20260206 CDTL HST DDE D26 1 March 1952 Công văn của Bộ trưởng Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d26
Google Translated
Tài liệu 26
Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1952–1954, Đông Dương, Tập XIII, Phần 1
751G.00/3–152: Công văn của Bộ trưởng Heath tại Sài Gòn gửi Bộ Ngoại giao.
Mật
Số 427
Sài Gòn, ngày 1 tháng 3 năm 1952.
Tham chiếu:
Điện tín số 1681, ngày 27 tháng 2 năm 1952.1
Chủ đề:
Cuộc phỏng vấn với Tổng Giám đốc Ngân hàng Đông Dương.
Ông Jean E. P. Laurent* đã đến gặp tôi theo sáng kiến riêng của ông vào ngày 26 tháng 2, sau chuyến công tác kiểm tra tại Đông Dương gần đây. Ông dự định rời Sài Gòn vào ngày 27 tháng 2 để đến thăm chi nhánh ngân hàng tại Tokyo, sau đó tiếp tục đến San Francisco và New York, nơi ngân hàng cũng có chi nhánh, hoặc trở về Paris qua Sài Gòn. Nội dung những nhận xét của ông về các thỏa thuận thương mại giữa Đông Dương với Pháp và Nhật Bản đã được truyền đạt trong điện tín tham chiếu của tôi. [Trang 49]
Nhìn chung chúng tôi rất có ấn tượng với sự quyết đoán, sự hiểu biết rộng và kiến thức tổng quát của ông Laurent về tình hình Đông Dương. Việc ông có thể đưa ra những quan điểm có thể được coi là không chính thống đối với một doanh nhân Pháp đến từ chính quốc được thể hiện qua những bình luận của ông về khả năng dung hòa sự phát triển thương mại giữa Liên minh Pháp và Đông Dương với Nhật Bản, như đã được báo cáo trong điện tín tham chiếu.
Tình hình chung ở Đông Dương
Ông ấy nói rằng theo ý kiến của ông, tình hình chắc chắn tốt hơn so với sau thảm họa Cao Bằng vào mùa thu năm 1950. Ít nhất điều này đúng từ góc độ quân sự. Ông không chắc chắn rằng điều đó cũng đúng từ góc độ chính trị hoặc hành chính.
a) Nội các của Hữu hầu như hoàn toàn gồm những người gốc Nam Kỳ. Điều này không tốt vì nó có nghĩa là Bảo Đại đã không thể tận dụng được sự phục vụ của những người đến từ Bắc Kỳ. Người Bắc Kỳ luôn chứng tỏ là những chính trị gia giỏi nhất trong tất cả các nhóm người Đông Dương, ông không biết nên dùng từ nào cho phù hợp. Họ có thể bướng bỉnh, kiêu ngạo, quá đa nghi và nói chung là khó làm việc cùng, nhưng họ có năng lực – năng lực hơn nhiều so với người Nam Kỳ dễ tính hơn.
b) Bảo Đại đã chứng tỏ là hữu ích và sẽ còn hữu ích hơn nhiều nếu ông ấy được khuyến khích để nỗ lực hơn nữa, nhưng Laurent không chắc điều đó có thể xảy ra.
c) Chính phủ Việt Nam yếu kém một cách đáng tiếc trong công tác quản lý hành chính hàng ngày. Laurent đổ lỗi phần lớn cho sự thiếu hụt trầm trọng nhân sự được đào tạo bài bản. Về vấn đề này, ông không giải thích tại sao chính phủ của Hồ Chí Minh lại có vẻ có những nhà quản lý giỏi, mà chỉ nêu ra rằng trong số rất nhiều nhân viên người An Nam cấp dưới mà ngân hàng của ông từng tuyển dụng, ngân hàng chỉ có thể chọn ra một vài người cho các vị trí quan trọng: Thủ tướng hiện tại Trần Văn Hữu làm giám đốc Ngân hàng Tín dụng Nông nghiệp ở Cần Thơ và Nguyễn Đệ làm Phó Giám đốc chi nhánh ngân hàng tại Hà Nội. Đề nghị chung của ông là nên bổ nhiệm các cố vấn người Pháp có quyền lực thực sự vào các Bộ. Những người này không nên là những quan chức thuộc địa cũ, mà phải là những chuyên gia được đào tạo bài bản từ chính quốc. Điều này sẽ đồng nghĩa với việc thay đổi hoàn toàn từ những tàn dư còn sót lại của chế độ cai trị trực tiếp sang việc gây áp lực thông qua các cố vấn, và Cao ủy chỉ còn là một phái bộ ngoại giao. Về vấn đề này, phái đoàn ghi nhận rằng Laurent và Cố vấn Kinh tế Janet có cùng quan điểm.
Tình hình thế giới
Laurent rõ ràng lo ngại về khả năng của quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc ở Đài Loan, mặc dù ông không giải thích rõ lý do lo ngại của mình. Ông cảm thấy rằng Tưởng Giới Thạch vẫn còn quá nhiều tướng lĩnh tham nhũng cũ xung quanh mình và lo sợ [Trang 50] rằng dưới sự lãnh đạo như vậy, không thể kỳ vọng vào một lực lượng chiến đấu hiệu quả, chuyên nghiệp và yêu nước. Ông cũng lo ngại về Nhật Bản, nơi ông cảm thấy một tình huống tiềm ẩn "nguy hiểm" có thể phát triển sau khi thời kỳ chiếm đóng kết thúc. Ông tin chắc rằng Nga sẽ cố gắng thiết lập quan hệ thương mại chặt chẽ với Nhật Bản, trước hết bằng cách mua hàng tiêu dùng và một số hàng công nghiệp nhẹ để bán lại cho Trung cộng. Thậm chí Nga có thể sẵn sàng trả bằng vàng. Lý do cho động thái này là để cho phép Nga cung cấp cho Trung cộng những mặt hàng mà hiện tại họ không thể cung cấp, nhằm mục đích tuyên truyền. Theo ý kiến của Đại sứ quán, lập luận này có vẻ khá thiếu thuyết phục và chỉ được báo cáo vì nó có thể phù hợp với những thông tin khác mà Washington có được. Có thể Laurent bị ảnh hưởng bởi thực tế là, theo ông, Nga gần đây đã đặt một đơn hàng trị giá một tỷ franc cho lụa Lyon. Những mặt hàng này đã tồn đọng trên kệ của các nhà sản xuất Lyon từ lâu vì chúng có chất lượng quá đắt đỏ đến nỗi không thể bán được ngay cả trên thị trường Mỹ.
Hoạt động của Ngân hàng Đông Dương
Trả lời câu hỏi trực tiếp, Laurent thẳng thắn tuyên bố rằng ngân hàng của ông không bán bất kỳ tài sản nào ở Đông Dương ngoại trừ một phần nhỏ, chưa đến một nửa số cổ phần của Công ty trồng cao su Đông Dương (Societe Indochinoise des Plantations d’Heveas) cho Lazard Freres, mà ông mô tả là “một công ty có một nửa vốn của Mỹ”. Việc tài sản của ngân hàng ở Đông Dương giảm từ một phần bảy xuống còn một phần tám tổng tài sản trong năm 1950 hoàn toàn là do sự sụt giảm giá trị của các khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán Paris trong năm đó. Mặt khác, vào năm 1945, khi dự đoán được xu hướng chủ nghĩa dân tộc đang gia tăng khắp Viễn Đông, ngân hàng đã quyết định không đầu tư thêm vốn mới vào khu vực này và kể từ đó đã tập trung mở rộng hoạt động sang Trung Đông và châu Phi.
Đầu tư của Hoa Kỳ và Nhật Bản vào Đông Dương
Từ sau chiến tranh, ngân hàng này đã cố gắng thu hút vốn đầu tư của Mỹ vào Đông Dương, nhưng không thành công. Ví dụ, họ đã cố gắng thúc đẩy việc sáp nhập Công ty Than đá Đông Triều (Tonkin) và Công ty Than đá Pháp ở Tonkin, trong đó ngân hàng này là cổ đông quan trọng của cả hai công ty, được hỗ trợ bởi vốn của Mỹ. Ông tin chắc rằng những tài sản này, với vốn, thiết bị và quản lý kỹ thuật của Mỹ, có thể trở thành một trong những trung tâm khai thác mỏ quan trọng nhất ở Viễn Đông. Tuy nhiên, cho đến nay, ông vẫn chưa thành công trong việc thực hiện kế hoạch này. Bản thân ngân hàng cũng không sáp nhập hai công ty vì sợ bị buộc tội độc quyền. Ông cũng rất vui mừng nếu Nhật Bản đầu tư vốn vào Đông Dương và hoàn toàn ủng hộ các cuộc thảo luận hiện đang diễn ra để khai thác các mỏ muối ở hồ Nga bằng vốn của Nhật Bản. Những [Trang 51] tài sản này thuộc sở hữu của Công ty Muối biển miền Nam và Muối Djibouti, trong đó ngân hàng này có lợi ích đáng kể.
Mặt khác, Laurent không đặc biệt quan tâm đến việc người Mỹ chỉ đơn thuần thâm nhập thị trường Đông Dương với tư cách là đại lý bán hàng cho các sản phẩm sản xuất của Mỹ. Về mặt này, cũng như nhiều mặt khác, Laurent rất thẳng thắn trong cách tiếp cận của mình. Ví dụ, ông cũng thẳng thắn khi đề nghị rằng cách tốt nhất để giải quyết vấn đề thương mại giữa Đông Dương và Nhật Bản là thông qua các cuộc thảo luận trực tiếp giữa các quan chức Pháp và Mỹ có thẩm quyền, cũng như khi ông nói rằng Pháp đương nhiên muốn giữ phần lớn thị trường Đông Dương cho hàng nhập khẩu của mình “như một hình thức bù đắp cho số tiền lớn mà chúng ta đang chi tiêu để bảo vệ khu vực này”. Giống như Laurent và Janot đồng ý về một hình thức mới mà “sự hiện diện” của Pháp nên có ở Đông Dương, Laurent cũng đồng ý về cơ bản với những gì Jean Bourgoin, khi đó là Cố vấn Kế hoạch, đã nói về đầu tư của Mỹ so với nhập khẩu của Mỹ vào Đông Dương. (Xem công văn số 544 của Đại sứ quán, ngày 7 tháng 3 năm 1951, trang 20).
Áp lực lạm phát
Như dự đoán, Laurent cho rằng hệ thống cũ, trong đó Ngân hàng Đông Dương là cơ quan phát hành tiền tệ, tốt hơn hệ thống bốn bên mới của Viện Phát hành tiền tệ xét về mặt định hướng chính sách tài chính của Đông Dương. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là ông không đặc biệt lo lắng về nguy cơ lạm phát do việc tiếp tục sử dụng máy in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách của Việt Nam. Ông tin rằng, nếu áp lực lạm phát trở nên quá lớn, tất cả những gì người Pháp cần làm là nới lỏng kiểm soát chuyển đổi đồng piastre sang franc. Bất cứ ai có tiền piastre tự do đều sẽ rất vui mừng khi chuyển đổi chúng sang franc. Điều này có nghĩa là xuất khẩu lạm phát sang Pháp, nhưng có thể được biện minh bởi thực tế là so với toàn bộ nền kinh tế Pháp, nó sẽ có tác động tương đối nhỏ, trong khi áp lực lạm phát tích lũy ở Đông Dương có thể gây ra sự gián đoạn hoàn toàn nền kinh tế.
Bình luận: Có thể rút ra những kết luận nào từ những tuyên bố của Laurent?
1. Có lẽ điều quan trọng nhất là, ngay cả khi ngân hàng của ông ta vì những lý do hoàn toàn vị kỷ muốn thấy sự phát triển của thương mại Đông Dương-Nhật Bản (và Phó Giám đốc Gannay đã dành vài tháng qua để chuẩn bị thành lập chi nhánh của ngân hàng tại Tokyo nhằm đón đầu sự phát triển đó), sự hỗ trợ của ngân hàng có thể hữu ích trong việc thuyết phục chính quyền Pháp cho phép sự phát triển đó ít nhất là trong điều kiện được kiểm soát.
2. Ngân hàng cho đến nay vẫn chưa mất niềm tin vào tương lai của Đông Dương đến mức giảm bớt các khoản đầu tư của mình vào các quốc gia liên kết.
3. Ngân hàng rõ ràng lo ngại về khả năng Nhật Bản tránh xa quỹ đạo ảnh hưởng của Trung cộng và Nga. Sẽ rất thú vị khi theo dõi xem liệu, thay vì Gannay ở Tokyo để chuẩn bị cho việc tăng cường kinh doanh, ông ta thực sự ở đó để xác định cách tốt nhất để ngân hàng có thể thanh lý các khoản đầu tư của mình tại Nhật Bản. Như đã nêu ở trên, Đại sứ quán đã được dẫn dắt tin vào điều thứ nhất thông qua các tuyên bố của cả Laurent và Giám đốc chi nhánh ngân hàng tại Sài Gòn, ông De Champeau. Vì lý do này, nếu điều ngược lại xảy ra, thì điều đó sẽ càng quan trọng hơn.
4. Giống như trường hợp của Vinh, Bộ trưởng Tài chính Việt Nam (công văn số 414 của Đại sứ quán, ngày 25 tháng 2 năm 1952)3 và Letourneau, Bộ trưởng Quan hệ với các Quốc gia Liên kết của Pháp (điện tín số 1670 của Đại sứ quán, ngày 23 tháng 2 năm 1952),3 Laurent phàn nàn về tình trạng quản lý yếu kém là một trong những điểm yếu cốt lõi của Chính phủ Việt Nam. Giống như Vinh và Letourneau, Laurent cũng không đưa ra được giải pháp khả thi nào để chính phủ Bảo Đại thoát khỏi bế tắc hiện tại. Bế tắc hay vòng luẩn quẩn này dường như bao gồm các yếu tố sau:
a. Một nền hành chính yếu kém và không được tôn trọng đang cản trở không chỉ hoạt động dân sự của chính phủ mà cả nỗ lực quân sự.
b. Nền hành chính này có thể được cải thiện nếu có thể thu hút được nhiều người tận tâm và có năng lực hơn tham gia điều hành.
c. Những người như vậy được cho là có sẵn, có thể từ miền Bắc như Laurent đã đề nghị, nhưng cho đến nay họ luôn được đánh giá là không sẵn lòng thỏa hiệp bằng cách chấp nhận trách nhiệm trong chính phủ chừng nào chính phủ mà họ sẽ ủng hộ vẫn còn quá thân Pháp.
d. Mặc dù vẫn chưa được chứng minh, nhưng có khả năng là dù Pháp có hứa hẹn mức độ độc lập lớn đến đâu cho Việt Nam, những nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa này vẫn sẽ không sẵn lòng phục vụ chính phủ Bảo Đại. Tuy nhiên, họ có thể được thuyết phục làm như vậy nếu Pháp có thể được thuyết phục cam kết một cách chắc chắn rằng Pháp sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam sau khi hòa bình được lập lại để đàm phán lại các Hiệp định cơ bản và hiện tại đưa ra những bằng chứng khác cho thấy sự sẵn lòng của Pháp cuối cùng sẽ nới lỏng sự kiểm soát đối với nền kinh tế của đất nước và sửa đổi quan điểm cơ bản của mình, đó là duy trì "sự hiện diện" của Pháp ở Việt Nam.
e. Mặt khác, Pháp đã tuyên bố rõ ràng với Bảo Đại rằng họ sẽ không xem xét việc đàm phán lại các Hiệp định ngoại trừ những điểm nhỏ và chỉ khi các cuộc đàm phán đó không được tiến hành công khai. Pháp, thông qua Letourneau, cũng vừa nói với Hoa Kỳ rằng họ hy vọng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ "sự hiện diện" kín đáo, liên tục của Pháp ở Đông Dương ngay cả sau khi hòa bình được lập lại.
f. Hoa Kỳ cũng chưa đưa ra lập trường thúc giục Pháp đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về sự phát triển chính trị hoặc thực hiện các hành động tự do hóa tương tự khác được đề xuất trong điện tín số 1347 ngày 7 tháng 1 của Đại sứ quán. Có lẽ người ta tin rằng [Trang 53] phản ứng của công chúng Pháp sau đó có thể buộc chính phủ Pháp phải rút quân khỏi Đông Dương. Nói cách khác, dư luận Pháp về vấn đề này đáng lo ngại hơn về hậu quả (khả năng rút quân Pháp khỏi Đông Dương) so với dư luận dân tộc chủ nghĩa Việt Nam (khả năng tiếp tục không thể thành lập một chính phủ Việt Nam mạnh mẽ và hiệu quả).
Nếu lập luận này là đúng, thì việc phân tích vấn đề lại quay trở lại điểm xuất phát. Gợi ý duy nhất của Laurent để phá vỡ vòng luẩn quẩn này là một giải pháp dường như không khả thi, đó là đưa các chuyên gia được đào tạo và thấm nhuần tư tưởng từ chính quốc vào các bộ khác nhau của Việt Nam với tư cách là "cố vấn" và thực sự điều hành đất nước. Điều này dường như không phù hợp với thực tế. Người ta tin rằng điều này chỉ có thể thực hiện được nếu Pháp sẵn sàng tiếp quản lại với tư cách là một cường quốc chiếm đóng và nếu Hoa Kỳ sẵn sàng ủng hộ Pháp trong nỗ lực này.
Hành động: Đề nghị gửi một bản sao công văn này đến Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Paris và Văn phòng Cố vấn Chính trị Hoa Kỳ cho Tư lệnh tối cao các lực lượng Đồng minh, Tokyo.
Donald R. Heath.
1. Telegram 1681 từ Sài Gòn, ngày 27/2, chưa in cũng đưa tin về cuộc trò chuyện của Heath với Laurent. (451G.943/2–2752)↩
Annuaire Desfosses cung cấp các mối quan hệ kinh doanh sau đây cho ông Laurent:
Tổng Giám đốc và
Thành viên HĐQT: Ngân hàng Đông Dương,
Phó Chủ tịch: Banque Franco-Chinoise, Thành viên HĐQT:
Societe d'Oxygene et d'Acetylen d'Extreme-Orient,Salines de Djibouti, de Stax, et de Madagascar (sở hữu Saline de Cana ở miền Trung Việt Nam).Les Caoutchoucs de Phước-Hoa,Societe Francaise d'Entreprises de Dragages tại de Travaux Publics,Societe Indochinoise de Plantations d' Heveas,Caoutchoucs de Kompong-Thom,Caoutchoucs de l'Indochine,Nhà máy chưng cất de l'Indochine, Societe Financiere pour La France et les Pays d'Outre-Mer (do đó kiểm soát một số doanh nghiệp quan trọng của Đông Dương),
Hiệp hội Indochinoise des Plantations Reunis de Mimot. [Chú thích trong văn bản nguồn.]↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/sources
List of Abbreviations and Symbol
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/persons
4. Document 26
Foreign Relations of the United States, 1952–1954, Indochina, Volume XIII, Part 1
751G.00/3–152: Despatch
The Minister at Saigon (Heath) to the Department of State
secret
No. 427
Saigon, March 1, 1952.
Ref:
- Legtel 1681, February 27, 1952.1
Subject:
- Interview With General Director of the Bank of Indochina.
Mr. Jean E. P. Laurent* came to see me on his own initiative February 26 at the end of his recent Indochina inspection tour. He was planning to leave Saigon February 27 to visit the Bank’s Tokyo branch and then to proceed either on to San Francisco and New York, in both of which cities the Bank has branches, or back to Paris through Saigon. The substance of his remarks regarding Indochinese trade [Page 49] arrangements with Metropolitan France and with Japan respectively have been transmitted in my reference telegram.
We were generally impressed with Laurent’s decisiveness, wide interests, and general knowledge of Indochinese conditions. That he is able to take positions which might be considered unorthodox for a metropolitan French businessman is indicated by his comments upon the possibility of reconciling French Union and Indochina–Japan trade developments, as already reported in reference telegram.
General Situation in Indochina
He stated that in his opinion the situation was certainly better than it had been after the Cao-Bang disaster in the fall of 1950. At least this was true from a military point of view. He was not so sure that it was true from a political or public administration point of view.
a)
The Huu Cabinet was almost entirely made up of Cochin-chinese. This was bad because it meant that Bao Dai had not been able to utilize the services of men from Tonkin. The Tonkinese had always proved, of all the Indochinese groups, to be the best politicians or men of politics, he did not know which phrase to use. They might be stubborn, arrogant, too suspicious and in general hard to work with, but they were able—much more able than the easier going Cochinchinese.
b)
Bao Dai had proved useful and would be much more useful if he could be stimulated to exert more energy, but Laurent was not sure the latter was possible.
c)
The Vietnamese Government was lamentably weak in day to day administration. Laurent placed most of the blame for this on the real paucity of trained personnel. He did not in this respect explain why Ho Chi Minh’s government seemed to have able administrators, but merely cited that out of scores of subordinate Annamite personnel which his Bank had at one time or another employed, the Bank had been able to pick only a few for responsible positions: the present Prime Minister Tran-Van-Huu as head of the Credit Fonciere in Cantho and Nguyen De as Assistant Director of the Bank’s Hanoi Branch. His general recommendation was that French Counselors with real power should be placed in the various Ministries. These should not be old-time colonial administrators, but untainted Metropolitan-trained technicians. This would mean a complete change over from the still lingering vestiges of direct administration to the exerting of pressure through advisors with the High Commissariat becoming merely a diplomatic mission. In this respect the Legation notes that Laurent and Economic Counselor Janet are thinking along very much the same lines.
World Situation
Laurent was plainly worried about the capabilities of the Nationalist Chinese Armies in Formosa although he did not explain his preoccupation with this problem. He felt that the Generalissimo still had too many of his old-time grafting generals around him and feared [Page 50] that under such leadership an effective, professional and patriotic fighting force could not be expected. He was also worried about Japan where he felt a potentially “dangerous” situation might develop after the occupation was terminated. Russia, he was convinced, would try to establish close trade relations with Japan in the first instance by buying consumer and some light industrial goods for resale to China. It might even be willing to pay for these in gold. The reason for such a manoeuver would be to permit Russia to provide China for propaganda purposes with goods which it was not presently in a position to spare. In the Legation’s opinion this line of reasoning seems rather specious and is reported merely because it may fit in with other information available to Washington. Possibly Laurent was influenced by the fact that, according to him, Russia recently placed an order totalling one billion francs for Lyons silks. These had been clogging Lyons manufacturers’ shelves for a long time because they were of such an expensive quality that they could not be disposed of even in the American market.
Bank of Indochina Operations
In answer to a direct question Laurent flatly declared that his Bank had not sold out any of its Indochinese holdings except a little under half the shares of the Societe Indochinoise des Plantations d’Heveas to Lazard Freres, which he described as “half-American”. The Bank’s reported decrease in Indochinese holdings during 1950 of from one seventh to one eighth of its total assets was entirely due to the fall in the value of the holdings on the Paris Bourse during that year. On the other hand the Bank in 1945, when it foresaw the trend of rising nationalism throughout the Far East, had decided to invest no new funds in that area and had since then concentrated its expansion in the Near East and Africa.
United States and Japanese Investment in Indochina
Ever since the war the Bank had tried to interest American capital in investing in Indochina, but without success. He had tried to promote, for instance, a merger of the Charbonnages du Dong-Trieu (Tonkin) and the Societe Francaise des Charbonnages du Tonkin, in both of which his Bank was an important stockholder, backed with American capital. He was convinced that these properties with American capital, equipment, and technical management could become one of the Far East’s most important mining centers. So far, unfortunately, he had been unsuccessful in selling his scheme. The Bank itself had not amalgamated the two companies for fear of being accused of monopolistic practices. He would be equally happy to see Japan invest capital in Indochina and heartily approved of discussions now under way to activate the Lake Nga salt properties with Japanese capital. These [Page 51] properties are owned by the Compagnie des Salins du Midi et des Salines du Djibouti in which the Bank has an active interest.
On the other hand Laurent was not particularly interested in seeing Americans simply enter the Indochinese market as sales agents for manufactured American products. In this respect, as in others Laurent was refreshingly frank in his approach. He was, for instance, similarly so when he suggested that the best way to approach the Indochina–Japan trade problem would be by direct discussions between competent French and American officials, as well as when he said that France would naturally wish to keep Indochina markets in large part for its own imports “as a sort of counter payment for the large sums we are expending in defending it”. Just as Laurent and Janot agree on a possible new form which the French “presence” should take in Indochina, so Laurent agrees in substance with what Jean Bourgoin, then Planning Counselor, had to say on American investment vs American imports in Indochina. (See the Legation’s despatch No 544, March 7, 1951, page 20.)2
Inflationary Pressures
As was to be expected Laurent felt that the old system, under which the Bank of Indochina was the currency issuing authority, was better than the new quadripartite one of the Institute of Issue insofar as guiding Indochina’s financial policy was concerned. Strangely enough, however, he was not particularly worried about the inflationary dangers of continued use of the printing press to cover Vietnam’s budgetary deficit. He believed that, should inflationary pressures resulting therefrom become too great, all the French had to do was to relax their piaster-franc transfer controls. Everyone with free piaster funds would be only too happy to convert them into francs. This would mean exporting inflation to Metropolitan France, but could be justified by the fact that in relation to the total economy of France it would have relatively little effect, whereas cumulated inflationary pressures in Indochina might cause a complete disruption of the economy.
Comment: What conclusions can be drawn from Laurent’s statements?
1.
Perhaps the most important is that, even if his Bank for purely self-interested reasons would like to see the development of Indochina–Japan trade (and its Deputy Director Gannay has spent the last several months presumably setting up the Bank’s Tokyo branch in anticipation thereof), its support might be useful in persuading the French authorities to permit such development at least under controlled conditions.
2.
The Bank has not so far so lost faith in the future of Indochina as to reduce its holdings in the Associated States.
3.
The Bank is distinctly worried about Japan’s ability to keep out of the Sino-Russian orbit. It will be interesting to watch whether, instead of Gannay’s being in Tokyo to prepare for increased business, he has actually been there to determine how best the Bank can liquidate its Japanese interests. As indicated above, the Legation has been led to believe the former by statements of both Laurent and of the Director of the Bank’s Saigon Branch, Mr. De Champeau. For this reason, if the reverse were the case, it would be all the more important.
4.
As in the case with Vinh, Vietnam’s Finance Minister (Legation despatch no. 414, February 25, 1952)3 and with Letourneau, France’s Minister for Relations with the Associated States (Legation telegram No. 1670, February 23, 1952),3 Laurent complained of bad administration as being one of the cardinal weaknesses of the Government of Vietnam. Like Vinh and Letourneau, Laurent also offered no feasible solution as to how Bao Dai’s government can get out of the cul-de-sac which faces it. This cul-de-sac or vicious circle seems made up of the following elements:
a.
A weak and unrespected administration is hampering not only the civil functioning of government, but also the military effort.
b.
This administration could be improved if more dedicated and better qualified persons could be induced to help run it.
c.
Such persons are claimed to be available, possibly from the North as Laurent has suggested, but so far have always been judged as not willing to compromise themselves by accepting Government responsibilities as long as the Government they would be thus supporting appears to them to be too pro-French.
d.
It is, though still not proved, possible that no matter how great a degree of independence were promised Vietnam, these nationalist leaders would still be unwilling to offer their services to the Bao Dai Government. They might, however, be induced to do so if the French could be persuaded definitely to pledge its good faith that France would give Vietnam an opportunity after peace to renegotiate the basic Accords and presently to give other evidences of France’s willingness eventually to relax its hold on the country’s economy and to modify its basic mystique, the maintenance of the French “presence” in Vietnam.
e.
France has clearly stated to Bao Dai, on the other hand, that it will not consider renegotiating the Accords except upon minor points and then only if such negotiations are not conducted in public. France through Letourneau has also just told the United States that it hopes the United States will support the continued, discreet “presence” of France in Indochina even after peace.
f.
Nor has the United States itself yet adopted the position of urging the French to make any evolutionary statement or of taking other similar liberalizing actions suggested in the Legation’s telegram No. 1347 of January 7.3 It is presumably believed that [Page 53] subsequent French public reaction might force the French Government to withdraw from Indochina. In other words, French public opinion in this respect is more to be feared in its results (possible withdrawal of French troops from Indochina) than Vietnamese nationalist public opinion (probable continued inability to create a strong and effective Vietnamese government).
If this reasoning is correct, it brings the analysis of the problem back to where it started. Laurent’s only suggestion for breaking this vicious circle was the apparently impracticable one of placing qualified Metropolitan trained and indoctrinated experts into the various Vietnamese ministries as “advisors” with the mission of actually running the country. This seems to be inconsonant with realities. It could only be accomplished, one would believe, if France were prepared to take over again as an occupying power and if the United States were prepared to back France in this endeavor.
Action: It is suggested that a copy of this despatch be sent to the American Embassy in Paris and to the Office of the United States Political Adviser to the Supreme Commander for Allied Powers, Tokyo.
Donald R. Heath
1. Telegram 1681 from Saigon, Feb. 27, not printed, also reported on Heath’s conversation with Laurent. (451G.943/2–2752)↩
2. Annuaire Desfosses gives the following business connections for Mr. Laurent:
Director General and
Member of Board of Directors: The Bank of Indochina,
Vice President: Banque Franco-Chinoise,
Member of Board of Directors:
o Societe d’Oxygene et d’Acetylene d’Extreme-Orient,
o Salines de Djibouti, de Stax, et de Madagascar (which owns the Saline de Cana in Center Vietnam).
o Les Caoutchoucs de Phuoc-Hoa,
o Societe Francaise d’Entreprises de Dragages at de Travaux Publics,
o Societe Indochinoise de Plantations d’ Heveas,
o Caoutchoucs de Kompong-Thom,
o Caoutchoucs de l’Indochine,
o Distilleries de l’Indochine,
Societe Financiere pour La France et les Pays d’Outre-Mer (which in turn controls several important Indochinese enterprises),
Societe Indochinoise des Plantations Reunis de Mimot. [Footnote in the source text.]↩
2. Not printed.↩
3. Not printed.↩
3. Not printed.↩
3. Not printed.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/comp1
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d26
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_49
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/pg_50
Thân thế (các) nhân vật
Bao Dai,
Chief of State of Vietnam.
Ambassador (Minister to June 1952) at Saigon accredited to Vietnam, Laos, and Cambodia. Appointments terminated October (Cambodia) and November (Vietnam, Laos) 1954.
https://en.wikipedia.org/wiki/Donald_R._Heath
https://history.state.gov/departmenthistory/people/heath-donald-read
https://oac.cdlib.org/findaid/ark:/13030/c81260v0/
Ho Chi Minh,
President of the Democratic Republic of Vietnam.
French Minister in Charge of Relations with the Associated States until July 1953; also served as French High Commissioner in Indochina, April 1952–July 19, 1953.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d220
https://en.wikipedia.org/wiki/Jean_Letourneau
https://avalon.law.yale.edu/20th_century/inch012.asp
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v13p1/d53
https://granger.com/0146908-jean-letourneau-frech-minister-jean-letourneau-at-the-depar-image.html
Nguyen De,
Adviser to Bao Dai, Chief of State of Vietnam; Chief of the Imperial Cabinet.
Nguyen Huu Tri,
Governor of Northern Vietnam, 1952–1954; leader of the Dai Viet (Vietnamese political party).
Thống đốc Nam Kỳ. Governor of Cochin China. Prime Minister of Vietnam to June 3, 1952.
https://en.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_H%E1%BB%AFu
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1952-54v16/d279
https://vietnamproject.archives.msu.edu/objects/159-547-2488/
No comments:
Post a Comment