Monday, November 4, 2019

20191005 Lời trăn trối của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm


20191005 Lời trăn trối của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm


 Những Lời Trăn Trối Của TT Ngô Đình Diệm
Gửi Cho Nước Mỹ
  
Trước Khi Từ Chối Tỵ Nạn Chính Trị Tại Tòa Đại Sứ HK
Hiên Ngang Chờ Đón Cái Chết Vì Dân Vì Nước

Nhóm Phát Huy Tinh Thần Ngô Đình Diệm
Và nền Cộng Hòa Việt Nam

Maggie Higgins đã dành cả một chương 9 trong cuốn Our Nightmare of Vietnam để viết về TT Diệm. Theo Higgins Ngô Đình Diệm là một vị quan lạị bị ngộ nhận quá nhiều. Khi cụ Diệm bị HCM bắt tại Tuyên Quang, lúc đó cụ Diệm đang đói và rất đau khổ. HCM đã nói với cụ, Tôi đã sẵn sàng dành cho ông một chức vị cao trong chính quyền. Tôi mong ông đến sống cùng tôi và ở trong dinh Toàn Quyền.”
Cụ Diệm nói thẳng vào mât HCM, “ông và tôi hoàn toàn khác nhau về tương lai của nước VN”. Rồi cụ Diệm nói thêm, “ông có bảo đảm là ông không áp đặt chế độ độc tài vô sản trên đất nước này không ? Tôi đã chứng kiến người CS của ông khi cai trị tỉnh Phan Rang và Phan Thiết...họ đã hành xử như những tội phạm...làm thế nào để tôi tin được ông ? Bàn tay của nhũng người CS của ông đẫm máu những người Quốc Gia lương thiện...ông đã giết anh tôi là tỉnh trưởng Quãng Ngãi.”  HCM chống chế: “tôi chẳng hề biết về việc anh của ông...đất nước đang hỗn loạn, ông đang buồn bực...hãy ở lại đây với tôi...Chúng ta phải sát cánh bên nhau làm việc để chống thực dân Pháp”
Cụ Diệm nói thẳng thừng với HCM:
“Tôi không tin là ông hiểu được loại người như tôi. Hãy nhìn thẳng vào mặt tôi xem tôi có phải là loại người biết sợ hãi hay không ?”
HCM nói:
“Không...ông không là loại người như thế.”
Cụ Diệm nói ngay:
“tốt lắm ! bây giờ tôi đi nhé.”
Và HCM đã để cụ Diệm lặng lẽ ra đi. Vì thế HCM rất tôn kình cụ Diệm.
Phlippe Deviller,một sử gia hữu hạng đương thời của Pháp đưa ra nhận định như sau: “Ngô Đình Diệm được mọi người biết đế là một con người chính trực liêm chính vẹn toàn (perfect integrity),một con người đầy năng lực và rất thông minh”
Riêng sử gia nổi tiếng Paul Mus thì cho rằng: “ông Diệm là một lãnh tụ phe Quốc Gia được kính trọng nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất”
The most respected and the most influential nationalist leader.
Khi người Nhật chiếm Đông Dương vào Đệ II Thế Chiến cũng cố gắng mời cụ Diệm cộng tác,nhưng ông đã từ chối. Người Pháp trước và sau Dệ II Thế Chiến đã bao lần mời ông hợp tác và bổ nhiệm ông vào các chức vụ quan trong,ông cũng đã từ chối luôn.
Hoàng Đế Bảo Đại đã hai lần mời ông vào 1945 và 1949, ông đều từ chối. Mãi tới lần thứ ba vào 1954 ông mới nhận lời làm thủ tướng.
Vào 1933 cụ Diệm đã yêu cầu Pháp cải cách chính trị để trả lại một số quyền hành cho Việt Nam để cải tạo xã hội mà lo đời sống người dân. Người Pháp không chấp nhận nên ông đã rũ áo từ quan về làm ruộng để chờ thời.
William Henderson,chuyên gia trong Hội Đồng Bang Giao Quốc Tế của HK,thường chỉ trích ông Diệm,nhưng phải đồng ý rằng, “Hồi tưởng lại chính quyền chống CS của Ông Diệm và sự củng cố vững mạnh quyền hành để xây dựng một nước VN tự do thật là một phép lạ chính trị lớn lao lần đầu tiên mới thấy.”
Sau Hội Nghị Geneve,Henderson tiếp tục phát biểu:
“Miền Nam Việt Nam dường như đang rơi vào cơn hỗn loạn. Với những mục đích rất thực tế, ông Diệm đã dúng quyền hành rât hữu hiệu để chế ngự những hỗn loạn của vùng Sài Gòn và các thành phố...Mặc dù Geneve đã được ký kết, Việt Minh đã để lại tại MN những tổ chức bí mật,ngay sau khi VM triệt thoái khỏi MN ,các cán bộ CS vẫn kiểm soát các vùng nông thôn,họ liên tục gia tăng những xâm nhập vào quân đội, công an và viên chức hành chánh tại MN. Nhiệm vụ loại trừ CS của ông Diệm vô cùng khó khăn,nhưng với những chiến thuật chiến tranh tâm lý và chiến tranh chính trị, tất cả là những nỗ lực loại trừ CS rất hữu hiệu.
Vào giữa 1956,phần đông các quan sát viên nhận thấy những người CS,dù tiềm năng bao nhiêu chăng nữa,củng không thể đe dọa được chế độ của ông Diệm được nếu không có trợ giúp bên ngoài. Thực tế cho thấy ông Diệm đã tái tổ chức lại quân đội và cảnh sát để gia tăng sức mạnh của MN. Trong lúc chưa đủ sức để đối đầu nếu có những cuộc tấn công của CSBV vào MN, nhưng tình hình an ninh của MN đã được bảo vệ và duy trì tốt đẹp.
Ông Diệm dồn mọi nỗ lực của quyền hành để lo cho đời sống của các nông dân MN mà ông cho là chiếm 80% dân số MN.
Bất cứ một phê phán nào công bình cũng phải thừa nhận là đời sống của nông dân MN đã đạt những tiến bộ quá tốt đẹp.
Trong khi 1954 đến 1964 tất cả nông dân Miền Bắc dưới sự thống trị độc tài khát máu của HCM và CSBV đã dở sống dở chết với tất cả sự đói khát và khiếp đảm trong cải cách ruộng đất gây ra làm cho 50.000 người chết và 100.000 người lao động tập thể cưỡng bách đã làm cho kinh tế MB hoàn toàn sụp đổ thê thảm.
Higgins cho biết, phần lớn những lời chỉ trích đầy hận thù ông Diệm lại không nhắm vào những gì ông làm và đã thành đạt,mà họ chỉ nhắm vào những phương pháp,và những kỹ thuật điều hành guồng máy quốc gia.
Henderson còn nói thêm : “ những ngày khởi đầu là những ngày phủ đầy bóng tối, phần lớn các cuộc chống đối chính trị đã được khuất phục, những quyền dân sự chưa được lý tưởng. Các cuộc bầu cử tự do còn xa vời,và những phương pháp đem ra xử dụng để có sự ủng hộ của quấn chúng vẩn độc đoán. Nhưng những vấn nạn hai năm đầu gần như tràn ngập khi ông Diệm nắm quyền hành, trong lúc người dân Việt vẫn thiếu hẳn sự hiểu biết và ý thức về dân chủ...Nhưng phải nhìn nhận sự thật là ông Diệm đã dâng hiến tất cà cho chính nghĩa dân chủ đã thể hiện trong đường lối ai trị  quốc gia hơn là gia tăng sự độc tài.
Nói một cách khác, ông Diệm chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn, dân chủ theo TP và đó là lý do chính yếu người ta nhắm vào để  chỉ trích bất công với ông.”

Nhng Li Nhn Nhủ Nưc Mỹ Tr Thành Nhng Li Trăn Tri Nh Higgins Trao Lại Cho Nưc Mỹ Trưc Khi Bị Thích Trí Quang Và Dương Văn Minh Giết
Mageurite Higgins bước vào Dinh Độc Lập ngày 7 tháng 8-1963, đây là nhà báo sau cùng đã đến phỏng vấn TT Diệm liên tiếp hơn 5 tiêng đồng trước khi ông nằm xuống, và đây cũng là lời nói sau cùng với nước bạn đồng minh của VN của ngưỡi lãnh tụ mà Paul Mus nói là “ một lãnh tụ trong hàng ngũ Quốc Gia đáng kính trọng nhất và có ảnh hưởng lớn lao nhất Việt Nam “.
Theo Higgins cho biết,ông Diệm trong cuộc phỏng vấn này đặc biệt chú tâm tới những vấn đề hệ trong của VN như chiến tranh,cơn khủng hoảng Phật giáo,và những đường lối đầy mâu thuẫn giữa các viên chức HK,và làm thế nào để giải quyến những cơn khủng hoảng như thế ?
Ông Diệm chấp nhận nằm quyền hành quốc gia từ 1954. Thật khó mà hình dung  được hình ảnh ông Diệm như một nhà cách mạng đã nói với dân VN khi ông chấp nhận nắm giữ quyền hành để lèo lái con thuyền quốc gia đang trong cơn bão tố do Hoàng Đế Bảo đại trao cho:
“If I advance,follow me. If I retreat,kill me. If I die,avenge for me”
“Nếu tôi tiến lên,hãy tiến theo tôi. Nếu tôi tháo lui bỏ chạy, hãy giết tôi đi. Nếu tôi bị chết, hãy trả thù cho tôi”.
Higgins đã bỏ ra hơn 5 tiếng đồng hồ để trao đổi riêng tư với TT Diệm về mối quan hệ ngoại giao giữa VN và HK.
Tổ Thống Diệm đã nói:
“ Nều người dân HK hiểu được về những khó khăn phức tạp của đất nước VN, và hiểu được bản chất của chiến tranh VN, do cộng sản gây ra mà hiện nay chúng tôi đang phải đối đầu gánh chịu. Cô Higgins đã đi nhiều về các vùng nông thôn. Cô đã gặp những người dân Thượng, với những giáo mác và những mê tín dị đoan của họ. Những người dân Chàm, Cao Đài, Hòa Hảo. Những người dân làng chất phát mộc mạc là những nơi thờ cúng tổ tiên khắp nơi tại VN. Cô Higgins hãy nói cho tôi nghe, thứ ngôn ngữ nào của dân chủ nghị viện có thể giải thích cho những con người như thế, khí ý nghĩa của dân chủ chưa tìm ra trong ngôn ngữ của họ.
Với quá khứ của thời kỳ thực dân đất nước VN”
Ông Diệm nói tiếp:’
“ Những người Pháp ra di không để lại cho chúng tôi những gia sản cao quý. Trong thời ký trước thực dân,ngay trong các làng người dân có thể đọc và viết. Bây giờ chúng tôi phải xây dựng lại...Nhưng chúng tôi phải xây dựng từ từ, bắt đầu từ các làng xã. Tại các  làng xã vốn đã có sẵn truyền thống dân chủ và quyền tự trị của các làng xã... Đó là một phần văn hóa Khổng Giáo...Người dân làng gắn bó với việc thờ cúng tổ tiên...Và chúng tôi muốn loại bỏ những gốc rễ đã ăn xuống quá sâu trong truyền thống Khổng giáo của chúng tôi là tinh thần nho quan hủ bại trong việc xây dựng lại xã hội VN.
Tôi biết có nhiều người Mỹ và họ cho tôi là một thứ quan lại (mandarin)...Nhưng tôi hãnh diện với vai trò của tôi... Đó là những kinh nghiệm mà người Mỹ chưa từng trải qua---là giới quan lại trong hệ thống Khổng giáo, nhưng quan lại thì phải chính trực  liêm chính. Đó là linh hồn của dân chủ. Chúng đã đi ngược lại truyền thống tốt đẹp đó để sao chép thứ “nho quan hủ bại” của quá khứ. Và  chúng tôi cũng muốn đem những di sản của chúng tôi vào thời hiện đại. Người Mỹ của cô đã hoàn tất những công trình xây dựng xã hội trên các dòng tư tưởng và những giá trị hoàn toàn khác biệt với các giá trị trong văn hóa của chúng tôi. Sau những cơn hỗn loạn tơi bời vừa qua của lịch sử VN và những phá hoại của CS. Ưu tiên số một của VN là ổn định và phải kiểm soát mọi việc thật chặt chẽ, người dân phải tôn trọng chính quyền và tôn trọng luật pháp quốc gia và có bổn phận bảo vệ trật tự quốc gia. Cô Higgins có nhận thấy khi tôi chấp nhận chấp chánh để điều hành guồng máy quốc gia, chính quyền trung ương đã đánh mất hoàn toàn khả năng kiểm soát các vùng nông thôn...Những người Mỹ hiểu được những gì vế truyền thống quan lại với năm đức tính phải có mà Vương Dương Minh đã đưa ra làm tiêu chuẩn cho những người chăn dân giữ nước là chính trực liêm chính và coi dân như ruột thịt.  Những người Mỹ đang phá bỏ tâm lý của con người VN, và họ cũng chẳng hiểu được là họ đang làm gì vậy.
Bao chí và truyền thông ngoại quốc chế riễu kỷ luật quốc gia và tinh thần tôn trọng chính quyền của người dân và cổ súy vinh danh các quyền tự do dân sự (civll liberties) và các quyền khác của người dân cũng như cần phải có đối lập chính trị (political opposition). Nhưng quốc gia của chúng tôi đang đứng trước một cuộc chiến đấu vô cùng cam go và vô cùng khó khăn trước sự sống và sự chết (life and death). Ngay cả nước Mỹ và các quốc gia Tây Phương cũng đã từng giới hạn các quyền tự do dân sự trong hoàn cảnh khẩn cấp của chiến tranh “.
Về phía Mỹ Higgins muốn thấy nhận định của ông Diệm như thế nào ?
Và ông Diệm cho biết:
“ Ông Đại Sứ của cô đến và nói với tôi là tôi cần phải tạo ra một khuôn mặt tự do (liberal image) cho đất nước VN bằng cách cho phép các cuộc biểu tình trên các đường phố và cho các đảng chính trị đối lập hoạt động công khai...Tôi không thể nào nghe lời thuyết phục của Tòa Đại Sứ, đây là đất nước VN---đây không phải nước Mỹ. Chúng tôi có lý do chính đáng để cấm các cuộc biểu tình trước lò lửa của chiến tranh sôi bỏng như thế này, và lý do khác nữa là VC có mặt khắp mọi nơi...như thế chuyện gì sẽ xảy ra, và tai vạ nào sẽ mang đến cho chúng tôi, nếu VC xâm nhậplen lỏi và trà trôn trong các cuộc biểu tình tại Sài Gòn này, chúng sẽ ném bom và sẽ giết hại nhiều dân của chúng tôi, và có cả báo chí ngoai quốc. Làm sao thoát hay chết cả lũ hay sao ? Rồi đến những người thiên tả sẽ nói gì về tôi ? và họ có tin chính quyền của tôi, khi chúng tôi nói rằng, VC phải chịu trách nhiệm về những vụ giết người hàng loạt như thế, cuối cùng chỉ có những người CS là hưởng được tất cả lợi lộc từ những cơn hỗn loan như thế ! Cô nên suy nghĩ nhiều về những thảm họa đã xẩy ra cho người dân của chúng tôi tại thành phó Huế. Những quả bom plastic do chính VC ném ra...nhưng người Mỹ của cô đã thống trách ai ? Họ đã đổ hết lỗi lầm lên đầu tôi---chỉ vì tôi là Tổng Thống nước VN tự dovà họ đổ tội luôn cho quân đội MN của chúng tôi. Đây không phải trò chơi đùa của bọn con nítThis is not child’s play.
Tôi đâu phải người nặn ra những tên việt cộng khủng bố. Tuy nhiên khi tôi nỗ lực để bảo vệ che chở những người dân của đất nước này, bảo vệ cả tính mạng của người Mỹ bằng một hệ thống an ninh chặt chẽ và hữu hiệu của cảnh sát và bảo vệ an toàn các đường phố, và khi làm những việc khó khăn như thế, tôi đã bị mọi người lên án là đàn áp Phật giáo”.
Khi đề cập đến những điểm đó, ông Diệm đột ngột hỏi lại Higgins:
“ Cô Higgind ơi ! cô có biết tôi nghĩ gì vế chính quyền Mỹ không ? Phải chăng đơn giản tôi chỉ là một thứ bù nhìn của người Mỹ hay sao ? Hoặc như tôi vẫn thường kỳ vọng---chúng ta có thể là những người cộng tác mật thiết với nhau vì chính nghĩa chung (common cause) không ?
Tại sao tôi lại đặt ra câu hỏi đó---bởi vì tôi đang cố gắng trở thành một người đồng minh trung thành với Mỹ. Tuy nhiên, gần như ngày nào tôi cũng nghe phát thanh của Đài Tiếng Nói HK (VOA) và những nhà báo Mỹ thảo luận với Washington là---chúng ta duy trì để ông Diệm tiếp tục nắm quyền hay chúng ta lật đổ ông Diệm ?
Chúng tôi là một nước nhỏ bé và nước Mỹ là một đại cường quốc. Tôi tôn sùng nước Mỹ về nhiều lãnh vực. Nhưng Tổng Thống Kennedy nghĩ thế nào nếu báo chí Việt Nam tràn ngập các bài viết toàn là những chuyện vẽ vời ra để kêu gọi người dân Mỹ lật đổ TT Kennedy ?
Chúng tôi mang ơn những viện trợ của HK. Nhưng tôi muốn tin rằng nước Mỹ không phải vì viện trợ Mỹ mà biến thành một thứ phương tiện để Mỹ kiểm soát chính quyền VN. Chắc chắn chỉ có thể biện minh cho sự có mặt của Mỹ tại VN, vì quyền lợi quốc gia của HK đòi hỏi phải trợ giúp VN để ngăn chặn làn sóng CS khỏi xâm lăng VN. Nếu sự thật là như thế, thì cung cấp viện trợ cho VN như một phần trong sự hợp tác Việt-Mỹ trong chiến tranh để đánh bại CS. Nhưng bây giờ tôi nghe là HK sẽ cắt viện trợ nếu tôi không làm đúng những gì người Mỹ đòi hỏi. Hành xử như thế là quá kiêu căng phách lối khi đưa ra những đòi hỏi như thế không ? HK có một nền kinh tế quá lớn lao, và có nhiều điểm đánh kính trọng tôn vinh. Nhưng với sức mạnh của Mỹ là nước Mỹ đương nhiên có tất cả quyền để bắt buộc đồng minh của họ phải thi hành những yêu sách của Mỹ tại VN à ?
Có phải chiến tranh VN đang diễn ra vô cùng khốc liệt và nóng bỏng, và đây là một thứ chiến tranh mà người Mỹ chưa bao giờ trải qua những kinh nghiệm về một cuộc chiến như thế này. Nếu như HK đưa ra mệnh lệnh giống như bắt buộc tên bù nhìn phải cúi đầu tuân hành của họ, như vậy thái độ của HK có gì khác thực dân Pháp không ? Tôi biết rõ HK đang giao tiếp âm thầm với những người VN ở đất nước này là những người đang âm mưu để lật đổ tôi. Những người này sẽ chẳng làm được gì nếu không có sự tiếp tay và chấp thuận của những người Mỹ. Nhóm người VN này biết rõ điều đó “
Higgins tiếp tục dò hỏi ông Diệm:
“ Thưa Tổng Thống có phải thực sự ngài nghĩ rằng HK đang âm mưu lật đổ ngài hay sao ?
Ông Diệm liền đáp lại:
“ Tôi không nghĩ là ông Đại Sứ Nolting muốn lật đổ tôi. Tôi cũng thấy không phải CIA Richarson đang có âm mưu lật đổ tôi. Tôi biết có một số viên chức thuộc Bộ Ngoại Giao HK là những người đang sửa soạn đưa ra quyết định để loại trừ tôi. Tôi thực sự không biết tương lai đi về đâu. Tôi cũng không thể nào ngờ và tin được là HK đang quay lưng hãm hại đồng minh trung thành của họ, khi quốc gia đồng minh ấy đang bị bom đạn chiến tranh khói lửa ngút trời vây hãm bốn bề như thế này, và chúng tôi đang điêu đứng dấn thân trong cuộc chiến đấu để mong sống còn tồn tại của một dân tộc đau khổ tột cùng. Nhưng có một số người quá điên rồ mê sảng, và cả thế giới hình như cũng điên rồ mê sảng như thế.
Cô Higgins ơi ! thêm nữa, tôi hy vọng chính quyền HK của cô nên có cái nhìn sát thực tế vào nhóm tướng lãnh trẻ đang âm mưu chiếm đoạt chiếc ghế quyền lực quôc gia. Nhóm tướng lãnh này có thực sự trưởng thành chín chắn chưa, hoặc họ hiểu biết được bao nhiêu về phương diện chính trị quốc gia của họ. Làm sao nhóm tướng lãnh này có được một George Washington trong hàng ngũ quân đội của chúng tôi ? ”
Higgins nhận thấy cho đến khi những người Phật giáo tranh đấu tại Huế biến vụ Phật giáo thành bi kịch quá lớn lao trong cơn khủng hoảng lớn lao này lực lượng chống đối TT Diệm có tầng lớp trí thức, và các tướng lãnh cùng các sĩ quan cao cấp khác trong quân đội MN.
Tất cả nhóm người này chỉ là thiểu số rất nhỏ bé trong dân số của quốc gia---họ thường xuyên tranh cãi ấm ĩ với nhau về những chuyện rất tào lao, họ không thể nào đồng ý với nhau về sự thay đổi chế độ hay làm bất cứ điều gì cho ra hồn. Hành động với những “âm mưu” rồi kết cục cũng chỉ là những “âm mưu” trong các quán cafe hay quán nhậu, tạo ra cảnh tranh khôn tranh dại,chẳng bao giờ giải quyết được chuyện gì, dù rất tinh ma quỉ quái đày mánh khóe nhưng thường không có mục đích rõ ràng..
Để hỏi những kẻ âm mưu này xem có chương trình gì thảo luận cho tương lai của VN không, từ đó mới thấy những con người này có làm được gì khác không, có “dân chủ” hơn không, hoặc có hiệu năng hơn chế độ của ông Diệm hay không ? Những tướng lãnh và các sĩ quan cao cấp không có được một viễn kiến cho sự thay đổi và tiến bộ hơn một chính quyền dân sự mà họ đang âm mưu lật đô, nhưng họ còn nguy hiểm hơn, vi khi nắm giữ toàn bộ quyền hành quốc gia để phá tan nát quốc gia nếu họ hạ bệ ông Diệm.
Ông Diệm buồn bã trả lời:
It is impossible
 “Điều đó không thể nào có được, bời vì những người Mỹ nên hiểu rằng về sự độc hại của những đam mê quyền hành vô độ trên đất nước này---thứ ham mê danh lợi đó là sản phẩm của bản chất bán khai và lạc hậu (premitive and backward). Của đất nước VN phát sinh từ hậu quả xấu xa của gần 100 năm đô hộ của thực dân Pháp. Ở đó mọi người đoàn kết với nhau trên một điểm duy nhất, đó là lòng hận thù đối với thực dân Pháp. Tại HK ngay cả những người cộng hòa và dân chủ đã đoàn kết với nhau trên rất nhiều điểm---trên nền tảng triết lý về chính quyền, một phần là chính sách đối ngoại. Nhưng tại VN chưa hề có một sự thỏa thuận nào về chính quyền sẽ thành lập ra sao. Có một số thành phần tư sản không hiểu được một cách sâu sa cái gì đã gắn bó với toàn dân về ý nghĩa về một nền độc lập của một quốc gia.
Vì tầng lớp trí thức tư sản này là những phần tử hưởng đặc quyền đặc lợi của thực dân Pháp và vì thế họ khước từ không hợp tác tích cực trong việc xây dựng và củng cố nền độc lập quốc gia. Chúng tôi nghe nói có một số người VN đề nghị mở rộng sự bảo hộ VN của HK. Có lẽ họ hy vọng làm được như thế thì họ sẽ hưởng lợi từ những âm mưu của họ. Nếu HK ủng hộ cho những con ngườ như thế sẽ là một sai lầm lớn lao vô cùng. Những dự mưu bất chính đó sẽ làm tan nát hết khát vọng tự do của người dân VN muốn thoát ách nô lệ của ngoại bang”.
Tôn Thất Thiện, một học giả và trí thức VN đã đề cập những vấn đề như Higgins đã quan sát thấy. Ông ta viết rằng:
“ Nền độc lập của VN đánh dấu mợt khởi đầu đầy dẫy những khó khăn,hoàn cảnh không giống một thế kỷ khi người Pháp cai trị. Khi thực dân Pháp cai trị người VN đối đầu với vấn đề thực dân rất đơn giả. Đó làm làm thế nào để loại trừ thực dân Pháp...Sự thống trị của thực dân Pháp đã tạo ra hậu quả là làm tiêu tan mọi hiệu năng cần có khi cai trị quốc gia,về tổ chức,về lãnh đạo và trách nhiệm  đều mất hết...người VN đã học hỏi làm thế nào để phá hoại---vật chất,tinh thần và xã hội. Họ không có trách nhiệm trong việc điều hành quốc gia,họ cũng không có cơ hội để học hỏi làm thế nào để bảo vệ,để phát triển.để xây dựng,để suy nghĩ và hành động xây dựng.”
Trong suốt buổi nói chuyện với TT Diệm cho thấy ông nắm vai của một vị quan đầy đau khổ và bị ngộ nhận quá nhiều. Ông không chối bỏ sự cai trị quốc gia trong bàn tay mạnh của quyền hành, nhưng ông lý luận rằng, tình thế với muôn vàn khó khăn mà không có sức mạnh thì làm sao cai trị được đất nước này, với những hỗn loạn triền miên và thảm nạn phe phái tranh dành sâu xé sẽ làm tiêu tùng tất cả trước một hoàn cảnh vô cùng khẩn trương liên tục vì bạo lưc đe dọa và vây hãm không ngừng của CS.
TT Diệm bước trên một chặng đường quá gian nan khổ ải để xây dựng dân chủ và để xoa dịu những cơn giận dữ của HK là những người đang viện trợ cho VN. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa được ông bố vào tháng 10-1956,theo đúng tinh thần của Hiến pháp HK. Hệ thống chính trị theo tổng thống chế đã được thành lập, bởi vì VN đang cần một hành pháp thật vững mạnh. Nhưng bầu cử chưa thực sự được  tự do theo tiêu chuẩn của Tây Phương (TP). Làm thế nào để 80% nông dân sống trong các làng xã và nhiều thị dân các thành phố cũng chưa biết đọc tên đề trên các lá phiếu, họ chưa hiểu quan niệm về hiến pháp. Chưa hiểu được sự ưng thuận của toàn dân khi lựa chọn chính quyền ra sao, không biết bầu cử phiếu kín là như thế nào, cũng chẳng biết thế nào là phân chia quyền hành và kiểm soát để thăng bằng quyền hành như thế nào, và những nguyên tắc dân chủ cũng chưa bao giờ nghe thấy.
Tổng Thống Diệm giải thích rằng:
“ Tiến trình thực hiện bầu cử diễn ra rất từ từ, và người dân sẽ từ từ hiểu dược những bài học dân chủ căn bản khi đem vào thực tế.”
Phần lớn, Higinns cho biết, cuộc phỏng vấn dành nhiều thời gian để đề cập đến những lời lên án kết tội chính quyền của những người Phật giáo quá khích.
Tổng Thống Diệm đưa ra lời nhận định của ông như sau :
 “ Thế giới Tây Phương đã có những cuộc chiến tranh tôn giáo, nhưng ở VN chưa bao giờ có chiến tranh tôn giáo, người VN chưa hề xung đột sát hại lẫn nhau vì lý do tôn giáo, dân Việt chúng tôi có cái nhìn rất bao dung về tôn giáo (tolerant people) hãy nhìn chúng tôi và những mối liên hệ với nước Tàu. Chúng tôi đã chiến đấu và đánh bại người Tàu trong các cuôc xâm lăng chúng tôi. Nhưng khi chúng tôi đuổi được những kẻ xâm lăng, và giữ lại tôn giáo của họ như Phật giáo và Khổng giáo. Các vị vua theo Khổng giáo chiến đấu chống lại những người Công giáo không phải vì tôn giáo của họ mà vì họ lo sợ các tu sĩ Công giáo là móng vuốt của đế quốc thực dân...Mặc dù chúng tôi loại trừ thực dân nhưng chúng tôi giữ lại đạo Công giáo của họ làm tôn giáo của chúng tôi “
“ Tôi thực sự không hiểu được những người Mỹ. Ông Đại Sứ của cô đã kêu gọi tôi phải tìm cách hòa giải với những người Phật giáo, nhưng lại không chịu nói để bảo vệ và chống đỡ cho những lời buộc tội chúng tôi thật phi lý của những người Phật giáo đang chống đối tôi. Tôi vẫn giữ đường lối thương thảo với những người Phật giáo. Nhưng nếu tôi phải giữ thái độ im lặng. Tại sao người Mỹ không chịu nói lên sự thật---đó là những hoạt động của những người Phật giáo chẳng dính dáng gì đến lãnh vực tôn giáo, và đó là cuộc tranh đấu bạo lực của Cộng Sản để lật đổ chính quyền của chúng tôi.
Hoặc giả Washington có thể nhìn tôi như một thằng điên? Chắc hắn chỉ có người điên, ngay trong lúc chiến tranh đang diễn ra sôi bỏng,mà đột nhiên lại đi đánh nhau với những người Phật giáo là những thành phần quan trọng trong dân. Nhưng tôi bảo đảm với cô Higginstôi chẳng phải người điên rồ. Tôi đã làm mọi việc trong quyền hạn của tôi để xoa dịu (placate) những ngườ Phật giáo này. Tôi đã đưa ra một sự thỏa thuận với họ về việc treo cờ và sở hữu tài sản. Tôi đã cung cấp tất cả tài liệu cho Ủy Ban Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc mở cuộc điều tra gồm cả báo chí và cung cấp luôn cho những người Phật giáo. Tại sao những người Phật giáo lại từ chối những thỏa thuận mà tôi đã đưa ra cho họ ? Cô Higgins ơi ! Tôi thấy có cộng sản và Việt cộng đầy trong các ngôi chùa đó, và chúng tôi đã biết chính xác sự thật đó. Cô đã từng theo dõi các cuộc biểu tình, cô đã nghe những bài diễn văn đày nội dung phá hoại, ngay cả chính quyền Hoa Kỳ cũng khó mà bao dung nổi, nhất là không được phép làm như  vậy trong lúc chiến tranh đang sôi sục nóng bỏng. Thật là lạ lùng ngược lại--- chính quyền HK lại nói tôi nên giữ im lặng và nên chấp nhận tất cả. This regime is to sit silently and accept all this.
Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi ngồi im lặng xuôi tay không làm gì cả ? Và trên những trang nhất của báo chí sẽ thấy nhiều người tự thiêu hơn để thế giới thấy hình ảnh của tôi như ma quỉ. Chúng tôi càng thụ động (passive) bao nhiêu thì càng có nhiều cuộc biểu tình nổi lên bấy nhiêu. Làm sao tôi có thể---ngay trong lúc chiến tranh khủng khiếp đang bốc cháy khắp, mà tôi cứ để sự hỗn loạn tơi bời cứ tiếp diễn liên tục trên các đường phố như thế hay sao ? Chúng tôi phải có trách vụ ưu tiên số một những việc phải làm. Đó là đương đầu với chiến tranh “.
Higgins cho biết, cuộc phỏng vấn TT Diệm được làm trên hai cách. Có những câu hỏi đã được viết xuống, và những câu trả lời cũng được viết thành văn. Tât cả đã được lưu vào hồ sơ. Cuộc trao đổi diện dối diện sẽ không được xử dụng cho đến khi nào cơn khủng hoảng này chấm dứt.
Sau khi Higgins rời khỏi Dinh Độc Lập sau 5 tiếng đồng hồ, đầu óc Higgins mệt nhoài, nhưng vẫn còn hăng hái.
Cuộc đối thoại giữa Higgins và TT Diệm rất hấp dẫn, lôi cuốn, không chí thoáng nhìn vào tâm tư của một vị lãnh tụ Á Đông da vàng, bởi vì Higgins đã cảm nhận được ý nghĩa về những lập luận mà TT Diệm đưa ra chính là những vấn đề gắn liền với sự sống và sự chết của chế độ ông Diệm. Nếu ông không thể thuyết phục được Washington tương tư những gì ông đã nói với Higgins thì khôi phục lại quan hệ với HK không thể nào làm được. Và như thế, như chuyện gì xảy ra và ông sẽ không bao giờ cứu vãn được chế độ của ông, và bảo vệ được sự ổn định tại VN.
Dù ông có lỗi lầm gì đi chăng nữa, TT Diệm là một học giả minh triết và là một sĩ phu xuất chúng trong thời đại của ông (Brilliant scholar and intellect). Những chúng liệu lịch sử của Higgins cho thấy trong cuộc trao đổi giữa Higgins và TT Diệm, đều có trích dẫn lời của Thomas Jeffreson, Plato, Khổng Tử, Đưc Phật và Lão Tử.
Ông Diệm nói:
“ Thế giới TâPhương (TP) cần cho chúng tôi có đủ thời gian. Mặc dù những người TP chưa nhận ra hình thức dân chủ của Đông Phương (ĐP),với tinh thần dân chủ luôn luôn là một phần tinh hoa của văn hóa Á Đông. Nền dân chủ này có liên quan đến  tât cả các tôn giáo. Triết lý Ấn Độ giúp cho linh hồn con người siêu thoát. Đức Phật truyền bá sự bình đẳng trong thế giới con người, và những giá trị đạo đức của Khổng giáo. Tinh thần dân chủ có thể tìm thấy khắp nơi tại VN, đặc biệt là trong các làng xã, ở đó chúng tôi xây dựng dân chủ. Những người dân sống trong các làng xã tự cai trị lấy chính họ. Từ từ khi chiến tranh chấm dứt, chúng tôi sẽ tiến tới một nền dân chủ ở cấp độ lớn hơn, tức là xây dựng một xã hội và một quốc gia dân chủ. Những giá trị đó sẽ được rút ra từ những giá trị dân chủ của văn hóa TâPhương.
Nhưng điều không thể nào làm được---hay chỉ là ảo tưởng khi nghĩ rằng một giải pháp cho chính trị Á Châu là sao chép một cách mù quáng các phương pháp của TPĐiều mà người dân HK chưa hiểu được là một quốc gia có một nền kinh tế rât lạc hậu và đang phải gánh chịu một cuộc chiến tranh quá khốc liệt và tàn bạo, chúng tôi phải chiến đấu khốn khổ với chiến tranh du kích của CS, là những con ngưới quỉ quyệt nhất, gian manh nhất và độc ác nhất thế giới. Không có một quốc gia nào có thể hành động khác như chính quyền VN đang hành động trên sự chết và sự sống. Xin mọi người hãy chỉ cho tôi thấy có một quốc gia Á Phi nào trong những giờ phút sinh tử này có thể cổ súy cho chế độ dân chủ theo tinh thần Đông Phương. Cô đã thấy tại Mạc Tư Khoa (Moscow) nơi đó là tổng hành dinh của chế độ độc tài lâu đời nhất, tuy nhiên lại muốn có một chế độ dân chủ tự do cho lục địa Phi Châu.
Mục đích của Quốc Tế CS đã quá rõ ràng. Nếu các quốc gia đón nhận lời đề nghị của CS.các quốc gia đó dễ dàng trở thành miếng mồi ngon cho CS nuốt chửng họ. Chúng tôi có lực lượng cảnh sát và an ninh,bởi vì trước tình thế hiện nay là chống lại những đòi hỏi của CS mà chúng tôi biết rõ từ làng này qua làng khác,ai là người đối đầu với những áp lực và đe dọa của CS và VC. Cái mà người ta thường gọi là chế độ độc tài---thực ra là những hành động bắt buộc phải có cho một chính quyền muốn sống còn và tồn tại được,và sẽ không bị CS nghiền nát. Có làm như thế mới chống  đỡ được chiến tranh. Và bất cứ là ai sau tôi cầm quyền lãnh đạo chiến tranh,họ sẽ bắt buộc phải xử dụng những phương pháp như tôi,hoặc đất nước này sẽ mất vào tay cộng sản.
Và nếu những người Mỹ hiểu được tình thế cực kỳ nguy hiểm,và còn biết bao vấn đề khó khăn không thể nào vác nổi trên đôi vai của quốc gia chúng tôi. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng,người Mỹ sẽ không còn nỗ lực để đầu độc dư luận nước Mỹ khi nhìn vè VN nữa. “
Ông Diệm tra vấn nước Mỹ:
“ Có thực sự nước Mỹ hiểu được là cuộc chiến đấu gian khổ của chúng tôi với cộng sản là gì không ? Đây là một cuộc chiến tranh toàn diện (total war),một cuộc chiến tranh khác thường không lấy chiến trường để quyết định.Nhưng là một cuộc chiến với những nỗ lực làm tiêu hao soi mòn từ từ tinh thần của đối phương,một cuộc chiến tranh mở ra trên khắp các mặt trận,chính trị,kinh tế,ngoại giao,tuyên truyền và quân sự,và mở ra trên tầm mức quốc tế trên khắp thế giới. Nếu nhìn vào bản đồ thế giới,người ta có thể nhận ra ở điểm nào với thời gian là ba năm chiến tranh với CS gây ra đã làm thay đổi bộ mât của thế giới kể từ Đệ II Thế Chiến. Và nếu chúng tôi có mặt tại VN để đối đầu với chiến tranh do CS gây ra một cách thành công---rồi từ bài học thành công trong chiến tranh VN,  chúng tôi sẽ giúp cho cả thế giới chống lại làn sóng CS. Và đó là việc làm chúng tôi đang làm. Đừng quên rằng trong cuộc chiến tranh này bên nào vũng tâm bề chí chiến đấu tới giờ phút cuối---người đó sẽ thắng”.
Higgins nhìn lại những sự kiện đã được viết xuống, cô bị những lời nói của TT Diệm đã làm chấn động mạnh mẽ vào tâm tư của cô.
“ Those who come after me “.
“những người kế tục vai trò lãnh đạo của tôi” TT Diệm nói:
“ Cái chìa khóa của mối tương quan liên hệ ngoại giao với cường quốc như HK và một tân quốc gia vừa mới được độc lập như trường hôp của VN; hoặc là tôi lãnh đạo đất nước này, hay những ai kế tiếp vai trò lãnh đạo của tôi---Điều tiên quyết phải đòi hỏi là---luôn luôn tôn trọng nguyên tắc nền tảng về quyền tối thượng (sovereignty) của tân quốc gia độc lập của VN. Tân quốc gia độc lập (the new national independence)---ở đó biết bao con người đã chiến đấu trong máu, nước mắt và mồ hôi để dành lại nền độc lập với bao trầm luân khổ ải chồng chất của họ”.
Cuối cùng Higgins đã kết thức cuộc phỏng vấn và trao đổi với TT   khi quay qua hỏi TT Diệm về nền tảng triết lý chính trị của thuyết “nhân vị” đem ra ứng dụng vào VN. Nhưng không nên dịch “personalism” mà nên hiểu thuyết nhân vị qua chủ nghĩa “nhân bản” ( humanism) thì chính xác hơn.
Rõ ràng là ông Diệm không muốn bảo vệ tôn giáo của ông, và ông đã từ chối rằng triết lý của thuyết nhân vị không có gì liên quan đến giáo lý của Công giáo. Đây là điều đã được nhắc đi nhắc lại, và đã khiến cho ông bất bình, vì ông đã bị người ta kết tội là tìm cách để áp đặt Kitô giáo lên những người không phải Kitô giáo. Vì thế ông Diệm nói với Higgind rằng, thuyết nhân vị rất gần những lời dậy của Khổng Tử.
Ông Diệm giải thích:
Quan niệm của thuyết Nhân Vị thực ra rất đơn giản. Những người CS quan niệm cá nhân con người hiện hữu để phục vụ nhà nước. Ngược lại, thuyết Nhân Vị cho rằng nhà nước phải phục vụ cá nhân, an sinh xã hội và tự do cá nhân của con người phải được bảo vệ . Nhưng tự do không phải món quà của ông già Noel. Người nông dân của chúng tôi phải học cách hợp tác với chính quyền trong việc bảo vệ tự do bằng cách giúp đỡ lẫn nhau và giúp đỡ cộng đồng. Mỗi làng phải tự họ thành lập nên các lực lượng để bảo vệ chính họ, xây dựng các tiện ích công cộng cho các hạ tầng cơ sở như ấp chiến lược, để góp tay vào loại trừ VC. Tiếng nói của dân được bày tỏ trong các cuộc bỏ phiếu kín trong các ấp chiến lược để tổ chức và tuyển chọn để tổ chức nên các Hội Đồng Làng Xã. Trước thời thực dân trong các làng đều có tài sản của cộng đồng và tài sản riêng tư của mỗi người dân. Cộng đồng làm chủ đất đai của cộng đồng, dùng vào việc giúp cho người dân nào không có đất canh tác sẽ canh tác trên các đất công mà sống---và con người khi sống đói khổ thì khó bảo vệ được sự chính trực của họ. Về phương diện kinh tế, vấn đề lớn trong các nghành kỹ nghệ hóa, là làm sao tìm được sự thăng bằng giữa quyền lợi quốc gia hay cộng đồng với quyền lợi riêng tư của mỗi người dân, đó là nhu cầu đòi hỏi phải có mới bảo vệ được đời sống của dân và cả đời sống quốc gia. Đó là điều phù hợp với khát vọng về truyền thống,phong tục, tập quán và nhu cầu của đất nước VN. Tại VN của chúng tôi, điều mà TâPhương gọi là một nền kinh tế hỗn hợp. Vì chúng tôi thiếu vốn đầu tư ngoại quốc nên chính quyền phải đóng vai trò lớn trong thời kỳ kỹ nghệ hóa.
“ Trong một tình thế luôn luôn hỗn loạn liên tục đe dọa, nhu cầu cần thiết đầu tiên là trật tự và an ninh (security and order) thật vững vàng để xây dựng VN với đặc tính và với con người hoàn toàn VN của chúng tôi. Sự nhấn mạnh của chúng tôi vào thuyết Nhân Vị với cách nói là tât cả những điều như thế có thể và phải thực hiện cho bằng được trong phạm vi giới hạn bắt buộc bởi sự sống của người dân”
Higgins tiếp tục hỏi TT Diệm về HCM vào tháng 7-1963 là cả hai Miền Nam và Miền Bắc nói chuyện với nhau, sau cùng là tiến đến thống nhất hai miền Nam-Bắc. Ông Diệm nói rằng:
“ Có rất nhiều người nói đến chuyện thống nhất đất nước, nhưng lại rất it người biết thế nào để thống nhất đây ?. Thống nhất thì phải hòa giải và tôn trọng tự do của người dân. Có rất ít người Quốc Gia chịu làm áp lực với những người cộng sản Bắc Việt, đó là những người đi xâm lăng chiếm đoạt Miền Nam (MN) của chúng tôi. Lạ lùng thay, lại quay qua quốc gia nạn nhân (victimized nation) đang bị xâm lăng để áp lực hòa giải và thống nhất. Miền Nam tự do dân chủ và Miền Bắc độc tài CS, ai là nạn nhân của ai ? ai xâm lăng ai ?
Chúng tôi đang sống trong lò lửa hừng hực của chiến tranh kéo dài suốt bao năm, mặc dù như vậy chúng tôi vẫn không chịu cúi đầu khuất phục trước những đoàn quân xâm lăng bạo ngược của CSBV, bời chúng tôi muốn cứu vãn nền độc lập của chúng tôi và vẫn muốn tiếp tục nắm lấy cơ hội để được sống trong tự do. Bất cứ chương trình thống nhất nào không bảo vệ được những giá trị của độc lập và tự do và tự chủ sẽ phản bội lại những hy sinh của toàn dân VN từ 1954, và những năm xây dựng nền Cộng Hòa của chúng tôi”.
Sau khi Higgins rời khỏi Dinh Độc Lập sau cuộc trao đổi với TT Diệm suốt 5 tiếng đồng hồ chưa đưa đến một kết luận. Sau những ngày kế tiếp Higgins đã tìm thấy những sự kiện dồn dập để chứng minh cho những lý luận rất biện chúng (dialectical arguments) của ông Diệm: những hình ảnh được chụp bởi những phóng viên với một nhóm cảnh sát mặc sắc phục, những thông kê về những người đào ngũ trong hàng ngũ VC. Các tài liệu do kết quả của các cuộc điều tra về biến cố tại Huế, gồm có cả những cuốn sách và báo chí viết về nhiều khía cạnh của đời sống tại VN. Đặc biệt là cuốn The Struggle for Indochina của Ellen Hammer,viết bằng tiếng Pháp, cùng với chữ viết bằng bút chì của ông Diệm như sau :
“ Tối thiểu cô Hammer  là người đã cố gắng tìm hiểu xem chúng tôi đang làm những gì. Hammer đặt trong bối cảnh của Á Châu mà ở đó chúng tôi điều hành đất nước và chiến đấu trong chiến tranh.”
Sau đây là những điểm chính yếu đã được Hammer viết xuống:
“ Xã hội VN không giống các xã hội Tây Phương. Vì thế ngôn ngữ chính trị của TP không thể nào diễn tả đời sống VN mà không hết sức thận trọng, nếu không thì sẽ nguy hiểm với những ngộ nhận và rắc rối vô cùng”
Hammer nhận thấy,
“ Xã hội VN mang tính chất của chế độ quân chủ chuyên chế và cũng  có một số khía cạnh vế dân chủ. Mặc dù quyền hành nằm trong tay Hoàng Đế, mọi khía cạnh của đời sống VN được đặt trên nền tảng đạo đức của Khổng giáo. Những lời dậy của Khổng Tử đặt nặng về chủ nghĩa nhân bản (humanism) mang tính cách hài hòa, để đưa ra luật lệ cho từng cá nhân chú ý tới vai trò của dân trong chính quyền, đó là những trách vụ và sự liên hệ giữa dân và chính quyền. Khi thực dân Pháp cai trị VN, xã hội VN không khác xưa kia; mặc dù quyền hành chính trị nằm trong tay Pháp nên không tránh được những mất mát trong lối sống, truyền thống xã hôi và gia đình là nơi bảo vệ những giá trị truyền thống cho quốc gia.
Khổng giáo ăn sâu vào lối sống của người dân Việt, và là nguồn gốc của văn hóa VN, không cần biết thuộc tôn giáo nào, hay đối với Công giáo và Phật giáo, đều nhấn mạnh đến trách nhiệm, đúng như thuyết Nhân Vị chủ trương, của cá nhân với xã hội.
Trong thế giới Khổng giáo, phong cách chính trị ràng buộc bởi hàng loạt các tiêu chuẩn đạo đức dành cho bất cứ ai khi phục vụ quốc gia phải có đủ tiêu chuẩn ...với nước VN, việc tuyển chọ các thành phần ưu tú tinh hoa vào hệ thống chính quyền, hoặc tuyển chọn các quan hoàn toàn tùy thuộc vào giáo dục và hệ thống tuyển chọn qua các kỳ thi tuyển rất kỹ lưỡng, các viên chức được tuyển chọn nhắm vào tài năng của họ. Trong hệ thống Khổng giáo được áp dụng vào một xã hội mà trong đó mỗi cá nhân đều biết vị trí và bổn phận của họ. Bất cứ quyền gì mà một cá nhân có được phải xuất phát từ chức năng của họ và từ vai trò của họ mà xác định vị trí của họ trong xã hội.
Vào 1954 khi ông Diệm nắm giữ quyền hành như bổn phận tuân thủ quyền hành đã mất tại các thành phố trước đây. Nhưng từ khi ông Diệm xây dựng chế độ Cộng Hòa,từng bước một, trên nền móng đã từng ăn sâu trong xã hội Á Đông trên các tiêu chuẩn của Khổng giáo, cùng với sự nhấn mạnh đến những quyền của cá nhân...trong sự phát huy một tín điều chính trị (poltical credo) xuất phát từ những gốc rễ mà những người chân chính tại Á Châu rất thích. Những việc làm của ông Diệm là đưa tự do vào Á Châu cũng như mở rộng nước Việt Nam Cộng Hòa.”
Cuối cùng Higgins nhận ra là ông Diệm là một mẫu mực điển hình của một người lãnh tụ và một người sĩ phu minh triết của Đông Phương. Ông bị những người TâPhương có mặc cảm tự tôn của những con người tự cho là mình siêu đẳng (superiors) nhìn ông Diệm như những con người Á Đông hạ đẳng thấp hèn ( inferiors) vì TâPhương (TP) có sự thành tựu vế khoa học kỹ thuật và chế dộ tự do dân chủ. Họ cho Á Châu phải học của TP mọi thứ và Á Châu chẳng đem được gì cho TP. Trong lúc ông Diệm đang cố gắng phục hồi lại những giá trị đạo đức của Khổng giáo để xây dựng dân chủ cho  Nền Cộng Hòa Việt Nam trong một bối cảnh kinh hoàng của chiến tranh mà CSBV đang gây ra. Ông cần sự trợ giúp và cảm thông của thế giới TP, nhưng bất hạnh thay, phần đông những người TP đã nghiêng về “tả phái” (left wing) nên đã dành tất cả tình cảm và trợ giúp cho CSBV. Tại MNVN là một quốc gia Á Châu lạc hậu đang khốn đốn dở sống dở chết trong lò lửa của chiến tranh thì lại bị toàn những chỉ trích và phỉ báng lăng nhục rất tàn bạo và bất công.
Higgins cho rằng một phán quyết của lịch sử ( historical verdict ) về ông Diệm không thể nào phỏng đoán lơ mơ được. Hoặc giả ông là một tiên trimột con quỉ, một vị thánh, vị anh hùng ( prophet, devil, saint, national hero ) của dân tộc VN hay một lãnh tụ xấu xa---thì cần đòi hỏi phải có đủ thời gian và nắm vững tất cả sự kiện mới có thể phê phán được. Nhưng người ta khó mà có được một cái nhìn về TT Diệm chính là một vị quan đã bị hiểu lầm và ngộ nhận quá nhiều. (Our Nightmare of Vietnam,pages157-179 )
Qua lời trăn trối, TT Diệm đã trao cả sinh mệnh của riêng ông và trao luôn cả dòng sử mệnh đen tối nhất của Dân Tộc VN vào tay nước Mỹ và những kẻ đang âm mưu phản loạn để họ tìm lấy sự sống hay cái chết cho Miền Nam Việt Nam.

Hawaii ngày 15 tháng 10-2016
Công Dân Nguyễn Anh Tuấn
Political scientist

Assassination, Coup and Madame Nhu
Marguerite Higgins Papers
Maggie Higgins interviews Ngo Dinh Diem

“Giving a Free Hand to the Assassins”:
American Assassination of Ngo Dinh Diem
The Overthrow of Ngo Dinh Diem

20191105 Hảy tiếp sức

TT DONALD TRUMP YÊU CẦU MỌI NGƯỜI CHUYỄN TIẾP E MAIL NÀY CHO NHIỀU NGƯỜI
Author: Phạm Thị Như Ý Posted on: 2018-05-15

MỖI NGƯỜI NÊN XEM VÀ PHỔ BIẾN RỘNG RÃI 
• Đây là cơ hội đễ làm điều gì đó cho con cái và cháu của mình...
CÓ NÊN CHẤM DỨT ?
• Phải trả lương hưu trí suốt đời cho Dân Biểu Nghị sĩ? So sánh với lương giáo viên hay quân nhân đang phục vụ để thấy sự bất công của những người LÀM LUẬT (cả LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP). 
•  Những người đại diện dân lại là gánh nặng cho dân suốt đời họ.
AI LO CHO DÂN, AI BÊNH VỰC QUYỀN LỢI DÂN? 
TỔNG THỐnG TRUMP LẠI KHAI CHIẾN MẶT TRẬN MỚI VỚI TRẬN ĐỒ CỦ, CỦA CẢ 2 BÊN TÃ HỮU .  
 YÊU CẦU Cải cách Đạo luật Quốc hội năm 2017: 
•  Một Dân Biểu chỉ nhận lương trong khi làm việc và không nhận gì cả khi họ không còn làm việc.
•Quốc hội có thể mua kế hoạch nghỉ hưu của riêng họ, giống như tất cả những người Mỹ khác làm. 
Nếu chúng ta có thể bắt đầu vào ngày mai!
Nếu có cả cơ hội xa xôi mà điều này có thể đi bất cứ đâu, tôi cũng rất muốn biết rằng tôi đã làm điều gì đó cho con cái và cháu của mình ....
Tổng thống Trump đang yêu cầu tất cả mọi người chuyển tiếp email này cho tối thiểu 20 người, và yêu cầu mỗi người làm như vậy. Trong ba ngày, hầu hết mọi người ở Hoa Kỳ sẽ được thông báo. Đây là một ý tưởng nên được thông qua cho mọi người.
  
Quy tắc TRUMP
Hãy xem liệu Quốc hội có hiểu được những gì mọi người đang gây áp lực.

• Lương của các thành viên Hạ và / Thượng viện $ 174,000 CHO SUỐT ĐỜI. Đây cũng là ngu ngốc
• Lương của Chủ tịch Hạ Viện $ 223,500 CHO SUỐT ĐỜI. Đây thực sự là ngu ngốc 
• Lương của Lãnh đạo Đa số / Lãnh đạo thiểu số: $ 193,400 CHO SUỐT ĐỜI. Ngốc nghếch.
 •
• Mức lương trung bình của một Người lính được triển khai 
$ 38,000
 Đây là nơi cắt giảm nên được thực hiện!
TT TRUMP, trong một cuộc phỏng vấn gần đây với CNBC, đưa ra một trong những trích dẫn tốt nhất về trần nợ: Ông nói với CNBC:
"Tôi có thể chấm dứt mức thâm hụt trong năm phút.
"Bạn chỉ cần thông qua một đạo luật nói rằng bất cứ lúc nào có thâm hụt hơn 3% GDP, tất cả các thành viên của Quốc hội không đủ điều kiện để tái cử".
Tu chính thứ 26 (cấp quyền bầu cử cho người 18 tuổi) chỉ mất ba tháng và tám ngày để được phê chuẩn! Tại sao? Đơn giản! Người dân yêu cầu nó.. Đó là vào năm 1971 - trước máy tính, e-mail, điện thoại di động, v.v.
Trong số 27 bản Tu chính Hiến pháp, bảy (7) đã mất một (1) năm hoặc ít hơn để trở thành luật của đất đai - tất cả đều do áp lực của công chúng.
Trump đang yêu cầu mỗi người nhận chuyển tiếp email này tới ít nhất 20 người trong danh sách địa chỉ của họ; và lần lượt yêu cầu mỗi người làm như vậy. Trong ba ngày, hầu hết mọi người ở Hoa Kỳ sẽ được thông báo.. Đây là một ý tưởng thực sự cần được thông qua.
Đạo luật Cải cách Quốc hội năm 2017 Không hưởng lương hưu / Không Hưu trí. Một Dân Biểu nam/nữ chỉ nhận lương trong khi làm việc và không nhận gì cả khi họ không còn làm việc.
Quốc hội (quá khứ, hiện tại và tương lai) tham gia vào hệ thống An Sinh Xã Hội.
Tất cả các quỹ trong quỹ hưu trí của Quốc hội chuyển sang hệ thống An Sinh Xã Hội ngay lập tức
Tất cả các quỹ trong tương lai nhập vào hệ thống An Sinh Xã Hội, và Quốc hội tham gia vào hệ thống như các người Mỹ khác. Quỹ không có thể được dùng cho bất kỳ mục đích nào khác. 1.
Quốc hội có thể mua kế hoạch nghỉ hưu của riêng họ, giống như tất cả người Mỹ khác làm.


20191104 CHINA AND HUMAN TRAFFICKING SYSTEM


20191104 CHINA AND HUMAN TRAFFICKING SYSTEM

CHINA AND HUMAN TRAFFICKING: UPDATES AND ANALYSIS
Human Trafficking in China
COMBATING HUMAN TRAFFICKING IN CHINA: DOMESTIC AND INTERNATIONAL FFORTS
2019 Trafficking in Persons Report
2018 Trafficking in Persons Report – China
2017 Trafficking in Persons Report – China
2017-Trafficking-in-Persons-Report-China-ENG.pdf
US lists China as among worst human trafficking offenders

20191104 HUMAN TRAFFICKING IN VIETNAM


 20191104 HUMAN TRAFFICKING IN VIETNAM
Vietnam faces growing human trafficking to China
A Comparative Study of Human Trafficking Laws between the United States-Mexico and China-Vietnam
80 percent of Vietnamese human trafficking victims end up in China
Human traffickers in Asia victimized 1,100 women
Vietnamese teen's escape from the China trafficking trade that sold her mother
Human Trafficking in China
Human Trafficking in China
COMBATING HUMAN TRAFFICKING IN CHINA: DOMESTIC AND INTERNATIONAL FFORTS
CHINA AND HUMAN TRAFFICKING: UPDATES AND ANALYSIS


Nghệ An: Một huyện có nạn nhân vụ 39 thi thể, mỗi năm nhận kiều hối $200 triệu



Những căn nhà bề thế tại xã Đô Thành, huyện Yên Thành. (Hình: Zing)


Sunday, November 3, 2019

20191103 Chiến Dịch Bình Tây Hành Quân Toàn Thắng 45


20191103 Chiến Dịch Bình Tây Hành Quân Toàn Thắng 45
Chiến Dịch Bình Tây (Hành Quân Kampuchia 1970)
*** Tài liệu được bổ túc thêm những bàn đồ không ảnh vùng trận địa cùng bản đồ trên đất Cambodia cho đọc giả dể kiểm chứng tọa độ hay địa phương cùng địa hình chiến trận.
*** 
Posted on May 24, 2016 by dongsongcu
Bản đồ Cambodia
The Joint Chiefs of Staff and The War in Vietnam 1969–1970
FB Myron, 1st Cav 199 LIB
 12° 9'31.48"N 106°53'31.42"E
FB Myron 1st Cav
 12° 9'2.73"N 106°52'11.84"E
FB Brown 1st Cav
 12° 5'43.60"N 106°53'46.34"E
FB Brown 1st Cav, 199 LIB
 12° 6'22.73"N 106°53'33.39"E
FB East I TD6ND
 11°45'59.61"N 106°24'20.96"E
FB Rock Island 1stCav 11ACR 199LIB
 12°10'39.13"N 106°52'55.52"E
FSB East II TD3ND Eagle III
 11°44'34.05"N 106°27'25.49"E
FB Shakey Hill 433 massive cache site
 12°13'22.29"N 107° 1'39.33"E
FB Shakey Arty
 12°13'25.54"N 107° 1'39.35"E
FB Shakey Cav
 12°13'22.24"N 107° 1'45.94"E
Phum O Am
 12° 6'41.27"N 106°53'26.11"E
Ou Reang
 12°19'56.40"N 107°10'7.77"E

Hành Quân Toàn Thắng 45
LĐIND từ ngày 6/5/1970 – 30/6/1970
Sau trận đánh vào Snoul ngày 5/5/1970, Lực lượng Shoemaker được giải tán để mở rộng các thành phần tham gia chiến dịch. Về phía Sư Đoàn 1 KBKV Thiếu Tướng G.W. Casey Tư Lệnh Sư Đoàn trực tiếp chỉ huy các đơn vị hành quân Hoa Kỳ và cuộc hành quân mang tên là Rock Cruiser. Về phía VNCH, Thiếu Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh SĐND VN trực tiếp chỉ huy các đơn vị Nhảy Dù tham chiến với cuộc hành quân mang tên là Toàn Thắng 45.
Nhằm mục đích tảo thanh mật khu Cục R (Trung Ương Cục Miền Nam) của Việt Cộng trên đất Kampuchea. BTL SĐND-VN đã điều đồng thêm LĐ1ND do Đại Tá Lê Quang Lưỡng làm Lữ Đoàn Trưởng vào vùng hành quân với 3 Tiểu Đoàn 5, 6 và 8 Nhảy Dù:
* Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Trung Tá Nguyễn Chí Hiếu.
* Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Trung Tá Trương Vĩnh Phước.
* Tiểu Đoàn 8 Nhày Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Trung Tá Văn Bá Ninh.
Cánh quân Lữ Đoàn I Nhảy Dù –VN hoạt động song song với LĐ2KBKV Hoa Kỳ dưới quyền chỉ huy của Đại Tá C.Clarke Lử Đoàn Trưởng LĐ2KBKV. Ngày 6/5/1970 các đơn vị thuộc Lữ đoàn 3 Nhảy Dù vẩn tung quân tảo thanh quanh các căn cứ hỏa lực East I, Scout và Oklahoma trong khi LĐ1ND tảo thanh dọc theo khu vực phía Nam QL7 và SĐ1KBKV Hoa Kỳ đã điều phối thêm các đơn vị LĐ2KBKV do Đại Tá C. Clarke chỉ huy vào vùng hành quân để chuẩn bị cho giai đoạn hành quân kế tiếp. 
20191028 ChienDichBinhTay 13
Vùng hành quân Toàn Thắng 45
Các Tiểu Đoàn Nhảy Dù tham dự cuộc hành quân từ các căn cứ hỏa lực tung ra các cuộc hành quân lùng và diệt địch. Khiến cho quân Cộng Sản đã từng lợi dụng lãnh thổ Căm Bốt làm hậu cần dưỡng quân, tích trữ tiếp liệu và cứ địa an toàn mổi khi bị lực lượng ta truy kích đã không còn nơi nào gọi là an toàn. Cũng trong ngày 6/5/1970, TĐ6ND do Trung Tá Trương Vĩnh Phước làm Tiểu Đoàn Trưởng được thả vào vị trí phía Đông Bắc của căn cứ East I (TĐ3ND). TĐ6ND đã tung các Đại Đội tảo thanh quanh vị trí đóng quân của Tiểu đoàn và đã khám phá một hầm vũ khí toàn súng CKC còn mới nguyên trong bọc nhựa, cùng nhiều loại vũ khí khác và thuốc men. 4 chiếc trực thăng H34 chở liên tiếp mấy ngày chưa hết. 
20191028 ToanThang 45 01
Do tin tức từ các trinh sát cơ và các Biệt kích quân cung cấp, Lữ Đoàn 2 KBKV đã điều động Tiểu Đoàn 5/7 do Trung Tá M. Edmunds làm Tiểu Đoàn Trưởng đến thiết lập CCHL Brown cách biên giới Miên Việt 3km về phía Bắc và cách Tỉnh lộ 14A 2km về phía Tây. Đồng thời Tiểu Đoàn 2/12 của Trung Tá F. Lanni cũng được trực thăng vận đổ xuống phía Bắc CCHL Brown 10 km, lục soát mở rộng vòng đai an ninh và thiết lập CCHL Myron.
Ngày 8/5/1970 TĐ2/7 chạm địch cấp đại đội, giao tranh kéo dài nhiều giờ, Tiểu Đoàn phải gởi thêm Trung Đội Trinh Sát và Đại Đội C đến tăng viện. Ngày hôm sau 9/5/1970 lực lượng hành quân LĐ2KBKV khám phá ra một căn cứ hậu cần to lớn của CSBV và đặt tên là Rock Island. Khác với những căn cứ hậu cần khác, ở đây quân trang quân dụng còn đang nằm trong các kiện hàng lộ thiên, chỉ che đậy bằng những tấm vải nhựa plastic. Tổng số vũ khí tịch thu được lên đến 329 tấn gồm 932 vủ khí cá nhân, 85 vũ khí cộng đồng, 469 hỏa tiển 122 ly, 4002 đạn B40 , 20.886 đạn súng cối, (có khoảng 1000 viên đạn đại bác 85 ly/D44 chưa xuất hiện trên chiến trường trước đây) 1734 lựu đạn, hơn 7 triệu đạn súng nhỏ, 3 xe vận tải và 2 xe chỉ huy.
Ngày 13/5/1970 Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù di chuyển lên hướng Đông Bắc để thiết lập CCHL East II và bàn giao CC East I lại cho Tiểu Đoàn 8 / LĐ1ND.
Trong lúc đó, Tiểu Đoàn 9ND được lịnh tung hai Đại Đội 92 của Trung Úy Trương Văn Dũng và Đại Đội 93 của Trung Úy Đào Đức Bảo về phía Tây của CCHL, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn Phó, để truy lùng vị trí của Cục R theo các báo cáo của các Trinh sát cơ Hoa Kỳ.
Một giờ trưa ngày hôm sau, Các Đại Đội 92 và 93 sẳn sàng tại bải bốc, từng đoàn trực thăng đáp xuống bốc các chiến sĩ Nhảy Dù đổ xuống mục tiêu là một trảng trống ở bìa rừng nằm về phía Tây của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù. Nhưng Đoàn trực thăng của Mỹ đã vô tình hay cố ý đã thả Đại Đội 93 của Trung Úy Đào Đức Bảo cách xa mục tiêu được ấn định đến 2 cây số. Ngay khi đó đủ loại súng của địch quân đã khai hỏa nhắm vào các chiến sĩ Nhảy Dù vừa đáp xuống chưa kịp chuẩn bị như những bia thịt sống khi các trực thăng chuyển quân vừa cất cánh bay cao.
*** Mỷ thả lực lượng đại đội 93 Nhảy Dù vào ngay ổ phục kích CSBV!
Tức khắc, các “Thiên Thần sát địch” đã phản ứng nhanh chóng xung phong vào ngay mục tiêu là những họng súng địch quân vừa khai hỏa. Sau đó cả đơn vị tạt qua phía bìa rừng bên trái vì hỏa lực tàn bạo của địch quá đông. Hai phi tuần phản lực đã được gọi đến để hỏa diệt mục tiêu bằng bom napalm.
Sau những hồi vang rền của bom đạn oanh kích từ phi cơ, Các Trung Đội dàn hàng ngang ap sát vào bìa rừng xung phong. Các chiến sĩ Nhảy Dù phải bám sát theo từng mô đất, từng thân cây rừng men dần tới mục tiêu theo thế gộng kềm của 3 Trung đội đi trước. Sau 20 phút giao tranh dữ dội, Cộng quân chống trả yếu dần rồi im hẳn tiếng súng. Xác địch quân ngổn ngang nằm vắt trên miệng hầm hay rải rác đó đây, nhiều xác bị tím bầm hay bị cháy đen vì bom xăng đặc. Về phía Đại Đội 93 có 2 binh sĩ bị tử thương.
Sáng hôm sau, Đại Đội 93 được trực thăng bốc thả về phía mục tiêu đã được ấn định lúc ban đầu. Vừa đáp xuống bãi đáp Cộng quân bắt đầu khai hỏa, cả Đại Đội 93 dàn đội hình hàng ngang tấn công về phía địch quân, trong khi Đại Đội 92 của Trung Úy Trương Văn Dũng cũng đánh thúc xuống kẹp địch quân vào giửa. Giao tranh đến 6.00 giờ chiều, Công quân bỏ chạy hai Đại Đội 92 và 93 bắt tay được với nhau.
Sang ngày thứ ba, hai Đại Đội 92 và 93 tung quân lục soát từ hai hướng. Đường vào cục R thật là hung hiểm, các chiến sĩ Nhảy Dù lầm lủi tiến bước, ngày nhổ chốt để tiến lên, đêm ngủ dật dờ thiếu giấc, chốt địch giăng mắc như mạng nhện.
Một buổi sáng sớm, Đại Đội 93 trực chỉ về hướng mục tiêu, đang ngon trớn đổ dốc về đường thông thủy để các anh em binh sĩ chuẩn bị lấy nước. Bổng nhiên từ phía bên kia bờ suối vang rền tiếng súng. Cộng quân đồng loạt khai hỏa bằng đủ loại vũ khi. Trung Úy Đào Đức Bảo nhanh chóng điều động đơn vị phản công giử chặc tuyến phòng ngự. Các súng liên thanh của địch bắn dọc hai bên trái, phải của Đại Đội, hình như muốn cầm chân vây bọc đơn vị Nhảy Dù vào giửa trận địa.
Một số chiến sĩ Nhảy Dù đã bị ngã gục, Trung Úy Bảo biết rằng đã vào đúng ổ Cục R của địch bèn ra lịnh cho 4 trung đội tháo lui trở lại lối củ phòng thủ, đồng thời báo cáo về Tiểu Đoàn tình hình hiện tại và gọi pháo binh tác xạ hiệu quả lên mục tiêu. Sau hàng loạt đạn pháo tới tấp của Trung Úy Nguyễn KimViệt, hai phi tuần Phantom của Hoa Kỳ luân phiên trợ chiến trút bom đạn lên đầu địch quân.
Vừa dứt phi tuần oanh tạc, Đại Đội dàn đội hình xung phong chiếm lại vị trí củ sát bờ suối, khi còn chừng 20 thước cách bờ nước, địch quân lại khai hỏa dữ dội. Cánh quân đi đầu phải nép người sát xuống đất để tránh đạn. Đến 4.00 giờ chiều, các Trung đội lần lược chiếm lại vị trí củ. Trung Úy Bảo ra lệnh các Trung đội chuẩn bị hầm hố cố thủ và không được lùi bước.
Tại căn cứ hậu cần của CS Rock Island, do khối lượng vũ khí tịch thu được quá lớn, không thể chuyên chở kịp thời nên được lịnh phá hủy. Chiều ngày 16/5 một tiếng nổ kinh hồn với cột khói bốc cao ngút trời ở xa 15 km còn trông thấy, do sự phá hủy các chiến lợi phẩm gây nên. 
https://911gfx.nexus.net/vietnam/maps/nd48-16/nd48_16f.jpg
20191028 ToanThang 45 02
Ngày 23/5/1970 TĐ5/7 KBKV trong khi tảo thanh khu đồi 428 (hay đồi Shakey) đã khám phá được một hậu cần khác của CS với 59 hầm chứa vũ khí đạn dược. Các vũ khí nầy được chuyển giao cho quân đội Khmer.
Ngày 19/6/1970 Trung đoàn 11 KBTG được linh lui binh.
Tổng kết Chiến dịch Bình Tây: từ 1/5/1970 đến 30/6/1970
– U.S.: 338 chết; 1525 bị thương; 13 mất tích .
– Việt Nam CH : 538 chết ; 3,009 bị thương .
– CSBV/VC: 11,349 chết ; 2,328 tù binh
– 600 supply caches were captured and their material removed or destroyed: 22,892 individual weapons, 2,509 crew-served weapons, 15 million rounds of small arms ammunition, 199,552 rounds of anti-aircraft ammunition, 143,000 rounds of rocket, mortar, and recoilless rifle ammunition, 62,022 hand grenades, 5,482 land mines, 1,002 demolition charges, 41 tons of explosives, 55 tons of medical supplies, 435 motor vehicles, 7,000 tons of rice.
Đại Úy Võ Trung Tín Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND – 714-856-9202
Đại Úy Nguyễn Hữu Viên Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù – 714-897-1435
Trích và cập nhật từ quyển ‘20 Năm Chiến Sự’ – Binh chủng Nhảy Dù
Tài Liệu Tham Khảo:
– Phỏng vấn các chiến hữu trong SĐND
– 1970 Cambodian Incursion- Parrot’s Beak and Fishhook from Wikipedia
– Like Rolling Thunder: The Air War in Vietnam, 1964-1975 By Ronald Bruce Frankum
– Trận Phum Long Giêng của TĐ7ND của Tr/Tá Lê Minh Ngọc LĐT /LĐ4ND.
– Khoảng Tối Nhìn lên, của Đào Đức Bảo Tác giã xuất bản tại San Diego 2003.
– Tình nghĩa anh em-một đời Mủ Đỏ của Đoàn Phương Hải, 
www.vantuyen.net 
– TĐ3ND tham chiến trong cuộc hành quân ngoại biên Toàn Thắng 43 của Đại Tá Lê Văn Phát Lữ Đoàn Trưởng LĐ3ND hiện đang cư ngụ tại Orange County.
– Đại Tướng Đỗ Cao Trí Và Mặt Trận Ngoại Biên của Vương Hồng Anh.
– Hình ảnh của Trung Tá Lê Minh Ngọc và của Lê Quang Đức.

20191103 Bản tin biển Đông


20191103 Bản tin biển Đông


Why can Vietnam bring China to International Court of Justice?

Vietnam pledges to uphold the law in South China Sea at ASEAN summit
A Difficult Summer in the South China Sea
Chinese coercive activities persist in one of Asia’s hottest flashpoints

*** Chỉ là thay ngựa giửa đường còn chủ nghỉa đại hán sẽ không bao giờ thay đổi. Trừ phi China rút bỏ toàn bộ các căn cứ biển Đông, trả lại những đất đai đã chiếm của Việt Nam trong suốt vùng biên giới Bắc biên, rút toàn bộ dân tầu về và hủy những khu tự trị trên đất Việt Nam lúc bấy giờ mới có thể xét đoán chính xác.
***
Chủ tịch Tập Cận Bình có thể rời chức vụ lãnh đạo của Tàu cộng ?
Một tin đồn đang loan ra là Chủ tịch TQ Tập Cận Bình có thể rời chức vụ lãnh đạo của Trung Quốc vào kỳ họp kín và bất thường của Ban chấp hành Trung ương Đảng TQ từ ngày 28/10/2019 đến hết tháng 10 tới đây.
Mặc dù quản lý 1,4 tỷ dân nhưng BCHTW đảng CSTQ chỉ cần 300 người. BCHTW đảng CSTQ họp kín và công bố nội dung là tăng cường sự lãnh đạo của đảng về toàn diện nhưng người ta đồn là ông Trần Mẫn Nhĩ sẽ thay cho ông Tập Cận Bình. Ông Trần cũng là được coi là người thân tín, thuộc “phái Chiết Giang” thân cận với ông Tập, đang giữ chức Ủy Viên Bộ Chính Trị, bí thư Trùng Khánh.

Muốn xét coi ông Tập có thể từ chức sau khi đã đạt được cơ chế lãnh đạo suốt đời hay không thì phải xét đến toàn cảnh về Trung Quốc. Vị thế của Trung Quốc bên ngoài, sự thống nhất về nội bộ của Trung Quốc bên trong sẽ quyết định vị trí của ông Tập có duy trì lâu dài hay không.
1/ ĐỐI NGOẠI
Trước tiên ta xét về bên ngoài thì rõ ràng là Trung Quốc đang thất thế so với Mỹ. Sự thất thế rõ ràng nhất là một đồng minh 10 năm nay của Trung Quốc là Nga đã dần gần lại với EU và đạt được những thỏa thuận từ tạm thời tiến tới vững chắc với Mỹ về vấn đề Trung Đông. Chỉ dấu rõ nhất là việc Mỹ đã giảm quân sự, ảnh hưởng và bớt ra quyết định tại các khu vực nóng ở Trung Đông.
Về EU thì hẳn nhiên dù có nhiều bất đồng với Mỹ về chia chác lợi ích nhưng các nước EU vẫn gần Mỹ hơn Trung Quốc. Cụ thể nhất là Anh đã đạt được một thoả thuận Brexit đúng thời điểm như nước này tính toán. Giới quan sát cho rằng EU không ràng buộc Anh nhiều nữa để nước này nhanh chóng có mặt cùng Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc ở Châu Á- Thái Bình Dương. Sau khi ổn định Trung Đông với Nga thì các nước mạnh trong EU còn lại sẽ đi tiếp theo sau Anh.
Nghĩa là các đại cường của EU đã có chiến lược phân công cụ thể ai trước ai sau để gây áp lực dài hạn với Trung Quốc.
Ngoài Nga, EU thì Trung Quốc còn bị áp lực từ Ấn Độ. Quan hệ với Ấn Độ của Trung Quốc cũng không ổn như Tập mong muốn. Chiến thuật “móng mèo” sử dụng Pakistan để gây rối khối vùng vịnh Bengal của Trung Quốc đã đẩy Ấn Độ và các nước vùng Bengal đi quá xa về hướng thù địch. Hậu quả cuối cùng là khi Ấn Độ đe doạ dùng hạt nhân thì Pakistan không thể nghe lời Trung Quốc mà gây rối vùng Bengal nhiều hơn.
Tiếp theo là Nhật, là cường quốc châu Á số 2 sau Trung Quốc. Nhật đã thành công trong việc thúc đẩy và lôi kéo các nước nhỏ tại châu Á dùng dằng với Trung Quốc.
Đóng vai trò trung gian giữa Mỹ và các tiểu quốc vùng Đông Á, Nhật đã làm tốt vai trò của mình trong việc hình thành các đồng minh nhỏ chống Trung. Ngay như với Việt Nam, ảnh hưởng chính trị-kinh tế-văn hoá… của Nhật hiện nay có lẽ chỉ xếp sau Trung Quốc. Ngay cả như vũ khí thì Việt Nam nhận của Nhật, Nga, Mỹ là một chỉ dấu cho thấy ảnh hưởng của Nhật tại Việt Nam đã đủ quan trọng.
Như vậy về đối ngoại, Trung Quốc không có bạn. Bị Nga, Mỹ, EU, Nhật, Ấn Độ bao vây và đẩy lùi chiến lược trên toàn cầu. Thậm chí mới đây nhất là Nga cũng đã tranh thủ Trung Quốc suy yếu vì “đánh nhau” với Mỹ, đã bắt đầu đặt chân tới Châu Phi. Putin vừa tổ chức hội nghị với lãnh đạo 54 nước của lục địa đen này. Sự khôn khéo tính toán của Putin đã đẩy Tập Cận Bình vào thế bị bỏ rơi. Sợi dây cuối cùng ông Tập bấu víu là Putin đã bị Putin lạnh lùng cắt đứt.
Tổng kết lại sau gần 10 năm thực hiện quốc sách “trỗi dậy hoà bình và BRI”, Trung Quốc bị Mỹ đẩy khỏi châu Mỹ. Bị Nga và EU đẩy khỏi Trung Đông, bị Ấn Độ và Nhật bao vây ở châu Á, và bắt đầu bị Nga tranh thủ chen chân vào chia bớt châu Phi. Thất thế toàn diện và toàn cục.
Là một quốc gia công nghiệp khổng lồ thì Trung Quốc cần dầu mỏ. Sự thất thế toàn diện trên các trọng điểm dầu mỏ về địa chính trị sẽ dẫn đến sự sụp đổ công nghiệp và kinh tế toàn thể. Mất dần các khu vực dầu mỏ đó buộc Trung Quốc phải quay về giữ chặt biển Đông nhưng liệu có giữ nổi không khi liên quân Anh-Mỹ sắp thọc mũi kiếm đầu tiên trong lúc chờ sáu đại cường còn lại trong “bát quốc liên quân” đến sau để kết liễu một mầm mống phát xít đỏ.
Lá bài tủ cuối cùng mà TQ có thể dùng là vũ khí hạt nhân để đe dọa thế giới cũng khó khả thi. Chiến lược toàn cầu của tư bản văn minh trong thời đại mới là đoàn kết nhân loại, tiêu diệt các chủ nghĩa cơ hội mưu đồ bá quyền độc tài có thể đưa đến cực đoan để ổn định trái đất và tiến ra vũ trụ. Những bộ óc thiên tài và tinh hoa của tư bản văn minh sẽ không chấp nhận bất kỳ lời đe dọa nào có thể dẫn nhân loại đến việc chết cùng nhau.
Trung Quốc buộc phải chuyển hoá qua văn minh hoặc bị bao vây, tiêu diệt từ từ và phân rã. Sự sụp đổ nhanh chóng của triều đại Thành Cát Tư Hãn chính là tấm gương hiện nay của triều đại Tập Cận Bình.
2/ ĐỐI NỘI
Bây giờ ta nhìn vào bên trong Trung Quốc. Sức ép bên ngoài sẽ thành sức ép bên trong. Với sự hội nhập mở cửa gần 50 năm nay của TQ thì sự tập trung tư tưởng và đường lối của nước này không còn như thời Mao Trạch Đông. Những hệ phái, những “đảng trong đảng” hình thành dần các đường dây quyền lực thân Mỹ, thân Nga, thân Nhật, thân EU… nằm bên dưới cái bề mặt chấp hành mệnh lệnh của ông Tập. Những hệ phái này vì lợi ích riêng của họ, sẽ bị các thế lực đối đầu với Trung Quốc lôi kéo đi về các hướng khác nhau. Tập thanh trừng hết thì lấy ai mà làm việc ?
Đó là về chính trị, về kinh tế Trung Quốc thì các bạn đã có nhiều tin tức về sự khủng hoảng nên tôi không nói. Suy yếu kinh tế bên trong chỉ là một góc độ, bị đẩy lùi khỏi các khu vực dầu mỏ quốc tế và BRI còn làm Trung Quốc đánh rơi tiền của mình ở bên ngoài. Bên trong không làm ra tiền nhiều nữa và tiền đã rải ra bên ngoài mất dần đi thì kinh tế Trung Quốc sẽ đi về đâu ?
Đó là bối cảnh kinh tế, chính trị, nhân sự vĩ mô. Chuyện vi mô các bạn có thể thấy dễ nhất là việc ông chủ của tập đoàn Huawei Nhậm Chính Phi vừa có tin đồn loan ra là vẫn dùng IPhone của Mỹ. Đó là chỉ dấu rõ rệt nhất về lòng trung thành của đội ngũ xung quanh ông Tập.
Ông Nhậm làm ra điện thoại Huawei nhưng đưa ra một thông điệp là ông không dùng Huawei, cũng là thông điệp về việc các quan chức của TQ không thấy an toàn và thích thú với những gì họ cống hiến cho 
TQ đang mặc cái áo hiếu chiến có thể dẫn đến chết chung của Thành Cát Tập Cận Bình hiện nay.
Bối cảnh như vậy thì ai sẽ bấm nút hạt nhân khi ông Tập muốn thấu cáy lá bài cuối cùng xuống chiếu?
Bối cảnh bên trong và bên ngoài như vậy đòi hỏi ông Tập phải ra đi để tránh một cuộc sụp đổ của Trung Quốc đã được thấy trước. Ông Tập ra đi khi vẫn nắm chặt quân đội, công an và tình báo… là một điều dĩ nhiên ông không phục. Chính vì để tránh một cuộc khủng hoảng đấu tranh quyền lực về sau thì việc lựa chọn Trần Mẫn Nhĩ là điều tiên quyết ông Tập cần, TQ có thể chấp nhận được và phương Tây lẫn phương Đông tạm yên tâm.
Xét như vậy, tin đồn ông Tập rời ghế là đầy đủ điều kiện cần và đủ sẽ xảy ra. Cũng là chấm dứt một đường lối bá quyền phát xít độc tài để Trung Quốc thay đổi. Tôi tin là TQ sẽ hiểu ý và dưới sức ép của tư bản tinh hoa mà thay đổi dần theo.
Đã đến lúc VN phải ra quyết định và quyết tâm thay đổi một mình khi TQ sắp đến phải để Tập ra đi khi quyền lực cá nhân vẫn còn mạnh.


Phiet Pham 
Nov 3 at 11:31 AM
*** Thuyền nhân có một mục tiêu rỏ rệt là tỵ nạn cộng sản.
Thùng nhân "vượt biên" để làm giàu thêm sau khi đã giàu. Còn nửa, chưa nói đến vấn đề khác là không thiếu những "dư luận viên" hay "quần chúng tự phát" trong số nầy. Đây có thể là những nhân sự mà cộng sản Việt Nam sẽ dùng trong tương lai trên lảnh thổ mới. Chiến thuật nầy tầu đã dùng. Cộng sản Việt Nam đã dùng từ năm 1954 trong chiến tranh Việt Nam bây giờ lại tái diển. Nếu không sáng suốt thì vùng đất bình yên sẽ không còn yên bình. Hảy nhìn lại miền Nam trên nửa thế kỷ qua.
Đừng bao giờ nhập nhằng với Thuyền Nhân và Thùng Nhân.
***
Đây có phải là một trong những "quần chúng tự phát" trong những cuộc biểu tình của Formosa, của Will Nguyễn tại Sài Gòn cùng những cuộc biểu tình khác.  
20191031 HoangVanTiep 01
Cho đến hôm may mọi người củng chưa tỉnh và nhận thức rỏ ràng?
20191102 BTBD 17

Subject: Thùng nhân vs Thuyền nhân.
Thùng nhân vs Thuyền nhân.
Người dân Anh cầu nguyện cho 39 nạn nhân xấu số trong thảm nạn Essex. Ảnh: internet
Câu chuyện 39 thùng nhân nay đã ngã ngũ. Tất cả là 39 phận người còn rất trẻ, đều là Việt Nam. Giờ là lúc không cần phải phán xét người đã chết. Hãy thương họ như thương những kẻ xấu số nào đó trên cõi đời này. Và hãy thương luôn cả những người phán xét (không tính DLV), vì họ có một góc nhìn khác, từ những khổ đau bất hạnh mà đất nước tội nghiệp này phải gánh chịu từ rất lâu. Họ có lý do để giận dữ.
Ba mươi chín con heo con gà chết cùng một lúc đã thấy ghê rồi, còn đây là 39 con người nằm xếp lớp trong thùng, gương mặt chắc còn biểu lộ sợ hãi tiếc nuối chốn trần gian và những ước mơ rất đời thường không đành dang dở.
Tin nhắn cuối cùng của cô Trà My là tin nhắn của thần chết, ai đọc cũng phải rùng mình. Có lẽ đó là tin nhắn khủng khiếp nhất trong lịch sử điện thoại.
***
Câu chuyện thùng nhân đau thương này làm gợi nhớ thân phận thuyền nhân của thập niên 80 còn rùng rợn, khổ đau gấp nhiều lần.
Ai từng một lần trên biển cả mới hiểu hết cảm giác nhỏ bé mong manh của phận người. Chiếc thuyền cứ tưởng là lớn lắm lúc chưa ra khơi, nhưng khi đã ra khỏi hải phận VN, nghĩa là đã thoát được nạn công an, mới bắt đầu nỗi lo khác, phải chiến đấu với biển cả âm u khó lường, và thuyền giờ đây chỉ là một chấm nhỏ li ti. Lúc đó, xung quanh chỉ một màu nước xanh thẳm, bao la, không cùng không tận, không bờ bến. Chỉ có mặt biển và phía cuối chân trời.
Vào ban đêm, biển đen sẫm màu chết chóc, sóng vỗ bì bạch mạn tàu cứ tưởng là tàu sắp vỡ. Nhưng người tài công cứ bảo vậy là may mắn rồi. Khi biển nổi giận mới thấy kinh hoàng chết chóc. Biển thật không hề thơ mộng như trong thi ca.
Biển có lúc im lìm như mặt hồ. Nhưng đó là sự im lặng trước một cơn bão dữ. Đã có biết bao chuyến tàu vượt biên vùi sâu trong lòng đại dương, mang theo hàng chục ngàn thân phận xấu số như những thùng nhân trên kia. Bi kịch này cũng là bi kịch của một quốc gia thiếu lòng bao dung lại chồng chất thù hận, dối trá, phân ly, dị biệt.
***
Dân vượt biên ở Sài Gòn và miền tây thường chọn điểm đến là Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, hoặc xa hơn là Singapore. Và như vậy bắt buộc phải băng qua vùng vịnh Thái lan, nơi bọn cướp biển đang chờ chực những miếng mồi ngon.
Cướp biển là ai? Đôi khi chỉ là những tàu đánh cá của Thái, động lòng tham thì trở thành cướp, và cũng quá dễ dàng, vì người vượt biên đang chơi vơi, thiếu dầu, thiếu nước, thiếu ăn, thấy tàu nào cũng kêu cứu. Họ thoạt đầu đến như những thiên thần cứu tinh, nhưng sau đó hiện nguyên hình là quỷ dữ. Thường dân vượt biên luôn luôn có vàng thủ thân, lại có thêm phụ nữ để họ thỏa mãn thú tính trong những chuyến đánh cá lênh đênh hàng mấy tháng trời trên biển.
Bi kịch bắt nguồn từ đây. Cướp và hiếp xong thì phải phi tang, và chỉ còn cách giết toàn bộ để bịt đầu mối. Đôi khi cũng có những tên cướp còn chút lòng nhân. Chúng cướp và hiếp xong rồi thả cho đi, để biển cả, đói khát gián tiếp kết liễu họ, còn may thì sống sót.
***
Ai từng đến đảo Bidong, Mã Lai năm 1989 sau ngày đóng cửa đảo (và bắt đầu một giai đoạn khốn cùng nhất lịch sử thuyền nhân) sẽ nghe nói đến một người thanh niên tên Sơn. Tàu của Sơn gần 100 mạng, bị cướp và hiếp. Bọn cướp sau đó đụng chìm tàu, ai bám vào những mảnh tàu vỡ thì chúng tiếp tục dùng lao đâm cho chết.
Sơn bị đập đầu bằng búa và xô xuống biển. Nhưng phép màu xảy ra. Sơn trôi trong vô thức mà không chết. Lại thêm một phép màu thứ hai: Vài giờ sau một chiếc tàu vượt biên khác tình cờ thấy Sơn và vớt lên cấp cứu. Biển cả mênh mông dường ấy mà gặp được Sơn trôi bềnh bồng thì quả là một điều kỳ diệu. Có lẽ thượng đế không cho Sơn chết.
Tàu cập đảo Bidong, Sơn được cứu sống. Nhưng từ đó anh trở thành người mất hồn. Không thích giao du với ai cả. Thỉnh thoảng Sơn được đưa sang Thái để nhận diện cướp biển. Sơn được đặc cách đậu thanh lọc và được tái định cư. Giờ không biết Sơn phiêu bạt nơi nào.
Còn một Sơn nữa, biệt danh là Sơn ba ke, đá banh rất giỏi, từng đá cho đội CSC. Bạn nào ở trại Sungei Besi thời đó chắc chắn biết.
Tàu của Sơn thấy được giàn khoan Mã Lai thì chìm, tức còn phải vài cây số nữa. Nhiều người nhẩy xuống biển bơi. Sơn và một người bạn đi chung cùng ôm một tấm ván và bơi về hướng giàn khoan. Cả hai cùng động viện nhau cố gắng. Vài giờ sau khi gần tới giàn khoan, bạn của Sơn bảo “thôi, mày cố gắng thêm tí nữa, tao đi đây”. Nói xong anh buông tay, và chìm xuống. Anh đã sức tàn lực kiệt. Còn Sơn ba ke cuối cùng đến được giàn khoan, cũng vừa lúc anh ngất xỉu.
***
Câu chuyện về hai Sơn nói trên chỉ là một trong hàng trăm câu chuyện thương tâm mà cá nhân mình được biết khi ở trại tỵ nạn. Đó là chưa kể nỗi long đong sau đó của những năm dài ở trại, phải kêu gào, đổ máu cho khát vọng tự do.
Mình muốn quên đi nỗi tang thương của quá khứ vượt biên vì nhắc lại chỉ thêm sầu thảm. Đó là lý do bạn bè tỵ nạn ít khi thấy mình tham gia hội Bidong hay Sungei Besi này nọ.
Xin để quá khứ ngủ yên. Nếu có còn kỷ niệm xin hãy sống với lòng biết ơn và chia sẻ. Vì những năm tháng tỵ nạn chúng ta được cưu mang bởi những tấm lòng từ khắp nơi trên thế giới.
Lời cuối, thuyền nhân Larry xin gửi lời chia buồn đến 39 thùng nhân xấu số như hàng trăm ngàn nạn nhân khác còn gửi lại một chút xương tàn đâu đó dưới lòng đại dương.