20260401 CDTL GRF 29 April 1975 D279 Tài liệu do Bộ
Ngoại giao soạn thảo, Washington không đề ngày
***
Đến đây (ngày 29/04/1975) xem như Hoa Kỳ đã
hoàn toàn dứt sữa Nam Việt-Nam Cộng-Hòa và miền Nam hoàn toàn lọt vào tay cộng
sản giặc Hồ kể từ ngày 30/04/1975.
Cũng trong tài liệu nầy Hoa Kỳ đã phải thú nhận sai lầm
trong việc lật đổ nền Đệ Nhất Việt-Nam Cộng-Hòa của cố Tổng Thống Ngô Đình
Diệm.
***
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/d279
Google Translated
Tài liệu 279
Quan hệ Đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969–1976, Tập
X, Việt Nam, Tháng 1 năm 1973 – Tháng 7 năm 1975
279. Tài liệu do Bộ Ngoại giao soạn thảo.
Washington, không đề ngày.
Những bài học từ Việt Nam
Để rút ra những bài học ý nghĩa từ trải nghiệm của
chúng ta tại Việt Nam, điều thiết yếu là phải luôn ghi nhớ bối cảnh thời đại mà
trong đó những quyết định mang tính định mệnh đã được đưa ra. Vào năm 1954, một
quan điểm được chấp nhận rộng rãi là chúng ta đang đối mặt với một khối Cộng sản
thống nhất, kiên quyết bành trướng thế lực thông qua các biện pháp quân sự.
Trong bối cảnh đó, Đông Dương được xem — với những lập luận hết sức hợp lý — là
tâm điểm chính của làn sóng bành trướng ấy; và tại đất nước này, đã hình thành
một sự đồng thuận rộng rãi đến mức đáng kinh ngạc về việc Hoa Kỳ cần phải đứng
ra ngăn chặn nó. Vào đầu thập niên 1960, nước Mỹ tràn đầy một tinh thần hành động
và hướng ngoại; một biểu hiện của tinh thần này chính là niềm tin cho rằng với
nguồn lực và chuyên môn của mình, nước Mỹ có thể giải quyết bất kỳ vấn đề nào, ở
bất cứ đâu. Chỉ đến cuối thập niên 60 — khi sự tham gia của chúng ta vào một cuộc
chiến bị coi là phi nghĩa và không thể thắng lợi trở thành điều gây phản đối mạnh
mẽ trong đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ — thì các chính sách của chúng ta mới
trở nên vượt ra ngoài khuôn khổ của sự đồng thuận quốc gia, và sự ủng hộ dành
cho những chính sách ấy bắt đầu suy giảm.
Sau khi đã phải chịu những tổn thất nặng nề tại Việt
Nam, người dân Mỹ ngày nay dường như đã hình thành những quan niệm khá khác biệt—và
hạn hẹp hơn—về vai trò thích đáng của quốc gia trong thế giới cũng như về khả
năng tác động của chúng ta đối với các sự kiện diễn ra. Theo một khía cạnh nào
đó, một cơ chế kiểm soát đã hình thành ngay trong lòng xã hội Mỹ, mà nhiều khả
năng sẽ ngăn chặn—[Trang 949] trong tương lai gần—bất kỳ sự lặp lại nào của kiểu
can thiệp như tại Việt Nam trước đây. Do đó, mối nguy hiểm có lẽ không nằm ở việc
chúng ta sẽ phớt lờ những bài học từ Việt Nam, mà lại nằm ở chỗ chúng ta sẽ bị
cám dỗ áp dụng những bài học ấy một cách quá máy móc và rộng khắp—cả tại khu vực
Đông Á lẫn trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, mặc dù không phải tất cả các bài học
này đều có thể áp dụng một cách phổ quát, nhưng những bài học rút ra từ Việt
Nam vẫn hiện hữu rất rõ ràng và vô cùng phong phú:
Bản chất của các Cam kết
—Chúng ta cần duy trì các cam kết đối với từng quốc
gia sao cho phù hợp với mức độ quan tâm của chính chúng ta. Điều này không có
nghĩa là sự độc lập và thịnh vượng của các quốc gia nhỏ bé là vô nghĩa hay
không đáng để Hoa Kỳ bận tâm—mà chỉ đơn thuần là những yếu tố này mang tính hệ
trọng hơn một cách tương đối tại những khu vực mà lợi ích của chúng ta đang chịu
tác động trực tiếp hơn cả. Liên quan đến vấn đề này, các nguồn lực được dành ra
để thực thi những cam kết cần phải tương xứng với tầm quan trọng nội tại của
chính cam kết đó, hoặc tương xứng với lợi ích mà cam kết ấy phản ánh.
—Do đó, chúng ta chỉ nên lựa chọn tham gia vào những
công việc có khả năng đòi hỏi sự hy sinh về sinh mạng hoặc nguồn lực khổng lồ.
(Lưu ý quan trọng: một khi đã cam kết, chúng ta không thể lựa chọn một cách xác
thực trong việc thực hiện chúng.)
—Dù nhận thức rằng sự kiên định trong các cam kết là
điều quan trọng, chúng ta vẫn cần tránh việc nhầm lẫn sự kiên định với sự trì
trệ. Khi hoàn cảnh thay đổi một cách mạnh mẽ, hoặc khi một cam kết rõ ràng trở
nên không còn khả thi, chúng ta cần rút ra những kết luận đúng đắn và điều chỉnh
chính sách của mình cho phù hợp. Năm 1968 có lẽ là thời điểm thuận lợi hơn để nỗ
lực đạt tới một giải pháp chính trị toàn diện tại Việt Nam, so với năm 1972.
Năm 1973 lại là thời điểm thích hợp hơn để thúc ép Chính quyền Việt
Nam Cộng hòa (GVN) tiến hành thêm các cuộc đàm phán chính trị thực
tế—đặc biệt là trong bối cảnh ngay năm đó, chúng ta đã bị Quốc hội tước
bỏ khả năng thực thi Hiệp định Paris—so với các năm 1974 hay 1975.
Bản chất của các Đồng minh
—Tiêu chí hàng đầu mà kể từ nay chúng ta cần vận dụng
khi cân nhắc các cam kết của mình chính là nội lực và ý chí tự cường của đối
tác đồng minh tiềm năng—tức là khả năng tự cứu lấy chính mình của họ. Mặc
dù chính quyền Việt Nam mà chúng ta hậu thuẫn có tính nhân bản vượt trội so
với đối phương, nhưng xét đến cùng, họ đã không thể huy động một
cách hiệu quả sự ủng hộ của người dân trước một kẻ thù đầy kỷ luật và không hề
khoan nhượng. Thiếu vắng sự ủng hộ đó, thất bại chung cuộc có lẽ là điều khó
tránh khỏi. Trong nỗ lực ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản
Bắc Việt, chúng ta đã đánh giá thấp yếu tố then chốt này.
—Về thực chất, chúng ta đã để cho việc cứu vãn miền
Nam Việt Nam trở nên quan trọng đối với chúng ta hơn cả đối với chính người dân
miền Nam. Trong tương lai, chúng ta cần cân nhắc mức độ hỗ trợ dựa trên những nỗ
lực của các đồng minh, cũng như những thành quả mà họ đạt được. Nếu chính họ
không thể hoàn thành nhiệm vụ, thì chúng ta cũng sẽ không thể làm thay họ.
—Chúng ta cần nhận thức đầy đủ về sự mong manh của
những chính quyền vốn phụ thuộc, ở mức độ đáng kể, vào sự hậu thuẫn của quân đội.
Đây không phải là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam—thực
tế là Chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn duy trì được một mức độ uy tín chính
danh đáng kể ngay trong lòng đất nước—nhưng sự thiếu linh hoạt và tầm nhìn
hạn hẹp trong phán đoán của một giới lãnh đạo ngày càng trở nên cô lập, khi phải
đối mặt với áp lực không ngừng nghỉ từ phía Bắc Việt Nam, đã đóng một vai trò
trong sự sụp đổ chung cuộc của quốc gia này.
—Chúng ta đã liên tục cho phép Chính quyền Sài Gòn
sử dụng nguồn hỗ trợ khổng lồ từ Hoa Kỳ như một sự thay thế cho các giải
pháp giải quyết những vấn đề chính trị nội bộ của chính họ. Chúng ta chưa bao
giờ sẵn lòng buộc Chính quyền Sài Gòn phải đối diện với thực tế này.
Bản chất của Cố vấn
—Có lẽ hiếm có đối thủ tiềm năng nào trên thế giới lại
sở hữu sự quyết tâm và tính nhất quán cao độ như Hà Nội. Tuy
nhiên, chúng ta đã liên tục đánh giá thấp sự kiên cường cùng ý chí kiên định của
Hà Nội, đồng thời lại đánh giá quá cao khả năng bẻ gãy ý chí đó của
chính mình. Chúng ta đã vận dụng sức mạnh của mình mà thiếu đi sự đánh giá thấu
đáo về đối phương; hệ quả là chúng ta chẳng những không đạt được thành công, mà
cũng chẳng thể ngăn cản đối phương theo đuổi các mục tiêu của họ.
—Cũng không nên đánh giá thấp khả năng của các phong
trào cách mạng trong việc gây dựng sự ủng hộ rộng khắp và sâu sắc trong quần
chúng tại những xã hội có cấu trúc lỏng lẻo và chưa hiện đại hóa. Hầu hết các
xã hội như vậy đều còn lưu giữ những ký ức tương đối mới mẻ về chủ nghĩa thực
dân, hoặc vẫn đang tiếp tục chịu đựng những mức độ bóc lột khác nhau từ bên
ngoài; chính vì thế, họ rất dễ bị tác động bởi những lời kêu gọi cách mạng nhằm
khơi dậy bản năng dân tộc chủ nghĩa. Tại Việt Nam, chúng ta chưa bao giờ
có thể thoát khỏi thân phận là những người thừa hưởng di sản của thời kỳ thực
dân Pháp.
—Các thỏa thuận dàn xếp xung đột kéo dài không có tính
tự bền vững. Với các đối thủ Cộng sản, những thỏa thuận như vậy
phải được hỗ trợ bằng sức mạnh và ý chí sử dụng sức mạnh đó. Khi một thỏa thuận
không còn phục vụ lợi ích của họ, họ sẽ phớt lờ nó nếu nó không thể thực thi được.
Vì mục tiêu của Hà Nội vẫn không thay đổi sau tháng 1 năm 1973,
nên Hiệp định Paris không thể thành công nếu chúng ta không sẵn sàng buộc
họ tuân thủ hoặc tiếp tục hỗ trợ quân sự ở mức cao cho Chính phủ Việt Nam Cộng
hòa. (Điều này không có nghĩa là tất cả các thỏa thuận với tất cả các quốc
gia Cộng sản đều không khả thi — rõ ràng là trong các lĩnh vực có
sự trùng hợp về lợi ích bền vững, có thể đạt được các thỏa thuận mà các quốc
gia Cộng sản sẽ duy trì.)
Những giới hạn trong khả năng tác động của
chúng ta đối với các sự kiện
—Rõ ràng, cuộc chiến tại Việt Nam đã chứng minh rằng
hiệu quả của công nghệ quân sự hiện đại bị hạn chế nghiêm trọng trong các cuộc xung
đột phi quy ước. Cả hỏa lực áp đảo lẫn những thủ thuật tác chiến tinh vi đều
không thể bảo đảm thắng lợi. Việc sử dụng các phương tiện này một cách có chọn
lọc và chắp vá càng làm gia tăng sự kém hiệu quả của chúng.
—Hơn nữa, nếu chúng ta một lần nữa trực tiếp can dự
quân sự vào một cuộc xung đột tương tự, chúng ta cần phải hết sức cảnh giác để
tránh việc chuyển từ vai trò hỗ trợ sang vai trò chủ đạo—như điều đã xảy ra tại
Việt Nam kể từ năm 1965.
—Hơn nữa, chúng ta cần tránh lặp lại những tình huống
tương tự như đã diễn ra tại Việt Nam, nơi mà lực lượng phòng vệ bản địa lại
trở thành những công dân hạng hai ngay trên chính đất nước mình; khi vai
trò quân sự của chúng ta ngày càng mở rộng thì vai trò của Quân lực Việt Nam Cộng
hòa (ARVN) lại suy giảm—một thực trạng chỉ được đảo ngược khi chúng ta bắt
đầu tiến trình "Việt Nam hóa chiến tranh" và rút quân về nước.
—Chúng ta cần nhận thức rõ rằng các lực lượng viễn
chinh quy mô lớn, về bản chất, sẽ khó lòng thích nghi được với những điều
kiện đặc thù của một cuộc xung đột phi quy ước. Thay vào đó, xu hướng tất yếu
sẽ là biến đổi một cuộc chiến tranh phi quy ước thành một cuộc chiến tranh quy
ước, trong khi những khía cạnh chính trị cốt lõi của cuộc xung đột lại dần bị bỏ
qua.
—Chúng ta cần thừa nhận sự hiểu biết còn khiếm khuyết
của chính mình về các động thái chính trị trong lòng các xã hội nước ngoài (đặc
biệt là các xã hội châu Á). Tại Việt Nam, chúng ta đã nhất quán nhìn nhận các
điều kiện chính trị—và đưa ra những phán đoán—dựa trên một lăng kính về cơ bản
mang đậm chất phương Tây.
—Vì năng lực thấu hiểu nền chính trị của những quốc
gia như Việt Nam nơi chúng ta còn hạn chế, nên lẽ dĩ nhiên là những nỗ lực
nhằm thao túng các lực lượng chính trị của chúng ta rất dễ dẫn đến thất bại.
Chúng ta không nên tự cho mình cái quyền giả định—như chúng ta đã từng làm vào
năm 1963—rằng ta biết điều gì là tốt nhất cho một quốc gia, để rồi hành động—như
trong vụ lật đổ ông Diệm—nhằm châm ngòi cho một tình thế với những hệ quả
khôn lường và thậm chí là thảm khốc. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên đi
theo hướng ngược lại—đó là liên minh một cách quá cứng nhắc với một giới lãnh đạo
mà chúng ta có thể đã không nhận diện kịp thời sự xói mòn dần dần về tính chính
danh của họ.
Các khía cạnh quốc tế của những cam kết
song phương
—Chúng ta cần đánh giá một cách thực tế hơn về năng lực
duy trì sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực đầy cam go; ngay từ
đầu, chúng ta cần nhận thức rõ rằng ta có thể sẽ phải hành động đơn độc—rằng
các chính phủ khác—do nguồn lực hạn hẹp, những nhận thức chính trị khác biệt,
hoặc những lợi ích quốc gia không đồng nhất—sẽ không hỗ trợ cho những nỗ lực của
chúng ta theo bất kỳ phương cách nào thực sự có ý nghĩa. Dẫu đã nỗ lực hết sức,
chúng ta cũng chỉ nhận được một số sự hỗ trợ hữu hình từ một vài quốc gia bạn
bè đối với các chính sách của ta tại Việt Nam; tuy nhiên, sự hỗ trợ này
đã không được duy trì lâu dài.
—Hơn nữa, chúng ta cần lưu tâm đến khả năng rằng những
cuộc can thiệp kiểu như tại Việt Nam có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến
mối quan hệ của chúng ta với các đồng minh khác.
—Trong trường hợp một tình huống tương tự như tại Việt
Nam lại tái diễn, chúng ta không nên kỳ vọng rằng các cường quốc Cộng
sản sẽ ra tay giúp chúng ta giải quyết những rắc rối nan giải. Trong kịch
bản lạc quan nhất, mối quan hệ song phương giữa chúng ta với Trung Cộng và
Liên Xô có thể sẽ chỉ khuyến khích một thái độ phản ứng thụ động từ phía họ—bất
kể tình hình đang diễn biến thuận lợi cho chúng ta (như năm 1972) hay bất lợi
(như năm 1975).
—Chúng ta cần lường trước rằng các cường quốc Cộng
sản chủ chốt sẽ hỗ trợ các hoạt động lật đổ nội bộ và các cuộc chiến
tranh giải phóng tại địa phương, đặc biệt là khi họ nhận thấy những hoạt động
này không gây tác động bất lợi nào đến quan hệ giữa họ với chúng ta, hay đến
các lợi ích trực tiếp của chính họ. [Trang 952]
Việc Quản lý các Cam kết
—Nếu chẳng may chúng ta lại một lần nữa vướng vào một
nỗ lực có quy mô to lớn như cuộc chiến tại Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể
tự tạo thuận lợi hơn đôi chút cho chính mình bằng cách cải thiện phương thức quản
lý sự can dự đó. Có thể lập luận rằng, bên cạnh việc hầu như không thể kiểm
soát những hành động của phía Nam Việt Nam, chúng ta cũng chưa bao giờ
thực sự nắm quyền kiểm soát vững chắc đối với chính các nguồn lực của mình—dù
là về mặt quân sự, kinh tế hay chính trị. Tình trạng phân tán trách nhiệm và
quyền kiểm soát chính là yếu tố đã làm trầm trọng thêm những khó khăn mà chúng
ta phải đối mặt.
—Chúng ta cần cảnh giác trước tình trạng thông tin
tình báo và các phân tích bị thiên kiến nhằm phục vụ các mục tiêu chính
sách—điều vốn đã từng xảy ra tại Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn
chúng ta can dự sâu rộng nhất. Liên quan đến vấn đề này, chúng ta cần thận trọng
trước kiểu "báo cáo mang tính vận động" đến từ các phái
bộ của ta ở nước ngoài cũng như ngay trong bộ máy hành chính tại quê nhà. Một dạng
thức đặc biệt nguy hại của chứng "nhiễm tư duy địa phương"
(localitis) đã tác động lên nhiều cá nhân vốn rất tài năng và tận tụy, những
người đang trực tiếp làm việc tại Việt Nam hoặc chuyên trách về các vấn
đề liên quan đến quốc gia này. Họ đã dốc hết tâm huyết cho một mục tiêu cao cả;
tuy nhiên, chính sự gắn bó cá nhân ấy đôi khi lại làm lu mờ khả năng phán đoán
của họ.
—Chúng ta cần tìm ra những phương thức hữu hiệu hơn để
thu hẹp khoảng cách giữa cấp độ chuyên gia và cấp độ ra quyết định trong bộ máy
chính quyền. Những nhận định sắc bén thường bị lu mờ trong quá trình thông tin
và các khuyến nghị được chuyển dần lên các cấp cao hơn trong hệ thống, do áp lực
phải đạt được thành công.
—Chúng ta cần bảo đảm rằng các khía cạnh chính trị và
quân sự trong những cam kết của mình—cũng như nguồn lực mà chúng ta dành cho từng
khía cạnh đó—luôn được duy trì ở trạng thái cân bằng thích hợp. Nếu sự cân bằng
này bị lệch lạc, các yếu tố quân sự sẽ trở nên lấn át trong việc hoạch định
chính sách; khi đó—giống như trường hợp tại Việt Nam—chúng ta có thể sẽ
đánh mất tầm nhìn về bản chất cốt lõi của cuộc xung đột cũng như những mục tiêu
mà chúng ta đang theo đuổi trong đó.
—Chúng ta cần nỗ lực bảo đảm rằng mình không bị sa lầy
vào các kỹ thuật quản lý theo kiểu "chữa cháy". Chúng ta phải nâng
cao năng lực dự báo các diễn biến trong bất kỳ tình huống nào có sự can dự quy
mô lớn của Hoa Kỳ, thay vì rơi vào thế—như chúng ta đã quá thường gặp tại Việt
Nam—phải chật vật đối phó với các cuộc khủng hoảng sau khi chúng đã bùng
phát.
Các cân nhắc về mặt đối nội
—Chúng ta cần nhận thức rõ rằng, dù có dùng bao nhiêu
lời lẽ thuyết phục đi nữa, cũng không thể tạo dựng được sự ủng hộ của công
chúng đối với một nỗ lực đối ngoại mà vốn dĩ đã không hề có nền tảng ủng hộ từ
trước. (Do đó, các cam kết của chúng ta phải gắn liền với những lợi ích quốc
gia được công chúng nhìn nhận là xác đáng.) Một Chính quyền, thông qua vai trò
lãnh đạo chủ động, chỉ có thể khơi dậy và tiếp thêm sinh lực cho những sự ủng hộ
vốn đang tiềm ẩn trong lòng công chúng.
—Một khi đã dấn thân vào một dự án đối ngoại đầy cam
go, chúng ta không nên tìm cách đánh lạc hướng dư luận hay Quốc hội về thời lượng
kéo dài, cũng như mức độ hy sinh mà dự án đó đòi hỏi. Chúng ta không nên vội vã
tuyên bố rằng mình đã nhìn thấy "ánh sáng cuối đường hầm". Chúng ta
không nên viện dẫn những lý lẽ mang tính nhất thời—chỉ vì những toan tính lợi
ích ngắn hạn—trong khi trên thực tế, vẫn còn vô vàn công việc đang chờ đợi phía
trước.
—Chúng ta không bao giờ nên cho rằng những mâu thuẫn
trong chính sách của chúng ta, hoặc những sai sót trong việc thực hiện chúng, sẽ
không bị giới truyền thông phát hiện. [Trang 953]
Chúng ta sẽ phải sống chung với thực tế rằng những sai
lầm sẽ bị phơi bày (cũng như, thật không may, thực tế là bất kỳ hành động nào,
dù đúng hay sai, đều sẽ bị xem xét lại).
—Chúng ta cần bảo đảm rằng Quốc hội luôn đồng thuận,
không chỉ ngay từ giai đoạn khởi đầu của các cam kết đối ngoại, mà còn ở mọi
giai đoạn khi việc mở rộng quy mô cam kết hay sự can dự của chúng ta được cân
nhắc. Rõ ràng là, nếu thiếu đi sự ủng hộ của Quốc hội, việc thực hiện các cam kết
vượt quá một giới hạn nhất định sẽ là điều bất khả thi.
—Trên cơ sở tuân thủ các yêu cầu về an ninh quân sự,
những quyết sách chính sách cơ bản của chúng ta cần được công bố công khai và
được bảo vệ.
1. Nguồn:
Thư viện Ford, Cố vấn An ninh Quốc gia, Hồ sơ của Ban Tham mưu về các vấn
đề Đông Á và Thái Bình Dương thuộc NSC, Hồ sơ theo trình tự thời gian về
Đông Dương, Hộp 13, ngày 10–12 tháng 5 năm 1975. Mật. Springsteen đã gửi
tài liệu này cho Scowcroft kèm theo một bản ghi nhớ đính kèm, ngày 9
tháng 5.
Sources
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/sources
Abbreviations
and Terms
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/terms
Persons
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/persons
Note on
U.S. Covert Actions
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/note
Vietnam, January 1973–July 1975
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/comp1
Collapse and Evacuation, February 26–July 22, 1975 (Documents
178–283)
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/ch3
- Document 279
Foreign Relations of the United
States, 1969–1976, Volume X, Vietnam, January 1973–July 1975
279. Paper Prepared in the Department
of State1
Washington, undated.
The Lessons of Viet-Nam
To draw meaningful lessons from our Viet-Nam experience it is essential
to bear in mind the climate of the times during which fateful decisions were
taken. In 1954 it was widely accepted that we faced a monolithic Communist bloc
bent on expansion through military means. Indochina was seen, with considerable
logic in that context, as a primary locus for that expansion and there was a
remarkably broad consensus in this country that the United States should combat
it. In the early 1960’s, America was imbued with an activist, outward-looking
spirit, one reflection of which was the notion that American resources and
American expertise could solve any problem anywhere. It was only in the late
60’s, when our participation in what was perceived to be an unjust and
unwinnable war became objectionable to broad segments of the American people,
that our policies outstripped the national consensus and support for them began
to wane.
Having been badly burned in Viet-Nam, the American people now appear to
have quite different, and more limited, visions of our proper role in the world
and our ability to influence events. In a sense, a control mechanism has
evolved within our society which is likely to prevent [Page
949] for the foreseeable
future any repetition of a Viet-Nam style involvement. The danger may therefore
be not that we will ignore the lessons of Viet-Nam, but that we will be tempted
to apply them too broadly, in East Asia and around the world. Nonetheless,
although not all of them are universally applicable, the lessons of Viet-Nam
are clear, and numerous:
The Nature of Commitments
- —We must keep commitments to
individual countries tailored to our degree of interest. This is not to
say that the independence and well-being of small countries are of no
consequence or concern for the United States—only that such considerations
are relatively more consequential in areas where our interests are more
directly at issue. Related to this, resources devoted to carrying out our
commitments should be proportionate to the intrinsic importance of the
commitment itself, or of the interest it reflects.
- —It follows, therefore, that we
should commit ourselves only selectively to undertakings likely to involve
the expenditure of lives or of massive resources. (Important note: having
made commitments, we cannot be selectively reliable in fulfilling them.)
- —Recognizing that constancy in
our commitments is important, we should nevertheless avoid confusing
constancy with inertia. When circumstances change dramatically, or a
commitment clearly becomes unsustainable, we should draw the right
conclusions and change our policy accordingly. 1968 was probably a better
time to try for a comprehensive political settlement in Viet-Nam than was
1972. 1973 was a better time to press the GVN for further realistic
political negotiations—particularly since we were in that year deprived by
the Congress of the ability to enforce the Paris Agreement—than was 1974
or 1975.
The Nature of Allies
- —Foremost among the criteria we
might henceforth employ in making judgments about our commitments is the
indigenous strength and will of our prospective ally—its ability to help
itself. Although the Vietnamese government we supported was far more
humane than its adversary, it was, in the final analysis, unable to
mobilize effectively the support of its people in the face of an
implacable, disciplined enemy. Without such support, ultimate defeat was
probably inevitable. In our desire to stem North Vietnamese communist
expansion, we underestimated this critical factor.
- —In effect, we allowed saving
South Viet-Nam to become more important to us than it was for the South
Vietnamese themselves. In the future, we should gauge our support to our
allies’ efforts, and their successes. If they cannot do the job, we will
be unable to do it for them.
- —We should be fully aware of the
fragility of governments which rest, to a significant degree, on the
support of the military. This was not the chief cause of South Viet-Nam’s
downfall—indeed the GVN retained a considerable aura of legitimacy within
Viet-Nam—but the inflexibility and narrowness of judgment of an
increasingly isolated leadership in the face of unyielding North
Vietnamese pressure played a role in the nation’s ultimate collapse.
- —We consistently allowed the GVN
to utilize massive U.S. support as a substitute for solutions to its own
internal political problems. We were never willing to force the GVN to
face up to this fact.
The Nature of Adversaries
- —There are probably few
prospective opponents anywhere in the world who will prove to have the
determination and single-mindedness of Hanoi. Nevertheless, we
consistently underestimated the tenacity and sense of purpose of Hanoi,
and overestimated our ability to break its will. We applied our strength
without an adequate assessment of our opponent and thus neither achieved
success nor deterred his pursuit of his objectives.
- —Nor should we underestimate the
ability of revolutionary movements to develop broad and deep-seated
popular support in loosely structured, unmodern societies. Most such
societies have relatively recent memories of colonialism, or continue to
experience various degrees of external exploitation, and are as such
susceptible to revolutionary appeals to nationalistic instincts. In
Viet-Nam, we were never able to escape being the inheritors of the French
colonization.
- —Negotiated settlements of
continuing conflicts have no intrinsic life of their own. With Communist
adversaries such agreements must be backed by strength and the will to use
it. When an agreement no longer serves their interest, they will ignore it
if it is not enforceable. Since Hanoi’s goal remained unchanged after
January 1973, it followed that the Paris Agreement could not be successful
without our readiness to force compliance or to continue high levels of
military support to the GVN. (This does not mean that all agreements with
all Communist states are inherently unworkable—obviously in areas where
there is a confluence of sustained interests, agreements can be reached
which Communist states will maintain.)
Limitations on Our Ability to Influence Events
- —Clearly, Viet-Nam demonstrated
that the effectiveness of modern military technology is severely limited
in unconventional conflicts. Neither massive firepower, nor ingenious
gimmickry, can insure success. Their selective use, on a piece-meal basis,
adds to their ineffectiveness.
- —In addition, if we ever again
undertake a direct military involvement in such a conflict, we should
guard against shifting from a supportive to a primary role, as we did in
Viet-Nam beginning in 1965.
- —Moreover, we should avoid
situations such as developed in Viet-Nam in which the indigenous defending
forces became second-class citizens in their own country; as our own
military role grew, ARVN’s declined, a situation which was not reversed
until we began Vietnamization and the withdrawal of our forces.
- —We should recognize that large
expeditionary forces, by their very nature, will not adapt to the
conditions of an unconventional conflict. Instead, the tendency will be to
transform an unconventional war to a conventional one, while fundamental
political aspects of the conflict are progressively ignored.
- —We should admit our own
imperfect understanding of the political dynamics of foreign (particularly
Asian) societies. In Viet-Nam we persistently looked at political
conditions, and made our judgments, from what was basically a Western
perspective.
- —Since our ability to understand
the politics of countries such as Viet-Nam is limited, it follows that our
attempts to manipulate political forces may well fail. We should not
assume, as we did in 1963, that we know what is best for a country and
proceed, as in the overthrow of Diem, to precipitate a situation with
unknown and possibly disastrous consequences. Nor should we take the
opposite tack—allying ourselves too rigidly with a leadership whose
diminishing mandate we may not be able to perceive.
International Aspects of Bilateral Commitments
- —We should more realistically
assess our ability to maintain international support for difficult
undertakings, recognizing at the outset that we may be operating alone,
that other governments—because of limited resources, differing political
perceptions or divergent national interests—will not support our efforts
in any meaningful way. Through strenuous efforts we elicited some tangible
support from a few of our friends for our policies in Viet-Nam, but this
was not sustained.
- —Moreover, we should bear in mind
the possibility of undertakings such as Viet-Nam actively damaging our
relations with other allies.
- —We should not expect, in the
event of another situation like Viet-Nam, that the major Communist powers
will help pull our chestnuts out of the fire. At best, our bilateral
relationships with the PRC and the Soviet Union may encourage a passive
response from them—whether things are going well for us (as in 1972), or
badly (as in 1975).
- —We should expect that the major
Communist powers will support local subversion and wars of liberation,
particularly if they perceive no adverse effect on their relations with us
or on their direct interests.
[Page
952]
The Management of Commitments
- —If we were ever to become
involved again in an effort of the magnitude of Viet-Nam, we could make
things somewhat easier for ourselves by improving the ways we attempt to
manage our involvement. It can be argued that, in addition to having very
little control over what South Viet-Nam did, we were never in firm control
of our own resources, whether military, economic or political. A diffusion
of responsibility and control compounded our difficulties.
- —We should guard against biased
intelligence and analysis to support policy goals, as happened in Viet-Nam
particularly during the height of our involvement. Related to this, we
should be wary of “advocacy reporting” from our missions and within the
bureaucracy at home. A particularly virulent form of “localitis” affected
many capable and dedicated individuals working in or on Viet-Nam. They
were intensely committed, to a worthy goal, but personal commitment
sometimes blurred judgment.
- —We should devise more effective
ways of bridging the gap between the expert level and the decision-making
level of the government. Cogent judgment was often obscured as information
and recommendations proceeded upward through the system, because of the pressures
for success.
- —We should insure that the
political and military aspects of our commitments, and the resources we
devote to each, are kept in proper balance. Military considerations will
become dominant in policy if that balance is skewed and, as in Viet-Nam,
we may lose sight of the fundamental nature of the conflict and our goals
in it.
- —We should try to insure that we
do not become locked-in to “fire-fighting” management techniques. We must
improve our ability to anticipate events in any situation of major
American involvement, rather than finding ourselves—as we so often did in
Viet-Nam—coping with crises after they had arisen.
Domestic Considerations
- —We should recognize that no
amount of cajolery can create public support for a foreign undertaking
where none already exists. (Thus, our commitments must be related to
perceived national interests.) An Administration, by active leadership,
can only energize latent support.
- —Having become involved in a
difficult foreign project, we should not attempt to mislead public opinion
or the Congress as to its duration or the level of sacrifice it will
require. We should not profess to see lights at the end of tunnels. We
should not employ short-term rationales, out of short-term expediency,
when in fact much remains to be done.
- —We should never assume that
inconsistencies in our policies, or foul-ups in their implementation, will
go unnoticed by the fourth estate. [Page 953] We will have to live with the
fact that mistakes will be exposed (as well as, unfortunately, the fact
that any course of action, right or wrong, will be second-guessed).
- —We should insure that Congress
is on board not only at the outset of foreign commitments, but at every
stage at which any escalation of our commitment or involvement is
contemplated. In the absence of Congressional support, clearly, commitment
beyond a certain level is impossible.
- —Consistent with the requirements
of military security, our basic policy decisions should be publicly stated
and defended.
- Source: Ford Library, National
Security Adviser, NSC East Asian and Pacific Affairs Staff Files,
Indochina Chronological File, Box 13, May 10–12, 1975. Confidential.
Springsteen sent the paper to Scowcroft under a covering memorandum, May
9.↩
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/d279
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/pg_949
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/pg_950
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/pg_951
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/pg_952
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v10/pg_953
Thân thế (các) nhân vật/
Ford Gerald R.,
Republican Representative from Michigan until October 13, 1973; House
Minority Leader until October 13, 1973; Vice President of the United States
from October 13, 1973, until August 8, 1974; President of the United States
from August 8, 1974
https://en.wikipedia.org/wiki/Gerald_Ford
https://en.wikipedia.org/wiki/President_of_the_United_States
https://en.wikipedia.org/wiki/Vice_President_of_the_United_States
https://en.wikipedia.org/wiki/House_Minority_Leader
https://en.wikipedia.org/wiki/Leader_of_the_House_Republican_Conference
https://en.wikipedia.org/wiki/Chair_of_the_House_Republican_Conference
https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_House_of_Representatives
https://www.whitehouse.gov/about-the-white-house/presidents/gerald-r-ford/
https://www.whitehouse.gov/administration/
https://geraldrfordfoundation.org/gerald-r-ford-biography/
https://www.fordlibrarymuseum.gov/grf/timeline.asp
https://en.wikipedia.org/wiki/Presidency_of_Gerald_Ford
https://www.history.navy.mil/research/library/research-guides/modern-biographical-files-ndl/modern-bios-f/ford-gerald.html
https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/guides/findingaid/ford_vp_papers.asp
Ngo Dinh Diem,
President of the Council of Ministers of the
State of Vietnam to October 1955; thereafter President and Chief of State of
the Republic of Vietnam
https://en.wikipedia.org/wiki/Ngo_Dinh_Diem
https://millercenter.org/the-presidency/educational-resources/diem-coup
https://www.jfklibrary.org/search?f%5B0%5D=digitized_collection%3APapers%20of%20John%20F.%20Kennedy.%20Presidential%20Papers.%20President%27s%20Office%20Files.&f%5B1%5D=source%3A46&f%5B2%5D=subject_place%3AVietnam
https://www.jfklibrary.org/asset-viewer/archives/jfkpof-128-010#?image_identifier=JFKPOF-128-010-p0003
https://www.jfklibrary.org/search?f[0]=subject:Vietnam%20War,%201961-1975
https://www.jfklibrary.org/search?f%5B0%5D=subject_person%3ANgo,%20Dinh%20Diem,%201901-1963&f%5B1%5D=source%3A46
The Diem Coup audio
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/sets/the-diem-coup
February 1, 1966: President
Johnson remembers Diem coup (admitted) to Eugene McCarthy
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/february-1-1966-president
November 4, 1963: President
Kennedy on the Diem coup
https://soundcloud.com/the-miller-center-at-uva/november-4-1963-president-kennedy-on-the-diem-coup
NHỚ LẠI NHỮNG NGÀY Ở CẠNH
TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM (Full) - Tài Nguyễn Diễn Đọc
https://www.youtube.com/watch?v=sWTTgB7oE6U&t=6927
Một
phụ nữ miền Bắc viết về cố TT Ngô Đình Diệm.
https://www.youtube.com/watch?v=UMEkUQRp01o
"The
Death of Diem and Nhu"
https://www.youtube.com/watch?v=U8O1HOTXS8A
"The Coup in Saigon"
https://www.youtube.com/watch?v=k4IaJYiNanc
"Everybody'll Say We Did It"
https://www.youtube.com/watch?v=Jaai1NdZ70k
"We Have Plans
for Withdrawal"
https://www.youtube.com/watch?v=0BABdRu7FY0
"The Road to Disaster"
https://www.youtube.com/watch?v=dr5dRFVV-ok
https://www.youtube.com/channel/UChty22qJfdeAd8dAee9Mo7g/featured
“The President Is Dead”
https://www.youtube.com/watch?v=lD-akTUBFWs
“That Wasn't What Killed Kennedy”
https://www.youtube.com/watch?v=LAF0JGttS3E
Kennedy and Vietnam: The great what-if
https://www.youtube.com/watch?v=6XLhqXt2pww
JFK, LBJ and the Paradox of Vietnam
https://www.youtube.com/watch?v=TYRsahM-GqQ&t=2054
BÀI 305: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA
http://www.bacaytruc.com/index.php/16996-bai-305-nhin-l-i-l-ch-s-d-nh-t-c-ng-hoa-tac-gi-vu-linh-ddtc
BÀI 306: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA
https://diendantraichieu.blogspot.com/2023/11/bai-306-nhin-lai-lich-su-e-nhi-cong-hoa.html
BÀI 307: NHÌN LẠI LỊCH SỬ: VAI TRÒ CỦA MỸ
http://www.bacaytruc.com/index.php/17092-bai-307-nhin-l-i-l-ch-s-vai-tro-c-a-m-tac-gi-vu-linh-ddtc
JFK and the Diem Coup
https://nsarchive2.gwu.edu/NSAEBB/NSAEBB101/
Evidence on the Diem Coup in South Vietnam
1963
https://www.tokyoprogressive.org/evidence-on-the-diem-coup-in-south-vietnam-1963/
Tập 1 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô
Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=2CJ1CXSWwpI
Tập 2. Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô
Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=Po5Hlbfk6Zc
Tập 3 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô
Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=vdluTn-L8sc
Tập 4 : Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô
Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=p58HIMAy_Hg
Tập 5 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô
Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=ti24AXG12YE
Tập 6 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô
Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=LB0xpBPX9UI
Tập 7 - Đời Một Phóng Viên & Những Ngày Bên Chí Sĩ Ngô
Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=Rvv0ze1mG_8
Tập 8 - Đời một Phóng Viên và Những ngày chung sống với Chí
Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=Ht1u6A62KXk
Tập 9 - Đời một Phóng Viên và những ngày chung sống với Chí
Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=bcZZ9O5cwgA&t=18s
Tập 10 - Đời một Phóng Viên & Những ngày chung sống với
Chí Sĩ Ngô Đình Diệm
https://www.youtube.com/watch?v=bgJnv7kALSA
Interview with Madame Ngo Dinh Nhu, 1982
https://video.alexanderstreet.com/watch/interview-with-madame-ngo-dinh-nhu-1982
https://video.alexanderstreet.com/watch/interview-with-madame-ngo-dinh-nhu-1982/transcript/Interview%20with%20Madame%20Ngo%20Dinh%20Nhu%2C%201982
Tài liệu cộng sản giặc Hồ xuyên tạc Tổng thống
Diệm và quân đội Mỹ
https://sachhiem.net/LICHSU/N/NgoDacTriet.php
https://sachhiem.net/LICHSU/IMG/NGODD/1961XinQuanMy.jpg
Scowcroft, Brent,
General, USAF, Military Assistant to the
President until 1973; Deputy Assistant to the President for National Security
Affairs from August 1973 until 1975
https://warontherocks.com/2020/08/brent-scowcroft-and-american-military-intervention/
https://warontherocks.com/2020/08/blame-it-on-the-blob-how-to-evaluate-american-grand-strategy/
https://www.aspeninstitute.org/programs/aspen-strategy-group/about-asg/
https://www.whitehouse.gov/piab/
https://www.publicaffairsbooks.com/titles/bartholomew-sparrow/the-strategist/9781586489632/
http://web1.millercenter.org/poh/transcripts/ohp_1999_1112_scowcroft.pdf
https://www.nytimes.com/2020/08/12/us/politics/brent-scowcroft.html
https://www.thecipherbrief.com/column_article/remembering-brent-scowcrofts-accomplishments-on-arms-control
https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2020-08-13/scowcroft-model
https://archive.org/stream/towercommission00unit?ref=ol#mode/2up
https://www.penguinrandomhouse.ca/books/253135/the-man-who-ran-washington-by-peter-baker-and-susan-glasser/9780385540551
https://www.twelvebooks.com/titles/philip-zelikow/to-build-a-better-world/9781538764688/
https://toda.org/assets/files/resources/policy-briefs/t-pb-23_susan-koch_presidential-nuclear-initiatives-1991-92.pdf
https://www.penguinrandomhouse.ca/books/617544/margaret-thatcher-volume-3-by-charles-moore/9780241324745
https://yalebooks.yale.edu/book/9780300233827/post-wall-post-square
https://www.amazon.com/When-World-Seemed-New-George-dp-1328511650/dp/1328511650/ref=mt_other?_encoding=UTF8&me=&qid=
https://www.penguinrandomhouse.com/books/22029/a-world-transformed-by-george-hw--bush-and-brent-scowcroft/
https://yalebooks.yale.edu/book/9780300233827/post-wall-post-square
https://www.simonandschuster.com/books/War-in-a-Time-of-Peace/David-Halberstam/9781501141508
https://www.adst.org/OH%20TOCs/Inderfurth,Karl%20F.toc.pdf
https://www.wsj.com/articles/SB1029371773228069195
https://www.nytimes.com/2002/08/25/opinion/the-right-way-to-change-a-regime.html
https://www.penguinrandomhouse.com/books/592622/to-start-a-war-by-robert-draper/
https://pdfs.semanticscholar.org/de9b/be3fa428073b76a05fbb58739bf3279c3664.pdf
https://www.ft.com/content/de843f6e-0be1-4667-8a9f-f397cf840e72
https://www.houseofnames.com/brent-family-crest
https://www.houseofnames.com/dpreview/BRENT/EN/Brent/family-crest-coat-of-arms.png
https://www.houseofnames.com/cdn/webp/i/prod/520x520/surnamecomplete_gold.webp
https://www.aspeninstitute.org/programs/aspen-strategy-group/lt-general-brent-scowcroft/
https://dpaa-mil.sites.crmforce.mil/dpaaProfile?id=a0Jt000000sxxIFEAY
https://www.fordlibrarymuseum.gov/library/document/0204/7505562.pdf
https://news.virginia.edu/content/uvas-miller-center-releases-secret-brent-scowcroft-oral-history
https://www.newstatesman.com/politics/2020/08/the-quiet-mastermind-how-brent-scowcroft-redefined-the-art-of-grand-strategy
Springsteen, George S., Jr.,
Deputy
Assistant Secretary of State for European Affairs until June 1972; Acting
Assistant Secretary from June 1972 until August 1973; Deputy Assistant
Secretary of State for European Affairs from August 1973 until January 1974;
Executive Secretary of the Department from January 1974
https://history.state.gov/departmenthistory/people/springsteen-george-stoney
https://www.state.gov/biographies-list/
https://www.state.gov/resources-bureau-of-global-talent-management/#ambassadors
https://history.state.gov/departmenthistory/people/springsteen-george-stoney
https://history.state.gov/departmenthistory/people/principalofficers/executive-secretary