Friday, February 6, 2026

20260207 CDTL HST DDE D27 3 March 1952 Lượng giá tình báo quốc gia

20260207 CDTL HST DDE D27 3 March 1952 Lượng giá tình báo quốc gia


https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d27

Google Translated

Tài liệu 27

Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1

Hồ sơ INR–NIE

Lượng giá tình báo quốc gia

Mật

NIE 35/1

Washington, ngày 3 tháng 3 năm 1952.

Những diễn biến có thể xảy ra ở Đông Dương đến giữa năm 1952

Vấn đề

Ước tính những diễn biến có thể xảy ra ở Đông Dương đến giữa năm 1952, đặc biệt chú trọng đến các hành động có thể xảy ra của Tàu Cộng trong khu vực này. [Trang 54]

Kết luận

1. Chúng tôi tin rằng Pháp sẽ tiếp tục nỗ lực chiến tranh ở Đông Dương trong suốt thời kỳ ước tính này. Tuy nhiên, trong khi vẫn kiên quyết bảo vệ lợi ích của Pháp, Pháp sẽ cố gắng hạn chế các cam kết của mình ở Đông Dương bằng cách yêu cầu thêm viện trợ tài chính từ Hoa Kỳ và tìm kiếm sự cam kết hỗ trợ quân sự từ Hoa Kỳ và Anh trong việc bảo vệ Đông Dương.

2. Tình hình tài chính khó khăn hiện nay của Pháp đang khiến chính phủ Pháp ngày càng lo ngại về khả năng duy trì vị thế của mình ở Đông Dương và đồng thời hỗ trợ nỗ lực quân sự hiện tại ở châu Âu. Chúng tôi tin rằng những lo ngại này sẽ gây ra những nghi ngờ ở Việt Nam về ý định của Pháp đối với Đông Dương và do đó sẽ ảnh hưởng xấu đến tinh thần của người Việt Nam. Chúng tôi tin rằng mối lo ngại này sẽ không ảnh hưởng đến nỗ lực của Pháp ở Đông Dương trong thời gian dự báo này, nhưng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến ý chí tiếp tục kháng chiến của Pháp ở Đông Dương vào một thời điểm sau đó.

3. Độc lập với các hoạt động ở Triều Tiên, lực lượng Tàu cộng có khả năng điều động và hỗ trợ hậu cần cho khoảng 150.000 quân ở Đông Dương. Lực lượng này có thể buộc lực lượng Pháp-Việt hiện tại phải rút khỏi Bắc Kỳ trước khi có thể nhận được sự hỗ trợ hiệu quả.

4. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng Tàu cộng sẽ không can thiệp bằng vũ lực vào Đông Dương trong giai đoạn dự báo này*.

5. Chúng tôi tin rằng Tàu cộng sẽ dần dần mở rộng quy mô và bản chất của sự hỗ trợ hiện tại dành cho Việt Minh và có thể sẽ đưa thêm quân "tình nguyện" của Tàu cộng với số lượng nhỏ. Chúng tôi tin rằng, theo chính sách này, họ sẽ dừng lại ở mức độ hỗ trợ mà họ ước tính sẽ không gây ra phản ứng mạnh mẽ từ phương Tây chống lại lục địa Trung Quốc.

6. Đến giữa năm 1952, triển vọng ở Đông Dương có khả năng là sự suy yếu dần dần vị thế quân sự của Pháp-Việt. Chúng tôi tin rằng Việt Minh sẽ giành được một số thắng lợi về lãnh thổ, nhưng sẽ không giành được chiến thắng quyết định trong giai đoạn dự báo này.

7. Triển vọng dài hạn là sự cải thiện liên tục về hiệu quả chiến đấu của Việt Minh và áp lực ngày càng tăng của Việt Minh đối với hệ thống phòng thủ của Pháp-Việt. Trừ khi các xu hướng hiện tại bị đảo ngược, áp lực ngày càng tăng này, cùng với những khó khăn [Trang 55] mà Pháp có thể tiếp tục phải đối mặt trong việc hỗ trợ các nỗ lực quân sự lớn ở cả châu Âu và Đông Dương, có thể dẫn đến việc Pháp cuối cùng sẽ rút quân khỏi Đông Dương.

Thảo luận

Tình hình hiện tại

8. Kể từ khi báo cáo NIE–35: “Những diễn biến có thể xảy ra ở Đông Dương trong phần còn lại của năm 1951” được công bố vào ngày 7 tháng 8 năm 1951, quân Pháp đã mở rộng vành đai phòng thủ vùng đồng bằng sông Hồng xung quanh Hà NộiHải Phòng về phía tây đến Hòa Bình, nhưng các cuộc tấn công dữ dội của Việt Minh trong suốt hai tháng, kết hợp với các hoạt động quấy rối của các đơn vị Việt Minh đã thâm nhập vào vùng đồng bằng, đã dẫn đến việc quân Pháp phải rút lui khỏi khu vực Hòa Bình. (Xem Bản đồ số 1.) Tại khu vực đồng bằng Hà Nội–Hải Phòng, 115.000 quân chính quy Pháp-Việt hiện đang đối đầu với khoảng 90.000 quân chính quy Việt Minh. Ở những nơi khác tại Đông Dương, chiến tranh du kích vẫn tiếp diễn và Việt Minh vẫn kiểm soát miền Bắc Bắc Kỳ, phần lớn bờ biển Trung Kỳ và một phần của Nam Kỳ, Campuchia và Lào. (Xem Bản đồ số 2.)

9. Đã có sự cải thiện đáng kể về sức mạnh, sự phối hợp và hiệu quả của các cuộc tấn công gần đây của Việt Minh dọc theo tuyến phòng thủ của Pháp ở Bắc Kỳ. Việt Minh đã phát động một cuộc tấn công trực diện kéo dài ở khu vực đồng bằng phía tây, và ở những nơi khác trong vùng đồng bằng, họ đã thâm nhập một sư đoàn và các đơn vị chủ lực khác vào phía sau các vị trí của quân Pháp-Việt ở khu vực trung tâm và phía nam đồng bằng, nơi họ hiện đang tiến hành các hoạt động quấy rối và đe dọa tuyến đường liên lạc Hà Nội-Hải Phòng. Khả năng phòng không của Việt Minh cũng đã tăng lên đáng kể trong những tháng gần đây. Mặc dù Việt Minh đã chịu tổn thất nặng nề, họ vẫn tiếp tục tấn công và buộc quân Pháp phải điều động gần như toàn bộ lực lượng dự bị ở Bắc Kỳ vào các hoạt động dọc theo rìa phía tây của đồng bằng và chống lại các đơn vị Việt Minh đã thâm nhập vào các khu vực khác.

10. Khả năng tác chiến được tăng cường này phản ánh sự gia tăng đáng kể về hỗ trợ cố vấn, huấn luyện và hậu cần của Tầu cộng dành cho Việt Minh. Mặc dù không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy binh lính Trung cộng, dù là theo đơn vị hay cá nhân, đang phục vụ trong các đơn vị chiến đấu của Việt Minh, nhưng ước tính có khoảng 15.000 người Tầu cộng đang phục vụ Việt Minh trong các vai trò kỹ thuật, cố vấn và đồn trú. Các tuyến đường và cơ sở giao thông từ miền Nam Trung Quốc vào Đông Dương tiếp tục được cải thiện. Hỗ trợ hậu cần của Tầu cộng cho Việt Minh thông qua các tuyến đường này đang ở mức cao nhất từ ​​trước đến nay, trong khi lượng dự trữ ở cả hai phía biên giới được cho là vượt quá nhu cầu của Việt Minh cho các hoạt động hiện tại. [Trang 56]

11. Mặc dù tổn thất của Pháp rất nặng nề, hiệu quả chiến đấu của lực lượng Pháp vẫn ở mức cao. Hiệu quả chiến đấu của lực lượng các quốc gia liên kết nhìn chung vẫn chưa đủ để họ có thể tiến hành các hoạt động chiến đấu độc lập. Các lực lượng này chủ yếu đảm nhận vai trò phòng thủ tĩnh, nhưng một số đơn vị đã thể hiện tốt khi phối hợp với quân Pháp trong các hoạt động tấn công. Viện trợ MDAP của Mỹ có vai trò cực kỳ quan trọng đối với lực lượng chính quy của Pháp trong các chiến dịch gần đây. Mặc dù tỷ lệ hao hụt thiết bị của Pháp cao, sự hỗ trợ hậu cần của MDAP đang bù đắp cho những tổn thất này.

12. Tình hình chính trị ở Việt Nam, quốc gia quan trọng nhất trong các quốc gia liên kết, không có nhiều thay đổi đáng kể kể từ khi NIE-35 được công bố, và các yếu tố được thảo luận trong NIE-35 vốn hạn chế sự phát triển của một chính phủ Quốc gia Việt Nam mạnh vẫn còn hiệu lực. Cái chết của Tướng de Lattre đã có tác động tiêu cực đến tinh thần của người Việt Nam, cũng như những nghi ngờ của người Việt Nam rằng Pháp có thể đang suy yếu về quyết tâm và khả năng bảo vệ Đông Dương.

13. Chúng tôi tin rằng tinh thần của các lãnh đạo Việt Minh đã được nâng cao bởi cái chết gần đây của Tướng de Lattre, quy mô viện trợ của Tầu cộng được mở rộng, tác động làm suy yếu mà cuộc tấn công liên tục của Việt Minh gây ra cho quân Pháp, việc Việt Minh tái chiếm Hòa Bình và việc họ nhận thấy ý chí kháng cự của Pháp-Việt đang suy yếu. Việc củng cố quyền kiểm soát của Cộng sản trong khu vực do Việt Minh kiểm soát vẫn tiếp tục và đã vô hiệu hóa hiệu quả sự phản đối nội bộ. Tình trạng thiếu lương thực đang được giảm bớt nhờ gạo thu được từ bên trong khu vực do Pháp kiểm soát. Không có bằng chứng về sự bất đồng nghiêm trọng giữa Việt MinhTầu cộng.

Khả năng và các phương án hành động có thể xảy ra của Việt Minh và quân đội Pháp-Việt

14. Chúng tôi tin rằng Việt Minh có thể sẽ tiếp tục thâm nhập vào các tuyến phòng thủ của Pháp ở Bắc Kỳ, nhưng sẽ không thể giành được chiến thắng quyết định trong thời gian dự báo này. Tuy nhiên, hiệu quả chiến đấu tổng thể của Việt Minh gần như chắc chắn sẽ tiếp tục được cải thiện và Việt Minh có thể sẽ phát động một loạt các cuộc tấn công quấy rối vào các vị trí của Pháp ở Bắc Kỳ. Ở những nơi khác tại Đông Dương, Việt Minh sẽ tăng cường các chiến thuật khủng bố và du kích.

15. Chính phủ Pháp ngày càng lo ngại về khả năng duy trì vị thế của mình ở Đông Dương. Ngày càng có nhiều quan chức Pháp cho rằng nước này không thể đồng thời hỗ trợ các nỗ lực quân sự hiện tại ở cả châu Âu và châu Á mà không có sự hỗ trợ lớn hơn từ Hoa Kỳ. Hiện nay, Pháp ước tính rằng, với sự hỗ trợ hiện tại của Hoa Kỳ, ngân sách quân sự tối đa năm 1952 mà Pháp có thể đáp ứng về mặt chính trị và kinh tế sẽ thiếu hụt vài trăm triệu đô la so với nhu cầu dự kiến ​​cho cả NATO và Đông Dương. Nếu buộc phải lựa chọn giữa châu Âu và Đông Dương, Pháp sẽ coi cam kết ở Đông Dương là ít quan trọng hơn, nhưng khả năng phải đưa ra quyết định như vậy khó có thể xảy ra trong giai đoạn được xem xét. Hơn nữa, ngày càng có nhiều người cho rằng cuộc chiến tranh xa xôi và tốn kém ở Đông Dương mang lại rất ít lợi ích ngay cả khi giành chiến thắng. Cảm giác này đang làm tăng áp lực chính trị đòi hỏi phải giảm bớt gánh nặng của Pháp ở Đông Dương. Các cách tiếp cận khác nhau mà Pháp đang tìm cách để giảm bớt gánh nặng này là:

(a) bằng cách nhấn mạnh rằng phần lớn gánh nặng tài chính cho việc bảo vệ Đông Dương phải được chuyển sang Hoa Kỳ;

(b) bằng cách tìm kiếm cam kết của Hoa Kỳ và Anh tham gia bảo vệ Đông Dương trong trường hợp Trung Quốc can thiệp tích cực hơn; hoặc có thể

(c) bằng cách đưa vấn đề Đông Dương vào bối cảnh bất kỳ thỏa thuận chung nào về Viễn Đông có thể phát sinh từ các cuộc đàm phán về Triều Tiên. Nếu những cách tiếp cận này không thành công, Pháp sẽ nghiêm túc xem xét việc rút quân khỏi Đông Dương.

16. Tuy nhiên, trong giai đoạn được xem xét, chúng tôi tin rằng việc quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương là điều khó xảy ra, bất chấp tình hình tài chính ngày càng khó khăn đã dẫn đến một số yêu cầu rút quân lẻ tẻ trong Quốc hội. Nhiều yếu tố mạnh mẽ vẫn giữ chân Pháp ở lại với những cam kết hiện tại của họ. Những yếu tố này bao gồm:

(a) yếu tố vô hình nhưng mạnh mẽ về uy tín;

(b) nhận thức rằng việc rút quân khỏi Đông Dương sẽ gây ra những hậu quả ở những nơi khác trong Liên minh Pháp;

(c) mối lo ngại về số phận của công dân và các khoản đầu tư của Pháp ở Đông Dương; và

(d) quan điểm chính thức cho rằng không thể đạt được thỏa thuận nào với Việt Minh hoặc với Trung Quốc cộng sản mà vẫn bảo vệ được bất kỳ lợi ích nào của Pháp ở Đông Dương.

17. Tại Đông Dương, chúng tôi tin rằng trong thời gian dự báo này, tinh thần và sức mạnh chính trị của người Việt Nam sẽ không được cải thiện. Những nỗ lực của người Pháp và chế độ Bảo Đại nhằm chống lại áp lực của Cộng sản sẽ tiếp tục bị người dân thờ ơ, những người không nhận thấy lợi ích cá nhân đáng kể nào trong cuộc chiến và dường như nghi ngờ động cơ của người Pháp hơn là nhận thức được bất kỳ mối nguy hiểm nào từ phía Cộng sản. Sự nghi ngờ đối với động cơ của người Pháp sẽ càng gia tăng nếu người Pháp buộc phải thực hiện các biện pháp quân sự để trấn áp các phong trào "lực lượng thứ ba" đang phát triển, vốn chống lại cả Việt Minh và người Pháp.

[Trang 58]

Khả năng và các hành động có thể xảy ra của Trung Cộng

18. Khối Cộng sản tiếp tục coi Đông Dương là chìa khóa để đạt được mục tiêu mong muốn của họ, đó là kiểm soát toàn bộ Đông Nam Á. Tầm quan trọng trước mắt của Đông Dương đối với Moscow và Bắc Kinh nằm ở chỗ sự tồn tại của Việt Minh do Cộng sản hậu thuẫn buộc Pháp phải chuyển hướng phần lớn nguồn lực tài chính và quân sự sang Đông Dương, ngăn cản các quốc gia liên kết giành được vị thế quốc tế được công nhận rộng rãi, và cản trở việc thiết lập một nhà nước phi Cộng sản ổn định ở biên giới Trung Quốc. Tầm quan trọng tiềm năng của Đông Dương đối với Moscow và Bắc Kinh là rất lớn: sự sụp đổ của Đông Dương sẽ là một chiến thắng tâm lý cực kỳ quan trọng đối với Khối Cộng sản, sẽ làm suy yếu quyết tâm chống lại sự xâm lược của Cộng sản của chính phủ và nhân dân Miến Điện và Thái Lan, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc chinh phục tiếp theo của Cộng sản ở Đông Nam Á, sẽ cản trở việc "bao vây" Tầu cộng bởi các quốc gia phi Cộng sản, sẽ cung cấp cho Khối Cộng sản quyền kiểm soát các nguồn thực phẩm và nguyên liệu chiến lược bổ sung, và sẽ tước đi vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên của Đông Dương khỏi phương Tây.

19. Các tuyến đường giao thông từ miền Nam Trung Quốc vào Đông Dương tiếp tục được cải thiện, và đã có nhiều dấu hiệu cho thấy việc tăng cường lực lượng và tích trữ vũ khí của quân đội Cộng sản Trung Quốc dọc biên giới Đông Dương. Những diễn biến này làm tăng khả năng của lực lượng Tầu cộng, hoặc là xâm lược Đông Dương bằng vũ lực, hoặc là cung cấp viện trợ quân sự cho Việt Minh.

20. Nếu Tầu cộng quyết định can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, họ có khoảng 300.000 quân đóng ở miền Nam Trung Quốc sẵn sàng cho cuộc xâm lược đó. Chúng tôi tin rằng trong số này, họ thực sự có thể huy động và hỗ trợ hậu cần cho 150.000 quân độc lập với các hoạt động ở Triều Tiên. Những khó khăn về hậu cần và vận chuyển sẽ hạn chế hoạt động của các lực lượng này chỉ trong một loạt các cuộc tấn công hạn chế, giữa các cuộc tấn công đó cần thời gian để bổ sung tiếp tế và sửa chữa các phương tiện vận chuyển. Việc leo thang chiến sự ở Triều Tiên có thể sẽ làm giảm đáng kể lượng tiếp tế cho Đông Dương trừ khi Liên Xô đảm nhận việc bổ sung kho dự trữ của Tầu cộng. Sự hỗ trợ của Liên Xô có thể xảy ra nếu Tầu cộng điều động lực lượng vào Đông Dương. Có thể giả định rằng các đơn vị bộ binh của quân đội Tầu cộng ở phía nam sông Dương Tử được trang bị đầy đủ vũ khí bộ binh hạng nhẹ thông thường và việc huấn luyện của họ đủ để tiến hành một cuộc xâm lược. Một thỏa thuận ngừng bắn ở Triều Tiên sẽ làm tăng số lượng quân đội Tầu cộng và sự hỗ trợ hậu cần có thể được cung cấp cho các hoạt động ở Đông Dương; tuy nhiên, những thiếu hụt về vận chuyển vẫn sẽ là yếu tố hạn chế, mặc dù mức độ hỗ trợ hậu cần [Trang 59] có thể được nâng cao phần nào bằng cách sử dụng các phương tiện của Không quân Tầu cộng.

21. Lực lượng quân đội Tầu cộng, cộng thêm lực lượng của Việt Minh, có thể sẽ đủ sức buộc quân đội Pháp và quân đội Việt Nam phải rút khỏi Bắc Kỳ trước khi bất kỳ sự hỗ trợ hiệu quả nào có thể được đưa đến. Tầu cộng khó có thể điều động máy bay phản lực đến Đông Dương, chừng nào chiến sự ở Triều Tiên vẫn tiếp diễn. Tuy nhiên, lực lượng không quân Tầu cộng (CCAF), chỉ sử dụng máy bay cánh quạt, có thể sẽ bất ngờ có khả năng vô hiệu hóa lực lượng không quân Pháp ở Bắc Kỳ. Một thỏa thuận ngừng bắn ở Triều Tiên dĩ nhiên sẽ làm tăng đáng kể khả năng này.

22. Tầu cộng có thể mạo hiểm xâm lược Đông Dương trong một số trường hợp: để đối phó với một cuộc tấn công dự kiến ​​của phương Tây và/hoặc Quốc dân đảng Trung Quốc; như một cuộc tấn công nghi binh trong trường hợp chiến tranh toàn diện ở Viễn Đông hoặc toàn cầu; nếu Cộng sản tin rằng phương Tây có ý định tấn công Tầu cộng bất kể chính sách của nước này ở Đông Nam Á; hoặc trong trường hợp giới lãnh đạo Cộng sản quyết định rằng một sự thay đổi tiềm tàng trong chính sách của phương Tây có thể tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với Tầu cộng mà không thể đối phó được bằng chiến lược hiện tại của Cộng sản.

23. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng Tầu cộng sẽ không xâm lược Đông Dương trong thời gian dự báo này.† Mặc dù khả năng quân sự ngày càng tăng của Tầu cộng ở miền Nam Trung Quốc cho thấy sự chuẩn bị cho một cuộc xâm lược Đông Dương, nhưng bằng chứng hiện tại không nhất thiết cho thấy cuộc xâm lược đó sắp xảy ra. Hơn nữa, những yếu tố khác cũng chống lại sự can thiệp trực tiếp của Tầu cộng:

a. Chiến lược hiện tại của phe Cộng sản đang mang lại thành công đáng kể ở Đông Dương, có thể làm suy yếu quyết tâm và khả năng kháng cự của cả người Việt Nam và người Pháp, và có thể cung cấp cho phe Cộng sản một công cụ tiềm năng để làm trầm trọng thêm những khác biệt giữa các cường quốc phương Tây.

b. Những động thái gần đây của phương Tây có lẽ đã khiến giới lãnh đạo Cộng sản thế giới nhận thức được rằng phương Tây, và đặc biệt là Hoa Kỳ, có thể mở rộng chiến tranh ở châu Á sang lục địa Trung Quốc nếu Tầu cộng xâm lược Đông Dương. Tuy nhiên, nhận thức này có lẽ phần nào bị giảm bớt bởi sự nhận thức của phe Cộng sản về những ý kiến ​​trái chiều ở phương Tây về tính đúng đắn và thời điểm tiến hành hành động trả đũa như vậy. Tuy nhiên, nhìn chung, mối lo ngại rằng chiến tranh ở châu Á có thể mở rộng và hành động trả đũa quyết liệt có thể được thực hiện chống lại lục địa Trung Quốc có lẽ đủ để trở thành một yếu tố quan trọng ngăn cản những người Tầu cộng can thiệp công khai bằng lực lượng lớn vào Đông Dương.

c. Mặc dù tầm quan trọng của Đông Dương đã được thảo luận ở trên, nhưng khó có khả năng [Trang 60] tầm quan trọng kinh tế và chiến lược hiện tại của nó đối với Bắc Kinh và Moscow đủ lớn để dẫn đến một cuộc xâm lược quy mô lớn của Trung cộng với nguy cơ có thể gây ra chiến tranh tổng lực.

24. Chúng tôi tin rằng, nếu không có sự can thiệp công khai, Tầu cộng sẽ dần dần mở rộng quy mô và bản chất của sự hỗ trợ hiện tại dành cho Việt Minh. Ngay cả khi vẫn phải gánh chịu những cam kết nặng nề ở Triều Tiên, Tầu cộng cũng sẽ không gặp khó khăn đáng kể nào trong việc tăng mức độ hỗ trợ kỹ thuật và hậu cần hiện tại cho Việt Minh. Hỗ trợ hậu cần có thể chủ yếu bao gồm các mặt hàng như vũ khí hạng nhẹ và đạn dược, phương tiện vận tải, một số pháo binh chiến trường và pháo phòng không, cũng như thiết bị thông tin liên lạc và y tế.

25.

Tầu cộng  cũng sẽ tiếp tục cử nhân viên kỹ thuật và cố vấn đến hỗ trợ Việt Minh và có thể đưa quân "tình nguyện" Trung cộng vào. Tuy nhiên, chúng tôi không tin rằng, trong giai đoạn dự báo này, những người Cộng sản sẽ đưa "tình nguyện viên" với số lượng đủ để bảo đảm một chiến thắng quân sự quyết định cho Việt Minh hoặc với số lượng mà họ tin rằng sẽ dẫn đến hành động phản công lớn của phương Tây chống lại lục địa Trung Quốc.

26. Do đó, đến giữa năm 1952, triển vọng ở Đông Dương có thể là sự suy yếu dần dần vị thế quân sự của Pháp-Việt. Chúng tôi tin rằng Việt Minh sẽ giành được một số vùng lãnh thổ, nhưng sẽ không giành được chiến thắng quyết định trong giai đoạn dự báo này.

27. Triển vọng dài hạn là sự cải thiện liên tục về hiệu quả chiến đấu của Việt Minh và áp lực ngày càng tăng của Việt Minh đối với hệ thống phòng thủ của Pháp-Việt. Trừ khi xu hướng hiện tại bị đảo ngược, áp lực ngày càng tăng này, cùng với những khó khăn mà Pháp có thể tiếp tục phải đối mặt trong việc hỗ trợ các nỗ lực quân sự lớn ở cả châu Âu và Đông Dương, có thể dẫn đến việc Pháp cuối cùng phải rút quân khỏi Đông Dương.

1. Các báo cáo đánh giá tình báo quốc gia (NIE) là những báo cáo liên bộ cấp cao, trình bày những đánh giá có thẩm quyền về các vấn đề chính sách đối ngoại quan trọng. Các báo cáo NIE được soạn thảo bởi các sĩ quan từ các cơ quan đại diện trong Ủy ban Cố vấn Tình báo (IAC), được thảo luận và sửa đổi bởi các nhóm làm việc liên bộ do Văn phòng Đánh giá Quốc gia của Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) điều phối, được IAC phê duyệt và được phát hành dưới sự bảo trợ của CIA cho Tổng thống, các quan chức cấp nội các có liên quan và Hội đồng An ninh Quốc gia. Bộ Ngoại giao cung cấp tất cả các phần chính trị và một số phần kinh tế của các báo cáo NIE.

2. Theo một ghi chú trên trang bìa, “Các tổ chức tình báo của Bộ Ngoại giao, Lục quân, Hải quân, Không quân và Bộ Tham mưu Liên quân đã tham gia cùng Cơ quan Tình báo Trung ương trong việc chuẩn bị bản đánh giá này. Tất cả các thành viên của Ủy ban Cố vấn Tình báo đều đồng ý với bản đánh giá này vào ngày 29 tháng 2 năm 1952. Tuy nhiên, hãy xem thêm các chú thích ở đoạn 4 và 23.”

* Theo quan điểm của Trợ lý Tham mưu trưởng, Ban Tình báo G-2, Bộ Lục quân, câu này nên được viết lại như sau: “Mặc dù khả năng quân sự ngày càng tăng của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở miền Nam Trung Quốc cho thấy sự chuẩn bị cho một cuộc xâm lược Đông Dương, nhưng bằng chứng hiện tại không nhất thiết cho thấy cuộc xâm lược đó sắp xảy ra; tức là, trong khoảng thời gian dự báo này.” [Chú thích trong văn bản gốc.]

3. Để xem nội dung chi tiết, hãy tham khảo cuốn Foreign Relations, 1951, tập VI, Phần 1, trang 469.

4.Không được in.

4.Không được in.

Trợ lý Tham mưu trưởng, G-2, Tình báo, Bộ Lục quân, đề nghị xóa câu đầu tiên này. Xem chú thích ở đoạn 4, trang 1. [Chú thích trong văn bản gốc.]

List of Sources

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources

List of Abbreviations and Symbol

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms

List of Persons

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons

Policy of the United States with respect to Indochina, 1952: U.S. assistance to French Union forces; military, economic, and diplomatic support for the Associated States of Indochina (Documents 1–161)

4.    Document 27

Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1

INR–NIE files

National Intelligence Estimate1

secret
NIE 35/1

Washington, 3 March 1952.

Probable Developments in Indochina Through Mid-19522

the problem

To estimate probable developments in Indochina through mid-1952 with particular emphasis on probable Chinese Communist courses of action in that area.

[Page 54]

conclusions

1.

We believe that the French will continue their war effort in Indochina during the period of this estimate. However, while insisting upon the protection of French interests, the French will attempt to limit their commitments in Indochina by demanding additional US financial assistance and by seeking commitments for US–UK military support in the defense of Indochina.

2.

The present critical financial situation of France is causing the French Government increasing concern over France’s ability to maintain its position in Indochina and to support simultaneously its presently projected military effort in Europe. We believe that the reflections of this concern will give rise to misgivings in Vietnam regarding France’s intentions toward Indochina and accordingly will have an adverse effect upon Vietnamese morale. We believe that this concern will not affect the French effort in Indochina during the period of this estimate, but may at a later date adversely influence France’s will to continue resistance in Indochina.

3.

Independent of operations in Korea, the Chinese Communists have the capability to commit and logistically support approximately 150,000 troops in Indochina. This force could probably cause the present Franco-Vietnamese forces to evacuate Tonkin before effective assistance could be made available to them.

4.

We believe, however, that the Chinese Communists will not intervene in force in Indochina during the period of this estimate.*

5.

We believe that the Chinese Communists will gradually expand the scale and nature of their present assistance to the Viet Minh and may in addition introduce Chinese Communist “volunteer” troops in small numbers. We believe that in pursuit of this policy they will stop short of any degree of assistance which they estimate might provoke major Western counteraction against the mainland of China.

6.

Through mid-1952, the probable outlook in Indochina is one of gradual deterioration of the Franco-Vietnamese military position. We believe that the Viet Minh will make some territorial gains, but will not score a decisive victory during the period of this estimate.

7.

The longer term outlook is for continued improvement in the combat effectiveness of the Viet Minh and an increased Viet Minh pressure against the Franco-Vietnamese defenses. Unless present trends are reversed, this growing pressure, coupled with the difficulties [Page 55] which France may continue to face in supporting major military efforts in both Europe and Indochina, may lead to an eventual French withdrawal from Indochina.

discussion

The Current Situation

8.

Since the publication of NIE–35: “Probable Developments in Indochina During the Remainder of 1951” dated 7 August 1951,3 the French extended their Red River delta perimeter around Hanoi and Haiphong westward to Hao Binh, but heavy Viet Minh attacks over a period of two months coupled with harassing action by Viet Minh units which had infiltrated the Delta, have resulted in French withdrawal from the Hoa Binh sector. (See Map No 1.)4 In the Hanoi–Haiphong delta area, 115,000 Franco-Vietnamese regular troops currently confront an estimated 90,000 Viet Minh regular troops. Elsewhere in Indochina, guerrilla-type warfare continues and the Viet Minh still control northern Tonkin, major portions of the Annam coast and parts of Cochinchina, Cambodia, and Laos. (See Map No. 2.)4

9.

There has been a great improvement in the vigor, coordination, and effectiveness of recent Viet Minh attacks along the French perimeter in Tonkin. The Viet Minh have mounted a sustained frontal attack in the western delta area, and elsewhere in the delta have infiltrated one division and major elements of another behind the Franco-Vietnamese positions in the central and southern parts of the delta where they are now conducting harassing operations and pose a threat to the Hanoi–Haiphong line of communications. There has been a noticeable increase in Viet Minh anti-aircraft capability in recent months. Although the Viet Minh have suffered heavy casualties, they continue to attack and have forced the French to commit almost all of their Tonkin reserves to the operations along the western edge of the delta and against Viet Minh units which have infiltrated elsewhere.

10.

This increased capability reflects a considerable increase in Chinese Communist advisory, training, and logistic assistance to the Viet Minh. While there is no conclusive evidence that Chinese personnel, either in units or as individuals, are serving with Viet Minh combat units, there are an estimated 15,000 Communist Chinese with the Viet Minh serving in technical, advisory, and garrison capacities. There has been a continuing improvement of transportation routes and facilities from South China into Indochina. Chinese Communist logistic assistance to the Viet Minh via these routes is at an all time [Page 56] high, while stockpiles on both sides of the border are believed to be in excess of Viet Minh requirements for present operations.

11.

Although French losses have been heavy, the combat effectiveness of the French forces remains high. The combat effectiveness of the Associated States’ forces is for the most part not yet adequate to fit them for independent combat operations. These forces are primarily performing static defense roles, but some units have conducted themselves creditably with the French in offensive operations. US MDAP aid has been of critical importance to the regular French forces during recent operations. Although the attrition rate in French equipment is high, MDAP logistic assistance is compensating for these losses.

12.

There has been little significant change in the political situation within Vietnam, the most important of the Associated States, since the publication of NIE–35, and the factors discussed in NIE–35 which limit the development of a strong Vietnamese government still apply. The death of General de Lattre has had an adverse effect upon Vietnamese morale as have the suspicions of the Vietnamese that the French may be weakening in their determination and ability to defend Indochina.

13.

We believe that the spirits of the Viet Minh leaders have been raised by the recent death of General de Lattre, the expanded scale of Chinese Communist assistance, the debilitating effect which the sustained Viet Minh offensive has had upon the French, the reoccupation of Hoa Binh by the Viet Minh and their discernment of a weakening Franco-Vietnamese will to resist. The consolidation of Communist control within the Viet Minh area continues and has effectively countered internal opposition. The food shortage is being alleviated by rice gained from within the French perimeter. There is no evidence of serious friction between the Viet Minh and the Chinese Communists.

Viet Minh And Franco-Vietnamese Capabilities And Probable Courses Of Action

14.

We believe that the Viet Minh will probably be able to continue to infiltrate the French lines in Tonkin, but will be unable to achieve a decisive victory during the period of this estimate. However, the over-all combat effectiveness of the Viet Minh will almost certainly continue to improve and the Viet Minh will probably be able to launch a series of harassing attacks on French positions in Tonkin. Elsewhere in Indochina, the Viet Minh will increase their terrorist and guerrilla tactics.

15.

The French Government is increasingly concerned over France’s ability to maintain its position in Indochina. There is a growing official feeling in France that it cannot simultaneously support presently [Page 57] projected military efforts in both Europe and Asia without greater US aid. The French now estimate that, with present US aid, the maximum 1952 military budget that is politically and economically possible will fall several hundred million dollars short of their projected requirements for NATO and Indochina together. The French, if forced to choose between Europe and Indochina, would view their Indochina commitment as of lesser importance, but the necessity for such a decision is unlikely to arise during the period under review. Moreover, there has been a growing feeling that the distant and costly Indochinese war offers few rewards even if won. This feeling is increasing political pressure for some alleviation of the French burden in Indochina. The various approaches by which France is seeking to achieve such alleviation of the burden are: (a) by insisting that much of the financial burden for the defense of Indochina be shifted to the US; (b) by seeking a US–UK commitment to participate in the defense of Indochina in the event of more active Chinese Communist intervention; or possibly (c) by including the issue of Indochina within the context of any general Far East settlement which might arise out of Korean negotiations. Should these approaches prove unsuccessful, the French would seriously consider withdrawal from Indochina.

16.

Within the period under review, however, we believe that a French military withdrawal from Indochina is unlikely despite the increasingly difficult financial situation which has caused isolated demands in Parliament for a withdrawal. Strong factors still hold the French to their present commitments. These include: (a) the intangible but powerful factor of prestige; (b) the knowledge that withdrawal from Indochina would have repercussions elsewhere in the French Union; (c) the concern over the fate of French nationals and investments in Indochina; and (d) the official feeling that no settlement with the Viet Minh or with Communist China could be achieved that would preserve any French interests in Indochina.

17.

Within Indochina, we believe that there will be no improvement during the period of this estimate in the morale or the political strength of the Vietnamese. The efforts of the French and the Bao Dai regime to resist Communist pressure will continue to be viewed apathetically by a people who do not recognize much of a personal stake in the war effort and apparently mistrust French motives more than they recognize any danger from the Communists. This mistrust of French motives would be further heightened in the event that the French should be impelled to take military measures to subdue growing “third force” movements which are opposed to both the Viet Minh and the French.

[Page 58]

Chinese Communist Capabilities and Probable Courses of Action

18.

The Communist Bloc continues to view Indochina as a key to its desired goal, that of eventual Communist control over all Southeast Asia. The immediate importance of Indochina to Moscow and Peiping lies in the fact that the existence of a Communist-sponsored Viet Minh compels France to divert much of its financial and military resources to Indochina, prevents the Associated States from gaining generally recognized international status, and hinders the establishment of a stable non-Communist state on China’s border. The potential importance of Indochina to Moscow and Peiping is great: the fall of Indochina would be a psychological victory of the first magnitude for the Communist Bloc, would undermine the determination of the governments and peoples of Burma and Thailand to resist Communist aggression, would facilitate further Communist conquests in Southeast Asia, would hinder the “encirclement” of Communist China by non-Communist states, would provide the Communist Bloc with control of additional sources of food and strategic materials, and would deny to the West the strategic position and the resources of Indochina.

19.

Transportation facilities from South China into Indochina continue to be improved, and there have been numerous indications of Chinese Communist troop buildup and stockpiling along the Indochina border. These developments increase the capabilities of the Chinese Communists either to invade Indochina in force or to give military assistance to the Viet Minh.

20.

If the Chinese Communists should decide to intervene directly in Indochina, they have an estimated 300,000 troops available in South China for such an invasion. We believe that of this number they could actually commit and support logistically 150,000 troops independent of operations in Korea. Logistic and transportation difficulties would restrict the operations of these troops to a series of limited offensives, between which time would be needed for replenishment of supplies and repair of transportation facilities. An intensification of the Korean hostilities would probably substantially reduce the flow of supplies for Indochina unless the Soviets undertook to replenish the Chinese Communist stocks. Such Soviet aid would be probable in the event of Chinese Communist commitment of forces in Indochina. It may be assumed that the infantry components of the Chinese Communist troops south of the Yangtze are adequately equipped with normal infantry light weapons and that their training is sufficient to attempt an invasion. An armistice in Korea would increase the number of Chinese Communist troops and the logistic support that could be made available for operations in Indochina; transportation deficiencies would still be a limiting factor, however, although the level of logistic [Page 59] support could be raised somewhat by use of the facilities of the Chinese Communist Air Force.

21.

These Chinese Communist troops, added to those of the Viet Minh, would probably be able to force the French and the Vietnamese troops to evacuate Tonkin before any effective assistance could be brought to bear. The Chinese Communists are unlikely to commit jet aircraft to Indochina, so long as hostilities in Korea continue. However, the CCAF, employing only piston-type aircraft, would probably, with surpise, have the capability to neutralize the French Air Forces in Tonkin. An armistice in Korea would of course vastly increase this capability.

22.

The Chinese Communists might risk an invasion of Indochina in any one of a number of circumstances: in order to counter an anticipated blow by the West and/or the Chinese Nationalists; as a diversionary attack in the event of a general Far Eastern or global war; if the Communists believed that the West intended to attack Communist China regardless of the latter’s policies in Southeast Asia; or in the event that Communist leadership should decide that a potential shift in western policies might create a serious threat to Communist China that could not be countered through present Communist strategy.

23.

We believe, however, that the Chinese Communists will not invade Indochina during the period of this estimate. Although the increased Chinese Communist capabilities in South China suggest preparations for an invasion of Indochina, present evidence does not necessarily indicate that such an invasion is imminent. Other considerations, furthermore, militate against a direct intervention by the Chinese Communists:

a.

Present Communist strategy is bringing considerable success in Indochina, may weaken the determination and ability of both the Vietnamese and the French to continue resistance, and may provide the Communists with a potential tool for aggravating differences among the Western Powers.

b.

Recent western moves have probably made world Communist leadership aware that the West, and in particular the US, may expand the war in Asia to the Chinese mainland should Communist China invade Indochina. Any such awareness is probably somewhat offset by Communist recognition of divided opinions in the West as to the merits and timing of such retaliation. On balance, however, concern that the war in Asia might be expanded and that drastic retaliatory action might be taken against the mainland of China is probably sufficient to be a major factor dissuading the Chinese Communists from openly intervening in force in Indochina.

c.

Despite the importance of Indochina discussed above, it is unlikely [Page 60] that its present economic and strategic importance to Peiping and Moscow is great enough to dictate a large-scale Chinese Communist invasion with a possible risk of initiating general war.

24.

We believe that the Chinese Communists will, short of open intervention, gradually expand the scale and nature of their present assistance to the Viet Minh. Even assuming continuing heavy commitments in Korea, the Chinese Communists will face no forbidding difficulty in increasing the present level of technical and logistic assistance to the Viet Minh. Logistical support will probably consist primarily of such items as light arms and ammunition, vehicles, some field and anti-aircraft artillery, and communication and medical equipment.

25.

The Chinese Communists will also continue to commit technical and advisory personnel to the Viet Minh and may introduce Chinese “volunteer” troops. We do not believe, however, that the Communists, during the period of this estimate, will commit “volunteers” in numbers that would assure a decisive military victory for the Viet Minh or that they believe would result in major Western counteraction against mainland China.

26.

Consequently, through mid-1952 the probable outlook in Indochina is one of gradual deterioration of the Franco-Vietnamese military position. We believe that the Viet Minh will make some territorial gains, but will not score a decisive victory during the period of this estimate.

27.

The longer term outlook is for continued improvement in the combat effectiveness of the Viet Minh and an increased Viet Minh pressure against the Franco-Vietnamese defenses. Unless present trends are reversed, this growing pressure, coupled with the difficulties which France may continue to face in supporting major military efforts in both Europe and Indochina, may lead to an eventual French withdrawal from Indochina.

1.    National Intelligence Estimates (NIEs) were high-level interdepartmental reports presenting authoritative appraisals of vital foreign policy problems. NIEs were drafted by officers from those agencies represented on the Intelligence Advisory Committee (IAC), discussed and revised by interdepartmental working groups coordinated by the Office of National Estimates of the Central Intelligence Agency (CIA), approved by the IAC, and circulated under the aegis of the CIA to the President, appropriate officers of cabinet level, and the National Security Council. The Department of State provided all political and some economic sections of NIEs.

2.    According to a note on the cover sheet. “The intelligence organizations of the Department of State, the Army, the Navy, the Air Force, and the Joint Staff participated with the Central Intelligence Agency in the preparation of this estimate. All members of the Intelligence Advisory Committee concurred in this estimate on 29 February 1952. See, however, footnotes to paragraphs 4 and 23.”

3.    It is the view of the Assistant Chief of Staff, G–2, Intelligence, Department of the Army, that this sentence should read as follows: “Although the increased Chinese Communist capabilities in South China suggest preparations for an invasion of Indochina, present evidence does not necessarily indicate that such an invasion is imminent; i.e., within the period of this estimate.” [Footnote in the source text.]

3.    For text, see Foreign Relations, 1951, vol. vi, Part 1, p. 469.

4.    Not printed.

4.    Not printed.

5.    The Assistant Chief of Staff, G–2, Intelligence, Department of the Army, prefers that this first sentence be deleted. See footnote to paragraph 4 on page 1. [Footnote in the source text.]

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d27

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_54

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_55

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_56

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_57

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_58

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_59

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_60

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1951v06p1/pg_469

Thân thế (các) nhân vật

Bao Dai,

Chief of State of Vietnam.

De Lattre De Tassigny, Général d’Armée Jean,

French High Commissioner and Commander of French Forces in Indochina, December 1950–November 1951; died January 1952.

https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_de_Lattre_de_Tassigny

https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d8

https://www.britannica.com/biography/Jean-de-Lattre-de-Tassigny

https://ww2db.com/person_bio.php?person_id=738

No comments:

Post a Comment