Thursday, November 5, 2026

20261106 CDTL DDE D002 3 January 1955 2. Bản ghi nhớ từ Ông Lansdale gửi Ông Collins Đại diện Đặc biệt tại Việt Nam.

20261106 CDTL DDE D002 3 January 1955 2. Bản ghi nhớ từ Ông Lansdale gửi Ông Collins Đại diện Đặc biệt tại Việt Nam.


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1955-57v01/d2

Google Translated

Tài liệu 2

Quan hệ Đối ngoại Hoa Kỳ, 1955–1957, Việt Nam, Tập I

2. Bản ghi nhớ từ Trưởng bộ phận An ninh Quốc gia, Phái đoàn Huấn luyện và Cố vấn Lansdale gửi Đại diện Đặc biệt Collins tại Việt Nam.

Sài Gòn, ngày 3 tháng 1 năm 1955.

1. Dưới đây là một vài suy nghĩ đầu năm mới về vấn đề mà ông và chúng ta đang đối mặt, cùng với một đề nghị.

2. Trước hết, cần xem xét giá trị thực sự của những “quân bài” mà Tổng thống Eisenhower đã trao cho ông trong “ván bài” mà chúng ta đang chơi tại đây. Những “quân bài” này chính là sự viện trợ trực tiếp của chúng ta dành cho người Việt Nam. Đối với hầu hết người Mỹ, chúng có nghĩa là tiền bạc, vật chất và nhân lực kỹ thuật (cố vấn). Nhưng dưới con mắt của thế giới, đặc biệt là châu Á, chúng còn mang ý nghĩa lớn hơn thế. Theo cách nhìn này, giá trị của những “quân bài” đó chính là bản thân châu Á và một phần khu vực Trung Đông.

3. Quan điểm của châu Á cho rằng “viện trợ trực tiếp” đồng nghĩa với việc Hoa Kỳ – kẻ thù mạnh nhất của chủ nghĩa Cộng sản – đang hỗ trợ sát sao cho phe Việt Nam tự do chống lại những người Cộng sản. Chắc chắn rằng mỗi quốc gia tự do có ký kết hiệp ước với Hoa Kỳ – trong đó chúng ta cam kết hỗ trợ họ chống lại phe Cộng sản – đều thấy hình ảnh của chính mình trong tình cảnh của người Việt Nam. Và mỗi quốc gia đó, ở những mức độ khác nhau, sẽ tự đánh giá xem sự hỗ trợ của chúng ta thực sự có ý nghĩa gì. Do đó, nếu chúng ta thất bại tại đây hoặc rút lui – dù là rút lui một cách khéo léo đến đâu – thì những nhân vật có tầm ảnh hưởng chính trị tại các quốc gia đó sẽ nhìn vào hành động của chúng ta để dự đoán tương lai của chính họ. Điều này có nghĩa là những nhóm ủng hộ giao thương với Tầu cộng tại Nhật Bản, hay những nhóm phản đối các căn cứ quân sự Mỹ tại Philippines, v.v., sẽ có thêm lý lẽ để củng cố quan điểm của họ ngay tại nước sở tại. Điều này có thể đẩy Hoa Kỳ vào tình thế căng thẳng tột độ tại những khu vực vốn đã khó khăn do áp lực từ các xu hướng trung lập và chính trị Cộng sản. Hệ quả này còn nghiêm trọng hơn nhiều so với nhận định thông thường rằng việc mất Việt Nam sẽ mở đường cho chủ nghĩa Cộng sản lan rộng khắp Đông Nam Á – một kịch bản vốn đã đủ nguy hiểm rồi.

4. Vì vậy, tôi cho rằng chúng ta có quá nhiều thứ để mất, đến mức không thể cân nhắc đến việc thất bại hay rút lui. Chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải giành chiến thắng tại đây, nếu không muốn đối mặt với một tương lai ngày càng ảm đạm—một di sản mà chẳng ai trong chúng ta muốn để lại cho con cháu mình.

5. Cần phải làm gì để giành chiến thắng? Chúng ta sẽ cần thực hiện tất cả những gì đang làm và dự định làm, cùng với nhiều hơn thế nữa—và tôi tin rằng cái “nhiều hơn thế” đó hiện đang tiềm ẩn ngay tại đây, chỉ chờ được khai thác đúng cách.

6. Tôi đã đúc kết các yếu tố cần thiết để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh hiện nay tại đây thành ba điểm – cách làm này có lẽ hơi đơn giản hóa vấn đề. Tôi tin rằng nếu có thể hiện thực hóa ba yếu tố này, chúng ta sẽ nắm thế chủ động và bắt đầu giành thắng lợi. Hơn nữa, tôi cho rằng đến tháng 6 năm 1955, chúng ta phải có bằng chứng rõ ràng cho thấy mình có khả năng hiện thực hóa ba yếu tố đó. Cụ thể là:

a. Sự phối hợp làm việc hiệu quả

b. Củng cố lực lượng Việt Nam tự do

c. Khiến đại đa số người dân sẵn sàng đánh đổi tất cả vì tự do

7. Sự phối hợp làm việc hiệu quả. Đối phương đang đạt được thành công đáng kể trong công tác phối hợp – giữa các thành phần trong Việt Minh, giữa Việt Minh với bộ phận dân chúng ủng hộ họ, và giữa các cố vấn Tầu cộng với Việt Minh. Chúng ta còn một chặng đường dài mới có thể đạt được mức độ phối hợp như vậy – ngay cả trong nội bộ nhóm người Mỹ chúng ta tại đây – vì nhiều lý do (bao gồm cả việc tiến trình xây dựng kỷ luật theo kiểu của chúng ta diễn ra chậm hơn so với “kỷ luật sắt” của phe Cộng sản). Một số quan sát viên đáng tin cậy đã cho tôi biết về những mâu thuẫn nguy hiểm giữa các thành viên chủ chốt trong nhóm Mỹ tại đây; có lẽ căn nguyên của những mâu thuẫn này nằm ở chỗ chúng ta vẫn chưa thống nhất được chính xác mục tiêu mà phía Mỹ muốn đạt được tại đây (bất chấp mọi rủi ro), phương thức cụ thể để đạt được mục tiêu đó, cũng như việc phân công ai sẽ đảm nhận những phần việc cụ thể trong toàn bộ sứ mệnh này. Căn nguyên này chắc chắn còn bị trầm trọng thêm bởi những ác cảm cá nhân nảy sinh từ áp lực mà tất cả chúng ta phải gánh chịu khi nỗ lực giải quyết các vấn đề tại đây. Hầu hết những mâu thuẫn này có thể được xoa dịu thông qua các cơ chế mà ông đã thiết lập.

8. Sự phối hợp giữa chúng ta và phía Pháp – với tư cách là những người phương Tây cùng hoạt động tại một khu vực châu Á – đã đạt được những tiến triển tốt bất chấp nhiều trở ngại. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phối hợp này ngày càng chuyển hướng thành một kiểu sắp xếp công việc mang tính chất “ba bên” (tam phương) không chính thức; trong các kế hoạch và lời khuyên của mình, chúng ta đã lồng ghép đáng kể tư duy của phía Pháp. Điều này khác với mô hình “hai bên” (song phương) mà ông từng mô tả và cũng là chính sách công khai của chúng ta – theo đó, chúng ta thông báo ý định của mình cho phía Pháp, rồi sau đó mới thảo luận vấn đề với phía Việt Nam. Điều này có thể dẫn đến việc lặp lại những sai lầm từng làm suy yếu vị thế của thế giới tự do tại đây trước thời điểm Geneva; đó là việc áp dụng các phương thức vô tình tạo ra những mục tiêu thuận lợi để phe Cộng sản khai thác trong chiến lược “kháng chiến trường kỳ với sự tham gia của toàn thể quần chúng”. Tôi cho rằng chúng ta không nên công khai hỗ trợ mở rộng ảnh hưởng của Pháp sang những khu vực mà họ hiện không có ảnh hưởng; thay vào đó, chúng ta cần kiên định với các nguyên tắc của chính mình – những nguyên tắc đã tạo nên sức mạnh cho chúng ta trong vai trò một đồng minh thân thiện. Có lẽ một số trở ngại trong sự hợp tác giữa chúng ta và phía Pháp có thể được giải quyết nếu thiết lập được một cơ chế nhằm bác bỏ những tin đồn đang lan truyền trong các giới chức Pháp về ý định thực sự của Hoa Kỳ tại đây.

9. Chúng ta đã dành rất nhiều tâm huyết và nỗ lực cho công việc hợp tác với phía Việt Nam. Tuy nhiên, dường như vẫn còn một số nhầm lẫn từ phía chúng ta trong việc phân biệt giữa các khuynh hướng bè phái với các mục tiêu mong đợi, giữa năng lực thực tế của người Việt với những phương thức hợp tác hiệu quả nhất. Có vẻ như đang nảy sinh sự nghi ngại ngày càng lớn đối với thiện chí và khả năng hỗ trợ thành công của chúng ta; nếu không được kiểm soát, tình trạng này có thể gây nguy hại cho toàn bộ nỗ lực của chúng ta tại đây. Việc tăng cường các mối quan hệ cá nhân ở mọi cấp độ giữa đội ngũ người Mỹ và từng cá nhân người Việt — trên cơ sở bình đẳng, cùng với sự kiên nhẫn giải thích lý do đằng sau các yêu cầu hoặc lời khuyên — sẽ giúp cải thiện tình hình. Chúng ta cần duy trì và mở rộng tình bạn với người Việt để mang lại ý nghĩa thiết thực cho các khoản viện trợ của mình, bởi hiện nay chúng ta được xem là người bạn chân thành và mạnh mẽ duy nhất của Việt Nam (ngoài Tầu cộng và Liên Xô), đồng thời có lẽ cũng là tác nhân duy nhất có thể thúc đẩy các lực lượng Việt Nam đứng về phía chúng ta đi đến thống nhất.

10. Sự hợp tác giữa những người Việt Nam tự do vẫn tiến triển chậm chạp. Vẫn còn đó quá nhiều khuynh hướng bè phái, sự ngờ vực và lòng đố kỵ gây cản trở. Một số giải pháp quan trọng cho vấn đề phức tạp này bao gồm: thúc đẩy sự hợp tác hiệu quả giữa người dân, chính phủ và quân đội; xây dựng một hình thức chính quyền đại diện mà người dân cũng như các nhóm xã hội thực sự tin tưởng là đại diện cho họ; và có lẽ là phát triển các kỹ năng chính trị cho đội ngũ lãnh đạo (như biết dành lời khen ngợi đúng lúc, quan tâm đến phúc lợi cá nhân, thông tin đầy đủ cho người dân về tình hình đất nước với trọng tâm là những mặt tích cực, v.v.).

11. Tăng cường năng lực cho phía Việt Nam. Tôi lo ngại rằng liệu tất cả các khoản viện trợ và nỗ lực của chúng ta tại đây sẽ thực sự giúp người Việt mạnh lên, hay chỉ khiến họ ngày càng phụ thuộc vào chúng ta nhiều hơn. Chắc chắn rằng không ai trong chúng ta — những người sau này phải giải trình về các hành động của mình tại quê nhà — lại muốn đặt Hoa Kỳ vào tình thế phải tiếp tục viện trợ quy mô lớn trong suốt nhiều năm, với lập luận rằng nếu cắt giảm viện trợ thì kẻ thù sẽ giành chiến thắng. Chắc chắn rằng những người Mỹ đang đảm nhận trách nhiệm tại đây đều mong muốn thấy phía Việt Nam có đủ năng lực để tự mình gánh vác ngày càng nhiều trách nhiệm trong mọi lĩnh vực của đời sống quốc gia.

12. Vì vậy, tôi mong muốn các nỗ lực của chúng ta tại đây được định hướng một cách triệt để nhất có thể theo triết lý hoạt động: giúp người Việt tự giúp chính mình—không chỉ là giúp chính phủ hay quân đội Việt Nam, mà là giúp chính người dân Việt Nam. Điều này đòi hỏi chúng ta phải yêu cầu phía Việt Nam sử dụng sự hỗ trợ của chúng ta một cách sâu rộng và hiệu quả hơn; đồng thời, chúng ta cũng cần chấp nhận các tiêu chuẩn của phía Việt Nam—thậm chí ở mức độ lớn hơn—thay vì áp đặt các tiêu chuẩn của chính chúng ta. Cách tiếp cận này sẽ khơi dậy tinh thần làm chủ đối với những gì được tạo ra (dù đó là một sư đoàn quân đội hay một trang trại cá nhân), củng cố năng lực quốc gia, và giúp người Việt Nam tự do có được niềm tin vào năng lực của chính họ—điều mà phía Việt Minh đã thể hiện rất rõ rệt. Tất cả những yếu tố này đều tạo nên sức mạnh trong cuộc đấu tranh chống lại những người Cộng sản. Hơn nữa, một người thường có xu hướng bảo vệ những gì do chính tay mình tạo dựng nên; vì vậy, khi chúng ta giúp người Việt Nam tự do gia tăng quy mô hoặc khối lượng những thành quả mà họ muốn bảo vệ khỏi phe Cộng sản, chúng ta cũng đồng thời củng cố sức mạnh cho chính họ.

13. Sẵn sàng đánh đổi tất cả vì tự do. Mao Trạch Đông từng nêu rõ một thực tế căn bản trong kiểu đấu tranh mà chúng ta đang tham gia tại đây: “Chiến tranh du kích không thể tồn tại và phát triển nếu tách rời khỏi nhân dân, hoặc không thu hút được sự tham gia và hợp tác của đông đảo quần chúng”. Việt Minh đã thấm nhuần bài học này, áp dụng nó vào chiến tranh du kích quân sự trước thời điểm ngừng bắn, và hiện nay đang tiếp tục áp dụng ở phía nam vĩ tuyến 17 thông qua chiến tranh du kích chính trị. Chúng ta chắc chắn sẽ thất bại nếu không học hỏi và vận dụng bài học này vào cuộc chiến hiện nay—thậm chí phải vận dụng hiệu quả hơn cả đối phương. Chúng ta phải đối mặt với thực tế là phe ta đã “tách rời khỏi nhân dân” tại quá nhiều khu vực mà nay chúng ta cần giành lại. Cách thức để giành lại những khu vực này không phải là dùng vũ lực, đe dọa hay cưỡng ép, mà là thu hút sự tham gia và hợp tác của người dân vào những giá trị mà chúng ta—những con người tự do—đang theo đuổi và trân trọng.

14. Làm thế nào để thu hút người dân về phía mình, giữ chân họ, và khơi dậy trong họ tinh thần sẵn sàng hy sinh cả tính mạng lẫn tài sản—nếu cần thiết—vì sự nghiệp tự do? Cách tiếp cận của chúng ta, cũng như của tất cả các lực lượng và tổ chức thuộc phe ta, phải mang tinh thần của những người bạn (không phải là những kẻ bề trên hống hách, không phải là những viên cảnh sát như hình dung trong các kế hoạch “bình định” từng được vạch ra dưới ảnh hưởng của giai đoạn 1946–1953, không phải là những diễn giả bóng bẩy chỉ xuất hiện chốc lát trước mặt người nông dân, và cũng không phải là những người rải đầy tài liệu tuyên truyền cho những người không biết chữ).

15. Nếu toàn bộ đội ngũ của chúng ta tiếp cận người dân theo cách đúng đắn, đó sẽ là bước tiến quan trọng đầu tiên để thu hút họ về phía mình. Sau đó, chúng ta phải thuyết phục người dân—mà minh chứng thuyết phục nhất chính là những thành quả thực tế—rằng tương lai của họ (cũng như của con cháu họ sau này) sẽ tốt đẹp hơn dưới thể chế của chúng ta so với chủ nghĩa cộng sản; tốt đẹp hơn về mặt chính trị, xã hội, kinh tế và cả đời sống tinh thần. Khi niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp được khơi dậy trong lòng người dân, đi kèm với niềm tin rằng tương lai đó hoàn toàn có thể đạt được (bao gồm cả việc sử dụng các phương tiện quân sự để bảo vệ thành quả ấy), thì đó cũng chính là lúc sự rạn nứt lớn đầu tiên giữa phe Cộng sản và đại đa số người dân bắt đầu xuất hiện.

16. Phần lớn chương trình mà ông vạch ra ngay sau khi nhậm chức Đại sứ tại đây đều hướng tới việc thiết lập và bảo vệ một tương lai tốt đẹp cho người dân Việt Nam tự do. Tuy nhiên, dường như vẫn còn thiếu một yếu tố then chốt: trao cho người dân một chính phủ thực sự đại diện cho họ. Điều này cần được xây dựng dựa trên một bản hiến chương hoặc hiến pháp, trong đó quy định rõ ràng về cách thức người dân thực thi quyền làm chủ thông qua chính phủ của mình, cùng với một bản tuyên ngôn về các quyền cơ bản. Một quốc hội hay hội đồng quốc gia sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu cấp thiết nếu không hướng tới việc soạn thảo và thông qua một bản hiến pháp trong thời gian sớm nhất có thể. Phía Việt Minh đã vượt mặt chúng ta trong chính nguyên tắc quốc gia cơ bản này (một minh chứng nữa cho thấy sự khôn khéo của đối phương), thậm chí họ còn khiến chúng ta phải bẽ mặt khi sử dụng một cách hào phóng các thuật ngữ lấy từ Hiến pháp Hoa Kỳ. Lợi thế của chúng ta nằm ở chỗ, văn kiện của họ không thực hiện được những gì mà một bản hiến pháp của một dân tộc tự do có thể làm được — và chúng ta càng sớm có được một văn kiện như vậy, thì càng sớm có thể làm cho người dân hiểu rõ sự khác biệt đó. Những rủi ro chính trị khi thực hiện việc này là không hề nhỏ, nhưng chúng ta buộc phải chấp nhận đương đầu; đồng thời, thông qua các sách lược khéo léo, những rủi ro này hoàn toàn có thể được giảm thiểu xuống mức thấp nhất.

17. Song song với việc xúc tiến nhanh nhất có thể tiến trình xây dựng Hiến pháp, chính quyền Việt Nam Tự do cần sớm thiết lập bộ máy chính quyền và mang lại những lợi ích từ bộ máy đó trên khắp miền Nam Việt Nam (phía nam vĩ tuyến 17). Đây là điều mà chúng ta gọi là “hoạt động quốc gia” (national action), trong đó công tác “bình định” quân sự là một thành phần không thể tách rời. Đây chính là phương thức tiếp cận người dân và là bước đầu tiên để khơi dậy niềm hy vọng trong họ, như đã đề cập ở đoạn 15 trước đó. Hiện nay, các hoạt động của chính quyền Việt Nam trong lĩnh vực này, cũng như các nỗ lực hỗ trợ từ phía Hoa Kỳ, vẫn chưa được phối hợp thực sự hiệu quả. Điều này dẫn đến đề xuất của tôi như sau.

18. Đề nghị. Tôi đề nghị ông chỉ đạo việc phối hợp các nỗ lực của toàn bộ đội ngũ chúng ta — bắt đầu từ phía Hoa Kỳ, và thông qua đó, phối hợp với cả phía Việt Nam và Pháp — trong các lĩnh vực thuộc phạm vi “hoạt động quốc gia”. Với tư cách là thành viên trong đội ngũ tham mưu trực thuộc ông, tôi mong muốn dành phần lớn thời gian của mình — trên cương vị phó, trợ lý hoặc thành viên tham mưu — để tập trung vào công tác phối hợp này. Các sĩ quan cộng sự của tôi cũng có năng lực để đóng góp hiệu quả trong lĩnh vực này. Chúng ta có thể tái khởi động các cuộc họp trước đây — vốn đã tạo tiền đề tốt cho một cơ chế vận hành khả thi — với sự tham gia của tất cả các cơ quan Hoa Kỳ và Việt Nam có liên quan. Lần này, nếu thấy phù hợp, chúng ta có thể mời thêm cả phía Pháp tham gia.

19. Cơ sở cho đề nghị này là vì tôi tin rằng đây là cách tốt nhất để tôi có thể hỗ trợ ông; hơn nữa, tôi vừa có ba năm kinh nghiệm trong một lĩnh vực tương tự, dưới những điều kiện cũng tương tự như hiện nay. Bản thân tôi và các sĩ quan cộng sự không hề có ý định tìm kiếm thêm việc làm, cũng không có ý định cản trở hay làm giảm đi giá trị công việc của người khác. Chúng tôi chỉ mong có cơ hội để trực tiếp giải quyết một vấn đề cấp bách nhất, đồng thời hỗ trợ các thành viên khác trong đội ngũ Hoa Kỳ thực hiện nhiệm vụ của họ. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ có thể thực hiện điều này nếu nhận được sự phân công chính thức từ ông.

Ed

Edward G. Lansdale

Đại tá, Không quân Hoa Kỳ (USAF)

1.   Nguồn: Tài liệu Collins, Hồ sơ Việt Nam, Chuỗi VII, Mục L. Mật.↩

2.   Bên cạnh câu thứ hai và thứ ba của đoạn này, Collins có ghi chú viết tay ở lề như sau: “Tin đồn từ các nhà báo, bắt nguồn từ những câu chuyện kể trong các buổi tiệc cocktail. C”↩

3.   Bên cạnh câu đầu tiên của đoạn này, Collins có ghi chú viết tay ở lề như sau: “Không đúng. C”↩

4.   Bên cạnh đoạn 18, Collins có ghi chú viết tay ở lề như sau: “Đã chỉ định Lansdale điều phối các giai đoạn trong chương trình của chúng ta dưới sự chỉ đạo của Tướng O’Daniel. C”↩

Historical Documents - Office of the Historian

1.   Document 2

Foreign Relations of the United States, 1955–1957, Vietnam, Volume I

2. Memorandum From the Chief of the National Security Division, Training Relations Instruction Mission (Lansdale) to the Special Representative in Vietnam (Collins)1

Saigon, January 3, 1955.

1.

Here is some New Year’s thinking about the problem you and we face, and a request.

2.

As a start, it is worth taking a look at the real value of the chips given to you by President Eisenhower for the game we are [Page 4]playing here. The chips are our direct aid to the Vietnamese. To most Americans, they mean money, material, and technical (advisory) manpower. In the eyes of the world, and especially Asia, they mean something more. In this view, the value of the chips becomes Asia itself and parts of the Middle East.

3.

The Asian view is that “direct aid” means that Communism’s strongest enemy, the United States, is now in close support of the Free Vietnamese against the Communists. Certainly each of the free nations which has a pact with the United States, in which we will give them close support against the Communists, sees a bit of itself in the situation of the Vietnamese. And, each of those nations, in varying degree, will be measuring what our support actually means. Thus, if we lose here or withdraw however gracefully, politically powerful people in those nations will read their own futures into our action. This means that the do-business-with-China folks of Japan, the anti-American-bases folks of the Philippines, and so on, will find their arguments strengthened locally to the critical strain point for the United States in places we now find difficult enough under neutralist and Communist political pressures. This is far beyond the usual observation of the loss of Vietnam opening Southeast Asia to the impact of Communist dynamism, which is dangerous enough in itself.

4.

Thus, I feel that we have too much to lose to consider loosing [sic] or withdrawing. We have no other choice but to win here or face an increasingly grim future, a heritage which none of us wants to pass along to our offspring.

5.

What will it take to win? It is going to take everything we are now doing and planning to do, plus more—and I believe that the “more” now exists here as a potential awaiting proper employment.

6.

I have narrowed down the elements we need for winning the present struggle here to three, which is perhaps over-simplifying. I believe that if we can make these three elements a reality here, the initiative will pass to us and we will start winning. I feel, further, that we must have clear evidence by June 1955 that we can make the three elements a reality. They are:

a.

Successful teamwork

b.

Strengthen the free Vietnamese

c.

Make the bulk of the population willing to risk all for freedom

7.

Successful teamwork. The enemy is enjoying considerable success in his teamwork, among the Vietminh, between Vietminh and supporting population, and between Chinese advisors and Vietminh. We have a distance to go before we can match this teamwork, even among us Americans here, for several reasons (including the slower [Page 5]progress of our type of discipline as compared to the “iron discipline” of the Communists). Competent friendly observers have told me of dangerous frictions existing among key members of the U.S. team here; perhaps the root cause of such friction is that we still are not in agreement on exactly what the U.S. wants to achieve here regardless of risk, exactly how to achieve such result, and exactly who will undertake specific parts of the whole mission.2 This root cause undoubtedly is fertilized by any personal antipathies arising out of the strains we have all been under in trying so hard to solve problems here. Most of these frictions can be eased through the mechanisms you have established already.

8.

Our teamwork with the French, as fellow westerners in an Asian area, has progressed well despite many handicaps.3 However, this teamwork has grown more and more into a secretly tripartite type of working arrangement, in practice we incorporate a substantial amount of French thinking in our plans and advice, rather than the bipartite working arrangement originally described by you and as our public policy, wherein we inform the French of our intents, then take the matter up with the Vietnamese. This can lead to the same mistakes being made in all major fields which helped weaken the free world’s position here prior to Geneva, by causing the adoption of methods which offer prime targets to the Communists in promulgating their “total-mass protracted resistance”. I feel that we must not visibly help extend French influence into areas of present non-influence; we must be steadfast to our own principles which gave us strength while being the friendly ally. Perhaps some handicaps to our teamwork with the French could be overcome if a mechanism were constructed to nullify the rumors which course through French circles re U.S. intents here.

9.

A great deal of thought and effort has been given to our teamwork with the Vietnamese. However, there still seems to be some confusion on our part between partisanship and desired objectives, capabilities of the Vietnamese, and the most rewarding methods of doing business with them. There seems to be an increasing suspicion of our good intentions and ability to help successfully, which if it grows unchecked can endanger our whole effort here; an intensification of personal contacts all down the line of the American team with individual Vietnamese, on a footing of equality, and with patient explanation of reasons for requests or advice, would help. We must hold and extend our friendships among the Vietnamese, in [Page 6]order to give successful meaning to our aid, since we are now looked upon as the only strong true friend of Vietnam (other than China and the Soviets) and probably are the only catalysts who can induce the Vietnamese on our side to unify.

10.

Teamwork among the Free Vietnamese has progressed slowly. There is still too much partisanship, distrust, and obstructive jealousy. Prominent among the remedies for this complex trouble are: growth of effective people–government–army cooperation, hope of establishment of some form of representative government which the people and factions of people feel honestly represents [them], and, perhaps, development of political techniques among leaders (apt bestowal of praise, interest in individual welfare, informing the people adequately of the state of the nation with emphasis on plus factors, and so on).

11.

Strengthening Vietnamese. I am concerned about whether all our aid and efforts here will strengthen the Vietnamese or merely make them more dependent upon us. Certainly none of us who must justify actions eventually at home would desire to place the U.S. in the position of continuing major help here for endless years, on the basis that if our aid were lessened then the enemy would win. Certainly the responsible Americans here would like to see the Vietnamese capably assuming an increasing share of their own burdens in all fields of national life.

12.

Thus, I would like to see our efforts here geared as completely as possible to the operating philosophy of helping the Vietnamese to help themselves, not only Vietnamese government or army, but the people themselves. It will mean insisting on more extensive and effective use of our help by the Vietnamese—and our acceptance of workable Vietnamese standards rather than our own perhaps to a greater extent. This will increase proprietary interest in what is constructed (whether it be army division or individual farm), build the muscularity of national abilities, and start giving the Free Vietnamese the confidence in their own competence which the Vietminh have demonstrated so remarkably on their side. These are all factors of strength in a struggle with the Communists. It is also true that a man is more apt to defend what he has constructed for himself—and we will strengthen the Free Vietnamese as we increase the size or amount of what they want to defend from the Communists.

13.

Willingness to risk all for freedom. Mao Tse-tung once clearly expressed a basic fact in the type of struggle we are now engaged in here by stating: “There is no possibility for it (he was speaking of guerrilla warfare) to survive and develop once it is cut loose from the people or fails to attract the participation and co-operation of the broad masses”. The Vietminh have learned this lesson well, applied it in their military guerrilla warfare prior to the Cease-Fire, and are [Page 7]now applying it south of the 17th Parallel in their political guerrilla warfare. Our defeat is certain unless we learn and apply this same lesson of today’s warfare, and do so more effectively than the enemy. We must face up to the fact our side was “cut loose from the people” in too many areas we must now win back, and our method of winning them back must be to attract their participation and co-operation in what we free people do and cherish, not force, scare or coerce, but attract.

14.

How do we attract people to our side, hold them, and develop in them a willingness to risk their lives and fortunes if need be for liberty or freedom? Our approach, and the approach of all forces and organizations on our side, must be as friends (not as bossy supervisors, not as cops as envisioned in the so-called “pacification” plans produced under the influence of 1946–53 here, not as dressed-up speechmakers appearing briefly before the “peasants”, not as purveyors of masses of printed arguments to the illiterate).

15.

If the entire team on our side makes the right approach to the people, we will have taken the first major step in attracting people to our side. We must then set about convincing, and accomplishment is most convincing, the people that their own future (and that of their children and children’s children) will be more rewarding under our system than under Communism—more rewarding politically or socially, economically, and spiritually. When the hope of such a rewarding future is raised within the people, coupled with hope of its possible attainment (which includes military means to protect the attainment), then the first big cleavage between the Communists and the bulk of the population will start taking place.

16.

Much of the program you outlined soon after your arrival here as Ambassador is intended to establish and protect a rewarding future for the Free Vietnamese. However, a critical piece appears to be missing: giving the people a truly representative government. This must be keyed around a charter or constitution which sets forth plainly how the people have their own government and a bill of rights. A national assembly or congress would fail to satisfy an urgent need unless it were pointing towards the writing and adoption of a constitution in the soonest possible future. The Vietminh have beaten us at this basic national principle of ours (proof again of the skill of the Vietminh enemy) and even rubbed our noses in the beating by generous use of verbiage from the U.S. Constitution. Our strong point is that their document does not do what the constitution of a free people can—and the sooner we have such a document, the sooner we can start making this plain to the people. The political hazards of getting such a document are considerable, but these hazards must be risked and can be kept to a minimum by adroit tactical development.

17.

Along with moving as rapidly as possible towards a Constitution, the Free Vietnamese must establish government and the benefits of government as rapidly as possible throughout Vietnam south of the 17th Parallel. This is what we have termed “national action”, of which military “pacification” is an integral part. It is the approach to the people and the first means of raising hopes within them, as mentioned in paragraph 15 before. Neither Vietnamese government operations currently on “national action”, nor U.S. actions to help, are too well coordinated today. Which brings me to my request.

18.

Request. It is requested that you bring about a coordination of the efforts of our entire team, starting with the U.S. team and, through them, the Vietnamese and French, in the fields of “national action”. As a member of your personal staff, I would like to devote the major share of my time as your deputy or assistant or staff member in such coordination work. Officers associated with me are capable of effective help in this field. We would be able to re-commence the meetings formerly held by us which had made a good start towards a workable operation, in conjunction with all interested U.S. and Vietnamese agencies. This time, we could add the French, if desired.4

19.

The basis for my request is that I believe I can help you most in this way and that I have recently had three years’ experience in a similar field under similar conditions. Neither I nor any officers associated with me are seeking more work or to deter or detract from the work of others. We do seek the opportunity to come to firm grips with a most pressing problem and to help the rest of the U.S. team in their work on it. This we cannot do unless given the mission by you.

Ed
Edward G. Lansdale
Colonel USAF

1.   Source: Collins Papers, Vietnam File, Series VII, L. Secret.↩

2.   The following handwritten marginal note by Collins appears beside the second and third sentences of this paragraph: “Rumors from newspapermen based on cocktail stories. C”↩

3.   Collins’ following handwritten marginal note appears beside the first sentence of this paragraph: “Not so. C”↩

4.   The following handwritten marginal note by Collins appears beside paragraph 18: “Designated Lansdale to coordinate our phases of program under Gen. O’Daniel’s direction. C”↩

Thân thế (các) nhân vật

Bao Dai,

Vietnamese Chief of State to October 1955

Collins, General J. Lawton,

USA, Special Representative in Vietnam, with the personal rank of Ambassador, to May 1955

https://en.wikipedia.org/wiki/J._Lawton_Collins

https://armyhistory.org/general-joseph-lawton-collins/#:~:text=After%20serving%20as%20Chief%20of,duty%20before%20retiring%20in%201956.

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1298

https://www.eisenhowerlibrary.gov/sites/default/files/finding-aids/pdf/collins-j-lawton-papers.pdf

https://snaccooperative.org/history_diff/84588277?version1=11392636&version2=11392638

https://openvault.wgbh.org/catalog/V_64B6745EABC44990BD6B1DC89364675B

https://www.christies.com/en/lot/lot-4713893

https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch033.asp

Ely, Paul, General,

French High Commissioner and Commander in Chief, French Forces in Indochina after June 3, 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Paul_%C3%89ly

https://time.com/archive/6868229/foreign-news-new-commander-for-indo-china/

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d626

https://www.vietnamgear.com/Indochina1954.aspx

https://history.army.mil/portals/143/Images/Publications/catalog/90-8-1.pdf

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d371

https://webdoc.sub.gwdg.de/ebook/p/2005/CMH_2/www.army.mil/cmh-pg/books/vietnam/devtrainrvn/ch1.htm

https://www.jcs.mil/Portals/36/Documents/History/Vietnam/Vietnam_1947-1954.pdf

Mansfield, Michael J.,

Senator (D–MT), Senate Majority Leader

Democratic Senator from Montana; Majority Leader and member of the Senate Foreign Relations Committee

https://en.wikipedia.org/wiki/Mike_Mansfield

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Ambassador_to_Japan

https://en.wikipedia.org/wiki/Party_leaders_of_the_United_States_Senate

https://en.wikipedia.org/wiki/Senate_Democratic_Caucus#Chairs

https://en.wikipedia.org/wiki/Party_leaders_of_the_United_States_Senate

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_Senate

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_House_of_Representatives

https://www.k-state.edu/landon/speakers/mike-mansfield/

https://www.k-state.edu/landon/speakers/mike-mansfield/audio-1977.html

https://www.k-state.edu/landon/speakers/mike-mansfield/audio.html

Mendès-France, Pierre,

French Prime Minister and Minister of Foreign Affairs from June 19, 1954.

https://en.wikipedia.org/wiki/Pierre_Mend%C3%A8s_France

https://www.britannica.com/biography/Pierre-Mendes-France

https://www.nytimes.com/1982/10/19/obituaries/mendes-france-who-lead-france-out-of-indochina-is-dead-at-75.html

https://www.ebsco.com/research-starters/history/pierre-mendes-france

https://www.washingtonpost.com/archive/local/1982/10/19/pierre-mendes-france-dies/0436ff51-78a1-4b6f-a9a2-37027c98ce45/

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p2/d1069

https://www.jta.org/archive/pierre-mendes-france-dead-at-75

https://kids.kiddle.co/Pierre_Mend%C3%A8s_France

https://www.encyclopedia.com/history/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/mendes-france-pierre-1907-1982

https://historymatters.sites.sheffield.ac.uk/blog-archive/2019/pierre-mend%C3%A8s-france-and-the-politics-of-milk

Ngo Dinh Diem,

President of the Council of Ministers of the State of Vietnam to October 1955; thereafter President and Chief of State of the Republic of Vietnam

https://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Dinh_Diem

https://millercenter.org/the-presidency/educational-resources/diem-coup

https://www.jfklibrary.org/search?f%5B0%5D=digitized_collection%3APapers%20of%20John%20F.%20Kennedy.%20Presidential%20Papers.%20President%27s%20Office%20Files.&f%5B1%5D=source%3A46&f%5B2%5D=subject_place%3AVietnam

https://www.jfklibrary.org/asset-viewer/archives/jfkpof-128-010#?image_identifier=JFKPOF-128-010-p0003

https://www.jfklibrary.org/search?f[0]=subject:Vietnam%20War,%201961-1975

https://www.jfklibrary.org/search?f%5B0%5D=subject_person%3ANgo,%20Dinh%20Diem,%201901-1963&f%5B1%5D=source%3A46

The Diem Coup audio

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/sets/the-diem-coup

February 1, 1966: President Johnson remembers Diem coup (admitted) to Eugene McCarthy

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/february-1-1966-president

November 4, 1963: President Kennedy on the Diem coup

https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/november-4-1963-president-kennedy-on-the-diem-coup

NHỚ LẠI NHỮNG NGÀY Ở CẠNH TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM (Full) - Tài Nguyễn Diễn Đọc

https://www.youtube.com/watch?v=sWTTgB7oE6U&t=6927

Một phụ nữ miền Bắc viết về cố TT Ngô Đình Diệm.

https://www.youtube.com/watch?v=UMEkUQRp01o

"The Death of Diem and Nhu"

https://www.youtube.com/watch?v=U8O1HOTXS8A

"The Coup in Saigon"

https://www.youtube.com/watch?v=k4IaJYiNanc

"Everybody'll Say We Did It"

https://www.youtube.com/watch?v=Jaai1NdZ70k

"We Have Plans for Withdrawal"

https://www.youtube.com/watch?v=0BABdRu7FY0

"The Road to Disaster"

https://www.youtube.com/watch?v=dr5dRFVV-ok

https://www.youtube.com/channel/UChty22qJfdeAd8dAee9Mo7g/featured

“The President Is Dead”

https://www.youtube.com/watch?v=lD-akTUBFWs

“That Wasn't What Killed Kennedy”

https://www.youtube.com/watch?v=LAF0JGttS3E

Kennedy and Vietnam: The great what-if

https://www.youtube.com/watch?v=6XLhqXt2pww

JFK, LBJ and the Paradox of Vietnam

https://www.youtube.com/watch?v=TYRsahM-GqQ&t=2054

BÀI 305: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA

http://www.bacaytruc.com/index.php/16996-bai-305-nhin-l-i-l-ch-s-d-nh-t-c-ng-hoa-tac-gi-vu-linh-ddtc

BÀI 306: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA

https://diendantraichieu.blogspot.com/2023/11/bai-306-nhin-lai-lich-su-e-nhi-cong-hoa.html

BÀI 307: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: VAI TRÒ CỦA MỸ

http://www.bacaytruc.com/index.php/17092-bai-307-nhin-l-i-l-ch-s-vai-tro-c-a-m-tac-gi-vu-linh-ddtc

JFK and the Diem Coup

https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB101/

Evidence on the Diem Coup in South Vietnam 1963

https://www.tokyoprogressive.org/evidence-on-the-diem-coup-in-south-vietnam-1963/

Tập 1 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=2CJ1CXSWwpI

Tập 2. Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=Po5Hlbfk6Zc

Tập 3 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=vdluTn-L8sc

Tập 4 : Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=p58HIMAy_Hg

Tập 5 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=ti24AXG12YE

Tập 6 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=LB0xpBPX9UI

Tập 7 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=Rvv0ze1mG_8

Tập 8 - Đời một Phóng Viên và Những ngày chung sống với Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=Ht1u6A62KXk

Tập 9 - Đời một Phóng Viên và những ngày chung sống với Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=bcZZ9O5cwgA&t=18s

Tập 10 - Đời một Phóng Viên & Những ngày chung sống với Chí Sĩ Ngô Đình Diệm

https://www.youtube.com/watch?v=bgJnv7kALSA

Interview with Madame Ngo Dinh Nhu, 1982

https://video.alexanderstreet.com/watch/interview-with-madame-ngo-dinh-nhu-1982

https://video.alexanderstreet.com/watch/interview-with-madame-ngo-dinh-nhu-1982/transcript/Interview%20with%20Madame%20Ngo%20Dinh%20Nhu%2C%201982

Tài liệu cộng sản giặc Hồ xuyên tạc Tổng thống Diệm và quân đội Mỹ

https://sachhiem.net/LICHSU/N/NgoDacTriet.php

https://sachhiem.net/LICHSU/IMG/NGODD/1961XinQuanMy.jpg

Phan Huy Quat,

Vietnamese Minister of Foreign Affairs, February 4–November 4, 1964, former Vietnamese Minister of Defense

Presidents Timeline

https://www.whitehousehistory.org/the-presidents-timeline

https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_presidents_of_the_United_States

https://georgewbush-whitehouse.archives.gov/history/presidents/chronological.html

https://georgewbush-whitehouse.archives.gov/history/presidents/chronological.html

https://millercenter.org/president

https://www.presidentsusa.net/uspresidents.html

https://history.house.gov/Institution/Presidents-Coinciding/Presidents-Coinciding/

Young, Kenneth T.,

Director of the Office of Philippine and Southeast Asian Affairs, Department of State, January 1955–April 1956; thereafter Director of the Office of Southeast Asian Affairs

https://en.wikipedia.org/wiki/Kenneth_Todd_Young

https://www.jfklibrary.org/sites/default/files/archives/JFKOH/Young,%20Kenneth%20T/JFKOH-KTY-03/JFKOH-KTY-03-TR.pdf

 

No comments:

Post a Comment