20250909 CDTL Bản Ghi Nhớ Kissinger Gửi Tổng Thống Nixon 29 March 1971 D171
171. Memorandum From the President’s Assistant for National Security Affairs (Kissinger) to President Nixon 1
Washington, March 29, 1971.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/d171
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/pg_517
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/pg_518
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/d168fn3
Washington, March 29, 1971.
SUBJECT
- South Vietnamese Morale
Attached are three reports from Ambassador Bunker and General Abrams on the state of South Vietnamese morale following the operation [Page 517] in Laos. In commenting on the morale of military units (Tab A),2 General Abrams states that:
- —The general performance of the individual soldiers and the majority of their units was very creditable.
- —Although casualties have reduced the strength and weakened the leadership structure at the lower levels in a few units, the morale of these units is expected to improve and eventually reach the high level enjoyed by other participants in the operation as replacements are made available and unit accomplishments become more widely known.
- —Morale suffered in certain ARVN combat units which were heavily engaged for extended periods of time, operated over difficult terrain, and experienced heavy casualties. However, even units with heavy casualties fought valiantly and inflicted many enemy losses. One battalion ended up with only 110 effectives but reportedly has maintained its esprit.3
In assessing public reaction and possible political consequences (Tab B),4 Ambassador Bunker observes that:
- —The Vietnamese public reaction went through three phases: an initial euphoria, followed by doubt in the latter part of February that the campaign was going according to plan, and finally a resurgence of confidence in the ARVN and pride in its accomplishments.
- —The resurgence of confidence, which began with the advance to Tchepone in early March and was stimulated by reports that the ARVN was acquitting itself well against a numerically superior enemy, has persisted.
- —During the past two weeks there have been widespread public manifestations of support. For example, demonstrations in support of the armed forces were planned in every Province for March 27. (President Thieu indicated that these were not government sponsored or managed.)
- —There is pride in ARVN ability to conduct two campaigns outside the borders of Vietnam simultaneously. The people were encouraged [Page 518] to see ARVN take the initiative and there was a feeling that this indicated a shift in the balance of power. The fact that the fighting may have forestalled North Vietnamese attacks in South Vietnam has been especially appreciated.
- —Although there has been very little public disapproval of the operation, the number of casualties suffered remains a sensitive issue. The major overt critic of the operation has been Vice President Ky.
- —There is considerable divergence between the Vietnamese interpretation of the results and the view presented in the foreign press. The view of the Vietnamese press, both pro-administration and oppositionist, is that the operation was a heavily fought engagement in which some things went wrong but that basic objectives were achieved and the ARVN fought admirably.
- —While it is too early to evaluate the political impact of the operation with assurance, it appears to have been a political plus because of the confidence and pride it has created in the ability and accomplishments of ARVN. There has been satisfaction that the fighting took place outside the borders of South Vietnam and that ARVN inflicted heavier casualties on the enemy.
In an earlier interim report (Tab C)5 following a meeting with President Thieu, Ambassador Bunker noted that:
- —President Thieu reflects the general mood throughout the country of pride in the ARVN’s accomplishment and confidence in its ability.
- —He is still determined to go ahead with several other raids in Laos.6
Google Translated
Washington, ngày 29 tháng 3 năm 1971.
CHỦ ĐỀ
Tinh thần của Nam Việt Nam
Đính kèm là ba báo cáo của Đại sứ Bunker và Tướng Abrams về tình hình tinh thần của Nam Việt Nam sau chiến dịch [Trang 517] tại Lào. Khi bình luận về tinh thần của các đơn vị quân đội (Bảng A), Tướng Abrams tuyên bố rằng:
—Thành tích chung của từng binh lính và phần lớn các đơn vị của họ đều rất đáng khen ngợi.
—Mặc dù thương vong đã làm giảm sức mạnh và làm suy yếu cơ cấu lãnh đạo ở cấp thấp hơn trong một số đơn vị, nhưng tinh thần của các đơn vị này dự kiến sẽ được cải thiện và cuối cùng đạt đến mức cao như những người tham gia khác trong chiến dịch khi có người thay thế và thành tích của đơn vị được biết đến rộng rãi hơn.
—Tinh thần của một số đơn vị chiến đấu của QLVNCH bị ảnh hưởng nghiêm trọng do phải giao tranh ác liệt trong thời gian dài, hoạt động trên địa hình hiểm trở và chịu thương vong nặng nề. Tuy nhiên, ngay cả những đơn vị bị thương vong nặng nề cũng đã chiến đấu anh dũng và gây ra nhiều tổn thất cho địch. Một tiểu đoàn chỉ còn 110 quân hiệu quả nhưng được cho là vẫn giữ được tinh thần chiến đấu.
Khi đánh giá phản ứng của công chúng và những hậu quả chính trị có thể xảy ra (Bảng B), Đại sứ Bunker nhận xét rằng:
—Phản ứng của công chúng Việt Nam trải qua ba giai đoạn: sự phấn khích ban đầu, tiếp theo là sự nghi ngờ vào cuối tháng 2 rằng chiến dịch có diễn ra theo đúng kế hoạch hay không, và cuối cùng là sự trỗi dậy của niềm tin vào Quân đội Việt Nam Cộng hòa và niềm tự hào về những thành tựu của quân đội.
—Sự hồi sinh của lòng tin, bắt đầu với cuộc tiến quân tới Tchepone vào đầu tháng 3 và được thúc đẩy bởi các báo cáo rằng ARVN đang thể hiện tốt trước kẻ thù có số lượng vượt trội, vẫn tiếp tục.
—Trong hai tuần qua, đã có nhiều cuộc biểu tình ủng hộ rộng rãi của công chúng. Ví dụ, các cuộc biểu tình ủng hộ lực lượng vũ trang đã được lên kế hoạch ở mọi tỉnh vào ngày 27 tháng 3. (Tổng thống Thiệu cho biết những cuộc biểu tình này không do chính phủ bảo trợ hay quản lý.)
—Quân đội Việt Nam Cộng Hòa có thể tự hào về khả năng tiến hành đồng thời hai chiến dịch bên ngoài biên giới Việt Nam. Người dân được khuyến khích [Trang 518] chứng kiến Quân đội Việt Nam Cộng Hòa nắm quyền chủ động và có cảm giác rằng điều này cho thấy sự thay đổi cán cân quyền lực. Việc cuộc giao tranh có thể đã ngăn chặn các cuộc tấn công của Bắc Việt Nam vào Nam Việt Nam được đặc biệt đánh giá cao.
—Mặc dù công chúng rất ít phản đối chiến dịch này, số thương vong vẫn là một vấn đề nhạy cảm. Người chỉ trích công khai nhất chiến dịch này là Phó Tổng thống Kỳ.
—Có sự khác biệt đáng kể giữa cách diễn giải kết quả của Việt Nam và quan điểm được trình bày trên báo chí nước ngoài. Quan điểm của báo chí Việt Nam, cả ủng hộ lẫn phản đối, đều cho rằng chiến dịch này là một cuộc giao tranh ác liệt, một số tình huống đã diễn ra không như mong đợi, nhưng các mục tiêu cơ bản đã đạt được và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu một cách đáng ngưỡng mộ.
—Mặc dù còn quá sớm để đánh giá chắc chắn tác động chính trị của chiến dịch, nhưng dường như nó đã mang lại một lợi thế chính trị nhờ sự tin tưởng và tự hào mà nó tạo ra về năng lực và thành tích của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Đã có sự hài lòng rằng cuộc giao tranh diễn ra bên ngoài biên giới Nam Việt Nam và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã gây ra thương vong nặng nề hơn cho kẻ thù.
Trong một báo cáo tạm thời trước đó (Bảng C) sau cuộc họp với Tổng thống Thiệu, Đại sứ Bunker lưu ý rằng:
—Tổng thống Thiệu phản ánh tâm trạng chung của cả nước về niềm tự hào về thành tựu của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa và sự tin tưởng vào khả năng của quân đội.
—Ông vẫn quyết tâm tiến hành thêm nhiều cuộc đột kích khác ở Lào.
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/d171
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/pg_517
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/pg_518
https://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v07/d168fn3
No comments:
Post a Comment