20260419 CDTL HST D536 25 July 1950 Điện tín của Bộ trưởng Heath tại Sài Gòn gửi Bộ trưởng Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d536
Google Translated
Tài liệu 536
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1950, Đông Á và Thái Bình Dương, Tập VI
851G.00R/7–2550: Telegram the Minister at Saigon Heath to the Secretary of State.
Mật
Sài Gòn, ngày 25 tháng 7 năm 1950 — 10 giờ sáng
100.
1. Trong các dịp được đề cập tại các điện tín số 52 (ngày 15 tháng 7), số 70 (ngày 19 tháng 7) và Toeca số 140 (ngày 21 tháng 7), phía Pháp đã nhắc nhở chúng tôi về vai trò đặc biệt được dành riêng cho họ theo Hiệp định ngày 8 tháng 3 và các thỏa thuận bổ trợ; đồng thời đưa ra những gợi ý lịch sự nhưng không được yêu cầu về phương hướng mà phái bộ nên theo đuổi trong quá trình tiếp xúc với phía Việt Nam. Họ đề nghị thay đổi cách diễn đạt trong thư ủy nhiệm của tôi nhằm làm nổi bật vai trò của Liên hiệp Pháp (điện tín số 63, ngày 19 tháng 7); họ thúc giục ông Blum đưa vào bản dự thảo thỏa thuận viện trợ kinh tế song phương những câu chữ nhấn mạnh các nghĩa vụ của Việt Nam với tư cách là một thành viên của Liên hiệp Pháp; và họ đã gửi cho tôi bức thư được nhắc đến trong điện tín số 70, trong đó yêu cầu chúng tôi nhắc nhở phái bộ khảo sát MDAP không được đưa ra bất kỳ cam kết nào với đại diện của các Quốc gia Liên kết mà chưa tham vấn ý kiến của phía Pháp. Bức thư này được gửi đi mà không hề có sự thảo luận trước về chủ đề này, cũng như không hề báo trước cho Phái đoàn chúng tôi biết rằng Cao ủy nhận thấy cần thiết phải đưa ra lời nhắc nhở như vậy.
2. Tôi tin chắc rằng phía Pháp coi thái độ của chúng ta là hoàn toàn đúng đắn. Quan hệ giữa chúng ta vẫn tiếp tục duy trì — như vốn dĩ vẫn thế — ở mức thực sự tuyệt vời và được đặc trưng bởi sự tôn trọng lẫn nhau. Tôi báo cáo những vấn đề này đơn thuần chỉ để lưu hồ sơ, cũng như để minh họa cho nét đặc trưng về sự nhạy cảm thái quá của người Pháp — điều vốn đã trở nên quen thuộc đối với Bộ Ngoại giao. Xét đến mối quan hệ đầy nhạy cảm của họ với phía Việt Nam, người Pháp luôn lo ngại rằng một hoạt động nào đó thiếu sự phối hợp từ phía chúng ta có thể sẽ "làm đổ vỡ mọi chuyện" (upset the apple cart), hoặc xúi giục phía Việt Nam theo đuổi những kế hoạch thiếu thực tế và từ bỏ các thỏa thuận đã đạt được giữa Pháp và Việt Nam (nỗi sợ hãi này đã bộc lộ rõ nét trong chuyến thăm của phái đoàn Griffin, chuyến thăm của lực lượng hải quân, cũng như trong giai đoạn khủng hoảng chính phủ). Sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao, thái độ của phía Pháp đã bớt phần bất an hơn; điều này càng trở nên rõ rệt hơn khi nhận thấy rằng trong suốt năm tháng kể từ khi chúng ta công nhận Bảo Đại, không có bất kỳ hành động nào từ phía chúng ta gây ra sự đổ vỡ hay xáo trộn nào. Tôi tin rằng phía Pháp hiểu rõ rằng phái bộ này sẽ đánh mất phần lớn giá trị hữu ích của mình đối với Hoa Kỳ — cũng như đối với sự đồng thuận Pháp-Mỹ — nếu phía Việt Nam coi đây chỉ là một công cụ nằm dưới sự điều khiển của Cao ủy Pháp. [Trang 838]
3. Tôi tin rằng có một số lý do khiến Pháp chọn thời điểm này để giải quyết dứt điểm các vấn đề còn tồn đọng cho chúng ta:
a. Sự kiện tại Triều Tiên cho thấy sự cần thiết phải củng cố hàng ngũ và tăng cường hợp tác giữa Hoa Kỳ và Pháp.
b. Ông Pignon sắp sửa lên đường sang Pháp để lưu lại trong một thời gian dài, và có lẽ ông cho rằng việc làm rõ lập trường của mình trước khi khởi hành là điều nên làm.
c. Tương tự, việc tôi đến đây với tư cách là đặc phái viên ngoại giao đầu tiên tại Việt Nam có lẽ đã được xem là một cơ hội để thực hiện điều tương tự.
d. Pignon vẫn nhớ như in những trải nghiệm trong phái bộ Griffin, cũng như sự phấn khích tột độ nảy sinh trong lòng người Việt khi họ lần đầu tiên bước vào các cuộc đàm phán với các cường quốc bên ngoài. Ông thường nói rằng, nếu ông trở lại Việt Nam sớm hơn vài ngày trước khi các cuộc họp bắt đầu, ông đã có thể ngăn chặn được hành động chống đối của Phan Long đối với phía Pháp—một hành động vốn chỉ xoay quanh một vấn đề tương đối không mấy quan trọng. Ông cũng nhận thức rõ rằng, trong thời gian gần đây, người Việt—và chính bản thân Bảo Đại—đã có xu hướng kêu gọi sửa đổi các điều khoản chi phối mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trong lĩnh vực quân sự. Có lẽ ông đã lo ngại rằng họ sẽ tận dụng cuộc gặp gỡ với phái bộ quân sự này như một cơ hội để gây sức ép nhằm đạt được những yêu sách của mình. Ông cũng biết rằng cuộc họp đó sẽ chủ yếu do Bộ trưởng Quân lực của Bảo Đại là ông Vinh điều hành, và rằng gần đây, các tín đồ Cao Đài đã bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu bất mãn đối với Chính phủ của Thủ tướng Hữu cũng như đối với Bộ chỉ huy quân sự Pháp.
4. Vì những lý do này, Pignon đã đặc biệt nỗ lực để điều phối cuộc họp, gửi thư cho chúng tôi và liên hệ với Khắc Vệ—Quyền Chủ tịch—về chương trình nghị sự. Dù có phải là kết quả từ sự quan tâm của ông ấy hay không, phía Việt Nam đã đưa ra rất ít yêu cầu mà người Pháp chưa từng nêu thay cho họ từ trước (Điện tín số 84, ngày 22 tháng 7); họ hoàn toàn tránh xa các vấn đề gây tranh cãi và không hề nhắc đến các bản ghi nhớ "Bảo Đại" hay "Quát"—vốn là những bản phác thảo chính thức duy nhất về nhu cầu vũ khí mà chúng tôi từng nhận được từ phía họ trước đó.
5. Trong cuộc trò chuyện thân mật với ông Pignon gần đây, tôi đã đề cập đến bức thư của ông ấy và đảm bảo với ông rằng chúng tôi nắm rất rõ các điều khoản trong Thỏa thuận ngày 8 tháng 3 cũng như các thỏa thuận khác có thể ảnh hưởng đến việc phân bổ viện trợ của Hoa Kỳ, và rằng phái đoàn quân sự đã được quán triệt kỹ lưỡng về những vấn đề này. Thư hồi đáp của tôi gửi cho ông ấy sẽ chỉ giới hạn ở nội dung tương tự như tuyên bố vừa nêu. Tôi tin rằng ông Pignon đã hiểu rõ lập trường của chúng tôi.
Gửi Bộ Ngoại giao: Điện số 100; gửi tham khảo cho Paris: Điện số 57.
Heath.
1. Bộ trưởng Donald R. Heath đã đến Sài Gòn vào ngày 5 tháng 7.↩
2. Không được in.↩
3. Tài liệu này đề cập đến phái đoàn khảo sát chung thuộc Chương trình Hỗ trợ Quốc phòng tại Đông Nam Á, do ông John F. Melby— Phụ tá Đặc biệt của ông Dean Rusk, Phụ tá Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Viễn Đông—và Thiếu tướng Graves B. Erskine—Tư lệnh Sư đoàn 1 Thủy quân Lục chiến—đồng dẫn đầu. Để xem thông cáo báo chí công bố việc cử phái đoàn này (ngày 5 tháng 7) cùng các tài liệu khác liên quan đến công tác và các khuyến nghị của phái đoàn, xin xem từ trang 1 trở đi.↩
4. Không được in.↩
5. Không được in.↩
6. Yêu cầu hỗ trợ quân sự từ Hoa Kỳ do Bảo Đại đệ trình được tóm tắt trong điện tín số 69 gửi từ Sài Gòn, ngày 31 tháng 1, trang 707. "Bản ghi nhớ Quát" đề cập đến một yêu cầu viện trợ quân sự của phía Việt Nam, được trình lên Đại tá Duff—một quan sát viên thuộc Phái đoàn Griffin. Tham tán Gullion đã thảo luận về bản ghi nhớ này với Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phan Huy Quát vào ngày 24 tháng 3. Ông Quát cho biết danh mục này chủ yếu dựa trên yêu cầu của Bảo Đại, có bổ sung thêm một vài hạng mục. Bản tóm tắt danh mục này cùng những nhận xét của Phái bộ về nội dung đó đã được gửi đi trong điện tín số 204 từ Sài Gòn, ngày 25 tháng 3 (điện tín này không được in). (751G.00/3–2550)↩
List of abbreviations and symbols
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp1
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/comp5
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/ch6
1. Document 536
Foreign Relations of the United States, 1950, East Asia and the Pacific, Volume VI
851G.00R/7–2550: Telegram
The Minister at Saigon (Heath)1 to the Secretary of State
secret
Saigon, July 25, 1950—10 a. m.
100. 1. On occasions cited in Legtels 52, July 15; 70, July 19; Toeca 140, July 21,2 French have reminded us of special role reserved for French under the March 8 and collateral agreements and offered polite but unsolicited suggestions about course the mission should pursue in contact with Viets.3 They suggest changes in wording of my letters of credence to bring French Union to fore (Deptel 63, July 19);4 they urged on Blum inclusion of wording in draft economic aid bilateral to stress Vietnam obligations as member of French Union, and they have addressed to me the letter cited in Legtel 70 which asks us to caution MDAP survey mission not to enter into any commitments with Associated States’ representatives without consulting the French interest. This letter was sent without prior discussion of the subject or intimation to Legation that the High Commissariat considered such a caution might be needed.
2. I am confident that the French consider our attitude entirely correct. Our relations continue to be, as they have always been, genuinely excellent and marked by mutual respect. I report these matters merely for record and as characteristic of a special French touchiness already familiar to the Department. In view their delicate relations with Viets French are always afraid that some uncoordinated activity of ours might upset the apple cart or prompt the Viets to unrealistic plans and desertion of French-Vietnam understandings (this fear was evident during the visit of the Griffin mission, the naval visit and during the government crisis). Following Foreign Ministers’ conference French attitude became less uneasy, the more so since no apple carts had been upset by us in five months since our recognition of Bao Dai. I trust French realize that this mission would lose much of its utility to US and to the US-French entente if Viets were to consider it a tool of the High Commissariat.
3. I believe that there are several reasons why French chose to dot the eyes for us at this time:
a.
The Korean episode suggests necessity of tightening the ranks and US-French cooperation.
b.
Pignon is about to leave for extended stay in France and perhaps thought it well to make position clear before his departure.
c.
Similarly my arrival here as the first diplomatic envoy to Vietnam may have seemed an opportunity to do the same thing.
d.
Pignon recalls vividly the experience of the Griffin mission and the intoxication produced among the Viets by their first negotiations with outside powers. He has often said that if he had returned to Vietnam a few days before the beginning of the meetings he could have averted Phan Long’s defiance of the French on what was relatively an inconsequential issue. He knows also that Viets and Bai Dai himself have tended recently to call for revision of the provisions governing French and Vietnamese relations in military matters. He may have feared they would make the meeting with the military mission an occasion for pressing their demands. He knew also that the meeting would be largely directed by Bao Dai’s Minister for Armed Forces, Vinh, and that the Caodaists have lately shown signs of disaffection toward Huu Government and with French command.
4. For these reasons Pignon took special pains to coordinate the meeting sent us his letter and was in contact with Khac Ve, the acting president about agenda. Whether as a result of his interest or not Viets asked little that French had not already asked in their behalf (Legtel 84, July 22),5 stayed completely away from controversial issues and never mentioned the “Bao Dai” or “Quat” memoranda6 which were the only official outline of arms needs which we had previously received from them.
5. In cordial conversation with Pignon recently I referred to his letter and assured him that we were well aware of provisions of the March 8 and other agreements which might affect distribution of US aid and that the military mission was well briefed on these matters. My acknowledgement of his letter will be limited to about that same statement. I believe Pignon appreciates our position clearly.
Sent Department 100; repeated information Paris 57.
Heath
1. Minister Donald R. Heath arrived at Saigon on July 5.↩
2. None printed.↩
3. Reference is to the joint Mutual Defense Assistance Program survey mission to Southeast Asia headed by John F. Melby, Special Assistant to Dean Rusk, Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs, and Maj. Gen. Graves B. Erskine, Commanding General of the First Marine Division. For the press release announcing the dispatch of the mission, July 5, and other documentation on its work and recommendations, see pp. 1 ff.↩
4. Not printed.↩
5. Not printed.↩
6. The request for United States military assistance submitted by Bao Dai is summarized in telegram 69 from Saigon, January 31, p. 707. The “Quat memorandum” refers to a Vietnamese request for military aid presented to Colonel Duff, an observer with the Griffin Mission. Chargé Gullion discussed the memorandum with Vietnamese Defense Minister Phan Huy Quat on March 24. Quat indicated that the list was largely based on the Bao Dai request with a few additions. A summary of the list and the Legation’s comments on it were transmitted in telegram 204 from Saigon, March 25, not printed. (751G.00/3–2550)↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/d536
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950v06/pg_838
Thân thế (các) nhân vật
Harry S. Truman
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_presidents_of_the_United_States
https://www.whitehousehistory.org/the-presidents-timeline
https://en.wikipedia.org/wiki/Harry_S._Truman
https://millercenter.org/president/truman/life-in-brief
https://www.whitehousehistory.org/bios/harry-truman
https://www.trumanlittlewhitehouse.org/key-west/president-truman-biography
https://www.trumanlibrary.gov/education/trivia/biographical-sketch-harry-truman
No comments:
Post a Comment