20260831CDTL DDE D699 8 Jun 1954 Điện văn Phiên họp lần thứ năm về Đông Dương, Geneva, ngày 8 tháng 6 năm 1954, 15:03.
Phái đoàn Hoa Kỳ gửi Bộ Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d699
Google Translated
Tài liệu 699
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Hội
nghị Geneva, Tập XVI
396.1 GE/6–854: Điện văn Phiên họp toàn thể
lần thứ năm về Đông Dương, Geneva, ngày 8 tháng 6 năm 1954, 15:03 Phái đoàn Hoa
Kỳ gửi Bộ Ngoại giao
Mật
Ưu tiên
Geneva, ngày 8 tháng 6
năm 1954—nửa đêm.
Secto 405.
Thông tin được gửi lại cho Paris (404), London (260), Tokyo (118), Moscow
(111), Phnom Penh, Vientiane. Bộ Ngoại giao chuyển tiếp cho Bộ Quốc
phòng; Tokyo chuyển tiếp cho CINCFE. Phiên họp toàn thể thứ năm về Đông
Dương diễn ra vào thứ Ba, ngày 8 tháng 6, dưới sự chủ trì của Eden;
phiên họp mở đầu bằng bài phát biểu dài và cân bằng của Bidault, trong
đó ông điểm lại những tiến bộ đã đạt được cho đến nay trong nỗ lực xác định các
điểm đồng thuận cũng như những vấn đề còn tồn tại. Bidault chỉ ra rằng,
nhờ việc thông qua đề nghị ngày 17 tháng 5 của Pháp [Trang 1070] về việc
ưu tiên các khía cạnh quân sự của lệnh ngừng bắn, tiến độ của hội nghị là
"không thể xem nhẹ". Tuy nhiên, mong muốn của phái đoàn Pháp
là xem xét trước các trường hợp Lào và Campuchia (do tính chất đơn giản
hơn) đã bị cản trở bởi sự khăng khăng của phe Cộng sản về nguyên
tắc "hòa bình là không thể chia cắt"; và để tạo điều kiện cho tiến
trình hội nghị, phía Pháp đã đồng ý thảo luận về Việt Nam trước.
Dù vậy, Bidault nhấn mạnh rằng mặc dù đã có một số tiến bộ trong các cuộc
thảo luận về Việt Nam, các trường hợp Lào và Campuchia vẫn chưa
được giải quyết.
Sau đó, Bidault đề cập đến sáu điểm mà ông cho
rằng sẽ làm rõ những vấn đề đã đạt được sự đồng thuận cũng như những vấn đề còn
tồn tại sự khác biệt về quan điểm:
1. Nguyên tắc chấm dứt thù địch.
Tất cả các đại biểu đều tán thành nguyên tắc này do đại biểu Pháp đề nghị
vào ngày 8 tháng 5. Tuy nhiên, phía Cộng sản muốn thực hiện ngừng bắn đồng loạt
trên toàn Đông Dương, và một số đại biểu đã bày tỏ sự dè dặt về vấn đề
này.
2. Tập kết các đơn vị chính
quy. Sau khi nhiều đề nghị được đưa ra, văn bản của Eden đã được thông
qua vào ngày 29 tháng 5. Phía Pháp khi đó đã lưu ý rằng việc tập kết chỉ áp dụng
cho Việt Nam và nguyên tắc thống nhất của Việt Nam là điều không
thể bị nghi ngờ. Tất cả các đại biểu đều đồng ý với nguyên tắc thống nhất của Việt
Nam. Kết quả cụ thể từ đề xuất của Eden thể hiện qua cuộc họp tại Geneva
vào ngày 2 tháng 6 giữa đại diện Bộ Chỉ huy hai bên, cũng như công tác
chuẩn bị cho các cuộc họp tại chỗ ở Đông Dương. Đại biểu Pháp hy
vọng các cuộc thảo luận quân sự này có thể diễn ra nhanh chóng để hội nghị có
thể xem xét các khuyến nghị cụ thể trên bản đồ.
3. Lực lượng không chính quy.
Chỉ ra rằng một phần ba lực lượng Việt Minh thuộc nhóm này, ông
Bidault nhấn mạnh hội nghị không thể để một phần lớn lực lượng của một bên
nằm ngoài sự kiểm soát; hội nghị cần nghiên cứu vấn đề này khi các cuộc đàm
phán về phân chia khu vực đã đạt được tiến triển nhất định. Ông Bidault
cho rằng tuyên bố ngày 25 tháng 5 của ông Đồng không loại trừ khả
năng đạt được thỏa thuận về điểm này.
4. Việc đưa quân đội và
khí tài vào Việt Nam sau khi chấm dứt thù địch. Các điều khoản trong
hiệp định đình chiến liên quan đến vấn đề này cần được áp dụng bình đẳng cho cả
hai bên. Các điều khoản này cũng cần bao gồm cả hoạt động sản xuất vũ khí
tại chỗ. Nếu không có sự kiểm soát chặt chẽ đối với biên giới đất liền
và đường biển của Việt Nam, thì thỏa thuận về giám sát sẽ chỉ là hư ảo
và mang tính lừa dối. Việc đạt được thỏa thuận về nguyên tắc này là điều khả
thi.
5. Tù binh và thường dân bị
giam giữ. Có sự đồng thuận tuyệt đối về việc trả tự do ngay lập tức cho tù binh
và thường dân bị giam giữ sau khi chấm dứt thù địch.
6. Các biện pháp kiểm soát
và bảo đảm. Ông Bidault nhấn mạnh những khía cạnh sau đây của vấn đề
này:
(a) Trách nhiệm của Ủy
ban Kiểm soát Quốc tế Trung lập cần bao trùm tất cả các điều khoản của
hiệp định đình chiến.
(b) Các Ủy ban Hỗn
hợp của hai bên phải chịu sự chỉ đạo của Ủy ban Quốc tế; những vấn đề
mà các Ủy ban Hỗn hợp không đạt được thỏa thuận cần được trình lên Ủy
ban Quốc tế để quyết định theo nguyên tắc đa số phiếu. Việc các đại
biểu Cộng sản khăng khăng đòi giao trách nhiệm chính về một số khía cạnh
của hiệp định đình chiến cho các Ủy ban Hỗn hợp — những ủy ban không
chịu sự chỉ đạo của Ủy ban Quốc tế — thể hiện sự bất đồng quan điểm
nghiêm trọng cần phải được giải quyết.
(c) Thành phần của Ủy
ban Quốc tế cần được xác định dựa trên các tiêu chí về tính khách quan, vô
tư và hiệu quả; bất kỳ quốc gia nào đáp ứng được các tiêu chí này đều có thể chấp
nhận được đối với phía Pháp. Một Ủy ban Quốc tế bao gồm bốn nước
trung lập được chọn theo cách phản ánh cân bằng quan điểm của hai bên sẽ trở
nên bất lực. Cơ cấu như vậy sẽ không mang lại sự bảo đảm cho bất kỳ ai.
(d) Cần phải có một cơ
quan để Ủy ban Quốc tế báo cáo. Cơ quan này, đến lượt mình, sẽ làm việc
với các bên bảo đảm hiệp định đình chiến, tức là các thành viên tham gia
Hội nghị Geneva. Ông Bidault nhấn mạnh rằng cơ chế bảo đảm không
được phép bị tê liệt bởi bất kỳ quyền phủ quyết nào.
Ông Bidault
tóm tắt những "kết quả đáng kể" của hội nghị như sau:
(1) phương thức làm việc đã
được lựa chọn;
(2) nguyên tắc chấm dứt hoàn
toàn mọi hành động thù địch đã được chấp nhận, thực hiện đồng thời trên toàn Đông
Dương nếu có thể;
(3) nguyên tắc phân chia các
khu vực tập kết tại Việt Nam đã được thông qua và chuyển cho các chuyên
gia nghiên cứu;
(4) nguyên tắc thành lập Ủy
ban Kiểm soát Quốc tế đã được chấp nhận.
Tuy nhiên, ông Bidault cũng cảnh báo rằng vẫn tồn
tại những bất đồng nghiêm trọng về các vấn đề cốt lõi mà không thể giải quyết nếu
không vi phạm các nguyên tắc cơ bản. Ông nêu rõ ba vấn đề chưa được xem xét hoặc
chưa đạt được kết luận:
(1) Lào và Campuchia;
(2) các khu vực tập kết; và
(3) các phương thức kiểm
soát.
Người phát biểu tiếp theo là Phạm Văn Đồng;
ông cho biết muốn so sánh các đề nghị khác nhau đã được đưa ra trong hội nghị. Khẳng
định các đề nghị của Việt Nam là thực tế, công bằng và hợp lý, ông chỉ
trích các đề nghị của những đại biểu khác là đơn phương, thiếu toàn diện và
tiêu cực. Khi nhận xét về các đề nghị của Bidault là hoàn toàn mang tính
quân sự, ông Đồng nhấn mạnh mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa
các vấn đề chính trị và quân sự, đồng thời cho rằng ngay cả các đề nghị quân sự
của Bidault cũng không phản ánh đúng tình hình thực tế tại Đông Dương
và do đó khó có thể dẫn đến một thỏa thuận. Sau đó, ông Đồng mỉa
mai chỉ trích các đề nghị của "đại biểu phe Bảo Đại", đặc biệt
nhắm vào các đề nghị về việc sáp nhập lực lượng Việt Minh
vào Quân đội Việt Nam và tổ chức tổng tuyển cử dưới sự giám sát của Liên
Hợp Quốc để thành lập chính phủ dưới quyền Bảo Đại. Ông cũng
bác bỏ quan điểm cho rằng không cần kiểm soát việc đưa vũ khí vào Campuchia
và Lào.
Cho rằng "kết quả đầu tiên" của hội nghị là
việc thông qua nghị quyết về các cuộc tiếp xúc giữa đại diện Bộ Chỉ huy
tại Geneva và Đông Dương, ông Đồng cáo buộc phía Pháp
không đưa ra bất kỳ đề nghị nào tại các cuộc họp quân sự có thể dẫn đến thỏa
thuận, đồng thời trì hoãn việc bắt đầu các cuộc đàm phán tại chỗ ở Đông
Dương. Ông Đồng chế giễu việc mới đây đã ký tắt [Trang 1072] hiệp
ước độc lập cho Việt Nam tại Paris, cho rằng đó chỉ đơn thuần là việc
đáp ứng điều kiện do Mỹ đặt ra để can thiệp vào Đông Dương.
Tiếp đó, ông Đồng đưa ra một số đề
nghị, kiến nghị hội nghị thảo luận theo "tinh thần thực tế" các đề nghị
do Chu Ân Lai trình bày. Ông kêu gọi đại biểu Pháp đẩy nhanh các
cuộc tiếp xúc tại chỗ giữa đại diện quân sự ở Đông Dương; đồng thời đề
nghị hội nghị ngay lập tức thảo luận về các vấn đề chính trị như công nhận Việt
Nam, tổng tuyển cử và quan hệ giữa Đông Dương với Pháp, bao gồm
cả việc Việt Nam tham gia Liên hiệp Pháp.
Người phát biểu thứ ba là Tep Phan, đại biểu Campuchia;
ông một lần nữa thu hút sự chú ý vào thực tế rằng Campuchia là nạn nhân
của sự xâm lược từ phía Việt Minh và nhắc lại yêu cầu của Campuchia
về việc rút toàn bộ lực lượng Việt Minh. Sau đó, ông đưa ra đề nghị
gồm bốn điểm. (Xem Mục 367.)
Khi đề cập đến nhiệm vụ của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế,
Tep Phan cho biết nhiệm vụ của ủy ban này tại Campuchia khác với
tại Việt Nam và nêu rõ các chức năng kiểm soát tại Campuchia như
sau:
(1) rút quân đội chính quy và lực lượng
không chính quy của Việt Minh;
(2) giải giáp tất cả
các phần tử vũ trang không thuộc quân đội hoặc lực lượng cảnh sát;
(3) phóng thích và trao đổi
tù binh cùng những người dân thường bị giam giữ;
(4) các hoạt động từ bên
ngoài gây nguy hại cho hòa bình và an ninh của Campuchia.
Phan nhấn mạnh rằng chính phủ của ông không thể chấp
nhận bất kỳ sự kiểm soát nào đối với việc đưa quân đội và khí tài quân sự vào
Campuchia; ông chỉ ra rằng, không giống như ở Việt Nam, sẽ không có lệnh
ngừng bắn tại Campuchia vì toàn bộ quân đội Việt Minh sẽ
được rút đi. Ông trấn an các đại biểu phe Cộng sản rằng Quân đội
Campuchia chỉ được huấn luyện để bảo vệ biên giới và cho biết chính phủ của
ông sẵn sàng hạn chế quy mô quân đội trong những điều kiện nhất định để không
gây đe dọa cho các nước láng giềng.
Sau đó, đại biểu Campuchia thảo luận ngắn gọn về
vấn đề thành phần của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế, chỉ ra rằng kinh nghiệm
từ Triều Tiên đã chứng minh sự vô ích của một ủy ban có thành phần như đại
biểu Liên Xô đề nghị. Ông nhắc lại đề nghị của Campuchia về thành
phần ủy ban đưa ra vào tháng 6 năm 1947 và gợi ý rằng nếu không đạt được thỏa
thuận về một ủy ban gồm các nước trung lập, thì việc kiểm soát lệnh ngừng bắn
nên được giao cho Liên Hợp Quốc.
Sau giờ nghỉ giải lao, Molotov đã có bài phát
biểu dài, trong đó công kích Mỹ, Pháp và các Quốc gia Liên kết. Bắt
đầu bằng những nhận xét về sự thiếu thiện chí của một số bên tham gia hội nghị
– nơi lẽ ra phải tập trung vào việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương –
ông cáo buộc Mỹ âm mưu thành lập một hiệp ước quân sự tại Đông Nam Á
cùng các cường quốc thực dân; đề cập đến các cuộc đàm phán quân sự tại
Washington; và cáo buộc Mỹ chỉ đạo Thái Lan gửi đơn kiến nghị
lên Liên Hợp Quốc nhằm dọn đường cho sự can thiệp của Liên Hợp Quốc,
trong khi thực chất đó là ý đồ của Mỹ. [Trang 1073] Tiếp đó, Molotov
tuyên bố rằng lệnh ngừng bắn ở Đông Dương phải mang tính lâu dài, do đó
cần phải giải quyết các vấn đề chính trị. Mặc dù vấn đề quân sự được ưu tiên thảo
luận khi bắt đầu hội nghị, nhưng nay đã đến lúc tổng kết và chuyển sang các vấn
đề chính trị. Ông ghi nhận kết quả thảo luận về các đề xuất khác nhau đã cho thấy
một số bước tiến hướng tới hòa giải, chẳng hạn như thỏa thuận ngừng bắn đồng thời
(dù còn một số dè dặt), việc tập kết lại các lực lượng chính quy, và cuộc gặp gỡ
giữa các đại diện quân sự.
Ngoài ra, cũng đạt được thỏa thuận về nguyên tắc đối với
đề xuất của Việt Minh về việc không đưa thêm quân đội và vũ khí
nước ngoài vào sau khi ngừng bắn. Không có ý kiến nào phản đối sự cần thiết
phải có các Ủy ban Hỗn hợp hoặc sự giám sát quốc tế. Đề nghị của Pháp
về việc các cường quốc tham gia hội nghị bảo đảm cho thỏa thuận đã được đại biểu
Liên Xô đón nhận tích cực. Khi thảo luận về các biện pháp bảo đảm, Molotov
đã không đề cập đến từ "tập thể". Molotov cũng chỉ ra những điểm
bất đồng, chẳng hạn như về chức năng và thành phần của Ủy ban Giám sát Quốc
tế, đồng thời lưu ý đến "những nỗ lực thô thiển nhằm hạ thấp uy tín của
NNSC tại Triều Tiên". Ông bảo vệ quan điểm của phe Cộng sản
về việc trao vai trò quan trọng hơn cho các ủy ban hỗn hợp; các ủy ban này cần
chịu trách nhiệm về mọi biện pháp thực địa nhằm đảm bảo chấm dứt thù địch.
Trước khi đi vào bình luận về các vấn đề chính trị,
ông đã ca ngợi các phong trào giải phóng dân tộc tại ba quốc gia này. Ông cũng
thừa nhận sự khác biệt về tình hình tại mỗi nước: ba phần tư lãnh thổ Việt
Nam nằm trong tay lực lượng kháng chiến, trong khi tại Lào, một nửa đất
nước không nằm dưới sự kiểm soát của "các cơ quan chính quyền chính thức";
tình hình tại Campuchia thì "ít nghiêm trọng hơn" nhưng phong
trào cũng đang phát triển. Ông chế giễu tuyên bố về nền độc lập của các "Quốc
gia Liên kết" (Associated States), chỉ ra rằng không một cường
quốc châu Á nào tin vào điều đó, và đó là lý do họ chưa công nhận các quốc
gia này. Tám năm nỗ lực khôi phục chế độ thuộc địa đã khiến 100.000 người
Pháp thương vong, tiêu tốn 2.000 tỷ franc và dẫn đến những thất bại nặng nề
bất chấp viện trợ từ Mỹ. Cuộc chiến này không mang lại lợi ích quốc gia
cho nước Pháp, nhưng nếu Chính phủ Pháp muốn chấm dứt nó, thì hiện
đã có cơ hội đạt được hòa bình trong danh dự cho cả hai bên.
Molotov không muốn sa đà
vào các vấn đề quân sự và cho rằng việc khôi phục hòa bình đòi hỏi phải giải
quyết hai vấn đề chính trị cơ bản:
(1) quan hệ giữa Pháp
và các quốc gia Đông Dương, và
(2) các vấn đề chính trị nội
bộ. Vì Việt Minh đã đưa ra đề nghị cởi mở—bao gồm cả việc sẵn
sàng xem xét tư cách thành viên trong Liên hiệp Pháp—và phía Pháp
cũng tuyên bố sẵn sàng công nhận nền độc lập của ba quốc gia, nên việc đạt được
thỏa thuận lẽ ra không quá khó khăn.
Sau đó, ông quay lại chỉ trích chính quyền các Quốc
gia Liên kết, dẫn chứng các báo cáo của Ủy ban Hạ viện Hoa Kỳ để chứng
minh rằng các quốc gia này thiếu tính độc lập. Ông nhận xét rằng Điện Biên
Phủ được phòng thủ bởi những người nước ngoài không có liên hệ gì với Pháp
hay Việt Nam. Ông cũng lưu ý về những nỗ lực vô ích nhằm chứng minh sự hiện
diện của các yếu tố nước ngoài trong hàng ngũ Việt Minh. Một bằng
chứng nữa cho thấy Bảo Đại thiếu sự ủng hộ của người dân chính là thất bại
trong công tác huy động lực lượng. [Trang 1074] Ông dành nhiều thời gian bàn về
vấn đề tổng tuyển cử tại Việt Nam và yêu cầu phía Pháp nêu rõ lập
trường. Ông chế giễu kết quả bầu cử đô thị của phía Việt Nam và dẫn lời
các nguồn tin phương Tây cho rằng Việt Minh sẽ giành chiến thắng
nếu tổ chức tổng tuyển cử. Bầu cử tại Việt Nam phải được tiến hành trong
điều kiện đảm bảo quyền tự do hoạt động cho các đảng phái, nhóm và tổ chức yêu
nước. Tuy nhiên, trước khi bầu cử diễn ra, cần phải rút quân đội nước ngoài—điều
đòi hỏi phải có một giải pháp quân sự tại Geneva. Sau đó, ông liệt kê ba
vấn đề chính trị trọng tâm:
(1) thiết lập quan hệ Pháp
- Đông Dương trên cơ sở bình đẳng và tự do;
(2) tổ chức bầu cử tự do tại
cả ba quốc gia để thành lập chính quyền dân chủ;
(3) thiết lập các cuộc tiếp
xúc trực tiếp tại Đông Dương để góp phần giải quyết cả vấn đề chính trị
lẫn quân sự.
Molotov kết thúc bài phát
biểu bằng việc nhắc lại lời kêu gọi tổ chức bầu cử tự do sau khi rút quân đội
nước ngoài và tiến hành tiếp xúc trực tiếp tại Đông Dương; đồng
thời đề nghị hội nghị xem xét song song các vấn đề chính trị và quân sự
thông qua các phiên họp luân phiên.
Tiếp đó, Eden đưa ra tuyên bố mạnh mẽ và đanh
thép nhất của Vương quốc Anh tại hội nghị tính đến thời điểm đó (Secto
404), trong đó ông đề nghị trao vai trò Ủy ban Giám sát cho năm nước thuộc
nhóm Colombo.
Bidault đáp lại bằng lời
chỉ trích gay gắt nhưng vẫn giữ thái độ chừng mực đối với giọng điệu và quan điểm
trong các bài phát biểu của phe Cộng sản tại phiên họp này. Ông bày tỏ sự thất
vọng trước việc phe kia khăng khăng xoáy sâu vào vấn đề chính trị, trong khi việc
chấm dứt thù địch rõ ràng là bước khởi đầu cần thiết cho mọi giải pháp. Ông đã
đề cập đến bài phát biểu về vấn đề Triều Tiên của đại diện Liên Xô
tại Hội đồng Bảo an là ông Malik vào tháng 6 năm 1951 và trích dẫn
lời ông này như sau:
“Nhân dân Liên Xô tin rằng biện pháp đầu tiên cần
thực hiện là tổ chức các cuộc thảo luận giữa các bên tham chiến nhằm đạt được lệnh
ngừng bắn và hiệp định đình chiến, bao gồm việc rút quân về phía sau một giới
tuyến đã được thỏa thuận”.
Ông cho rằng Việt Minh không cần lo lắng
về việc thiếu các cuộc tiếp xúc tại Đông Dương, vì chính quyền Pháp
đã nhận được chỉ thị thực hiện việc này. Ông bày tỏ hy vọng rằng sự song hành
giữa các cuộc tiếp xúc tại Đông Dương và tại Geneva sẽ không gây
ra sự chậm trễ. Về nhận định của ông Đồng cho rằng có những người
muốn một cuộc chiến tranh quốc tế, ông cho biết cách đơn giản nhất để ngăn chặn
điều đó là chấm dứt chiến tranh. Ông đặc biệt đề cập đến những lời công kích của
ông Molotov, lưu ý rằng thái độ đó thiếu đi sự lịch thiệp thường thấy ở
một nhà ngoại giao lỗi lạc và giàu kinh nghiệm như vậy, đồng thời bày tỏ sự tiếc
nuối khi một trong những chủ tịch hội nghị lại có hành động công kích mang tính
thiên vị.
Ông Diệm nhận định rằng việc
chấm dứt công kích lẫn nhau cần được ưu tiên hàng đầu. Sau đó, ông Eden
mời đại diện Hoa Kỳ phát biểu. [Trang 1075]
Thứ trưởng đề nghị bỏ qua phần phát biểu của mình do
đã muộn, với điều kiện các đại biểu còn lại trong danh sách cũng đồng ý làm như
vậy. Ông Molotov ngỏ ý muốn phát biểu trong một phút. Thứ trưởng
từ chối nhường lời cho ông Molotov và sau đó trình bày tuyên bố theo văn
bản Secto 403.
Ông Molotov,
rõ ràng là đang phản ứng lại những nhận xét sắc bén của ông Bidault, đã
phủ nhận việc bài phát biểu của mình mang tính xúc phạm và cho rằng ông chỉ
đang nhắc lại "một số sự thật cay đắng, khắc nghiệt".
Ông Bidault
đáp lại rằng cần tôn trọng sự thật, nhưng vấn đề nằm ở cách thức trình bày các
sự thật đó.
Ông Eden kết thúc cuộc họp
bằng đề xuất rằng hai diễn giả còn lại trong danh sách có thể phát biểu tại
phiên họp toàn thể vào ngày mai. Cuộc họp kết thúc lúc 7 giờ 50 phút.
Nhận xét:
Tuyên bố cuối cùng của ông Bidault đã rất xuất sắc trong việc vô hiệu hóa nỗ lực
rõ ràng của ông Molotov nhằm tranh thủ dư luận Pháp, đồng thời lật
ngược thế cờ với phe Cộng sản bằng cách quy trách nhiệm cho họ về
việc không đạt được thỏa thuận ngừng bắn do thái độ cứng nhắc và việc đưa vào
các vấn đề không liên quan, trái ngược với sự hợp lý và tinh thần hòa giải của
phía Pháp.
Smith.
1. Một
bản biên bản của cuộc họp này (US Verb Min/5) hiện có trong hồ sơ Hội
nghị, mã số lot 60 D 627, CF 277. Biên bản ghi nhận cuộc họp bắt đầu lúc
15:03 và kết thúc lúc 19:50. Biên bản này cũng được in trong tài liệu
*Conférence de Genève*, các trang 205–236. Các bài phát biểu của Bidault, Molotov
và Eden, cùng đề nghị của Đoàn đại biểu Campuchia, được in trong tài
liệu Cmd. 9186, các trang 137–153. Các bài phát biểu của Eden, Bidault,
Tep Phan, Phạm Văn Đồng và Molotov (tương ứng với các tài liệu về
Đông Dương số IC/17, IC/18, IC/20, IC/21 và IC/22) cùng đề nghị của Campuchia
(tài liệu IC/19) ngày 8–9 tháng 6, hiện có trong hồ sơ Hội nghị, mã số lot 60 D
627, CF 279A.↩
2. Xem
các bức điện Secto 240 và 241, ngày 17 tháng 5, lần lượt tại các trang
831 và 833.↩
3. Xem
bức điện Secto 349, ngày 29 tháng 5, trang 970.↩
4. Tham
chiếu đến cuộc họp giữa đại diện quân sự Pháp và Việt Nam tại Geneva.↩
5. Xem
bức điện Secto 302, ngày 26 tháng 5, trang 920.↩
6. Đề
ngày 3 tháng 6, trang 1014.↩
7. Xem
bức điện Secto 379, ngày 4 tháng 6, trang 1031.↩
8. Đề
ngày 8 tháng 6, trang 1077.↩
9. Xem
phần dưới đây.↩
List of Abbreviations and Symbols
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/persons
The Geneva Conference on Indochina May 8–July 21, 1954
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/comp2
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7
June 8, 1954 (Documents 692–704)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch7subch32
1.
Document 699
Foreign Relations of the United
States, 1952–1954, The Geneva Conference, Volume XVI
396.1 GE/6–854: Telegram
Fifth Plenary Session on Indochina,
Geneva, June 8, 1954, 3:03 p.m.: The United States Delegation to the Department
of State1
confidential
priority
Geneva, June 8,
1954—midnight.
Secto 405. Repeated information Paris 404, London 260, Tokyo 118, Moscow
111, Phnom Penh, Vientiane. Department pass Defense, Tokyo pass CINCFE. Fifth
Indochina plenary session Tuesday June 8 with Eden presiding opened with long
well-balanced speech by Bidault reviewing progress so far in effort define
points of agreement and problems still at issue. Bidault pointed out as result
adoption French [Page 1070] proposal May 172 give priority military aspects
cease-fire, progress of conference was “not negligible”. But desire French
delegation take up cases Laos and Cambodia first, because simpler, frustrated
by Communist insistence “peace indivisible” and in order facilitate progress
conference French had agreed to discuss Vietnam first. Bidault emphasized,
however, that although some progress made discussions Vietnam, cases of Laos
and Cambodia still pending.
Bidault then took up six points which he said would bring out those
matters on which there was agreement and those on which divergent views had
been expressed:
1.
Principle of cessation of hostilities. All delegates
agreed this principle which French delegate had proposed May 8. However,
Communists wanted simultaneous cease-fire throughout Indochina and some
delegates had expressed reservation on this.
2.
Regroupment of regular units. After various proposals
had been made Eden text was adopted on May 29.3 French had observed at that time that
regrouping applied only to Vietnam and that principle of unity of Vietnam could
not be questioned. All delegates had agreed principle unity of Vietnam.
Concrete results Eden proposal manifested in meeting at Geneva on June 2 of
representatives High Commands both sides4 and preparations going forward for
on-the-spot meetings in Indochina. French delegate hoped these military
discussions could proceed rapidly so that conference could examine concrete
recommendations on map.
3.
Irregular forces. Pointing out one-third Viet Minh
forces in this category, Bidault stressed conference could not leave large part
forces one party free; conference should study this problem when talks on zones
had progressed sufficiently. Bidault felt Dong statement May 255 did not rule out possibility
agreement this point.
4.
Entry of troops and material into Vietnam after
cessation of hostilities. Clauses in armistice agreement relating this subject
should apply equally to both parties. Should also cover local war production.
Without strict control of Vietnam’s land and sea frontiers accord on
supervision would be illusory and fraudulent. Agreement on this principle seems
possible.
5.
Prisoners of war and civilian internees. There is
unanimous agreement on immediate liberation of POWs and civilian internees
following cessation of hostilities.
6.
Controls and guarantee. Bidault stressed following
aspects this problem:
(a)
Responsibilities International Neutral Control
Commission should extend to all clauses of armistice.
(b)
Joint Commissions of two sides must be subordinated to
International Commission; questions on which Joint Commissions cannot agree
should be submitted to International Commission for decision by majority vote.
Communist delegates insistence that essential responsibility for certain
aspects of armistice be confined to Joint Commissions, which would not be
subordinated to International Commission, represents serious divergence in
views which must be surmounted.
(c)
Composition of International Commission should be
determined by criteria of objectivity, impartiality and effectiveness, any
countries meeting these criteria satisfactory to French. An International
Commission composed four neutrals chosen reflect equally views two sides would
be impotent. Such content would guarantee no one.
(d)
There must be authority to which International
Commission reports. This organ would in turn look to guarantors of armistice,
namely members Geneva conference. Bidault emphasized guarantee must not be
paralyzed by any veto.
Bidault summed up “appreciable results” of conference as follows: (1)
method of work chosen; (2) principle total cessation hostilities accepted,
simultaneously throughout Indochina if possible; (3) principle regroupment
zones Vietnam adopted and referred competent persons for study; (4) principle
of setting up International Control Commission accepted.
Bidault cautioned however, that serious differences existed on essential
points which cannot be exceeded without infringing essential principles. He
specified three subjects which had not yet been examined or on which
conclusions not yet reached: (1) Laos and Cambodia; (2) regroupment zones; and
(3) methods of control.
Next speaker was Pham Van Dong who said he would like to compare various
proposals made during conference. Claiming Vietnam proposals realistic, fair,
rational, he attacked proposals other delegates as unilateral, incomplete, and
negative. Describing Bidault’s proposals as completely military, Dong stressed
interdependence political and military problems, said even Bidault military
proposals failed reflect real situation Indochina and thus not likely lead to
agreement. Dong then attacked sarcastically proposals made by “Bao Dai
delegate”, singling out particularly proposals on incorporation Viet Minh
Forces into Vietnamese Army and elections under UN supervision for government
under aegis Bao Dai. He also attacked theses that there should be no control on
introduction of arms into Cambodia and Laos.
Saying that “first result” of conference was acceptance resolution
pertaining to contacts by representatives of High Commands in Geneva and
Indochina, Dong accused French of offering nothing in military meetings which
could lead to agreement and of stalling start of on-the-spot talks in
Indochina. Dong ridiculed recent initialling of [Page 1072] Vietnam independence
treaty in Paris, saying it was simply fulfilling condition laid down by US for
intervention in Indochina.
Dong then made several proposals, suggested conference discuss in
“realistic fashion” proposals tabled by Chou En-lai. Invited French delegate
expedite on-the-spot contacts of military representatives in Indochina. Invited
conference to embark immediately on discussion of political questions such as
recognition of Vietnam, general elections, and relations Indochina with France,
including association of Vietnam with French Union.
Third speaker was Tep Phan, Cambodian delegate, who again drew attention
to fact that Cambodia was victim of Viet Minh aggression and reiterated
Cambodian demand for complete evacuation Viet Minh Forces. He then made
four-point proposal. (See Secto 367.6)
Turning to task of International Control Commission, Tep Phan said its
tasks different in Cambodia than Vietnam and outlined its control functions in
Cambodia as follows: (1) evacuation of Viet Minh regular and irregular forces;
(2) disarming of all armed elements not in the army or police forces; (3)
liberation and exchange of POW’s and civilian internees; (4) external
activities endangering peace and security of Cambodia.
Phan emphasized his government could not accept any control over the
entry of troops and war material into Cambodia, pointing out that unlike
Vietnam there would be no armistice in Cambodia since all Viet Minh troops
would be withdrawn. He assured Communist delegates Cambodian Army being trained
for defense frontiers only and said his government prepared under certain
conditions limit size of army in order not to pose threat to neighboring
countries.
Cambodian delegate then discussed briefly questions composition
International Control Commission, pointing out Korean experience demonstrated
uselessness of Commission with composition suggested by Soviet delegate. He
referred again to Cambodian proposal on composition of June 47 and suggested if no agreement could
be reached on Commission of neutral countries control of armistice should be
entrusted to UN.
Following recess, Molotov made long speech which included attacks on US,
France and Associated States. Beginning with comments on insincerity some
participant this conference which supposed to be concerned with restoration
peace in Indochina, he then claimed US scheming on Southeast Asia military pact
with colonial powers; pointed to military talks in Washington; accused US of
ordering Thailand UN appeal in order prepare for UN intervention which really
US.
Molotov then stated that Indochina cease-fire must be enduring and
therefore necessary take up political problems. Although priority military
question agreed at beginning conference, it was now time to sum up and begin on
political matters. He noted result of discussion of various proposals was some
movement toward reconciliation, such as agreement simultaneous cease-fire, in
spite some reservation, regroupment regular forces, and meeting of military
representatives.
Also establish agreement in principle to Viet Minh proposal
non-introduction foreign troops and arms after cease-fire. No doubt raised
necessity Joint Commissions or international supervision. Guarantee of
settlement by conference powers suggested by France received favorably by
Soviet delegate. In discussing guarantees, Molotov, did not mention
“collective”.
Molotov also marked areas disagreement such as function and composition
International Supervisory Commission, and noted “crude attempts discredit NNSC
in Korea”. Maintained Communist position of more important role for joint
committees which should be responsible for all on-the-spot measures to ensure
the cessation of hostilities.
Leading up to further comment on political questions, he praised national
liberation movements in three states. Acknowledged differences in three such as
three quarters of Vietnam in hands of movement while in Laos one-half of
country not under control of “official agencies of the government”. Cambodia
“less” but developing. Ridiculed claims of Associated States to independence,
pointing out no Asian power believes this true; that is why they have not
recognized. Eight years of attempts to re-establish colonial regime has
resulted in 100,000 French killed, wounded and cost of 2,000 billion francs and
heavy defeats in spite US aid. War was not in national interest of France, but
if French Government wished to end it there was now possibility peace with honor
on both sides.
Molotov disliked dwelling on military matters and said restoration peace
required settlement two basic political questions: (1) relationships between
France and Indochina states, and (2) internal political matters. Since Viet
Minh had made generous offer, including readiness to examine French Union
membership, and French had claimed willingness to recognize independence of
three states, should not be too difficult to reach agreement.
Then returned to attack Associated States Government quoting from US
House Committee reports to prove Associated States lack independence. Commented
Dien-Bien-Phu defended by foreigners who had nothing to do with France or
Vietnam. Noted futile attempts to prove foreign elements with Viet Minh.
Further proof lack of popular support for Bao Dai was failure to mobilization.
He devoted considerable comment to subject national elections in Vietnam
and asked for French position. Ridiculed performance of Vietnamese in municipal
elections and quoted western sources to effect Viet Minh would win if national
elections held. Elections must be held in Vietnam under conditions freedom of
activity for patriotic parties, groups and organs. However, elections should be
preceded by withdrawal foreign troops, which requires military settlement at
Geneva. He then enumerated three main political problems as: (1) establish
Franco-Indochina relations on basis equality and freedom; (2) free elections in
all three states for democratic government; (3) on-thespot contacts in
Indochina for contribution to political as well as military settlement.
Molotov concluded with repetition of call for free elections after
foreign troops withdrawal, direct contact in Indochina, and then proposed
parallel consideration by conference of political and military matters by means
alternate meetings.
Eden then made strongest and most forceful statement thus far made by UK
in conference (Secto 404)8 during which he suggested five
Colombo powers for Supervisory Commission.
Bidault returned with vigorous but dignified reproach to tone and line of
Communist speeches this session. Disappointed by insistence on political
question, since cessation hostilities was obviously beginning of any solutions.
He referred to speech on Korea by Soviet delegate in Security Council Malik in
June 1951 and quoted him as follows:
“The Soviet peoples believe that the first measure should be to introduce
discussions between belligerents for the purpose of bringing about a cease-fire
and an armistice, involving the withdrawal of the forces behind an agreed
line”.
Said Viet Minh should not worry over lack of contacts Indochina since
instructions had been given to French authorities to carry this out. Hoped
duality these contacts Indochina and Geneva would not cause delays. Said that
answer to Dong’s remark that some people wanted international war was that
simplest means preventing this was to end war. Made special reference to
Molotov’s attacks and noted lack of urbanity usually found in this eminent and
experienced diplomat, and regretted that one of conference chairmen had
resorted to partisan attack.
Dinh commented that truce on insults should be first order of business.
Eden then called on US delegate.
Under Secretary offered forgo his statement in view late hour if other
remaining inscribed delegates willing do same. Molotov said he would like speak
one minute. Under Secretary refused yield to Molotov and then made statement
Secto 403.9
Molotov, obviously reacting to effective comments by Bidault, denied his
speech insulting and said he was only recalling “certain bitter harsh facts”.
Bidault replied facts must be respected but question is how facts are
narrated.
Eden closed meeting by suggesting that remaining two inscribed speakers
could speak at tomorrow’s plenary. Meeting adjourned at 7:50.
Comment: Bidault last statement superb job of offsetting Molotov’s
obvious appeal to French opinion and turning tables on Communists by placing
onus on them for failing achieve cease-fire because of intransigence and
introduction extraneous issues as opposed reasonableness and conciliatory
approach of French.
Smith
1. A set of minutes of
this meeting (US Verb Min/5) is in Conference files, lot 60 D 627, CF 277. The
minutes indicate that the meeting convened at 3:03 p.m. and adjourned at 7:50
p.m. The minutes are also printed in Conférence de Genève, pp. 205–236. The
speeches of Bidault, Molotov, and Eden, and the proposal made by the Cambodian
Delegation are printed in Cmd. 9186, pp. 137–153. The speeches of Eden,
Bidault, Tep Phan, Pham Van Dong, and Molotov, Indochina Documents IC/17, IC/18,
IC/20, IC/21, and IC/22, respectively, and the Cambodian proposal, IC/19, of
June 8–9, are in Conference files, lot 60 D 627, CF 279A.↩
2. See telegrams Secto
240 and 241, May 17, pp. 831 and 833, respectively.↩
3. See telegram Secto
349, May 29, p. 970.↩
4. Reference to meeting
between French and Vietnamese military representatives at Geneva.↩
5. See telegram Secto
302, May 26, p. 920.↩
7. See telegram Secto
379, June 4, p. 1031.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d699
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1070
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1071
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1072
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1073
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1074
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1075
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_831
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_833
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_920
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_970
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1014
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1031
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/pg_1077
Thân thế (các) nhân vật
Bao Dai,
Chief of State of Vietnam.
French Minister for Foreign Affairs until June 18, 1954;
Head of the French Delegation at the Geneva Conference until June 18, 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Georges_Bidault
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d338
https://www.britannica.com/biography/Georges-Bidault
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d398
https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/CWIHPBulletin16_p1.pdf
https://spartacus-educational.com/2WWbidault.htm
https://apps.dtic.mil/sti/tr/pdf/ADA007286.pdf
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch020.asp
Premier
of the People’s Republic of China; member, Standing Committee of the Chinese
Communist Party’s Political Bureau
https://en.wikipedia.org/wiki/Zhou_Enlai
https://en.wikipedia.org/wiki/Premier_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Minister_of_Foreign_Affairs_of_the_People%27s_Republic_of_China
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_Chairman_of_the_Chinese_Communist_Party
https://en.wikipedia.org/wiki/Chairman_of_the_Chinese_People%27s_Political_Consultative_Conference
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v17/d139
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/zhou-enlai-talking-ho-chi-minh
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/search?f[0]=topics:86538&fo[0]=86538
Tài liệu
Chu Ân Lai yêu
cầu Hoa Kỳ loại bỏ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và dùng Dương Văn Minh để lật
đổ hai nền Đệ I và Đệ II VNCH.
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/discussion-between-zhou-enlai-and-le-duc-tho
https://digitalarchive.wilsoncenter.org/document/89367/download
British Secretary of State for Foreign
Affairs; Head of the British Delegation at the Geneva Conference; one of the
three rotating chairmen of the Geneva Conference on Korea.
https://en.wikipedia.org/wiki/Anthony_Eden
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d91
https://adst.org/2015/06/sound-and-the-fury-the-1954-geneva-conference-on-vietnam-and-korea/
https://theasanforum.org/9324-2/
https://api.parliament.uk/historic-hansard/people/mr-anthony-eden/1954
https://media.un.org/photo/en/asset/oun7/oun7758434
Soviet
Minister of Foreign Affairs; Head of the Soviet Delegation at the Geneva
Conference; one of the three rotating chairmen of the Geneva Conference on
Korea.
https://en.wikipedia.org/wiki/Vyacheslav_Molotov
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d801
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d232
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch018.asp
https://www.britannica.com/biography/Vyacheslav-Molotov
Nguyễn Quốc Định,
Minister of Foreign Affairs of the State of Vietnam until June 16,
1954; State of Vietnam Delegate at the Geneva Conference.
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Qu%E1%BB%91c_%C4%90%E1%BB%8Bnh
https://en.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Qu%E1%BB%91c_%C4%90%E1%BB%8Bnh
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d708
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch022.asp
Prime
Minister of the Democratic Republic of Vietnam
Vice President of the Council of
Ministers and Acting Minister for Foreign Affairs of the Democratic Republic of
Vietnam; Head of the Delegation of the Democratic Republic of Vietnam at the
Geneva Conference.
Under
Secretary of State; Head of the United States Delegation at the Geneva
Conference, May 3–June 20, and July 17–21, 1954.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/ch5subch4
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch006.asp
https://www.cia.gov/readingroom/docs/CIA-RDP80B01676R002500010001-5.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d1027
https://search.library.wisc.edu/digital/ABHSHVCERGRA6I86/pages/ALUZ5OG5PRZCCH83?as=text&view=scroll
https://en.wikipedia.org/wiki/Walter_Bedell_Smith
Tep
Phan,
Minister
of Foreign Affairs of Cambodia; Head of the Cambodian Delegation at the Geneva
Conference.
No comments:
Post a Comment