Friday, April 17, 2026

20260418 CDTL HST DDE D97 26 July 1952 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

20260418 CDTL HST DDE D97 26 July 1952 Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d97

Google Translated

Tài liệu 97

Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

751G.5/7–2652: Điện tín của Đại sứ Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.

Mật

Sài Gòn, ngày 26 tháng 7 năm 1952 — 7 giờ tối

219. Thông tin được báo cáo trong điện tín Paris số 53; Hà Nội không gửi điện phúc đáp. Hôm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Nghiêm Văn Trí đã đến gặp tôi để đề nghị Chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ Chính phủ Việt Nam mua hai chiếc máy bay Beechcraft (xem Điện tín Đại sứ quán số 218). Tôi đã nhân cơ hội này để thăm dò ý kiến ​​ông về các vấn đề quân sự và quân đội.

Ông Trí cho biết ông đã vô cùng bận rộn với việc giải quyết ổn thỏa một số vấn đề tại Bộ của mình. Quá trình phát triển Quân đội Quốc gia Việt Nam đã không diễn ra một cách mạch lạc và hợp lý như mong đợi, đồng thời vẫn còn tồn đọng những vướng mắc, đặc biệt là trong các lĩnh vực hành chính và hậu cần.

Ông Trí khẳng định mục tiêu của mình bao gồm hai khía cạnh: xây dựng một quân đội chính quy và phát triển một lực lượng du kích. Ông đặc biệt nhấn mạnh vào yếu tố thứ hai, tuyên bố rằng Việt Minh sở hữu cả hai loại lực lượng này, và do đó, việc chống lại quân du kích bằng chính các phương thức du kích là điều tối cần thiết. Ông Trí mong muốn thành lập các trường huấn luyện du kích. Khi tôi đặt câu hỏi liệu phía Pháp có đang trong quá trình huấn luyện du kích hay không, ông đáp rằng những nỗ lực của Pháp hiện đang tập trung vào việc phát triển các đơn vị theo mô hình biệt kích. Dường như ý định của ông Trí là phát triển các đơn vị mang đậm bản sắc và phương thức tác chiến bản địa hơn. Ông ngụ ý rằng phía Pháp tán thành các kế hoạch của mình, song lại không đưa ra một câu trả lời khẳng định dứt khoát.

Ông ấy đã gián tiếp chỉ ra rằng một trong những vấn đề trọng yếu trong việc xây dựng một lực lượng vũ trang Việt Nam hiệu quả chính là việc hun đúc tinh thần chiến đấu sánh ngang với tinh thần của Việt Minh.

[Trang 225] Về khả năng đẩy nhanh tiến độ phát triển Quân đội Quốc gia Việt Nam, ông Trí giải thích rằng những trở ngại chính nằm ở sự thiếu hụt ngân sách và trang thiết bị. Xét riêng trong năm 1952, việc mở rộng lực lượng là điều bất khả thi. Tuy nhiên, việc gia tăng đáng kể quy mô quân đội có thể thực hiện được vào năm 1953, với điều kiện Hoa Kỳ có thể tăng cường viện trợ trang thiết bị, đồng thời Pháp hoặc Hoa Kỳ cung cấp được nguồn tài chính cần thiết. Tuy nhiên, xét trên một khía cạnh nào đó, thì hiện tại đã là quá muộn, bởi lẽ chương trình kế hoạch cho năm 1953 đã hoàn tất và sẽ rất khó để sửa đổi. Tôi đã lưu ý rằng việc đề nghị xem xét một chương trình sửa đổi luôn là điều khả thi—trong trường hợp các yếu tố chính sách khiến việc này trở nên cần thiết—và ông ấy đã bày tỏ sự đồng tình với nhận định này.

Khi đề cập đến nỗ lực chiến tranh của phía Việt Nam, ông Trí cho biết gánh nặng tài chính đối với đất nước là vô cùng nặng nề, ngay cả mức sống và điều kiện sinh hoạt của binh sĩ cũng rất thấp. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ không thoái thác trách nhiệm của mình; dự kiến ​​ngân sách quân sự năm 1953 sẽ vào khoảng 58 triệu đô la, tương đương 50% tổng ngân sách quốc gia. Con số này phản ánh mức tăng 18% so với ngân sách quân sự của năm nay. Khi mô tả về tình trạng thiếu hụt kinh phí, ông cho biết hiện tại ông không có tiền để xây dựng các trường quân sự, doanh trại hay thiết lập các cơ sở sửa chữa trang thiết bị. Một ưu điểm của mô hình tổ chức theo kiểu du kích chính là tính tiết kiệm tương đối của nó.

Khi được hỏi về tình hình tinh thần của quân đội Việt Nam, ông Trí đã đưa ra một thừa nhận thẳng thắn rằng ông không thể phát ngôn một cách có thẩm quyền, bởi lẽ Quân đội Quốc gia Việt Nam hiện không có cơ quan tình báo riêng. Ông nhận định rằng sự phụ thuộc vào tình báo quân sự của Phápmột trong những khiếm khuyết nghiêm trọng nhất trong cơ cấu tổ chức quân sự của Việt Nam. Ông cũng đề cập đến vấn đề Việt Nam có nên cử tùy viên quân sự tại Washington hay không, nhưng khẳng định rằng hiện tại không có sĩ quan Việt Nam nào đủ năng lực có thể được điều động để đảm nhiệm trọng trách này.

Nhận xét:

Trí rõ ràng rất tâm huyết với dự án chiến tranh du kích kiểu Việt Nam của mình—một dự án mà ông mô tả là vẫn còn hết sức bí mật. Chắc chắn ông đang phải đối mặt với những khó khăn về mặt hành chính và tài chính; tuy nhiên, dường như ông đang tiếp cận công việc của mình với sự cần mẫn cùng một tinh thần đầy quyết tâm—một điều rất đáng khích lệ. Tôi nhận thấy rằng thật may mắn khi lần đầu tiên, Việt Nam có được một Bộ trưởng Quốc phòng dành trọn thời gian của mình cho nhiệm vụ phát triển quân đội quốc gia.

Heath.

1. Điện tín số 218 từ Sài Gòn, ngày 26 tháng 7, không được in.

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1

1.    Document 97

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

751G.5/7–2652: Telegram

The Ambassador at Saigon (Heath) to the Department of State

secret

Saigon, July 26, 1952—7 p.m.

219. Rptd info Paris 53, Hanoi unn. DefMin Nghiem Van Tri called upon me today to request US Govt assistance in purchase by Viet Govt of two Beechcraft airplanes (see Embtel 218)1 I took this opportunity to sound him out on army and mil matters.

Tri stated he had been extremely busy straightening out certain matters in his Ministry. Development of Viet natl army had not progressed in as logical a fashion as cld be wished and there were wrinkles notably in admin and service sectors.

Tri asserted his aim is two-fold; to develop a regular army and a guerrilla force. He laid considerable stress on latter declaring Viet Minh had both and it was imperative that guerrillas be fought with guerrilla methods. Tri wishes to estab guerrilla training schools. To my question whether Fr were not in process training guerrillas he replied Fr efforts being directed toward developing commando type units. Tri‘s intentions appeared to be to develop units more along native lines. He implied Fr were in accord with his plans but did not give categorical affirmative answer. He indirectly indicated that one of major problems in creating effective Viet armed force is instilling morale comparable to that of Viet Minh.

[Page 225]

Re possibility of expediting development Viet Natl Army Tri explained that principle obstacles are lack of funds and equip. So far as 1952 is concerned no expansion was possible. It wld be possible to make a significant increase in 1953 provided US were able to contribute increased equip and Fr or US cld provide finan aid required. In a sense, however, it is already too late for 1953 programming completed and wld be difficult to amend. I pointed out that it was always possible to obtain consideration of a revised prog if policy considerations made this desirable to which he concurred.

Speaking of Viet war effort Tri said that financial burden on Vietnam is very heavy even the level of living and comfort of troops very low. However Vietnam wld not shirk its responsibilities and it is contemplated that 1953 Viet mil budget wld be approx 58 mil dols or 50 percent of entire budget. This wld represent 18 percent increase over this year’s mil budget. Describing his shortage of funds, he said at present he had no money with which to build mil schools and camps or estab facilities for equip repair. One advantage of guerrilla type org was its relative inexpensiveness.

To ques re status VM morale Tri made revealing admission he unable speak authoritatively since Viet natl army has no intell service. He remarked that dependence on Fr mil intell is one of most serious gaps in Viet mil org. He also touched on ques of Vietnam having mil att in Wash but asserted there is no qualified Viet officer who cld presently be spared for this job.

Comment: Tri obviously much taken with his Viet guerrilla proj which he termed still very secret. He is undoubtedly encountering admin and finan difficulties but apparently approaching his job with industry and earnestness of purpose which is encouraging. I observed that it was fortunate that for first time Vietnam had DefMin who was giving his full time to task development natl army.

Heath

1.    Telegram 218 from Saigon, July 26, is not printed.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d97

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_225

Thân thế (các) nhân vật

Heath, Donald R.,

Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath

https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read

https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/

Nguyen Huu Tri,

Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet (Vietnamese political party).

No comments:

Post a Comment