20260416 CDTL HST DDE D95 24 July 1952 Điện tín của ông Sturm Lãnh sự tại Hà Nội gửi Bộ Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d95
Google Translated
Tài liệu số 95
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
751G.00/7–2452: Điện tín của ông Sturm Lãnh sự tại Hà Nội gửi Bộ Ngoại giao.
Mật
Hà Nội, ngày 24 tháng 7 năm 1952 — 5 giờ chiều
74. Bộ gửi Saigon, Paris, DEPTAR G–2, ONI, AFOIN để biết. Thông tin đã được báo cáo tới Saigon (điện số 56) và Paris (điện số 42). Khoảng 100 tù binh Pháp đã được trả tự do vào ngày 20 từ một trại giam của Việt Minh gần Lạng Sơn, được cho là dưới sự bảo trợ của Hội Chữ thập đỏ. Bản tường thuật sau đây được cung cấp bởi một binh sĩ Pháp, người hôm qua đã dùng bữa trưa cùng 27 người hồi hương – những người từng thuộc Tiểu đoàn 3 Nhảy dù khi Lạng Sơn thất thủ vào cuối năm 1950. Phía Việt Minh đã cử một người cầm cờ trắng đến điểm trao trả – địa điểm vốn đã được thu xếp theo cách nào đó với phía Pháp; người này sau đó được các đồng đội của mình đi theo, và cả nhóm đã đi bộ suốt quãng đường dài để đến được tiền đồn của quân Pháp. Trong số 100 người khởi hành ban đầu, có 80 người – bao gồm 4 sĩ quan – đã vượt qua được quãng đường dài 45 dặm để đến với tự do bằng đường bộ, băng qua địa hình hiểm trở dọc theo Quốc lộ 4 (RC 4) để tới Phú Cố gần Tiên Yên; một số người đã gục ngã dọc đường và bị lính canh Việt Minh thủ tiêu. Một tù binh, người bị những người khác coi là kẻ phản bội, được cho là đã bị chính những người đồng đội này giết chết ngay trên đường đi.
Các tù binh được trả tự do đều bị coi là những kẻ đã quy thuận chủ nghĩa Cộng sản. Họ bị tách biệt khỏi những người khác, được cấp khẩu phần ăn tốt hơn trong suốt thời gian hai tháng học tập chính trị, buộc phải hát bài Quốc tế ca, và nhìn chung phải tiếp nhận đường lối Cộng sản thuần túy mà không hề có bất kỳ sự tham chiếu nào khác ngoài Việt Minh. Trại giam khá sạch sẽ. Các tù binh thông thường được phát cơm hàng ngày và thỉnh thoảng có thêm cá; ngược lại, những người tỏ thái độ hợp tác với Việt Minh lại được nhận thêm khẩu phần bổ sung dưới dạng những miếng thịt vụn và một lượng nhỏ muối—thứ vốn rất khan hiếm. Những tù binh ngoan cố hoặc bị đánh đập, bị giam trong "chuồng trâu", hoặc đơn giản là bị thủ tiêu. Các đội lao động chủ yếu được giao nhiệm vụ sửa chữa những tuyến đường bị hư hại do bom đạn từ trên không.
Các tù binh chiến tranh (PW) báo cáo rằng các sĩ quan Việt Minh đối xử với họ thực sự rất tử tế; không thấy bóng dáng sĩ quan Tầu cộng nào, ngoại trừ một thiếu tá người Đức và một người Sikh. Các tù binh người Senegal bị đối xử như trẻ con: họ bị tước mất bánh kẹo mỗi khi cư xử không đúng mực. Những người Maroc lại gây thất vọng cho phía Pháp: ban đầu được đề nghị hưởng chế độ đãi ngộ đặc biệt, nhưng sau đó nhiều người lại quay sang làm chỉ điểm. Các binh sĩ thuộc Quân đoàn Lê dương phải chịu sự tuyên truyền đặc biệt; theo thông tin do lính canh Việt Minh cung cấp, những người Đông Âu sẽ phải trải qua một khóa áp lực nhồi sọ nếu họ tỏ dấu hiệu hợp tác, sau đó được đưa trở lại châu Âu qua ngả Trung Quốc và Siberia. [Trang 223]
Trước khi được trả tự do, các tù binh nhận được những tờ truyền đơn để phân phát cho các đồng đội người Pháp, và tất cả đã cùng hát vang bài Quốc tế ca vào đêm trước khi diễn ra cuộc bàn giao. Tại điểm trả tự do, lính canh Việt Minh đã bắt tay từng người và vỗ nhẹ vào lưng các tù binh, như thể muốn bày tỏ niềm tin vào sự chuyển biến tư tưởng của họ sang chủ nghĩa Cộng sản.
Các tù binh bày tỏ sự kinh ngạc khi nhận thấy Hà Nội vẫn còn tương đối nguyên vẹn, bởi trước đó Việt Minh đã khiến họ tin rằng thành phố này đang bên bờ vực sụp đổ và chỉ thoát khỏi sự chiếm đóng là nhờ quân Pháp sắp sửa rút lui—khiến cho những nỗ lực đặc biệt từ phía Việt Minh trở nên không cần thiết. Họ cũng được thông báo rằng Tướng De Lattre đã tử trận do những vết thương hứng chịu trong "thảm họa Hòa Bình". Có một lần, máy bay Pháp đã thả dù thực phẩm đóng hộp xuống trại giam; các tù binh đã kịp tiêu thụ hết số thực phẩm này trước khi Việt Minh kịp can thiệp, vì thế phía Việt Minh bèn loan tin rằng chính Hồ Chí Minh đã sắp xếp đợt thả dù đó nhằm chứng minh rằng ông không hề mang tư thù cá nhân đối với các tù binh. Tuy nhiên, chỉ hai ngày sau đó, giọng điệu lại thay đổi hoàn toàn: các tù binh được cảnh báo rằng nếu họ còn nhặt bất kỳ thực phẩm nào được thả dù xuống nữa, họ sẽ phải chịu trừng phạt.
Các tù binh thuộc lực lượng lính dù vẫn còn tỏ thái độ bất mãn về hoàn cảnh bị bắt giữ; họ cho rằng một tiểu đoàn dù được thả xuống sân bay tại Lạng Sơn lẽ ra đã có thể giải cứu toàn bộ 300 người bị bắt tại đó, bởi vào thời điểm ấy, sân bay chỉ do một trung đội Việt Minh canh giữ. Họ cảm thấy rằng nếu các chỉ huy khi ấy có đủ bản lĩnh và sự tỉnh táo, họ đã có thể giải cứu toàn bộ số binh sĩ bị thất lạc tại địa điểm đó mà không gặp bất kỳ rủi ro nào.
Bộ Chỉ huy cho biết họ sẽ tiến hành thẩm vấn kỹ lưỡng các tù binh vừa được trả tự do, nhưng đồng thời cũng sẽ áp dụng phương pháp xử lý thấu đáo và hợp lý. Họ sẽ được gửi về Pháp để trải qua một giai đoạn hồi phục sức khỏe kéo dài khoảng hai tháng. Hầu hết các lính dù liên quan đến sự việc này đều đã tình nguyện tái ngũ; tuy nhiên, đa số trong số họ hiện đang có tình trạng thể chất khá suy yếu.
Sturm.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
1. Document 95
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
751G.00/7–2452: Telegram
The Consul at Hanoi (Sturm) to the Department of State
secret
Hanoi, July 24, 1952—5 p.m.
74. Dept pass Saigon, Paris, DEPTAR G–2, ONI, AFOIN, info. Rptd info Saigon 56, Paris 42. About 100 Fr PWs were released 20th from VM prison camp near Langson presumably under auspices Red Cross. Fol account comes from Fr soldier who lunched yesterday with 27 repatriates who had been with 3rd paratroop battalion when Lang-son fell late 1950. VM sent one man with white flag to release point somehow arranged with Fr; this man then followed by his comrades, who had walked whole distance to Fr outpost. Of 100 men who started 80, incl 4 officers, managed cover 45-mile distance to freedom on foot over rough terrain along RC 4 to Phuco near Tienyen; some fell by wayside and were done in by VM guards. One PW considered traitor by others said have been killed by them on journey.
PWs released were presumed converts to Communism. They were segregated from others, given better rations during two-month indoctrination period, made sing Internationale, and in gen subjected to straight Commie-line without any irrelevant ref to VM. Camp fairly clean. Regular prisoners given daily rice and occasion fish, while those appearing cooperate with VM reed added rations in form bits of meat and small quantities of scarce salt. Recalcitrant prisoners either beaten, confined in buffalo cage or simply killed. Work details were mostly to repair roads damaged by air bombing.
PW report VM officers about them definitely first-class; no Chi officers seen, but one German major and a Sikh. Senegalese PWs treated like children: deprived of sweets when they misbehaved. Moroccans proved disappointment to Fr: at first offer special treatment, many turned informers. Legionnaires subjected special propaganda; according info given by VM guards, Eastern Europeans put through intensive indoctrination course if they showed signs of cooperation and shipped back Europe via China and Siberia.
Before release, PWs recd leaflets to distribute to Fr comrades and all sang Internationale on eve of turn-over. At release point VM guards shook hands all around and clapped PWs on back as if to indicate confidence in their conversion to Communism.
PWs said be amazed at finding Hanoi relatively intact, as VM had given them believe town on verge of falling and saved from capture only because Fr were about to evacuate and special VM effort therefore needless. They were told De Lattre had died of wounds recd “at disaster of Hoa Binh”. On one occasion Fr planes air-dropped canned goods on camp; PWs consumed food before VM cld intervene, so latter passed word Ho Chi Minh had arranged drop to prove he had no grudge against PWs personally. Two days later tune changed and PWs told if they picked up any more air-dropped food they wld be punished.
Paratrooper PWs still resentful re conditions of capture, claiming that a paratroop battalion dropped on air strip at Langson cld have released all 300 captured there, since strip at time guarded by only platoon VM. They feel that if commanders had had nerve and presence of mind, they cld have recovered without risk all men lost that spot.
Fr Command said be subjecting released PWs to thorough interrogation, but also to intelligent handling. Will be sent France for recuperation period about two months. Most paratroopers involved have enlisted again; most are in shaky physical condition.
Sturm.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d95
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_223
Thân thế (các) nhân vật
De Lattre De Tassigny, Général d’Armée Jean,
French High Commissioner and Commander of French Forces in Indochina, December 1950–November 1951; died January 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_de_Lattre_de_Tassigny
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d8
https://www.britannica.com/biography/Jean-de-Lattre-de-Tassigny
https://ww2db.com/person_bio.php?person_id=738
Ho Chi Minh,
President of the Democratic Republic of Vietnam.
Sturm, Paul J.,
Member of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs, Department of State.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d48
https://adst.org/OH%20TOCs/Kattenburg,%20Paul.toc.pdf
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/comp2
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d161
https://afsa.org/sites/default/files/fsj-1952-05-may_0.pdf
https://www.jstor.org/stable/24911759
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d136
No comments:
Post a Comment