiving little in return. Not only has Taiwan not been “liberated,”
but the U.S. has a new senior Ambassador there and the ROC has two additional
consulates in the U.S. Trade is substantially in America’s favor, is weakening
China’s “self-reliance,” and is inducing PRC scientists to “worship foreign
things.” The cultural exchange program is exposing Chinese intellectuals to
disturbing foreign ideas; while the American journalists and intellectuals who
visit the PRC return to the U.S. to publicly criticize what they see in China,
especially domestic political problems.
While the above sort of argument can be overdrawn, there is
good evidence from CAS reporting that our bilateral contacts with the PRC have
generated the above sorts of criticism, especially from China’s political left.
The argument that China increases her security against the Soviets by dealing
with the U.S. is a very sophisticated rationalization accepted by a limited
few. Indeed, China’s military seems to be [Page 682]a continuing source of pressure for a
less hostile attitude toward the Russians (although we have no direct evidence
of their opposition to dealings with the U.S.).
Given these considerations, the strategy of a “sustaining”
agenda should be to include developments which will enable PRC leaders to hold
the commitment of the “left” and military to our present relationship.
Unilateral security actions we might take (such as further troop reductions
from Taiwan), or proposals in such areas as technology transfer or military
cooperation which would enhance PRC defenses, will be helpful in minimizing
resistance to the relationship from the Chinese military. Unfortunately some of
the things we need in order to cope with conservative American opinion, such as
future sales of military equipment to Taiwan, will probably antagonize the PLA.
Similarly, the kinds of cultural and scientific exchanges which will hold the
interest of our intellectuals and journalists in the China relationship are
exactly the programs which are seen as threatening by China’s political
radicals. Such contradictory factors will have to be balanced out in almost any
trip agenda, but particularly in one which seeks to sustain the U.S.–PRC relationship
in its present, semi-consummated condition.
A Normalization Summit
We believe that despite certain signs of a hardening in
Peking’s foreign policy orientation (such as increasing unwillingness to be
cooperative with us on certain third country issues, their pressuring Japan on
terms for a peace treaty, and somewhat more visible support for certain Maoist
insurgent movements abroad) that the Chinese continue to see U.S.–PRC
normalization as in their own interest. Developments in Indochina have
sharpened PRC concerns about the Soviets having new political openings on their
periphery; and we interpret the heightened visibility of Chinese support for
North Korea and the new government in Cambodia as an effort to preempt Soviet
access by presenting themselves to these and other countries in the region as a
more reliable political ally than the Soviet Union. CAS reporting in recent
weeks has revealed active concern among Chinese officials that President Ford
might cancel his trip to Peking. Evaluated solely from the perspective of
Peking’s mood, the current context may be as favorable as we may have for some
time (in terms of the motivation of the Chinese leadership, and the state of
the PRC political system) for a move to full normalization.
If there is one crucial point of concern in Peking about
their dealings with us, it is uncertainty about how far we will go with Moscow,
and new doubts about how actively we can and will work to counter the Soviet
presence in their region. While the Chinese will not be in a position to
pressure us on our dealings with Moscow as they are now [Page 683]attempting to do with the Japanese,
there is no question that developments in Soviet-American relations in the
coming months will be a major factor affecting the mood of the Peking summit.
The Chinese cannot demand that we give up “détente” as a
price for normalization with them; but to the degree that we appear to be
casting our dealings with the PRC solely in terms of our Soviet policy, we will
heighten their fears about being exposed on security and political issues by
their relationship with us. As Chou En-lai indicated to you as early as
February, 1973, there are high-level concerns in Peking that we are dealing
with them merely to get at the Soviets “by standing on China’s shoulders.”8
The implication of the above line of reasoning for the
President’s trip is that our approach to resolving the Taiwan question and
finding terms for a fully normalized relationship—along with the outcome of the
Brezhnev summit—will be an important test for the Chinese of how seriously we
take our relationship with them. If we are correct in the assumption that the
Chinese see normalization as much in their interest as ever, the effort to
negotiate an agreement on your next advance trip should expose their maximum
degree of flexibility, especially on the issue of Taiwan’s security. Even if
you are unable to achieve terms acceptable to the President, you will at least
have put on the record for discussion at some future time as accommodating a
position as the Chinese are likely to find acceptable. Moreover, we will be
able to say to our own people (as well as to the Chinese) that we made a
determined effort to reach agreement, and that we expect peaceful assurances on
the Taiwan question before any future normalization deal can be made. In sum,
we believe a serious effort should be made now to determine if agreement is
possible.
Where do we now stand on the specific issues which must be
addressed in negotiating a package normalization deal? Without reviewing in
detail all the elements of such an agreement (which are discussed in the
October, 1974 analysis, at Tab C),9 following are the major points which
remain at issue:
· —Recognizing the PRC as the “sole
legal government”of China, exchanging ambassadors, and upgrading our
liaison offices to embassies. These developments will require working out
arrangements to the following associated problems:
•
Agreeing with Peking on some verbal formula by which we go
beyond the Shanghai Communiqué statement that the U.S. “does not [Page 684]challenge” the assertion of “all Chinese on either side of
the Taiwan Strait” that Taiwan is part of China to a more direct formulation implying or
expressing support for the principle of the unity of China. This could be an indirect approach stressing continuity
with past American policy by reaffirming our commitment that Taiwan be returned
to Chinese control as was expressed in the Cairo and Potsdam declarations, or
it could draw on the precedents of other recent recognition formulas in which
various states have “taken note of,” “acknowledged,” “recognized” or expressed
“understanding and respect for” Peking’s assertion that Taiwan is an
inalienable part of China. (Our specific position on this issue might be linked
in negotiations to the degree of Peking’s assurances on the future security of
the island.)
•
We will have to develop an understanding with Peking about a
residual (official or semi-official) presence on the island
to replace the withdrawal of our embassy. Peking has now rejected the notion of
such a presence being called a “liaison office” or a consulate. We will
presumably have to find some new verbal formulation (possibilities range from a
broad formulation such as a “U.S. Representative’s Office” or “Sino-American
relations society” to a more narrowly conceived “trade office”) and
institutional arrangements which will make it possible for seconded State
Department and other governmental personnel to handle our contacts with the
authorities on Taiwan.
Undoubtedly Peking would prefer that our remnant presence
in Taipei be formally unofficial—on the Japanese pattern. Such an arrangement,
however, will be undesirable with regard to its impact on Taiwan and here at
home. Furthermore, a preliminary analysis of such a non-governmental
arrangement indicates there would be significant problems related to USG
funding, the handling of consular matters, and management of a military sales program,
if our Taipei embassy operation were to be taken over by a private American
association. In addition, unless we maintain a government consulate in Taipei
(by whatever name), the need for Congressional legislation to enable us to fund
and conduct USG business through a private association would open up the
Administration to the complicating political effects of legislators on the Hill
shaping the process of institutionalizing a normalized China policy. These
aspects of the situation are being thought through in a separate analysis which
will give you options on how to retain a USG presence in Taipei.10
•
We will have to negotiate with Peking an understanding that
the U.S. will maintain its present
economic and social ties to the island,
including the ability to sustain investment in the island’s economy and [Page 685]physical access to Taiwan via air and sea communications.
(In this regard, the playing out of the negotiations between Peking and Tokyo
in 1973 on Japan’s air service with the PRC, in which the Japanese
acceded to the Chinese demand that they cease treating the Republic of China’s
flag airlines as a national airline, has set a difficult precedent for Taipei,
and for us.)
· —The future security of Taiwanremains
the core issue to be negotiated. The Chinese may ask us for an explicit, public
declaration that we are abrogating the U.S.–ROC Mutual Defense Treaty. They
also will probably want a constricting limit—and perhaps a rapid cut-off—in
sales of American arms to the island. (Their counter concern will be that
too-rapid a removal of the entire American security relationship with Taiwan
might stimulate the ROC to turn elsewhere for weapons and political support.
CAS reporting indicates that PRC officials see such a possibility enhanced now
that Chiang Kai-shek has passed from the scene.) Chinese leaders also have not
encouraged us to believe that they might make a public commitment of some sort
expressing the intention to “liberate” the island by peaceful means only. Not
only has Teng Hsiao-p’ing repeatedly emphasized to you privately that the PRC
will permit no foreign interference in the process of Taiwan’s eventual
reincorporation into the mainland, but in his June 2 interview with American
editors he implied that force might have to be used, “as in removing dust from
a floor with the aid of a broom” (a Mao quote). While past public and private
statements to you by Chou En-lai suggest some hope for a Chinese statement of
peaceful intentions regarding Taiwan, we are not overly optimistic that an acceptable
unilateral formulation will be forthcoming.
State Department lawyers, in contrast, have urged that you
seek from Peking a joint statement expressing a mutual commitment not to use
force in settling the Taiwan question. Such a statement, they say, would at
least enable us to plausibly claim that the U.S. retained a legal basis for
assisting Taiwan in its defense if it were ever attacked from the mainland. We
have no expectation, however, that Peking would agree to such a joint
statement; indeed, the Chinese would very likely see a proposal for such an
arrangement as a provocation or an unacceptable demand designed to stall
negotiations. Other proposals for dealing with the security question (which we
have not explored as they seem impractical) include an agreement between the
U.S. and PRC to treat Taiwan and the Strait as a demilitarized zone, or to
encourage Peking and Taipei to negotiate a mutual renunciation-of-force
agreement.
Your own approach to this problem, since you first raised
the idea during your October, 1971 trip to Peking, has been to seek from Peking
a unilateral and general statement of intention—presumably to be included in a
normalization communiqué—expressing the willingness to [Page 686]strive for a peaceful settlement of
the Taiwan question. Last fall you had us draft parallel, unilateral American
statements (which could be either included “back-to-back” with a Chinese
statement in a communiqué, issued separately in a press conference, or embodied
in a Congressional resolution) expressing a residual interest in Taiwan’s
security, the desire that the island’s future be resolved peacefully, and
perhaps linking the maintenance of our fully normal relationship with Peking to
the assumption that force will not be used against Taiwan.
Teng Hsiao-p’ing hinted to you on the last day of your
November, 1974 talks that he assumes he will be discussing some arrangement of
this type with you at a later date.11 Exactly how far Peking will go in
this direction will not be known in the absence of direct negotiations. We
believe you should negotiate for a unilateral statement by Peking expressing
the idea that the PRC does not contemplate the use of force in resolving the
Taiwan question. We assume that we will have to accept language which
qualifies the circumstances under which Peking would exercise restraint (see
suggestive alternative formulations which were drafted for your November, 1974
trip, at Tab D).12 We also assume we will parallel
Peking’s statement with a unilateral statement of our own, as is noted above.
A less favorable alternative would be a statement by Peking
which merely expresses the “hope for” and a willingness to strive for a
peaceful settlement of the Taiwan issue. A further fall-back would be a
statement from the PRC side expressing a willingness to exercise patience and
restraint in seeking settlement of the island’s future (see alternative
formulations at Tab D).
We assume that the exact content of the parallel,
unilateral statements which we and Peking might make about the future security
of Taiwan will be linked in the negotiating process to agreement on a residual
program of sales of American military equipment to the island (i.e., the more
forthcoming a statement from the Chinese, the more limited our sales program
might be). As noted above, the PRC will probably see its own interests served
by having a gradual trail-off in U.S. arms sales; but you may wish to relate an
understanding with Peking about the level and duration of such sales to the
specific language of restraint that the PRC is willing to agree to, as part of
a package agreement on normalization.
(An additional aspect of the modification of our security
relationship with Taiwan will be further withdrawals of our residual military [Page 687](and intelligence) presence on the
island. While this will not be an issue you would negotiate with Peking,
it will constitute one element of your discussions with PRC leaders. As such,
further troop withdrawals directly relate to the consummation of a
normalization agreement. You have been sent, via NSC channels, two options
papers on reduction schedules for our remaining troop and signal intelligence
presence on the island, and a residual program of military sales.)13
—Thus far in your approach to a normalization agreement,
you have not linked third-country issues to consummation of the process—except
for the matter of troop withdrawals from Taiwan being related to “reduction of
tensions in the area.” For reasons that we detail on pages 25 and 26 below, you
may want to consider relating increased PRC cooperation on issues like Korea to
the evolution of a fully normal bilateral relationship.14
If the above issues are the key bilateral questions to be
resolved through negotiation, it must be said that at this point in the
evolution of your discussions with PRC leaders the room for maneuver on a
normalization agreement does not seem great. If there is to be full
normalization, we will have to recognize Peking as the sole legal government of
China, and imply or express in some verbal formulation acceptance of the view
that Taiwan is part of China. We will maintain some type of
“private-but-governmental” office in Taipei staffed by seconded State
Department personnel, and—on the Japanese pattern—we will maintain our trade
and social contact with the island. At the time of normalization we will
indicate tacitly or explicitly that the U.S.–ROC Mutual Defense Treaty is no
longer operative, but that the end of this formal relationship will be
compensated for by a Chinese statement of peaceful intent, by our own
unilateral expression of concern (perhaps expressed in a Congressional
resolution) for the future security of Taiwan and the expectation that its
differences with the mainland will be resolved peacefully, and by a residual
program of American arms sales to the island.
[If Peking proves unwilling to agree to any package
of arrangements relating to the future security of Taiwan (including such
elements as parallel public statements, a residual American arms supply [Page 688]arrangement, and a paced withdrawal of
our remaining military presence) it seems likely that the President would find
it impossible to reach a normalization agreement. Indeed, we would recommend
against a deal on such a basis.]
We will have to answer those who criticize a normalization
agreement on the grounds that we denied the people of Taiwan the option of
self-determination with the argument that self-determination has never been an
element at issue in America’s China policy, and that those Taiwanese
intellectuals who have advocated independence (primarily as residents of the
U.S. or Japan) have been unable to evoke a substantial response from the people
or authorities on the island.
For those who would criticize normalization on the grounds
of our having sold out an old ally, we will have to respond that even our
recently deceased “old ally” maintained that Taiwan was part of China, and that
our national interests require recognizing—belatedly in comparison with the
rest of the world—the enduring reality of Peking’s control over the
preponderance of Chinese territory. We will point to those aspects of the Asian
political and military balance which are likely to stay Peking’s hand from a
direct military effort to gain control over the island, and mention our
continuing economic ties and program of military sales as a way of helping to
preserve for Taiwan the reality of its present status. And we will presumably
have a sufficiently direct statement of peaceful intent from Peking to reaffirm
our own concern that the people of the island be able to work out in a peaceful
manner the nature of their future relations with the mainland.
And for some, there will be the question of what, if
anything, the U.S. has gained from Peking in return for normalizing on the
PRC’s terms. This is a question that can only be answered in terms of the
strategic value to us of a non-confrontation posture with the PRC, the impetus
it has given the diplomacy of “détente” with the Soviets, and the long-term
benefits to the U.S. of having eliminated one front of the Cold War battle
lines of the 1950s and ’60s. (One additional reason for seeking greater PRC cooperation
on third-country issues, of course, is to be able to justify normalization on
broader international grounds than just gaining leverage over the Soviets.)
Tasks for the Remainder of 1975
In view of the above discussion and analysis, the following
tasks remain for 1975 if you are to at least explore with PRC leaders the
possibilities for further steps toward a fully normalized relationship:
· —Preparing a negotiating package.
If you will give us guidance on your preferred approaches to further
negotiations with the Chinese on the question of normalization, we will prepare
a negotiating package for use during your advance trip to Peking later in the
year. In addition to the bilateral questions which must be considered in such a
package, [Page 689]there is the related issue of how you
might wish to coordinate negotiations with the PRC with the evolution of our
contacts with the Soviets during the year—specifically whether you want to
schedule an advance trip to Peking before or after the Brezhnev summit. As
well, there is the question of whether you want to begin to link [lack of]PRC
cooperation on third-country issues (such as Korea) and perhaps international
questions (food, energy, etc.) to further steps in our bilateral relations.
· —Planning further force withdrawals
from Taiwan. On February 8, Mr. Habib informed PRCLO that by mid-1975 we
will have drawn down our military manpower level on Taiwan to about 2,800 men,
put Taiwan airbase on caretaker status by mid-year and Ching Chuan Kang airbase
on caretaker status by the end of the year. the PRC was also told that they
would be informed later about an even lower manpower level to be reached by the
end of 1975.15
Two major inter-agency studies
relating to the U.S. military manpower presence on Taiwan and our military
sales program have just been completed and sent to you and the President for
decision via NSC channels. the NSSM 212 response provides you options on
general policy guidelines for future sales of military equipment to—and U.S.
force levels in—the ROC.16 The second study is an Intelligence
Community staff analysis of our signal intelligence presence on Taiwan (which
is oriented largely toward the PRC). This study presents options for further
reduction of the approximately 715 military SIGINT personnel who will remain on
the island after July 1975.17
· —Preparing our public. Thus far
our relations with Peking have evolved with the government shaping public
opinion through various official initiatives. You or the President have acted;
the public has responded—with a substantial degree of support. We are now at a
point in the evolution of U.S.–PRC relations, however, where difficult
decisions are less likely to evoke a generally favorable public response. If
there is progress toward a fully normalized relationship, certain issues
(particularly those related to Taiwan) are likely to provoke a negative
reaction from some members of Congress, the media, and private citizens. And if
there is no progress, there are likely to be questions about why not. “Why has
the relationship stalled” may become an issue in the 1976 campaign.
The PRC in recent months has initiated
more active efforts to shape opinion on the normalization question. These
include the encouragement and covert funding of the “U.S.–China People’s
Friendship [Page 690]Association” to tout PRC political
views, cultivation of the Chinese-American community through the cultural
exchange program and trips to the PRC, and various efforts to stimulate
sympathetic Congressmen and the American press on the normalization issue. The
Nationalist Chinese, for opposite reasons, have similarly sought to project
their views on the growing U.S.–PRC connection in the Congress and the media.
In the early months of this year Taipei’s diplomats embarked on an active
effort to convince important opinion groups in the U.S. that normalization has
proceeded as far as necessary to serve American interests, particularly by
calling on the support of influential Americans like Senator Goldwater. Since the
Gimo’s passing ROC public relations efforts have flagged, but we can anticipate
more activity as the President’s trip to Peking approaches.
The question we now face is how to try
to shape with greater purpose from the Administration’s perspective public
attitudes on the remaining issues associated with U.S.–PRC normalization.
There is a basic problem to such an
effort. Until you have made your advance trip to Peking and sounded out PRC
leaders on the prospects for an agreement, it is obviously in our interest to
prevent the build-up of a positive mood of anticipation about the Ford trip.18 This would only constrain your room
for maneuver in negotiations with Peking, and might also mobilize groups
hostile to further progress. At present we should project an attitude of “we
would like to see further progress, but we have significant problems which have
to be resolved—and which will require PRC accommodation—before further progress
can be made.”
Depending on the results of your
advance trip, our public relations effort could go in several directions: If
you see a strong possibility of full normalization associated with the
President’s trip, you will have to build support for the terms of an agreement
with the Congress (which may have to assist by passing a supporting resolution,
or enabling legislation as we move to a “private” relationship with Taiwan) and
prepare public opinion for anticipated developments. If your advance trip
implies limited prospect for further progress, or perhaps a postponing of the
President’s trip, we will be faced with the task of explaining [Page 691]to the Congress and public why the
relationship has “stabilized” at its present level.
At this point we will not go any
further into the public relations aspects of our dealings with Peking other
than to flag the issue as one which will have to be considered in greater
detail as the year progresses.
· —Preparing Taiwan for normalization.
Should the results of your advance trip imply strong prospects for a
normalization agreement, there will also be the need to begin more active
measures to prepare the authorities on Taiwan for the further evolution of our
relations with both Taipei and Peking. There is obviously some danger in giving
ROC authorities the kind of advance notification which might enable them to
work against further progress with the PRC. At the same time, there are dangers
in being totally passive about preparing the leadership in Taipei for moves on
our part which will affect their basic interests (although they clearly
anticipate that sooner or later we will recognize Peking and break with them).
The recent passing of Chiang Kai-shek
has removed one major constraining, and stabilizing, factor which has held
Taiwan to a “one China” course for more than a quarter-century. There is no
evidence as yet that the elder Chiang’s death has destabilized the situation on
the island, or is inclining the Nationalists in some other direction. But as
Peking, Taipei, and Washington adjust their policies to the new political and
international context in the months ahead, we should be sensitive to new
possibilities in the Taiwan factor, and seek to actively influence the
evolution of the island’s policies consonant with America’s larger interests.
(We are now preparing a separate paper for you on the Taiwan situation.)
· —Preparing Japan. While the
Japanese, at some level of perception, assume we will eventually normalize with
Peking, there still lingers the hope (particularly in the business community,
and among Foreign Ministry officials) that the U.S. will sustain its present
“two China” position. Our enduring relations with Taiwan give the Japanese a
sense that their interests on the island are protected; and the measured pace
of our diplomacy with Peking has given Tokyo greater freedom of action in
dealings with the Chinese. Should we recognize Peking this fall, for example,
the Japanese would feel under greater pressure to conclude a peace and
friendship treaty with the PRC on Peking’s “antihegemony” terms.
For these reasons, as well as to avoid
recriminations on the basis that the U.S. never learned the lessons of the
first “Nixon shocks,” we should make an effort to at least inform the Japanese
in good time of any further developments in our relations with the PRC.
· —Preparing the PRC. While your
advance trip to Peking will be the primary vehicle for developing the basis for
further developments in U.S.–PRC relations, you may also want to take certain
unilateral steps in advance of the President’s trip to generate an appropriate
mood in Peking. These might include symbolic measures (such as having the
President, or yourself, give a major speech on China in the fall, or having Mr.
Ford receive at the White House the major PRC trade and scientific delegations
which will visit Washington in September), or certain unilateral actions such
as communicating to Peking further U.S. troop reductions from Taiwan, or
perhaps an initiative in the economic area.
Some Final Thoughts on a Negotiating
Posture
By way of conclusion, let us suggest several problem areas
relating to the pace and orientation of our negotiations with Peking on the
normalization issue which could significantly affect the future evolution of
U.S.–PRC relations:
· —To Move or Not to Move to Full
Normalization?As noted in the above analysis, the short-run costs of moving
to establish diplomatic relations with Peking are substantial for the
President, particularly in the wake of developments in Indochina and in the
context of the approaching 1976 election campaign. All the same, we remain
convinced that there are strong reasons for attempting to negotiate a
normalization agreement within the coming five months which would help to
stabilize a non-confrontation relationship with PRC. Without reviewing all of
the arguments about the long-term value to us of such a development, we would
like to emphasize three arguments for such an effort:
o
First, by following
through on the diplomatic momentum we have established since 1971 we would
complete normalization at our own initiativeand on the basis of a
relatively cooperative relationship with Peking. If we let this momentum lapse,
however, our relations with the PRC could deteriorate as internal pressures in
Peking about being strung along by the Americans intensify. This could then
mean that Peking would revert to pressure tactics to get us out of Taiwan and
recognize the PRC as the sole legal government of China. Obviously in such a
situation “normalization” would be much more costly for an Administration to
carry out, for we would be doing it in a reactive way. Recall that in 1969 the
Administration was concerned about the PRC playing on our domestic politics.
This could become a problem again.
o
Secondly, the other side
of the first argument is that if the Mao/Chou initiative toward the U.S.
appears to have been successful from China’s perspective, we will have
maximized the possibilities of the Chairman sustaining an anti-Soviet foreign
policy line within China—with all its obvious benefits for our own foreign
policy.
o
Thirdly, there remains
the complex of international factors which make normalization basic to
stabilizing the structure of the Administration’s foreign policy: maintaining
one of our primary levers over the Soviet Union; preventing American isolation
on the China issue in multilateral forums (such as the U.N.) and in our
bilateral diplomacy; and maximizing the possibility of sustaining if not
enhancing parallel foreign policy moves with Peking in a number of
third-country areas (Europe, the Middle East and Subcontinent, Japan,
and—hopefully—regarding Korea and Southeast Asia).
· —What Negotiating Themes to
Emphasize?In reviewing the evolution of our negotiations with Peking on the
normalization issue, we are concerned about the manner in which the Chinese
have attempted to box us in on the themes of the “Japanese model” and Teng
Hsiao-p’ing’s “three principles.” This is obviously a good tactic from Peking’s
perspective; but at the same time we believe the Chinese have given us an
opening on a more flexible general theme which could be used to structure the
final phase of negotiations. In the November, 1973 Communiqué,19 Premier Chou En-lai explicitly gave
you an apparently more flexible “condition” for full normalization—on the basis
of “confirming the principle of one China.” We never really responded to Chou’s
opening. It seems notable that the Premier repeated this formulation as the
only condition which Chairman Mao had set for normalizationin the
unpublished version of his speech to National People’s Congress delegates in
January of this year.20 It is possible that the Premier (and
perhaps the Chairman), in using this phrase both publicly and privately, are
indicating the basis upon which they would attempt to sell a compromise
normalization agreement to their own cadre. In preparing for your next round of
talks in Peking, you could structure your discussion of the normalization issue
around this theme and avoid being boxed in on the question of whether or not
our terms strictly meet the “Japanese model” or Teng’s “three
principles”—although obviously at this point in the discussions we will have to
take these aspects of Peking’s private negotiating position into account.
Similarly, we may find it in our
interest to press the Chinese to make good on Mao’s comment to you about not
needing direct control of Taiwan for “a hundred years.” While this statement
may very well have been intended by the Chairman only as a symbolic
formulation, it is one of the few points on which we can seek to box in the
Chinese with the sacred words of their own leader. Similarly, past public and
private statements by Premier Chou about a willingness to strive for a peaceful
settlement of the Taiwan situation should be cited as [Page 694]precedents for a forthcoming
unilateral statement by the Chinese on the issue of the island’s security.
· —Who’s Afraid of the Big Bad Bear?While
the Soviet factor has obviously been central to the evolution of our relations
with Peking over the past five years, we are disturbed by signs that the
Chinese feel they are being manipulated by us with the Soviet threat. There
were a number of statements in 1974 by Vice Premier Teng and Foreign Minister
Ch’iao to the effect that they were not certain they were getting the straight
story on the Russians from the U.S.; and beginning as far back as the winter of
1973 Mao and Chou shifted from a posture of emphasizing the Soviet threat to
China to the view that the Russians had only a million men on their
border (which was not enough for defense, much less an attack) and that Moscow
was “feinting toward the East while intending to attack in the West.” This led
to some rather unproductive exchanges with the Foreign Minister over whether
China or the U.S. was the party more threatened by the Soviet Union. Obviously
the Chinese have attempted to create the impression that our leverage over them
because of what we presume to be their fear of the Russians was not as great as
we might wish it to be.
Whatever the realities of the Russian
threat to China, there are several difficult psychological dimensions to the
way we might play the Soviet issue. To the degree that we appear to be
emphasizing the Russian threat to “scare” Peking, we make the Chinese feel they
are being manipulated, and thus erode whatever credibility we have built up
with them. Moreover, in an ironic way we may be increasing the pressure on Mao
to be more flexible in China’s dealing with Moscow. We know that in the wake of
the 1973 U.S.–Soviet agreement on preventing nuclear war that Chang Wen-chin,
one of your interlocutors in drafting the Shanghai Communique, and now PRC
Ambassador to Canada, wrote a paper in the Foreign Ministry calling into
question the value of China’s relationship with the U.S. in the context of our
increasingly active dealings with the Soviets. The suspicion that we are
manipulating them with the Soviet threat must also increase the inclination of
“pragmatic” politicians like Teng Hsiao-p’ing (and perhaps even the Premier) to
give greater flexibility to China’s foreign policy by a limited accommodation
with the Russians (and to concurrently reduce our own maneuverability).
How to be straightforward with Peking
about our assessment of Soviet capabilities and intentions while not appearing
manipulative in our use of this factor is a difficult problem in negotiating
tactics.
Furthermore, to the degree that the
Chinese assume that our dealings with them are largely a function of our
efforts to gain leverage over the Russians, the more they will probably assume
that we will accommodate them on bilateral issues in order to sustain our
position [Page 695]vis-à-vis Moscow. We believe such a
situation would create substantial problems for the evolution of U.S.–PRC
relations. Not only would it engender cynicism in Peking about their dealing
with us, but it would increasingly tempt the Chinese to pose us with difficult
choices about whether to accommodate their interests on particular bilateral
issues or risk visibly damaging the Sino-American relationship—and by
extrapolation, our leverage over Moscow. And to the degree that decisions on
our part begin to convince our press, the Congress, and academic community that
we are being “soft” on the Chinese, we will erode support for our China policy
among important vocal elites whose patience with PRC game-playing is already
wearing thin. (It was precisely for this reason, among others, that we urged a
firm position on the Taiwan “liberation” song issue.21)
In short, for tactical reasons if
nothing else, we should approach Peking with a greater sense of concern about
the evolution of our bilateral relationship. If we do not appear to take
the Chinese seriously on their own grounds, we are unlikely to build a
relationship with the PRC that will gain sustained support in Peking and the
U.S.
· —Link U.S.–PRC Normalization to
Cooperation on Third Country Issues. While the Shanghai Communiqué linked
our military withdrawal from Taiwan to the reduction of tensions in Indochina,
in general our relationship with Peking has evolved without much effort to
directly relate further progress on bilateral issues to cooperation in
international affairs. This is as it should have been, inasmuch as to press
Peking for visible cooperation with us in areas where China’s own security
interests would have been compromised (as in Indochina) very likely would have
overburdened the fragile beginnings of normalization. Moreover, a review of
Peking’s behavior on Vietnam and Cambodia over the past four years indicates
that while the Chinese have not been positively cooperative, neither were they
actively obstructionist in a situation where the trend of events was clearly in
the direction of their allies, where our own ability to act was increasingly
constrained by domestic factors, and where to actively resist the trend would
have exposed them to serious political pressures from the Russians, who would
have tried to embarrass them with their “third world” claque. Moreover, Peking
was helpful to us on an issue like Korea as late as the fall of 1973—but pulled
back from such “collusion” precisely when Moscow undercut their position at the
UN GA on the basis of their cooperation with the U.S.
At the same time, more recent PRC behavior on a range of
international issues—Korea and the U.N. Command, Indochina, the food and energy
conferences—has been such as to give us little prospect that after
normalization we might expect to work positively with Peking in coping with a
range of third country questions. There is now some grumbling both within the
USG and in public to the effect that we are really getting very little out of
our relationship with Peking.
There are major limitations on the leverage we might
develop with the Chinese which might induce them to be cooperative on a range
of international issues (Korea being a prime example); but at the same time you
may wish to consider laying the groundwork for some linkage between further
steps toward full normalization and more cooperation on third country
questions. Just as important leadership groups in this country will ask what we
are getting from Peking in bilateral affairs in return for our concessions on
Taiwan, there will also be questioning about “normalization” if we cannot point
to some degree of Chinese cooperation on international problems.
Recommendation:
That you convene a meeting with us at an early date to
discuss the issues explored in this paper, and to give us instructions on how
we should proceed in preparing for your advance trip to Peking.
1.
Source: Ford Library,
National Security Adviser, NSC Staff for East Asia and Pacific Affairs,
Convenience File, Solomon Chron File, Box 40, July 1–3, 1975. Top Secret;
Sensitive; Completely Outside the System. Sent for action. The memorandum is on
National Security Council stationery. All brackets are in the original.↩
2.
See footnote 3,
Document 106.↩
3.
See Document 109.↩
4.
Goldwater’s challenge
was, “If they want to change our relationships with Taipei, as I told the
President and I told Kissinger, they’ve got a helluva fight on their hands.” As
quoted in Lou Cannon, “Goldwater Warns President Against Abandoning Taiwan,”The
Washington Post, April 15, 1975, p. A2.↩
5.
Tab A, “Peking’s Current
Posture Towards Normalization,” is attached but not printed.↩
6.
There is increasing
uncertainty, however, about the physical health and political standing of both
Mao and Chou. Indications persist that the Chairman’s relations with other
senior leaders, particularly in the military, are somewhat strained; however,
since his return to Peking in mid-April after a ten month absence, Mao has
resumed an overtly active role in political affairs, as by receiving foreign
visitors. At the same time, the Chairman’s health (as always) appears to be
deteriorating. Chou’s health and role are also uncertain factors.
We find it very difficult to draw any
firm conclusions about the impact of the current leadership situation on our
bilateral relations with Peking, although we do have a general sense of Mao and
Chou fading from the scene. Day-to-day affairs are ever-more firmly grasped by
a “successor” group led by Vice Premier Teng Hsiao-p’ing and Chang Ch’un-ch’iao
(on the Party side). We see no evidence, however, which would indicate that Mao
and Chou will not continue to influence major foreign policy decisions, or that
their foreign policy line of the past five years is being modified. [Footnote
is in the original.]
7.
See a more extensive
check-list of possible areas for agreements which would sustain or broaden the
relationship at Tab B. [Footnote is in the original. Tab B, a “Checklist of
Possible Areas for Bilateral Agreements Which Would Strengthen U.S.–PRC
Relations,” is attached but not printed.]↩
8.
See Document 8.↩
9.
Tab C, “The Operational
Issues Associated With a Normalization Agreement,” is attached but not printed.↩
10.
This analysis was not
found.↩
11.
See Document 98.↩
12.
Tab D, “Conceptual
Approaches to Formulating U.S. and PRC Statements on the Security of Taiwan,”
is attached but not printed.↩
13.
On May 23, the NSC staff
sent Kissinger a memorandum on U.S. force reductions and future U.S. military
assistance for Taiwan. (Memorandum from Solomon, Granger, and Froebe to
Kissinger, May 23; Ford Library, NSC Institutional Files (H–Files), Box H–32, NSSM
212) [text not declassified] The Department of Defense also produced a
study of options for changing U.S. force levels on Taiwan. (Memorandum from
Deputy Secretary of Defense William P. Clements to Scowcroft, November 20,
1974; Washington National Records Center, OASD/ISA Files:FRC 330–77–0063, Box
3, China, Rep. of, 1974, 0001–320.2)↩
14.
Reference is to the
paragraphs at the end of the paper immediately preceding the Recommendation.↩
15.
Telegram 29717 to
Beijing, February 10, summarized this meeting. (Ford Library, National Security
Adviser, Presidential Country Files, East Asia, Box 14, People’s Republic of
China, DOS telegrams from SECSTATE–NODIS (5))↩
16.
See Document 90.↩
17.
Not printed. See footnote 13 above.↩
18.
Teng Hsiao-p’ing’s
comments of June 2 to the American newspaper editors has already helped to
deflate expectations that there must be a major outcome from the trip. We
believe Teng made his remarks precisely because PRC leaders are concerned that
the President might back out of the trip. They are well aware of pressures on
him which make it difficult to bring about further change in the relationship.
(This interpretation is supported by collateral CAS reporting.) We are also
receiving indications of recent date that Chinese officials at PRCLO and in
Hong Kong are sustaining Teng’s relaxed attitude about the need for progress on
Taiwan, and their desire for a Presidential visit under any circumstances.
[Footnote is in the original.]↩
19.
See footnote 7,
Document 60.↩
20.
See Document 103.↩
21.
On March 20, Habib
informed Han Xu that the United States “cannot allow the tour [of a PRC
performing arts troupe] as long as the song about [liberating] Taiwan remains
in the program.” (Memorandum of conversation, March 20; Ford Library, National
Security Adviser, West Wing Office Files, 1974–1977, Box 5, China Exchanges,
unnumbered, 3/13/75–3/27/75) As a result, the tour was cancelled. See “U.S.
Bars Chinese Troupe,” The Washington Post, March 28, 1975, p. A1.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d112
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_676
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_677
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_678
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_679
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_680
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_681
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_682
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_683
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_684
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_685
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_686
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_687
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_688
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_689
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_690
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_691
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_692
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_693
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_694
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_695
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/pg_696
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d106fn3
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d109
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d8
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d98
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d90
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d60fn7
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/d103
Thân thế (các) nhân vật
General
Secretary of the Communist Party of the Soviet Union
https://en.wikipedia.org/wiki/Leonid_Brezhnev
https://www.britannica.com/biography/Leonid-Ilich-Brezhnev
https://en.wikipedia.org/wiki/General_Secretary_of_the_Communist_Party_of_the_Soviet_Union
https://www.britannica.com/place/Soviet-Union/The-Brezhnev-era
Zhang Chunqiao (Chang Chun-chiao),
Politburo member until 1976, Vice Premier from
January 1975 until October 1976
https://en.wikipedia.org/wiki/Zhang_Chunqiao
https://historica.fandom.com/wiki/Zhang_Chunqiao
https://alphahistory.com/chineserevolution/zhang-chunqiao/
https://chineseposters.net/themes/zhangchunqiao
https://www.cmcarchive.org/figures/zhang-chunqiao
https://liberationschool.org/05-06-01-zhang-chunqiao-communist-leader-html/
Zhang Wenjin (Chang Wen-chin),
Assistant to the PRC Foreign Minister until
September 1973
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/70142.pdf
https://nehruarchive.in/people/chang-wen-chin
https://www.fmprc.gov.cn/eng/zy/wjrw/lrfbzjbzzl_665553/202405/t20240531_11367634.html
https://en.wikipedia.org/wiki/Zhang_Wenjin
Jiang Jieshi, Madame (Madame Chiang Kai-shek),
wife of Jiang Jieshi; born Song Meiling (Soong
Mayling)
https://en.wikipedia.org/wiki/Soong_Mei-ling
https://www.bdcconline.net/en/stories/madame-chiang-kai-shek
https://www.britannica.com/biography/Soong-Mei-ling
https://www1.wellesley.edu/ealc/alum-corner/chinese-alumnae-corner/soong-mayling-1917-
https://www.ebsco.com/research-starters/biography/chiang-soong-mei-ling
https://www.phcmontreat.org/history-archive/soong-mei-ling-and-soong-ching-ling/
Premier of the People’s Republic of China;
member, Standing Committee of the Chinese Communist Party’s Political Bureau
https://en.wikipedia.org/wiki/Zhou_Enlai
https://en.wikipedia.org/wiki/Premier_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Minister_of_Foreign_Affairs_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Chairman_of_the_Chinese_People%27s_Political_Consultative_Conference
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d139
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/zhou-enlai-talking-ho-chi-minh
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?f[0]=topics:86538&fo[0]=86538
Tài liệu Chu Ân Lai yêu cầu Hoa Kỳ loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
và dùng Dương Văn Minh để lật đổ hai nền Đệ I và Đệ II VNCH.
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/discussion-between-zhou-enlai-and-le-duc-tho
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/89367/download
Deng Xiaoping (Teng Hsiao-p’ing),
Vice Premier of State Council after 1973
https://en.wikipedia.org/wiki/Deng_Xiaoping
https://www.britannica.com/biography/Deng-Xiaoping
https://www.britannica.com/summary/Deng-Xiaoping
https://www.ebsco.com/research-starters/history/deng-xiaoping
http://www.cppcc.gov.cn/zxww/2012/07/03/ARTI1341300716750109.shtml
https://www.encyclopedia.com/people/history/chinese-and-taiwanese-history-biographies/deng-xiaoping
https://simple.wikipedia.org/wiki/Deng_Xiaoping
Ford, Gerald R.,
Republican Representative from Michigan until
October 13, 1973; House Minority Leader until October 13, 1973; Vice President
of the United States from October 13, 1973, until August 8, 1974; President of
the United States from August 8, 1974
https://en.wikipedia.org/wiki/Gerald_Ford
https://en.wikipedia.org/wiki/President_of_the_United_States
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_President_of_the_United_States
https://en.wikipedia.org/wiki/House_Minority_Leader
https://en.wikipedia.org/wiki/Leader_of_the_House_Republican_Conference
https://en.wikipedia.org/wiki/Chair_of_the_House_Republican_Conference
https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_House_of_Representatives
https://www.whitehouse.gov/about-the-white-house/presidents/gerald-r-ford/
https://www.whitehouse.gov/administration/
https://geraldrfordfoundation.org/gerald-r-ford-biography/
https://www.fordlibrarymuseum.gov/grf/timeline.asp
https://en.wikipedia.org/wiki/Presidency_of_Gerald_Ford
https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/guides/findingaid/ford_vp_papers.asp
Froebe, John A., Jr.,
assigned to the Australia, New Zealand and Pacific Island
Desk, Bureau of East Asian Affairs, Department of State, but actually on the
NSC staff beginning in 1971; formally detailed to the NSC in January 1974; left
NSC staff in August 1975
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d18
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d339
https://www.mekong.net/cambodia/download/foreign_relations_vietnam_73-75.pdf
https://adst.org/OH%20TOCs/Holdridge,%20John.%201995%20toc.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d251
https://ia802805.us.archive.org/11/items/investigationofk00unit/investigationofk00unit.pdf
Gleysteen, William H., Jr.,
Deputy Director, Office of United Nations
Political Affairs, Bureau of International Organization Affairs, Department of
State, from August 1966
https://en.wikipedia.org/wiki/William_H._Gleysteen
https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_South_Korea
https://adst.org/OH%20TOCs/Gleysteen,%20William%20H.,%20Jr.toc.pdf
member,
National Security Council staff from August 1974
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-2
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-3
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24-4
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24#fnref:1.7.4.4.8.92.8.10
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve12/d24#fnref:1.7.4.4.8.92.8.12
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v38p2/ch5
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP79-00957A000100020012-5.pdf
https://www.docsteach.org/documents/document/granger-scowcroft
https://www.docsteach.org/index.php?option=com_ml_documents&task=createZipFile&docid=7299
https://2001-2009.state.gov/r/pa/ho/frus/nixon/e6/66769.htm
https://georgewbush-whitehouse.archives.gov/nsc/history.html
https://www.nixonlibrary.gov/finding-aids/national-security-council-files
Soviet
Foreign Minister
https://en.wikipedia.org/wiki/Andrei_Gromyko
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_heads_of_state_of_the_Soviet_Union
https://en.wikipedia.org/wiki/27th_Politburo_of_the_Communist_Party_of_the_Soviet_Union
https://en.wikipedia.org/wiki/Ministry_of_Foreign_Affairs_(Soviet_Union)
https://en.wikipedia.org/wiki/Permanent_Representative_of_the_Soviet_Union_to_the_United_Nations
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?f[0]=people:81473&fo[0]=81473
https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/exhibits/vladivostok/gromyko.pdf
member,
U.S. Delegation to the Paris Peace Talks from May 1968 until October 1971;
Ambassador to Korea from September 30, 1971, until August 19, 1974; Assistant
Secretary of State for East Asian and Pacific Affairs from September 27, 1974
https://en.wikipedia.org/wiki/Philip_C._Habib
https://en.wikipedia.org/wiki/Under_Secretary_of_State_for_Political_Affairs
https://en.wikipedia.org/wiki/Assistant_Secretary_of_State_for_East_Asian_and_Pacific_Affairs
https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_Korea
https://diplomacy.state.gov/u-s-diplomact-philip-c-habib-presidential-medal-of-freedom-winner/
https://nsuworks.nova.edu/nsudigital_forums/13/
https://www.arabamerica.com/arabamericans/philip-habib-3/
https://www.britannica.com/biography/Philip-Charles-Habib
Han Xu (Han Hsu),
Deputy Head of the PRC Liaison Office in the
United States from 1973
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100323.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v18/persons
https://brill.com/edcollbook/title/58094
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf
https://storage.googleapis.com/rua-uplo/files/books/934/416ef3c1-6c7a-4586-b2ec-709a41760bbf.pdf
https://apps.dtic.mil/sti/pdfs/ADA279207.pdf
https://www.aei.org/wp-content/uploads/2023/07/ForeignPolicyRev603.pdf?x97961
Huang Zhen (Huang Chen),
PRC Ambassador to France until March 1973;
Chief of the PRC Liaison Office in the United States from March 1973
https://en.wikipedia.org/wiki/Huang_Zhen
https://en.wikisource.org/wiki/Author:Huang_Zhen
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/72591.pdf
https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB79/BEBB23.pdf
https://www.fordlibrarymuseum.gov/sites/default/files/2024-06/1552743.pdf
https://www.britishpathe.com/asset/236303/
https://mediaclip.ina.fr/en/caf97507056-credentials-huang-chen-at-the-elysee.html
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/d12
Henry A Kissinger
Assistant to the President for National
Security Affairs until November 3, 1975; also Secretary of State from September
21, 1973
https://www.theguardian.com/world/2023/may/20/bilderberg-meeting-group-lisbon-kissinger
https://www.theguardian.com/world/bilderberg
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76ve13/summary
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip
https://china.usc.edu/catalog/documents/us-china
http://www.archives.gov/press/press-releases/2001/nr01-47.html
https://china.usc.edu/talking-points-july-22-august-3-2011
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#meetings
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#nixon-announcement
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#chinese-accept
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#signals
https://china.usc.edu/getting-beijing-henry-kissingers-secret-1971-trip#the_aim
http://www.foreignaffairs.com/articles/23927/richard-m-nixon/asia-after-viet-nam
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d4
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d12
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d13
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d141
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf
https://en.wikipedia.org/wiki/Henry_Kissinger_and_the_Vietnam_War
Lesson in Vietnam from
Kissinger to Nixon: “when we made it “our war” we would not let
the South Vietnamese fight it; when it again became “their war”, we would not
help them fight it.”
(We also had trouble with excesses here: when we made it “our war” we
would not let the South Vietnamese fight it; when it again became “their war,”
we would not help them fight it. Ironically, we prepared the South Vietnamese for main force warfare
after 1954 (anticipating another Korean-type attack), and they faced a political
war; they had prepared themselves for political warfare after 1973 only to be
faced with a main force invasion 20 years after it had been expected.)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/d280
Lesson of Vietnam May 12 1975 by Henry A.
Kissinger
https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/exhibits/vietnam/032400091-002.pdf
https://thebattleofkontum.com/extras/kissinger.html
“Richard M. Nixon and Kissinger on 3 August
1972,” Conversation 760-006, Presidential Recordings Digital Edition [Fatal
Politics, ed. Ken Huges] (Charlottesville: University of Virginia Press,
2014-). URL:https://prde.upress.virginia.edu/conversations/4006748
https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0
https://player.vimeo.com/video/889937807?h=e44572c8f3&color=e57200&title=0&byline=0&portrait=0
Discover the Truth at:
https://www.theblackvault.com/documentarchive/the-cias-vietnam-document-cd-rom/
The secret life of Henry Kissinger minutes of a
1975 meeting with Lawrence Eagleburger
https://etan.org/news/kissinger/secret.htm
Henry Kissinger and the Truth About Negotiations
In Vietnam
https://www.youtube.com/watch?v=Z5fxxKVfX5g
Henry Kissinger - Secrets of a superpower | DW
Documentary
https://www.youtube.com/watch?v=bWVMTKeAwlA
The Untold Truth of Henry Kissinger
https://www.youtube.com/watch?v=0iheZdvWdbI&t=1s
Was Henry Kissinger a War Criminal?
https://www.youtube.com/watch?v=COqq7862wcU&t=25s
member,
National Security Council staff until 1973; Director of the Policy Planning
Staff, Department of State from October 1973 until January 1977
https://en.wikipedia.org/wiki/Winston_Lord
https://en.wikipedia.org/wiki/Assistant_Secretary_of_State_for_East_Asian_and_Pacific_Affairs
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_ambassadors_of_the_United_States_to_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Council_on_Foreign_Relations
https://en.wikipedia.org/wiki/Director_of_Policy_Planning
https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/07/19981208.pdf
https://www.brookings.edu/wp-content/uploads/2016/07/19991104.pdf
https://nsarchive.gwu.edu/document/22669-document-04-winston-lord-director-policy
https://www.ncafp.org/about-us/faps-board-of-advisors/ambassador-winston-lord/
Nixon Richard M.,
Vice President of the United States
https://www.history.com/topics/us-presidents/richard-m-nixon
https://www.britannica.com/event/Watergate-Scandal
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/14-nov-68-lbj-and-nixon
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
http://www.pbs.org/wgbh/amex/honor/peopleevents/e_paris.html
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
http://www.nytimes.com/2016/12/31/opinion/sunday/nixons-vietnam-treachery.html
http://www.nytimes.com/interactive/2016/12/31/opinion/sunday/haldeman-notes.html
http://www.bbc.com/news/magazine-21768668
https://www.nixonlibrary.gov/index.php
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v07/ch5
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/bundy.htm
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/toc.htm
Nixon, Richard M.,
President of the United States
https://2001-2009.state.gov/documents/organization/100324.pdf
https://www.history.com/topics/us-presidents/richard-m-nixon
https://www.britannica.com/event/Watergate-Scandal
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/14-nov-68-lbj-and-nixon
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_Nixon
http://www.pbs.org/wgbh/amex/honor/peopleevents/e_paris.html
https://www.britannica.com/event/Vietnam-War
http://www.nytimes.com/2016/12/31/opinion/sunday/nixons-vietnam-treachery.html
http://www.nytimes.com/interactive/2016/12/31/opinion/sunday/haldeman-notes.html
http://www.bbc.com/news/magazine-21768668
https://www.nixonlibrary.gov/index.php
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1964-68v07/ch5
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/bundy.htm
https://www.lovethetruth.com/books/13_bloodlines/toc.htm
Nixon had a Trip to China from
February 21 to 28 1972,
https://www.nixonlibrary.gov/nixons-trip-china
http://www.presidentialtimeline.org/
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10a.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10b.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1a.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1b.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-21-56.pdf
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10a.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-656-10b.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1a.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-92-1b.mp3
https://www.nixonlibrary.gov/sites/default/files/virtuallibrary/tapeexcerpts/china-21-56.mp3
https://nsarchive.gwu.edu/briefing-book/nuclear-vault-vietnam/2023-03-24/movement-and-madman
The Vietnam War Johnson and Nixon
Administrations Videos
March 2, 2016 Last Aired May 5, 2016
https://www.c-span.org/program/the-presidency/reflections-on-richard-nixon/431130
July 16, 1973 Last Aired July 22, 2013
Senate Watergate Committee Testimony
https://www.c-span.org/program/vignette/senate-watergate-committee-testimony/316346
April 26, 2016 Last Aired June 5, 2016
Vietnam War Commander in Chief
https://www.c-span.org/program/american-history-tv/vietnam-war-commanders-in-chief/439971
June 12, 2008 Last Aired July 22, 2013
Alexander Butterfield Oral History
Interview, Part 2
June 12, 2008 Last Aired July 15, 2013
Alexander Butterfield Oral History
Interview, Part 1
January 27, 2012 Last Aired June 11, 2012
President Nixon's Secret White House
Tapes
https://www.c-span.org/program/american-history-tv/president-nixons-secret-white-house-tapes/277123
July 25, 1994 Last Aired June 20, 2008
Watergate: Corruption of American
Politics
https://www.c-span.org/program/public-affairs-event/watergate-corruption-of-american-politics/119480
February 16, 2003 Last Aired December 25, 2003
Presidential Tapes: Taping Systems
History
https://www.c-span.org/program/public-affairs-event/presidential-tapes-taping-systems-history/122572
Alexander Butterfield: The 60 Minutes Watergate
Interview (1975)
https://www.youtube.com/watch?v=ss9AkLUmM4g
Watergate Hearing: Alexander Butterfield Testimony
Alexander Butterfield Was ‘Worried To Death’ Testifying
Against Nixon
https://www.youtube.com/watch?v=c52oIe3Gj6w
How Nixon’s Invasion of Cambodia Triggered a Check on
Presidential Power
Vietnam War Cambodia and Laos
https://www.history.com/articles/nixon-war-powers-act-vietnam-war-cambodia
Nixon's Vietnam Visit 1965, Rare Film Unearthed
https://www.youtube.com/watch?v=RaTi8OEpINI
Nixon on LBJ and Vietnam: Where Did It All Go
Wrong?
https://www.youtube.com/watch?v=-n-4o3vOYD4
1969 July 30_Tổng Thống Hoa Kỳ 🇺🇸
Richard M. Nixon Thăm Việt Nam Cộng Hoà.
https://www.youtube.com/watch?v=ZRp4v6M6YJw&t=19s
Scowcroft, Brent,
General, USAF, Military Assistant to the
President until 1973; Deputy Assistant to the President for National Security
Affairs from August 1973 until 1975
https://warontherocks.com/2020/08/brent-scowcroft-and-american-military-intervention/
https://warontherocks.com/2020/08/blame-it-on-the-blob-how-to-evaluate-american-grand-strategy/
https://www.aspeninstitute.org/programs/aspen-strategy-group/about-asg/
https://www.whitehouse.gov/piab/
https://www.publicaffairsbooks.com/titles/bartholomew-sparrow/the-strategist/9781586489632/
http://web1.millercenter.org/poh/transcripts/ohp_1999_1112_scowcroft.pdf
https://www.nytimes.com/2020/08/12/us/politics/brent-scowcroft.html
https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2020-08-13/scowcroft-model
https://archive.org/stream/towercommission00unit?ref=ol#mode/2up
https://www.twelvebooks.com/titles/philip-zelikow/to-build-a-better-world/9781538764688/
https://yalebooks.yale.edu/book/9780300233827/post-wall-post-square
https://yalebooks.yale.edu/book/9780300233827/post-wall-post-square
https://www.simonandschuster.com/books/War-in-a-Time-of-Peace/David-Halberstam/9781501141508
https://www.adst.org/OH%20TOCs/Inderfurth,Karl%20F.toc.pdf
https://www.wsj.com/articles/SB1029371773228069195
https://www.nytimes.com/2002/08/25/opinion/the-right-way-to-change-a-regime.html
https://www.penguinrandomhouse.com/books/592622/to-start-a-war-by-robert-draper/
https://pdfs.semanticscholar.org/de9b/be3fa428073b76a05fbb58739bf3279c3664.pdf
https://www.ft.com/content/de843f6e-0be1-4667-8a9f-f397cf840e72
https://www.houseofnames.com/brent-family-crest
https://www.houseofnames.com/dpreview/BRENT/EN/Brent/family-crest-coat-of-arms.png
https://www.houseofnames.com/cdn/webp/i/prod/520x520/surnamecomplete_gold.webp
https://www.aspeninstitute.org/programs/aspen-strategy-group/lt-general-brent-scowcroft/
https://dpaa-mil.sites.crmforce.mil/dpaaProfile?id=a0Jt000000sxxIFEAY
https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/document/0204/7505562.pdf
https://news.virginia.edu/content/uvas-miller-center-releases-secret-brent-scowcroft-oral-history
Solomon, Richard H.,
member, National Security Council
staff
https://en.wikipedia.org/wiki/Richard_H._Solomon
https://www.academyofdiplomacy.org/members-1/solomon/richard-h.
https://carnegiecouncil.org/people/richard-h-solomon
https://www.c-span.org/person/richard-h-solomon/9004/
https://www.chinafile.com/contributors/richard-h-solomon
https://findingaids.lib.umich.edu/catalog/umich-bhl-2008034
https://www.presidency.ucsb.edu/documents/nomination-richard-h-solomon-be-assistant-secretary-state
No comments:
Post a Comment