20260426 CDTL HST DDE D105 6 August 1952 Điện tín Ngoại trưởng gửi cho Bộ Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d105
Google Translated
Tài liệu 105
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
790.5/8–652: Điện tín Ngoại trưởng gửi cho Bộ Ngoại giao.
Tối mật
Kaneohe, Hawaii, ngày 6 tháng 8 năm 1952 — 10 giờ tối
Secto 13. Thông tin được báo cáo tới Canberra 6, Wellington 6, London 6, Tokyo 4, Đài Bắc 4, Manila 4, Jakarta 4, Paris 1, Sài Gòn 4. Ngoại trưởng đã mở đầu phiên họp sáng thứ Tư bằng việc trình bày toàn diện về khu vực Đông Nam Á. Ông khẳng định với Hội đồng rằng Hoa Kỳ coi khu vực này có tầm quan trọng chiến lược to lớn trên mọi phương diện. Một phần thiết yếu của khu vực này chính là Đông Dương. Để củng cố khu vực này, chúng tôi đã thúc giục phía Pháp đẩy nhanh hơn nữa tiến trình chuyển giao quyền hành chính cho ba Quốc gia Liên kết. Tiến trình đạt được còn chậm, song vào thời điểm hiện tại, có lẽ phía Pháp đã thực hiện được mức tối đa có thể.
Thứ hai, chúng tôi đã khuyến khích việc phát triển Quân đội Việt Nam, đồng thời cung cấp trang thiết bị cho lực lượng này, với niềm tin rằng đây là phương cách đầy triển vọng nhất để củng cố tinh thần kháng cự chống lại chủ nghĩa cộng sản. Chúng tôi cảm thấy quan ngại trước sự suy giảm trong tinh thần tấn công của quân Pháp kể từ sau cái chết của Tướng De Lattre, cũng như trước một số dấu hiệu cho thấy các nỗ lực của họ đã chuyển sang thế phòng ngự cầm cự—một điều mà chúng tôi coi là một sai lầm.
Vị Thư ký đã mô tả về các lực lượng của Việt Nam cũng như Quân đội Việt Minh, đồng thời chỉ ra rằng nếu lực lượng này được tăng cường thêm một số lượng đáng kể binh lính Tầu cộng, thì có lẽ sẽ không thể chống trả thành công.
Tiếp đó, Thư ký đã đọc các đoạn từ 27 đến 32 trong báo cáo của Ủy ban Đặc biệt về Đông Nam Á. Ông cũng đọc các sửa đổi do phía Anh đề nghị—những sửa đổi mà Hoa Kỳ cho rằng đã khiến bản báo cáo trở nên vô giá trị. Theo quan điểm của chúng tôi, các cuộc tham vấn quân sự liên quan đến Đông Nam Á sẽ không thể mang lại kết quả mong đợi nếu các sĩ quan bị buộc phải giới hạn phạm vi thảo luận chỉ trong việc xem xét vấn đề kháng chiến tại Đông Dương.
Chúng tôi tin chắc rằng Đông Nam Á không nên bị sụp đổ. Một điều chúng ta có thể làm để ngăn chặn điều này là đưa ra cảnh báo rõ ràng cho những người Tầu cộng rằng cuộc tấn công sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, chúng ta không thể đưa ra cảnh báo mang tính phòng ngừa như vậy mà không quyết định phải làm gì để hỗ trợ nó. Điều này dẫn đến tình thế tiến thoái lưỡng nan là chúng ta không thể làm gì trừ khi các chính trị gia cho phép các cuộc đàm phán quân sự không hạn chế. Sau đó, Ngoại trưởng [Trang 238] đọc từ tài liệu hướng dẫn được soạn thảo tại London để đạt được thỏa thuận giữa các chính phủ để các cuộc đàm phán quân sự như vậy có thể diễn ra. Ông nói thêm rằng Pháp và Anh đã phê duyệt tài liệu hướng dẫn nhưng Mỹ vẫn chưa tin rằng ở dạng hiện tại, nó sẽ cho phép đưa ra các khuyến nghị về các hành động quân sự cần thiết có thể xảy ra.
Khi trả lời các câu hỏi nêu trên, ông Bộ trưởng cho biết chưa thể đưa ra câu trả lời dứt khoát về thái độ của phía Pháp, song các bằng chứng hiện có cho thấy nếu nhận được sự hỗ trợ từ phía ta, họ sẽ tiếp tục cuộc chiến. Ông nhận định rằng Chính phủ Pháp vẫn kiên định với lập trường duy trì sự hiện diện tại Đông Dương, mặc dù trong nội bộ, những thế lực mạnh mẽ nằm ngoài chính phủ đương nhiệm lại mong muốn rút quân. Có hai yếu tố ủng hộ lập trường hiện tại của Chính phủ Pháp:
(1) Việc hô hào Pháp nên rút quân thì dễ, nhưng thực hiện lại vô cùng khó khăn;
(2) Giữa việc Pháp rút quân khỏi Đông Dương và thái độ của người dân Bắc Phi đối với Pháp có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Vấn đề lớn nhất hiện nay là gánh nặng to lớn đè lên nền kinh tế và nguồn nhân lực của Pháp, khiến nước này không thể thực hiện những bước đi mà họ mong muốn nhằm bảo vệ châu Âu. Tuy nhiên, hiện tại phía Pháp đã có đôi chút hy vọng, bởi họ có thể khẳng định rằng mình đang xây dựng một đội quân tại Đông Dương—điều sẽ tạo tiền đề cho việc rút quân Pháp về nước trong tương lai. Hơn nữa, sẽ rất hữu ích nếu chúng ta liên tục trấn an phía Pháp rằng những nỗ lực mà họ đang thực hiện tại Đông Dương là nhằm phục vụ lợi ích chung trong cuộc chiến chống lại sự xâm lược của chủ nghĩa Cộng sản.
Về các cuộc đàm phán quốc phòng ở Đông Nam Á, Bộ trưởng cho biết chúng tôi hy vọng sẽ nhận được các khuyến nghị rõ ràng về một loạt các kế hoạch thay thế. Sau đó, ông quay sang Đô đốc Radford để xin ý kiến về việc liệu có thể ngăn chặn được phe Cộng sản giặc Hồ ở Đông Nam Á hay không.
Ông Radford đã phân tích tình hình tại khu vực Đông Nam Á theo cách sau: Hoa Kỳ, Pháp và Anh có cùng quan điểm về tầm quan trọng của khu vực này, song lại không phối hợp hành động trên phương diện chính trị. Tư duy chính trị của Anh và Pháp—vốn chịu ảnh hưởng từ giới doanh nhân của họ—cho rằng họ có thể duy trì vị thế hiện tại bằng cách án binh bất động và từ chối chấp nhận bất kỳ rủi ro nào, chẳng hạn như những rủi ro vốn tiềm ẩn trong loạt hành động quân sự đã được đề nghị. Theo quan điểm của ông Radford, thái độ này là sai lầm. Bất chấp những rủi ro có thể đe dọa Hồng Kông và Đông Dương, chúng ta vẫn nên ngồi lại và đối thoại một cách thẳng thắn. Chúng ta không được quên rằng phía Tầu cộng cũng đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng: họ sở hữu lực lượng quân sự quy mô lớn trên danh nghĩa, nhưng thực tế lại không có nhiều sư đoàn được huấn luyện bài bản; họ thiếu đi khả năng cơ động như của chúng ta; và họ cũng rất dễ bị tổn thương về mặt hậu cần.
Phe Cộng sản đang đạt được những bước tiến lớn nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất tại châu Á, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể ngăn chặn họ nếu thực sự quyết tâm làm vậy. Ngay cả việc duy trì thế trận củng cố lực lượng tại Đài Loan thôi cũng đủ khiến phe Cộng sản phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi tấn công Hồng Kông. Đông Dương (IC) hoàn toàn có thể được giữ vững, nhưng không phải bằng cách đổ bộ bộ binh xuống đó—một hành động sẽ là sai lầm nghiêm trọng. Để ngăn chặn những thắng lợi của phe Cộng sản giặc Hồ tại Đông Dương, chúng ta có thể sẽ phải thực hiện đủ mọi biện pháp, chấp nhận cả những rủi ro—chẳng hạn như nguy cơ bị tấn công vào Hồng Kông. Khi trả lời thêm các câu hỏi liên quan đến khả năng hành động quân sự của chúng ta có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh tổng lực với Tầu cộng, ông Radford cho rằng khái niệm "chiến tranh tổng lực" là điều khó có thể hiểu thấu. Thực tế là chúng ta vốn dĩ đã và đang tham chiến trong một cuộc chiến như vậy với Tầu cộng, chỉ có điều cuộc chiến này hiện đang giới hạn trong phạm vi một chiến trường đơn lẻ.
Để trả lời các câu hỏi liên quan đến năng lực của các quan chức Việt Nam, ông Bộ trưởng và ông Allison cho biết rằng đội ngũ giới chức Việt Nam được đào tạo bài bản hiện rất khan hiếm; do đó, Chính phủ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp quản các khu vực đã được tái chiếm. Tuy nhiên, công tác đào tạo các cán bộ hành chính và lãnh đạo quân sự vẫn đang được triển khai; nhờ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, tình hình đã có những cải thiện đáng kể, và người ta kỳ vọng rằng đà tiến bộ này sẽ tiếp tục được duy trì.
Đáp lại yêu cầu từ phía Úc, Bộ trưởng đã thảo luận ngắn gọn về tình hình tại Miến Điện, Xiêm, Mã Lai và Indonesia theo nhận định của ông; tại tất cả các khu vực này, ông đều nhận thấy những dấu hiệu yếu kém đáng lo ngại, mặc dù cũng có ý kiến chỉ ra rằng tình hình tại Miến Điện hiện sáng sủa hơn so với một năm trước.
Cuộc họp kết thúc.
Acheson.
1. Bức điện tín này được truyền đi thành hai phần. Ngoại trưởng đang ở Hawaii để tham dự Hội nghị lần thứ nhất của Hội đồng ANZUS, diễn ra từ ngày 4 đến ngày 6 tháng 8. Để xem các tài liệu liên quan đến hội nghị này, xin tham khảo Tập XII.↩
2. Để xem toàn văn biên bản của Hoa Kỳ về Phiên họp thứ năm của Hội đồng ANZUS, diễn ra vào thứ Tư, ngày 6 tháng 8, xin tham khảo tài liệu đã dẫn trên.↩
3. Để xem toàn văn báo cáo ngày 5 tháng 2 của Ủy ban Đặc trách Năm cường quốc (gồm các đại diện quân sự), cũng như các tài liệu về những cuộc thảo luận chính trị-quân sự diễn ra sau đó liên quan đến việc phòng thủ khu vực Đông Nam Á, xin tham khảo tài liệu đã dẫn trên.↩
4. Đô đốc Arthur W. Radford, Tổng Tư lệnh Lực lượng Thái Bình Dương và Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ. Để xem những ghi chép của Đô đốc Radford về chính sách của Hoa Kỳ đối với khu vực Đông Dương trong giai đoạn 1950–1954, xin tham khảo cuốn *From Pearl Harbor to Vietnam: The Memoirs of Admiral Arthur W. Radford* (Từ Trân Châu Cảng đến Việt Nam: Hồi ký của Đô đốc Arthur W. Radford), do Stephen Jurika, Jr. biên tập (Stanford, Calif., Nhà xuất bản Hoover Institution Press, 1980), các trang 339–449.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1. Document 105
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
790.5/8–652: Telegram
The Secretary of State to the Department of State1
top secret
Kaneohe, Hawaii, August 6, 1952—10 p.m.
Secto 13. Rptd info Canberra 6, Wellington 6, London 6, Tokyo 4, Taipei 4, Manila 4, Djakarta 4, Paris 1, Saigon 4. Secretary opened Wednesday morning session2 with full treatment SEA area. He assured Council US regards this area of great strategic importance from every point of view. Vital part of area is Indochina. To strengthen it we have urged French to move more quickly on transfer of administrative power to three Associated States. Progress has been slow but at present French have probably gone as far as possible.
Secondly, we encouraged development Vietnam Army, supplying equipment therefor in belief this most hopeful way in which to encourage stiffness of opposition to communism. We have been concerned by decline in offensive spirit of French since death of De Lattre and some indications their efforts have become holding operation which we consider mistake.
Secretary described Vietnam Forces and also Viet Minh Army indicating that if this latter force augmented by substantial numbers Chinese troops it could probably not be successfully opposed.
Secretary then read paragraphs 27 to 32 of Ad Hoc Committee report on SEA. He also read British modifications which US believes made report useless. In our opinion military consultation re SEA could not produce desired results if officers were compelled to confine discussions to a consideration of resistance in Indochina only.3
We are convinced that SEA should not be allowed to fall. One thing we can do to prevent this is issue clear warning to Chinese Commies that attack would have grave consequences. However, we cannot issue such warning which has preventative quality without deciding what to do to back it up. This leads to dilemma that we can do nothing unless politicians will permit unrestricted military talks. Secretary then [Page 238] read from guidance paper worked out in London to reach agreement between govts so that such military talks might take place. He added that France and UK had approved guidance paper but US not yet convinced in present form it will permit recommendations on necessary possible courses of military action.
. . . . . . .
Secretary replying to above queries said there was no categorical answer re attitude of French but evidence indicated that with our help they would continue fight. He felt French Govt was solid in staying in IC although strong elements outside present Govt wanted to get out. Two factors worked in favor present Govt attitude: (1) It was easy to say French should get out but difficult to do; (2) There is close connection between French withdrawal in IC and attitude of people in North Africa toward French.
The great problem is heavy drain on French economy and manpower which prevents French from taking steps it would like to take in defense of Europe. Now, however, French have Some hope as they can say they are building Army in IC which will enable eventual withdrawal French forces. Moreover, it is help if we continuously assure French that what it is doing in IC is in common interest in fight against Commie aggression.
Re SEA defense talks Secretary said we hope to obtain clear recommendations on a series of alternative plans. He then turned to Admiral Radford4 for opinion as to whether Commies could be stopped in SEA.
Radford analyzed situation in SEA in following manner: United States, France and Britain think alike re importance SEA but are not working together politically. British and French political thought influenced by their businessmen is that they can hold on by sitting tight and accepting no risks such as those inherent in series of recommended military actions. In Radford‘s opinion this attitude is wrong. Despite risks to Hong Kong and IC we should sit down and talk frankly. We should not forget that Chinese too have serious problems: That they have large forces on paper but not so many trained divisions; that they do not have our mobility; that they are vulnerable logistically.
The Commies are making greatest advances in shortest time in Asia, but we can stop them if we make up our minds to do so. Even static stage of creating strength in Formosa will make Commies think before attacking Hong Kong. IC can be held but not by landing [Page 239] ground forces there which would be great mistake. To prevent Commie successes in IC we might have to do all sorts of things running risk for example of attack on Hong Kong. In reply to further questions concerning possibility our military action might lead to all-out war with China, Radford said term “all-out war” was incomprehensible. We are already engaged in such a war with Commie China but one limited to single theatre.
In reply to questions concerning caliber Vietnam officials, Secretary and Allison stated that well-trained Vietnam authorities were scarce and Govt therefore had difficulty in taking over reconquered areas. Problem of training administrators and military leaders, however, was proceeding and with US assistance there was improvement and it was hoped this would continue.
In response to Australian request, Secretary discussed briefly situation as he saw it in Burma, Siam, Malaya and Indonesia in all of which he found disturbing signs of weakness although it was pointed out that situation in Burma brighter than year ago.
. . . . . . .
Meeting adjourned.
Acheson
1. This telegram was transmitted in two parts.
The Secretary of State was in Hawaii for the First Meeting of the ANZUS Council, Aug. 4–6. For documentation on that conference, see volume xii.
2. For the text of the United States minutes of the Fifth Session of the ANZUS Council meeting, Wednesday, Aug. 6, see ibid.↩
3. For the text of the report of the Five-Power Ad Hoc Committee of military representatives Feb. 5, and documentation on subsequent political-military discussions regarding the defense of Southeast Asia, see ibid.↩
4. Adm. Arthur W. Radford, Commander in Chief, Pacific, and U.S. Pacific Fleet. For Radford‘s account of U.S. policy with respect to Indochina, 1950–1954, see From Pearl Harbor to Vietnam: The Memoirs of Admiral Arthur W. Radford, edited by Stephen Jurika, Jr. (Stanford, Calif., Hoover Institution Press, 1980), pp. 339–449.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d105
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_238
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_239
Secretary of State to January 20, 1953.
https://en.wikipedia.org/wiki/Dean_Acheson
https://history.state.gov/departmenthistory/people/acheson-dean-gooderham
https://millercenter.org/president/truman/essays/acheson-1949-secretary-of-state
https://www.britannica.com/biography/Dean-Acheson
https://professorships.jhu.edu/professorship/dean-acheson-chair/
https://adst.org/oral-history/fascinating-figures/dean-acheson-architect-of-the-cold-war/
https://www.trumanlibrary.gov/library/personal-papers/dean-g-acheson-papers
https://www.ebsco.com/research-starters/history/dean-acheson
Allison, John M.,
Acting Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs, to January 31, 1952; Assistant Secretary of State for Far Eastern Affairs, February 1, 1952–April 7, 1953; Ambassador in Japan from May 28, 1953.
https://en.wikipedia.org/wiki/John_M._Allison
https://grokipedia.com/page/John_M._Allison
https://search.library.wisc.edu/digital/A2LWVT7DTTEDZP8W/pages/ACDCHMPAAPPKTS8N?as=text&view=scroll
https://www.trumanlibrary.gov/library/truman-papers/harry-s-truman-paperspresidents-secretarys-files
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v14p2/d747
https://apjjf.org/2022/10/inoue
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v12p1/d281
De Lattre De Tassigny, Général d’Armée Jean,
French High Commissioner and Commander of French Forces in Indochina, December 1950–November 1951; died January 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_de_Lattre_de_Tassigny
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d8
https://www.britannica.com/biography/Jean-de-Lattre-de-Tassigny
https://ww2db.com/person_bio.php?person_id=738
Hoover, Herbert Jr.,
Under Secretary of State to February 1957
https://en.wikipedia.org/wiki/Herbert_Hoover_Jr.
https://www.presidency.ucsb.edu/documents/letter-herbert-hoover-jr-under-secretary-state
https://en.geneastar.org/genealogy/hooverh/herbert-hoover
https://history.state.gov/departmenthistory/people/hoover-herbert-clark-jr
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v19/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1950-55Intel/persons
https://1997-2001.state.gov/about_state/history/officers/usecs.html
Radford, Admiral Arthur W.,
Chairman of the Joint Chiefs of Staff to August 1957
https://www.jcs.mil/About/The-Joint-Staff/Chairman/Admiral-Arthur-William-Radford/
https://www.history.navy.mil/research/histories/ship-histories/danfs/a/arthur-w-radford.html
No comments:
Post a Comment